1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biến đổi văn hóa trong phong tục cưới xin và tang ma của người sán dìu trên địa bàn huyện phú bình, tỉnh thái nguyên

31 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 56,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa “thống nhất trong đa dạng”. Nền văn hóa đó là sự hội tụ các giá trị văn hóa của 54 dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Trong lịch sử hình thành và phát triển, mỗi dân tộc đều sáng tạo ra các giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng cho tộc người đó. Mỗi tộc người có những giá trị văn hóa riêng, qua lịch sử, các giá trị văn hóa ấy trở thành bản sắc văn hóa của từng tộc người, góp phần hình thành nền văn hóa Việt Nam đa sắc thái. Đặc trưng văn hóa là một trong 3 tiêu chí để xác định thành phần các dân tộc ở Việt Nam. Như vậy, sự tồn tại của mỗi tộc người gắn liền với bản sắc văn hóa. Khi các giá trị văn hóa của một dân tộc mất đi sẽ dần kéo theo sự biến mất của dân tộc đó. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, vấn đề văn hóa các dân tộc ngày càng được quan tâm. Một yêu cầu bức thiết đặt ra là hội nhập không đồng nghĩa với hòa tan. Chúng ta hội nhập cùng xu thế chung của quốc tế nhưng vẫn phải giữ được những giá trị dân tộc truyền thống. Giá trị dân tộc ấy là bản sắc văn hóa. Và bản sắc văn hóa Việt Nam chính là các giá trị văn hóa riêng của mỗi tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam mà cụ thể là của dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số còn lại. Việc tìm hiểu, nghiên cứu bản sắc văn hóa Việt Nam không thể không gắn liền với vấn đề tìm hiểu bản sắc văn hóa của từng tộc người riêng trong cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta cũng rất coi trọng đến vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc. Năm 1991, với “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội”, Đảng đã xác định: tôn trọng lợi ích truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc, đồng thời kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mĩ, các di sản văn hóa nghệ thuật của dân tộc. Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Sán Dìu hay còn được gọi là Sơn Dao Nhân (người Dao ở trên núi), tập trung sinh sống ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái... Đến Việt Nam và ở Thái Nguyên cách đây khoảng 3 thế kỷ, nhưng người Sán Dìu trong quá trình sinh sống và lao động đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa riêng cho tộc người mình, đồng thời có sự tiếp thu văn hóa của các tộc người cộng cư, tạo nên một đặc trưng văn hóa truyền thống cho dân tộc mình. Có thể khẳng định rằng các nghi lễ vòng đời là một trong những biểu hiện sâu đậm về bản sắc văn hóa tộc người, đặc biệt là đời sống tâm linh, tâm lý và phong tục tập quán của mỗi dân tộc. Đồng thời đây cũng là mảng văn hóa đặc sắc được lưu giữ bền lâu và chậm biến đổi. Bởi chính trong bản thân trong các nghi lễ vòng đời chứa đựng các giá trị nhân văn đầy sâu sắc. Điều này là nền tảng cho sự hưng thịnh của văn hóa tộc người. Mỗi thành viên thuộc về tộc người Sán Dìu, từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, đều trải qua các nghi lễ đời người của tộc người mình. Chính những nghi thức được thực hiện gắn với chu kỳ đời người của người Sán Dìu đó đã góp phần tạo nên những giá trị văn hóa của dân tộc. Việc nghiên cứu các giá trị văn hóa của tộc người Sán Dìu không thể bỏ qua những nghi lễ vòng đời người. Các mốc quan trọng chính trong cuộc đời con người được trải qua các nghi lễ cơ bản sau: cưới xin, sinh đẻ và tang ma. Đây là những dịp đánh dấu các bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời con người. Nó tạo ra trong bản thân mỗi người một sự phát triển phù hợp với quy luật của tự nhiên đồng thời cũng chịu sự chi phối của các quy luật xã hội. Vấn đề tìm hiểu văn hóa tộc người Sán Dìu nói chung và lý giải những biến đổi trong nghi lễ vòng đời người nói riêng còn nhiều vấn đề cần được giải đáp. Với ý nghĩa đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài Những biến đổi văn hóa trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên làm đề tài nghiên cứu với hy vọng đưa ra được những biến đổi sâu sắc trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu nơi đây, góp phần tìm hiểu các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói riêng, làm nền tảng cho việc tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam nói chung. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong những năm gần đây, xu hướng tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa tộc người đã, đang và rất được quan tâm. Mặc dù chỉ chiếm khoảng 13% tổng số dân cả nước nhưng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, mỗi dân tộc lại có một nền văn hóa riêng, độc đáo, tạo nên một nền văn hóa chung, thống nhất trong đa dạng một nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tộc người Sán Dìu ở Việt Nam cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học và nhiều tác giả dày công nghiên cứu. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về người Sán Dìu, cả về sách báo cũng như các tạp chí: Cuốn Người Sán Dìu ở Việt Nam của tác giả Ma Khánh Bằng, xuất bản năm 1983 là một bức tranh toàn cảnh về người Sán Dìu ở Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu và trình bày một cách khái quát tổng thể về dân tộc Sán Dìu: từ tên gọi, lịch sử hình thành và phát triển đến cách tổ chức đời sống, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần cùng các phong tục tập quán làm nên các giá trị văn hóa riêng của tộc người Sán Dìu ở Việt Nam. Tác giả đã khẳng định tộc người Sán Dìu là “Một tộc người với dân số ít, tiếp thu văn hóa của nhiều dân tộc khác, song vẫn luôn ý thức được mình là một dân tộc”. Tác giả Diệp Trung Bình với Phong tục và nghi lễ chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam (2005) đã mô tả một cách toàn diện các nghi lễ trong chu kỳ đời người người Sán Dìu nói chung từ khi sinh ra đến khi mất đi. Đồng thời tác giả cũng đã có những ý kiến đánh giá về giá trị văn hóa và những biến đổi về văn hóa của tộc người Sán Dìu được thể hiện qua nghi lễ vòng đời người. Trong Tri thức dân gian trong chu kỳ đời người Sán Dìu ở Việt Nam, nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, 2011, tác giả Diệp Trung Bình cũng đã giới thiệu những đặc trưng văn hóa của tộc người Sán Dìu ở Việt Nam qua hệ thống những tri thức dân gian của đồng bào liên quan đến sinh đẻ, nuôi dạy con cái và sự trưởng thành, cưới xin, tang ma. Diệp Thanh Bình cũng đã sưu tầm và biên dịch những làn điệu dân ca của tộc người Sán Dìu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và những lời hát đối đáp trong đám cưới. Tất cả được tập trung trong cuốn Dân ca Sán Dìu, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, năm 1987. Cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) cũng trình bày một cách khái quát nhất về bức tranh tộc người Sán Dìu ở Việt Nam. Các tác giả đã giới thiệu những nét cơ bản về lịch sử tộc người, văn hóa mưu sinh, văn hóa vật chất qua nhà ở, trang phục, ẩm thực và văn hóa tinh thần: cưới xin, ma chay... Ngô Văn Trụ và Nguyễn Xuân Cần (Chủ biên), Dân tộc Sán Dìu ở Bắc Giang, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2003. Cuốn sách là một bức tranh toàn cảnh về người Sán Dìu ở Bắc Giang: Từ nguồn gốc, tên gọi, địa bàn cư trú… đến các hoạt động kinh tế truyền thống, ẩm thực, trang phục truyền thống, các phong tục nghi lễ liên quan đến chu kỳ đời người… Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh trong tác phẩm Văn hóa truyền thống dân tộc Sán Dìu ở Tuyên Quang, xuất bản năm 2011 cũng trình bày một cách tổng quan nhất từ lịch sử tộc người, địa bàn cư trú cùng những đặc trưng văn hóa của tộc người này ở tỉnh Tuyên Quang. Những công trình nghiên cứu trên đây cũng là một điều kiện về cơ sở lý luận, tạo thuận lợi cho tác giả có một cái nhìn khách quan, có sự đối sánh trong nghiên cứu những biến đổi văn hóa của người Sán Dìu ở Phú Bình – Thái Nguyên qua phong tục cưới xin và tang ma. Tác giả Nguyễn Thị Quế Loan cũng đã dày công nghiên cứu một khía cạnh văn hóa của người Sán Dìu Thái Nguyên trong luận án tiến sĩ Tập quán ăn uống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên. Luận án đã trình bày về nguồn gốc lương thực và thực phẩm truyền thống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, cách chế biến các món ăn, đồ uống, đồ hút truyền thống, sự tiếp thu các món ăn, đồ uống, đồ hút của các dân tộc khác, các yếu tố xã hội trong ăn uống, những biến đổi trong tập quán ăn uống của người Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Cùng một vấn đề trên, tác giả Nguyễn Thị Quế Loan còn có bài viết Biến đổi trong tập quán ăn uống của người Sán Dìu tỉnh Thái Nguyên trên Tạp chí Dân tộc học, số 2, trang 13, năm 2008. Lê Minh Chính cũng có công trình nghiên cứu về người Sán Dìu huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên dưới góc độ y học: Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ mang thai tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của biện pháp can thiệp. Trên tạp chí Dân tộc và thời đại, số 89, năm 2006, hai tác giả Đàm Thị Uyên và Nguyễn Thị Hải có bài viết Tín ngưỡng trong cư trú của người Sán Dìu ở Thái Nguyên. Bài báo đề cập đến vấn đề tổ chức xã hội và những quan niệm tâm linh của đồng bào Sán Dìu trong tập quán cư trú. Tạp chí Dân tộc và thời đại số 87, năm 2006 đăng tải bài viết của tác giả Nguyễn Thị Mai với nội dung nghiên cứu là Lễ hội cầu mùa của người Sán Dìu. Tác giả Chu Thái Sơn, nhà nghiên cứu dân tộc học, có cuốn Dân tộc Sán Dìu theo chương trình “Sách Nhà nước tài trợ cho thiếu nhi các trường trung học cơ sở miền núi vùng sâu vùng xa”, nhà xuất bản Kim Đồng, 2011. Tác phẩm đã giới thiệu sơ lược lịch sử dân tộc, cuộc sống lao động, tập quán sinh hoạt, phong tục cổ truyền, đời sống tâm linh và cuộc sống hiện nay của dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam. Các công trình nêu trên đã phản ánh một bước tiến lớn trong lịch sử nghiên cứu về văn hóa của người Sán Dìu nói chung; bước đầu hình thành những kết quả nghiên cứu về tộc người Sán Dìu cả nước nói chung và người Sán Dìu ở từng địa phương nói riêng. Tuy nhiên, vấn đề tìm hiểu người Sán Dìu ở Phú Bình – Thái Nguyên nói chung và đi sâu nghiên cứu những biến đổi văn hóa trong phong tục tập quán cưới xin và tang ma nói riêng vẫn còn nhiều bỏ ngỏ. Những công trình nghiên cứu trên đây là cơ sở để tôi đi sâu tìm hiểu, làm sáng rõ hơn những biến đổi văn hóa trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu ở Phú Bình – Thái Nguyên. 3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn Những biến đổi văn hóa trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu, nghiên cứu các giá trị văn hóa của tộc người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên được biểu hiện qua một số nghi lễ trong chu kỳ đời người. Trên cơ sở đó đề xuất một vài kiến nghị trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Sán Dìu ở địa bàn nghiên cứu nói riêng và tộc người Sán Dìu ở Việt Nam nói chung. Việc tìm hiểu phong tục cưới xin và nghi lễ tang ma liên quan đến các quan niệm tâm linh, về vũ trụ và cuộc sống con người. Vì vậy, nghiên cứu những biến đổi của dạng thức này là tiếp cận với các quan niệm về cưới xin và tang ma của người Sán Dìu. Việc nghiên cứu những biến đổi phong tục cưới xin và tang ma trong nghi lễ vòng đời hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Dựa vào đó, có những đề xuất nhằm phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và giảm thiểu những hủ tục lạc hậu còn tồn tại trong đời sống tinh thần đồng bào Sán Dìu. 3.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những biến đổi cơ bản và những nguyên nhân gây nên sự biến đổi trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên hiện nay, dựa trên cơ sở so sánh với phong tục truyền thống trước đây. Qua đó, các giá trị văn hóa trong các nghi lễ của dân tộc, các mối quan hệ giữa con người, giữa các thành viên trong gia đình và cộng đồng được bộc lộ rõ. Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, tập trung nghiên cứu tại 2 xã có số lượng người Sán Dìu sinh sống đông nhất là Bàn Đạt và Tân Khánh. Về thời gian: đề tài nghiên cứu đặc trưng văn hóa trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên từ truyền thống đến hiện tại dưới cái nhìn đối sánh. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận Đề tài thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và về văn hóa dân tộc. Theo đó, đề tài luôn xem xét và đánh giá các sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động liên tục trong không gian và thời gian. Đề tài cũng kế thừa thành tựu nghiên cứu, lý luận và phương pháp luận của các nhà dân tộc học tại thực địa. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là khảo sát điền dã dân tộc học, tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng thông qua phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm, đồng thời quan sát, ghi chép, ghi hình, ghi âm ở 2 xã (Bàn Đạt và Tân Khánh) trong huyện Phú Bình; nghiên cứu tài liệu văn bản; phương pháp liên ngành: dân tộc học, văn hóa học, lịch sử, xã hội học, so sánh, đối chiếu… Nguồn tài liệu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập hợp các tư liệu từ các nguồn: khảo sát, điền dã dân tộc học; trao đổi với các nhà khoa học; tìm hiểu các tài liệu, sách báo ấn phẩm về dân tộc Sán Dìu, các nghi lễ vòng đời của dân tộc Sán Dìu và của các dân tộc khác ở Việt Nam. 5. Đóng góp của đề tài Góp thêm nguồn tư liệu điền dã mới, qua đó thấy được những thay đổi rõ nét trong phong tục cưới xin và tang ma người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên hiện nay so với truyền thống. Là đề tài nghiên cứu mang tính hệ thống, chi tiết về hai phong tục trong số các nghi lễ vòng đời còn được duy trì và bảo tồn trong cộng đồng người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và những biến đổi của mỗi nghi lễ trong giai đoạn hiện nay. Góp phần nghiên cứu, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân Sán Dìu ở Việt Nam nói chung và ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách xã hội, văn hóa giáo dục, trong đó ưu tiên cho việc giữ gìn, bảo tồn các nghi lễ mang yếu tố tích cực, hạn chế những nghi lễ mang tính chất tiêu cực, tốn kém về vấn đề vật chất, hạn chế về trình độ nhận thức, gây cản trở sự phát triển xã hội. Điều này được gắn với việc xây dựng nếp sống văn hóa mới của cộng đồng ở địa phương trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 6. Bố cục luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Khái quát chung về tự nhiên và con người huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên. Chương 2: Truyền thống và biến đổi trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên. NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỰ NHIÊN VÀ CON NGƯỜI HUYỆN PHÚ BÌNH – TỈNH THÁI NGUYÊN 1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 1.1.1. Vị trí địa lý Thời Lý, vùng đất huyện Phú Bình ngày nay có tên gọi là huyện Tư Nông, thuộc châu Thái Nguyên. Thời Minh, thuộc phủ Thái Nguyên. Thời Lê, thuộc Thái Nguyên thừa tuyên, Ninh Sóc thừa tuyên. Đầu thế kỷ XX, Toàn quyền Đông Dương đổi tên huyện Tư Nông thành phủ Phú Bình. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, phủ Phú Bình là một trong bảy phủ, huyện, châu của tỉnh Thái Nguyên gồm 9 tổng, 46 xã, 7 thôn và 1 phường. Ngày 25 tháng 3 năm 1948, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh 148SL quy định bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận; cấp trên xã và dưới cấp tỉnh thống nhất gọi là cấp huyện. Từ đó phủ Phú Bình gọi là huyện Phú Bình 22, tr. 6. Đến nay, huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 20 xã và 1 thị trấn (Tân Khánh, Hà Châu, Tân Hoà, Đồng Liên, Lương Phú, Dương Thành, Tân Thành, Bảo Lý, Nhã Lộng, Tân Kim, Đào Xá, Tân Đức, Xuân Phương, Thanh Ninh, Kha Sơn, Úc Kỳ, Bàn Đạt, Điềm Thuỵ, Nga My, Thượng Đình và Thị trấn Hương Sơn) với 315 xóm và 4 tổ dân phố. Trong đó có 7 xã được xếp vào diện xã miền núi. Huyện Phú Bình có toạ độ địa lý là: 21o23 21o35 vĩ Bắc; 105o51 106o02 kinh Đông. Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đồng Hỷ. Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Phổ Yên và Thành phố Thái Nguyên. Phía Đông giáp huyện Yên Thế (Bắc Giang). Phía Nam giáp huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Phú Bình là địa đầu phía Nam tỉnh Thái Nguyên. Phú Bình không xa thành phố Thái Nguyên (trung tâm huyện lỵ cách Thành phố Thái Nguyên 28 km), Khu công nghiệp Gang thép, thủ đô Hà Nội, lại liền đường giao thông nên việc tiếp cận kinh tế thị trường, giao lưu kinh tế, xã hội giữa Phú Bình với Thái Nguyên, Hà Nội khá nhanh nhạy. Đó là cơ sở, là thế mạnh để Phú Bình tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thế kỷ XXI. 1.1.2. Điều kiện tự nhiên Tổng quỹ đất của huyện là 249,36 km2, trong đó diện tích đất dùng cho nông nghiệp là lớn nhất: 13.845,93 ha chiếm tỷ trọng 55,52% diện tích tự nhiên 30, tr.1. Địa hình: Có độ dốc giảm dần theo hướng Đông Bắc Tây Nam, với độ dốc khoảng 0,04%, độ chênh cao trung bình là 14m, thấp nhất là 10m (xã Dương Thành), đỉnh cao nhất là đỉnh đèo Bóp xã Tân Kim với độ cao là 250m so với mực nước biển. Nhìn chung, địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, vùng đồi núi chủ yếu là đồi bát úp thoải và thấp có độ cao dưới 100m. Diện tích có độ dốc nhỏ hơn 8o chiếm đa số (chiếm 67,56% tổng diện tích tự nhiên). Đây là điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây lương thực. Khí hậu, thuỷ văn: Do nằm ở Bắc chí tuyến, trong vành đai Bắc bán cầu nên khí hậu của huyện mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa (Thuộc vùng khí hậu nóng của tỉnh). Khí hậu mang đặc điểm của khí hậu trung du miền núi Bắc Bộ lại thuộc vùng Đông Bắc nên gió mùa dễ dàng xâm nhập. + Nhiệt độ trung bình năm: 23,1o 24,4oC. Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất với tháng lạnh nhất là 13,7oC. + Lượng mưa trung bình năm 2000 5000 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. + Tổng số giờ nắng trong năm dao động 1.206 1.570 giờ + Độ ẩm trung bình năm: 81 82% + Gió: Mùa hè có gió Đông Nam thịnh hành. Mùa đông có gió Đông Bắc nên thời tiết lạnh, khô. Vì thế sản xuất gặp không ít khó khăn. Phú Bình là một huyện thuộc vùng khí hậu ấm của tỉnh thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống cư dân, thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng bền vững nói chung và ngành nông lâm nghiệp nói riêng. Sông ngòi: Huyện Phú Bình có 2 con sông và 3 dòng suối chảy qua nên nguồn nước ở đây khá phong phú. Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình, bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn của tỉnh Bắc Kạn chảy qua Bạch Thông, Phú Lương, Võ Nhai rồi vòng theo hướng Tây Bắc Đông Nam về thành phố Thái Nguyên, trôi về Phú Bình, Phổ Yên và chạy vào địa phận tỉnh Bắc Giang. Đoạn sông Cầu chảy qua huyện Phú Bình có chiều dài 29 km, chảy từ đập Thác Huống (xã Đồng Liên) qua 9 xã, rồi đổ về Chã (Huyện Phổ Yên). Lòng sông rộng trung bình khoảng 120 m. Đây là điều kiện thuận lợi cho giao thông đường sông và cung ứng nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp. Sông Đào (Còn gọi là sông Máng) bắt nguồn từ đập Thác Huống (xã Đồng Liên) chảy qua địa phận 9 xã và đổ về sông Thương (Bắc Giang) với chiều dài 31 km. Đây là con sông nằm trong hệ thống đại thuỷ nông, hàng năm cung cấp nước tưới cho 1.800 ha ruộng của Phú Bình và hàng ngàn ha ruộng của các huyện Hiệp Hoà, Tân Yên, Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang. Phú Bình còn có 3 dòng suối chính bắt nguồn từ phía Đông Bắc của huyện chảy qua các xã Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành đổ vào sông Cầu. Với hệ thống sông ngòi như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp của huyện. 1.2. Điều kiện kinh tế xã hội Kinh tế Nhân dân Phú Bình sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp là 13.845,93 ha, trong đó, có 10.085,14 ha đất trồng cây hàng năm, 2.296,55 ha đất vườn tạp, 1.060,43 ha đất trồng cây lâu năm 32, tr.1, 2. Với tiềm năng đất đai như vậy, nhân dân cần cù lao động, giàu kinh nghiệm sản xuất, Phú Bình có điều kiện phát triển nông nghiệp. Ngoài việc cấy trồng lương thực, rau màu, Phú Bình còn có 400,8 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản. Sản xuất nông nghiệp tuy còn khó khăn, phụ thuộc vào thiên nhiên nhưng từ xưa đến nay, Phú Bình vẫn được coi là vựa lúa, kho người, kho của ở Thái Nguyên. Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, Phú Bình cũng có nhiều nghề thủ công. Đáng chú ý là nghề làm đồ gốm ở Lang Tạ, nghề đan lát đồ mây tre đều có rải rác ở các thôn xã (xã Thượng Đình, Điềm Thụy)...

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa “thống nhất trong đa dạng” Nền

văn hóa đó là sự hội tụ các giá trị văn hóa của 54 dân tộc cùng sinh sống trênlãnh thổ Việt Nam Trong lịch sử hình thành và phát triển, mỗi dân tộc đều sángtạo ra các giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng cho tộc người đó Mỗi tộcngười có những giá trị văn hóa riêng, qua lịch sử, các giá trị văn hóa ấy trởthành bản sắc văn hóa của từng tộc người, góp phần hình thành nền văn hóaViệt Nam đa sắc thái

Đặc trưng văn hóa là một trong 3 tiêu chí để xác định thành phần các dântộc ở Việt Nam Như vậy, sự tồn tại của mỗi tộc người gắn liền với bản sắc vănhóa Khi các giá trị văn hóa của một dân tộc mất đi sẽ dần kéo theo sự biến mấtcủa dân tộc đó Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, vấn đề văn hóa cácdân tộc ngày càng được quan tâm Một yêu cầu bức thiết đặt ra là hội nhậpkhông đồng nghĩa với hòa tan Chúng ta hội nhập cùng xu thế chung của quốc tếnhưng vẫn phải giữ được những giá trị dân tộc truyền thống Giá trị dân tộc ấy

là bản sắc văn hóa Và bản sắc văn hóa Việt Nam chính là các giá trị văn hóariêng của mỗi tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam mà cụ thể là của dântộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số còn lại Việc tìm hiểu, nghiên cứu bản sắc vănhóa Việt Nam không thể không gắn liền với vấn đề tìm hiểu bản sắc văn hóacủa từng tộc người riêng trong cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam

Đảng và Nhà nước ta cũng rất coi trọng đến vấn đề bảo tồn và phát huy

những giá trị văn hóa của các dân tộc Năm 1991, với “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội”, Đảng đã xác định: tôn

trọng lợi ích truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dântộc, đồng thời kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mĩ, các disản văn hóa nghệ thuật của dân tộc

Trang 2

Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Sán Dìu hay còn được

gọi là Sơn Dao Nhân (người Dao ở trên núi), tập trung sinh sống ở các tỉnh

Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái Đến Việt Nam và ở Thái Nguyên cách đây khoảng 3 thế kỷ, nhưng người SánDìu trong quá trình sinh sống và lao động đã sáng tạo ra những giá trị văn hóariêng cho tộc người mình, đồng thời có sự tiếp thu văn hóa của các tộc ngườicộng cư, tạo nên một đặc trưng văn hóa truyền thống cho dân tộc mình

Có thể khẳng định rằng các nghi lễ vòng đời là một trong những biểu hiệnsâu đậm về bản sắc văn hóa tộc người, đặc biệt là đời sống tâm linh, tâm lý vàphong tục tập quán của mỗi dân tộc Đồng thời đây cũng là mảng văn hóa đặcsắc được lưu giữ bền lâu và chậm biến đổi Bởi chính trong bản thân trong cácnghi lễ vòng đời chứa đựng các giá trị nhân văn đầy sâu sắc Điều này là nềntảng cho sự hưng thịnh của văn hóa tộc người Mỗi thành viên thuộc về tộcngười Sán Dìu, từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, đều trải qua các nghi lễ đờingười của tộc người mình Chính những nghi thức được thực hiện gắn với chu

kỳ đời người của người Sán Dìu đó đã góp phần tạo nên những giá trị văn hóacủa dân tộc Việc nghiên cứu các giá trị văn hóa của tộc người Sán Dìu khôngthể bỏ qua những nghi lễ vòng đời người

Các mốc quan trọng chính trong cuộc đời con người được trải qua cácnghi lễ cơ bản sau: cưới xin, sinh đẻ và tang ma Đây là những dịp đánh dấu cácbước ngoặt quan trọng trong cuộc đời con người Nó tạo ra trong bản thân mỗingười một sự phát triển phù hợp với quy luật của tự nhiên đồng thời cũng chịu

sự chi phối của các quy luật xã hội Vấn đề tìm hiểu văn hóa tộc người Sán Dìunói chung và lý giải những biến đổi trong nghi lễ vòng đời người nói riêng cònnhiều vấn đề cần được giải đáp

Với ý nghĩa đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài Những biến đổi văn hóa trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn

Trang 3

huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên làm đề tài nghiên cứu với hy vọng đưa ra

được những biến đổi sâu sắc trong phong tục cưới xin và tang ma của người SánDìu nơi đây, góp phần tìm hiểu các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở ViệtNam nói riêng, làm nền tảng cho việc tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam nóichung

Với đề tài này, chúng tôi mong rằng sau khi hoàn thành, kết quả của côngtrình sẽ đóng góp vào việc tìm hiểu văn hóa tộc người Sán Dìu cũng như vănhóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam Từ đó có những chính sách bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hóa thể hiện qua phong tục cưới xin và tang ma trongnghi lễ chu kỳ đời người người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh TháiNguyên nói riêng và tộc người Sán Dìu nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm gần đây, xu hướng tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa tộcngười đã, đang và rất được quan tâm Mặc dù chỉ chiếm khoảng 13% tổng sốdân cả nước nhưng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, mỗi dân tộc lại có một nềnvăn hóa riêng, độc đáo, tạo nên một nền văn hóa chung, thống nhất trong đadạng - một nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tộc người Sán Dìu ở Việt Nam cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiêncứu dân tộc học và nhiều tác giả dày công nghiên cứu Đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu về người Sán Dìu, cả về sách báo cũng như các tạp chí:

Cuốn Người Sán Dìu ở Việt Nam của tác giả Ma Khánh Bằng, xuất bản

năm 1983 là một bức tranh toàn cảnh về người Sán Dìu ở Việt Nam Tác giả đãnghiên cứu và trình bày một cách khái quát tổng thể về dân tộc Sán Dìu: từ têngọi, lịch sử hình thành và phát triển đến cách tổ chức đời sống, văn hóa vật chất,văn hóa tinh thần cùng các phong tục tập quán làm nên các giá trị văn hóa riêngcủa tộc người Sán Dìu ở Việt Nam Tác giả đã khẳng định tộc người Sán Dìu là

Trang 4

“Một tộc người với dân số ít, tiếp thu văn hóa của nhiều dân tộc khác, song vẫn luôn ý thức được mình là một dân tộc”.

Tác giả Diệp Trung Bình với Phong tục và nghi lễ chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam (2005) đã mô tả một cách toàn diện các nghi lễ trong

chu kỳ đời người người Sán Dìu nói chung từ khi sinh ra đến khi mất đi Đồngthời tác giả cũng đã có những ý kiến đánh giá về giá trị văn hóa và những biếnđổi về văn hóa của tộc người Sán Dìu được thể hiện qua nghi lễ vòng đời người

Trong Tri thức dân gian trong chu kỳ đời người Sán Dìu ở Việt Nam, nhà

xuất bản Văn hoá dân tộc, 2011, tác giả Diệp Trung Bình cũng đã giới thiệunhững đặc trưng văn hóa của tộc người Sán Dìu ở Việt Nam qua hệ thốngnhững tri thức dân gian của đồng bào liên quan đến sinh đẻ, nuôi dạy con cái và

sự trưởng thành, cưới xin, tang ma

Diệp Thanh Bình cũng đã sưu tầm và biên dịch những làn điệu dân ca củatộc người Sán Dìu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và những lời hát đối đáp

trong đám cưới Tất cả được tập trung trong cuốn Dân ca Sán Dìu, nhà xuất bản

Văn hóa dân tộc, năm 1987

Cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) cũng trình bày

một cách khái quát nhất về bức tranh tộc người Sán Dìu ở Việt Nam Các tácgiả đã giới thiệu những nét cơ bản về lịch sử tộc người, văn hóa mưu sinh, vănhóa vật chất qua nhà ở, trang phục, ẩm thực và văn hóa tinh thần: cưới xin, machay

Ngô Văn Trụ và Nguyễn Xuân Cần (Chủ biên), Dân tộc Sán Dìu ở Bắc Giang, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2003 Cuốn sách là một bức tranh toàn

cảnh về người Sán Dìu ở Bắc Giang: Từ nguồn gốc, tên gọi, địa bàn cư trú…đến các hoạt động kinh tế truyền thống, ẩm thực, trang phục truyền thống, cácphong tục nghi lễ liên quan đến chu kỳ đời người…

Trang 5

Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh trong tác phẩm Văn hóa truyền thống dân

tộc Sán Dìu ở Tuyên Quang, xuất bản năm 2011 cũng trình bày một cách tổng

quan nhất từ lịch sử tộc người, địa bàn cư trú cùng những đặc trưng văn hóa củatộc người này ở tỉnh Tuyên Quang

Những công trình nghiên cứu trên đây cũng là một điều kiện về cơ sở lýluận, tạo thuận lợi cho tác giả có một cái nhìn khách quan, có sự đối sánh trongnghiên cứu những biến đổi văn hóa của người Sán Dìu ở Phú Bình – TháiNguyên qua phong tục cưới xin và tang ma

Tác giả Nguyễn Thị Quế Loan cũng đã dày công nghiên cứu một khía

cạnh văn hóa của người Sán Dìu Thái Nguyên trong luận án tiến sĩ Tập quán ăn uống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên Luận án đã trình bày về nguồn gốc

lương thực và thực phẩm truyền thống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, cáchchế biến các món ăn, đồ uống, đồ hút truyền thống, sự tiếp thu các món ăn, đồuống, đồ hút của các dân tộc khác, các yếu tố xã hội trong ăn uống, những biếnđổi trong tập quán ăn uống của người Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Cùng một vấn đề trên, tác giả Nguyễn Thị Quế Loan còn có bài viết Biến đổi trong tập quán ăn uống của người Sán Dìu tỉnh Thái Nguyên trên Tạp chí

Dân tộc học, số 2, trang 13, năm 2008

Lê Minh Chính cũng có công trình nghiên cứu về người Sán Dìu huyện

Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên dưới góc độ y học: Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ mang thai tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của biện pháp can thiệp

Trên tạp chí Dân tộc và thời đại, số 89, năm 2006, hai tác giả Đàm Thị

Uyên và Nguyễn Thị Hải có bài viết Tín ngưỡng trong cư trú của người Sán Dìu ở Thái Nguyên Bài báo đề cập đến vấn đề tổ chức xã hội và những quan

niệm tâm linh của đồng bào Sán Dìu trong tập quán cư trú

Trang 6

Tạp chí Dân tộc và thời đại số 87, năm 2006 đăng tải bài viết của tác giả

Nguyễn Thị Mai với nội dung nghiên cứu là Lễ hội cầu mùa của người Sán Dìu.

Tác giả Chu Thái Sơn, nhà nghiên cứu dân tộc học, có cuốn Dân tộc Sán Dìu theo chương trình “Sách Nhà nước tài trợ cho thiếu nhi các trường trung học cơ sở miền núi - vùng sâu - vùng xa”, nhà xuất bản Kim Đồng, 2011 Tác

phẩm đã giới thiệu sơ lược lịch sử dân tộc, cuộc sống lao động, tập quán sinhhoạt, phong tục cổ truyền, đời sống tâm linh và cuộc sống hiện nay của dân tộcSán Dìu ở Việt Nam

Các công trình nêu trên đã phản ánh một bước tiến lớn trong lịch sửnghiên cứu về văn hóa của người Sán Dìu nói chung; bước đầu hình thànhnhững kết quả nghiên cứu về tộc người Sán Dìu cả nước nói chung và ngườiSán Dìu ở từng địa phương nói riêng Tuy nhiên, vấn đề tìm hiểu người Sán Dìu

ở Phú Bình – Thái Nguyên nói chung và đi sâu nghiên cứu những biến đổi vănhóa trong phong tục tập quán cưới xin và tang ma nói riêng vẫn còn nhiều bỏngỏ Những công trình nghiên cứu trên đây là cơ sở để tôi đi sâu tìm hiểu, làmsáng rõ hơn những biến đổi văn hóa trong phong tục cưới xin và tang ma củangười Sán Dìu ở Phú Bình – Thái Nguyên

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 7

- Việc tìm hiểu phong tục cưới xin và nghi lễ tang ma liên quan đến các

quan niệm tâm linh, về vũ trụ và cuộc sống con người Vì vậy, nghiên cứunhững biến đổi của dạng thức này là tiếp cận với các quan niệm về cưới xin vàtang ma của người Sán Dìu

- Việc nghiên cứu những biến đổi phong tục cưới xin và tang ma trongnghi lễ vòng đời hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựngđời sống văn hóa ở cơ sở Dựa vào đó, có những đề xuất nhằm phát huy giá trịvăn hóa truyền thống tốt đẹp và giảm thiểu những hủ tục lạc hậu còn tồn tạitrong đời sống tinh thần đồng bào Sán Dìu

3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những biến đổi cơ bản và nhữngnguyên nhân gây nên sự biến đổi trong phong tục cưới xin và tang ma của ngườiSán Dìu huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên hiện nay, dựa trên cơ sở so sánh vớiphong tục truyền thống trước đây Qua đó, các giá trị văn hóa trong các nghi lễcủa dân tộc, các mối quan hệ giữa con người, giữa các thành viên trong gia đình

và cộng đồng được bộc lộ rõ

- Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, tập trung

nghiên cứu tại 2 xã có số lượng người Sán Dìu sinh sống đông nhất là Bàn Đạt

và Tân Khánh

Về thời gian: đề tài nghiên cứu đặc trưng văn hóa trong phong tục cưới

xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh TháiNguyên từ truyền thống đến hiện tại dưới cái nhìn đối sánh

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận

Trang 8

Đề tài thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biệnchứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm củaĐảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và về văn hóa dân tộc Theo đó, đề tàiluôn xem xét và đánh giá các sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động liêntục trong không gian và thời gian.

Đề tài cũng kế thừa thành tựu nghiên cứu, lý luận và phương pháp luậncủa các nhà dân tộc học tại thực địa

- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là khảo sát điền dã dân tộc học, tiếpxúc trực tiếp với các đối tượng thông qua phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm,đồng thời quan sát, ghi chép, ghi hình, ghi âm ở 2 xã (Bàn Đạt và Tân Khánh)trong huyện Phú Bình; nghiên cứu tài liệu văn bản; phương pháp liên ngành:dân tộc học, văn hóa học, lịch sử, xã hội học, so sánh, đối chiếu…

- Nguồn tài liệu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập hợp các tư liệu từ

các nguồn: khảo sát, điền dã dân tộc học; trao đổi với các nhà khoa học; tìmhiểu các tài liệu, sách báo ấn phẩm về dân tộc Sán Dìu, các nghi lễ vòng đời củadân tộc Sán Dìu và của các dân tộc khác ở Việt Nam

5 Đóng góp của đề tài

- Góp thêm nguồn tư liệu điền dã mới, qua đó thấy được những thay đổi

rõ nét trong phong tục cưới xin và tang ma người Sán Dìu trên địa bàn huyệnPhú Bình, tỉnh Thái Nguyên hiện nay so với truyền thống

- Là đề tài nghiên cứu mang tính hệ thống, chi tiết về hai phong tục trong sốcác nghi lễ vòng đời còn được duy trì và bảo tồn trong cộng đồng người Sán Dìutrên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và những biến đổi của mỗi nghi

lễ trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

- Góp phần nghiên cứu, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp củadân Sán Dìu ở Việt Nam nói chung và ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên nóiriêng.

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng cơ sở khoa học choviệc hoạch định các chính sách xã hội, văn hóa giáo dục, trong đó ưu tiên choviệc giữ gìn, bảo tồn các nghi lễ mang yếu tố tích cực, hạn chế những nghi lễmang tính chất tiêu cực, tốn kém về vấn đề vật chất, hạn chế về trình độ nhậnthức, gây cản trở sự phát triển xã hội Điều này được gắn với việc xây dựng nếpsống văn hóa mới của cộng đồng ở địa phương trong thời kì công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về tự nhiên và con người huyện Phú Bình –tỉnh Thái Nguyên

Chương 2: Truyền thống và biến đổi trong phong tục cưới xin và tang macủa người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên

Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị trong phongtục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình – tỉnhThái Nguyên

Trang 10

Đầu thế kỷ XX, Toàn quyền Đông Dương đổi tên huyện Tư Nông thànhphủ Phú Bình.

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, phủ Phú Bình là một trong bảy phủ,huyện, châu của tỉnh Thái Nguyên gồm 9 tổng, 46 xã, 7 thôn và 1 phường

Ngày 25 tháng 3 năm 1948, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra Sắc lệnh 148/SL quy định bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận; cấp trên xã vàdưới cấp tỉnh thống nhất gọi là cấp huyện Từ đó phủ Phú Bình gọi là huyệnPhú Bình1 [22, tr 6]

Đến nay, huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 20 xã và 1thị trấn (Tân Khánh, Hà Châu, Tân Hoà, Đồng Liên, Lương Phú, Dương Thành,Tân Thành, Bảo Lý, Nhã Lộng, Tân Kim, Đào Xá, Tân Đức, Xuân Phương,Thanh Ninh, Kha Sơn, Úc Kỳ, Bàn Đạt, Điềm Thuỵ, Nga My, Thượng Đình vàThị trấn Hương Sơn) với 315 xóm và 4 tổ dân phố Trong đó có 7 xã được xếpvào diện xã miền núi

1 Ngày 1/7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 268 SL thành lập khu tự trị Việt Bắc, huyện Phú Bình được tách khỏi tỉnh Thái Nguyên, sát nhập vào Bắc Giang, sau gần 1 năm, ngày 15/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định trả huyện Phú Bình về tỉnh Thái Nguyên.

Trang 11

Huyện Phú Bình có toạ độ địa lý là: 21o23' - 21o35' vĩ Bắc; 105o51'

-106o02' kinh Đông

Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đồng Hỷ

Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Phổ Yên và Thành phố Thái Nguyên.Phía Đông giáp huyện Yên Thế (Bắc Giang)

Phía Nam giáp huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang)

Phú Bình là địa đầu phía Nam tỉnh Thái Nguyên Phú Bình không xathành phố Thái Nguyên (trung tâm huyện lỵ cách Thành phố Thái Nguyên 28km), Khu công nghiệp Gang thép, thủ đô Hà Nội, lại liền đường giao thông nênviệc tiếp cận kinh tế thị trường, giao lưu kinh tế, xã hội giữa Phú Bình với TháiNguyên, Hà Nội khá nhanh nhạy Đó là cơ sở, là thế mạnh để Phú Bình tiếnnhanh, tiến vững chắc trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thế

kỷ XXI

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Tổng quỹ đất của huyện là 249,36 km2, trong đó diện tích đất dùng chonông nghiệp là lớn nhất: 13.845,93 ha chiếm tỷ trọng 55,52% diện tích tự nhiên[30, tr.1]

- Địa hình: Có độ dốc giảm dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, với độdốc khoảng 0,04%, độ chênh cao trung bình là 14m, thấp nhất là 10m (xãDương Thành), đỉnh cao nhất là đỉnh đèo Bóp xã Tân Kim với độ cao là 250m

so với mực nước biển

Nhìn chung, địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, vùng đồi núi chủyếu là đồi bát úp thoải và thấp có độ cao dưới 100m Diện tích có độ dốc nhỏhơn 8o chiếm đa số (chiếm 67,56% tổng diện tích tự nhiên) Đây là điều kiện tự

Trang 12

nhiên thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây lươngthực.

- Khí hậu, thuỷ văn: Do nằm ở Bắc chí tuyến, trong vành đai Bắc bán cầunên khí hậu của huyện mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa (Thuộcvùng khí hậu nóng của tỉnh) Khí hậu mang đặc điểm của khí hậu trung du miềnnúi Bắc Bộ lại thuộc vùng Đông Bắc nên gió mùa dễ dàng xâm nhập

+ Nhiệt độ trung bình năm: 23,1o - 24,4oC Nhiệt độ chênh lệch giữatháng nóng nhất với tháng lạnh nhất là 13,7oC

+ Lượng mưa trung bình năm 2000 - 5000 mm, lượng mưa cao nhất vàotháng 8 và thấp nhất vào tháng 1

+ Tổng số giờ nắng trong năm dao động 1.206 - 1.570 giờ

- Sông ngòi: Huyện Phú Bình có 2 con sông và 3 dòng suối chảy qua nênnguồn nước ở đây khá phong phú

Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình, bắt nguồn từ huyện ChợĐồn của tỉnh Bắc Kạn chảy qua Bạch Thông, Phú Lương, Võ Nhai rồi vòngtheo hướng Tây Bắc - Đông Nam về thành phố Thái Nguyên, trôi về Phú Bình,Phổ Yên và chạy vào địa phận tỉnh Bắc Giang Đoạn sông Cầu chảy qua huyệnPhú Bình có chiều dài 29 km, chảy từ đập Thác Huống (xã Đồng Liên) qua 9

xã, rồi đổ về Chã (Huyện Phổ Yên) Lòng sông rộng trung bình khoảng 120 m

Trang 13

Đây là điều kiện thuận lợi cho giao thông đường sông và cung ứng nước tướitiêu cho sản xuất nông nghiệp.

Sông Đào (Còn gọi là sông Máng) bắt nguồn từ đập Thác Huống (xãĐồng Liên) chảy qua địa phận 9 xã và đổ về sông Thương (Bắc Giang) vớichiều dài 31 km Đây là con sông nằm trong hệ thống đại thuỷ nông, hàng nămcung cấp nước tưới cho 1.800 ha ruộng của Phú Bình và hàng ngàn ha ruộngcủa các huyện Hiệp Hoà, Tân Yên, Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang

Phú Bình còn có 3 dòng suối chính bắt nguồn từ phía Đông Bắc củahuyện chảy qua các xã Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành đổvào sông Cầu

Với hệ thống sông ngòi như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuấtnông nghiệp của huyện

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Kinh tế

Nhân dân Phú Bình sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp Diệntích đất nông nghiệp là 13.845,93 ha, trong đó, có 10.085,14 ha đất trồng câyhàng năm, 2.296,55 ha đất vườn tạp, 1.060,43 ha đất trồng cây lâu năm [32, tr.1,2] Với tiềm năng đất đai như vậy, nhân dân cần cù lao động, giàu kinh nghiệmsản xuất, Phú Bình có điều kiện phát triển nông nghiệp Ngoài việc cấy trồnglương thực, rau màu, Phú Bình còn có 400,8 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản

Sản xuất nông nghiệp tuy còn khó khăn, phụ thuộc vào thiên nhiên nhưng

từ xưa đến nay, Phú Bình vẫn được coi là vựa lúa, kho người, kho của ở TháiNguyên

Trang 14

Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, Phú Bình cũng có nhiều nghề thủ công.Đáng chú ý là nghề làm đồ gốm ở Lang Tạ, nghề đan lát đồ mây tre đều có rảirác ở các thôn xã (xã Thượng Đình, Điềm Thụy)

Do vị trí địa lý, giao thông thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa, đặc biệtthuận tiện trong cung cấp lương thực, thực phẩm cho thị trường Thái Nguyên,Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội nên buôn bán ở Phú Bình có vị trí đáng kể.Huyện Phú Bình còn có một số chợ lớn nằm sát đường giao thông, đó chính lànhững cầu giao lưu hàng hóa với các vùng xung quanh, như Chợ Đồn, Chợ Cầu,chợ Tân Đức, Chợ Hanh Thị trấn Hương Sơn ngày càng được mở rộng, dân cưhội tụ về đây làm ăn buôn bán ngày một sầm uất

Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Phú Bình thực hiện công cuộc đổi mới

do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo (1986) qua các kỳ Đại hộiĐảng bộ huyện (Từ Đại hội XIX năm 1986 đến Đại hội lần thứ XXIV giai đoạn2005- 2010) đã thu được nhiều kết quả trên mọi lĩnh vực và từng bước phát huyđược tiềm năng của địa phương Năm 2011, chính quyền và nhân dân huyệnPhú Bình phải đối mặt với những thách thức trong bối cảnh khó khăn chung của

cả nước, nhưng việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện đãđạt được những thành tựu đáng kể sau:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn ước đạt 11,5%

Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 13 triệu đồng/người/năm

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2011 tăng 3,9%, trong đógiá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng 5,2% (Do được mùa cả 2 vụ lúa, là năm cónăng suất lúa cao nhất từ trước tới nay, các cây trồng khác tương đối ổn định vàthuận lợi) Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm đạt Sản lượng lương thực

có hạt 75.877 tấn, tăng 3,7% so với năm 2010

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 48,5 tỷ đồng

Trang 15

Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (theo giá cố định năm1994) ước đạt 75 tỷ đồng.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 17.000 tấn, tăng 6,25% so với năm2010

Diện tích trồng rừng toàn huyện đạt 351 ha, tăng 56,5% so với năm 2010.Giá trị sản phẩm/1ha đất nông nghiệp trồng trọt (theo giá thực tế) ước đạt

67 triệu đồng, tăng 9 triệu đồng so với kế hoạch

Tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 25%

* Xã hội

Theo kết quả sơ bộ cuộc Tổng điều tra Dân số của huyện tính đến ngày01- 4 - 2009 dân số huyện Phú Bình là 133.322 người, 34.963 hộ Trong đó:Dân số khu vực nông thôn là 125.887 người, dân số thành thị là 7.435 người.Mật độ dân số trung bình là 556 người/km2 đứng thứ 2 sau Thành phố TháiNguyên

Ngoài tiềm năng về đất đai và tài nguyên, tiềm năng về lao động là điểmđáng chú ý của Phú Bình

Trong năm đã tạo việc làm mới cho 3.100 lao động, bằng 103% chỉ tiêu

kế hoạch năm, trong đó đi lao động có thời hạn tại nước ngoài 130 người, bằng108,3% kế hoạch năm; Trung tâm dạy nghề huyện đã đào tạo và liên kết đào tạonghề cho trên 702 người, bằng 140% kế hoạch năm, trong đó 96,8% lao động cóviệc làm ngay sau đào tạo

Giảm tỷ suất sinh thô trên địa bàn ước đạt 0,30/oo, vượt 0,10/oo so với kếhoạch

Giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn 5,07%, vượt 2,07% so với kế hoạch

Ngày đăng: 11/11/2015, 10:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Dân số huyện Phú Bình chia theo dân tộc, giới tính và khu - Những biến đổi văn hóa trong phong tục cưới xin và tang ma của người sán dìu trên địa bàn huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 1.1 Dân số huyện Phú Bình chia theo dân tộc, giới tính và khu (Trang 19)
Bảng 1.2: Dân số người Sán Dìu ở huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên - Những biến đổi văn hóa trong phong tục cưới xin và tang ma của người sán dìu trên địa bàn huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 1.2 Dân số người Sán Dìu ở huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w