1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Học thuyết phật giáo nguyên thủy và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa xã hội việt nam

24 691 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 190,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUPhật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, ra đời ở Ấn Độ vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI trước Công nguyên. “Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ chia làm 4 thời kỳ: Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, thời kỳ các bộ phái của Phật giáo, thời kỳ Phật giáo đại thừa và thời kỳ Mật giáo. Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy là thời kỳ từ thế kỷ VI, V tr. Công nguyên đến giữa thế kỷ IV tr. Công nguyên” 12, tr.185.Tư tưởng Phật giáo nguyên thủy trước hết là tư tưởng triết lý và luân lý. Triết lý của Phật giáo là triết lý lấy nhân quả mà suy luận, làm rõ nhân duyên của tạo hóa, phá tan sự mờ tối che lấp trí sáng tỏ, cắt đứt lưới mộng ảo trói buột người vào sinh tử khổ não, đưa con người đến chỗ tịch tính, yên vui. Luân lý Phật giáo là luân lý lấy vô lượng từ bi mà yêu người, thương vật, tế độ chúng sinh, không phân biệt người với ta, không phân chia giai cấp sang hèn.Tuy nhiên, tư tưởng giải thoát mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộc sống, chủ trương “xuất thế”, “siêu thoát” có tính chất duy tâm, không tưởng về những vấn đề xã hội đã phần nào hạn chế khã năng sáng tạo, tính chủ động của con người.Phật giáo là một tôn giáo, tín ngưỡng gần gũi đối với con người Việt Nam, nó còn đóng góp to lớn trong việc làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc, tình thương, lòng nhân ái của con người. Nó khơi dậy trong con người một sự giải thoát tĩnh lại.Do đó, tôi chọn đề tài “Học thuyết Phật giáo nguyên thủy và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa xã hội Việt Nam” để làm tiểu luận NỘI DUNGCHƯƠNG I: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI trước Công nguyên gắn liền với những điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của Ấn Độ lúc bấy giờ.Về điều kiện tự nhiên: Ấn Độ cổ đại là một lục địa lớn ờ phía Nam châu Á, có những yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao, lại vừa có biển rộng; vừa có sông Ấn chảy về phía Tây, lại vừa có sông Hằng chảy về phía Đông; vừa có đồng bằng phì nhiêu, lại có sa mạc khô cằn; vừa có tuyết rơi giá lạnh, lại có nắng cháy, nóng bức,…Về điều kiện kinh tế – xã hội: Xã hội Ấn Độ cổ đại ra đời sớm. Theo tài liệu khảo cổ học, vào khoảng thế kỷ XXV trước Công nguyên (tr.CN) đã xuất hiện nền văn minh sông Ấn, sau đó bị tiêu vong, nay vẫn chưa rõ nguyên nhân. Từ thế kỷ XV tr.CN, các bộ laic du mục Arya từ Trung Á xâm nhập vào Ấn Độ. Họ định cư rồi đồng hoá với người bản địa Dravida tạo thành cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thou hai trên đất Ấn Độ, từ thế kỷ thou VII tr.CN đến thế kỷ XVI sau Công nguyên, đất nước Ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài.Đặc điểm nổi bật điều kiện kinh tế – xã hội của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình “công xã nông thôn”, trong đó, theo C.Mác, chế độ quốc hữu về ruộng đất là cơ sở quan trọng nhất để tìm hiểu toàn bộ lịch sử Ấn Độ cổ đại. Trên cơ sở đó đã phân hoá và tồn tại bốn đẳng cấp lớn: Đẳng cấp tăng lữ (Brahman hay đẳng cấp Bàlamôn): là đẳng cấp có vị trí cao nhất, vừa thực hiện chức năng thần quyền, vừa thực hiện một phần (phần quan trọng) chức năng thế quyền. Mặc dù đạo Bàlamôn không có tổ chức giáo hội, nhưng sự kết hợp giữa nó với thế quyền làm cho đẳng cấp này có được địa vị cao nhất. Đẳng cấp quý tộc (Ksatriya): thực hiện chức năng thế quyền, song một phần quyền lực bị đẳng cấp Bàlamôn lấn lướt, nắm giữ. Đẳng cấp bình dân tự do (Vaisya): dân tự do ở Aán Độ và các nước khu vực châu Aù khác với dân tự do ở phương Tây, vì ở các nước này, dân tự do là lực lượng sản xuất chủ yếu, do vậy, họ cũng là bộ phận đông đảo nhất và có vai trò nhất định dù là trong xã hội chiếm nô hay phong kiến. Tất nhiên, về địa vị xã hội họ vẫn đứng sau đẳng cấp tăng lữ và đẳng cấp quý tộc. Đẳng cấp nô lệ (Ksudra): có địa vị thấp nhất. Song cũng khác với phương Tây, ở đây nô lệ không phải là lực lượng sản xuất chủ yếu, mà là nô lệ có tính gia đình, làm công việc hầu hạ, phục dịch cho các đẳng cấp trên.Ngoài ra sự phân hoá giai cấp và đẳng cấp hết sức khắc nghiệt, xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo. Phật giáo ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, kêu gọi lòng yêu thương, mối quan hệ bình đẳng giữa người với người, cho nên có thể nói Phật giáo chính là ước mơ, khát vọng, là tư tưởng của các đẳng cấp dưới trong xã hội lúc bấy giờ.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, ra đời ở Ấn Độ vàokhoảng cuối thế kỷ thứ VI trước Công nguyên “Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ chia làm 4thời kỳ: Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, thời kỳ các bộ phái của Phật giáo, thời kỳ Phậtgiáo đại thừa và thời kỳ Mật giáo Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy là thời kỳ từ thế kỷ

VI, V tr Công nguyên đến giữa thế kỷ IV tr Công nguyên” [12, tr.185]

Tư tưởng Phật giáo nguyên thủy trước hết là tư tưởng triết lý và luân lý.Triết lý của Phật giáo là triết lý lấy nhân quả mà suy luận, làm rõ nhân duyên củatạo hóa, phá tan sự mờ tối che lấp trí sáng tỏ, cắt đứt lưới mộng ảo trói buộtngười vào sinh tử khổ não, đưa con người đến chỗ tịch tính, yên vui Luân lýPhật giáo là luân lý lấy vô lượng từ bi mà yêu người, thương vật, tế độ chúngsinh, không phân biệt người với ta, không phân chia giai cấp sang hèn

Tuy nhiên, tư tưởng giải thoát mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộcsống, chủ trương “xuất thế”, “siêu thoát” có tính chất duy tâm, không tưởng vềnhững vấn đề xã hội đã phần nào hạn chế khã năng sáng tạo, tính chủ động củacon người

Phật giáo là một tôn giáo, tín ngưỡng gần gũi đối với con người Việt Nam,

nó còn đóng góp to lớn trong việc làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc,tình thương, lòng nhân ái của con người Nó khơi dậy trong con người một sựgiải thoát tĩnh lại

Do đó, tôi chọn đề tài “Học thuyết Phật giáo nguyên thủy và ảnh hưởng của

nó đến đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam” để làm tiểu luận

Trang 2

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ

1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội

Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế

kỷ thứ VI trước Công nguyên gắn liền với những điều kiện tự nhiên, kinh tế –

xã hội của Ấn Độ lúc bấy giờ

Về điều kiện tự nhiên: Ấn Độ cổ đại là một lục địa lớn ờ phía Nam châu

Á, có những yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao, lại vừa có biểnrộng; vừa có sông Ấn chảy về phía Tây, lại vừa có sông Hằng chảy về phíaĐông; vừa có đồng bằng phì nhiêu, lại có sa mạc khô cằn; vừa có tuyết rơi giálạnh, lại có nắng cháy, nóng bức,…

Về điều kiện kinh tế – xã hội: Xã hội Ấn Độ cổ đại ra đời sớm Theo tàiliệu khảo cổ học, vào khoảng thế kỷ XXV trước Công nguyên (tr.CN) đã xuấthiện nền văn minh sông Ấn, sau đó bị tiêu vong, nay vẫn chưa rõ nguyên nhân

Từ thế kỷ XV tr.CN, các bộ laic du mục Arya từ Trung Á xâm nhập vào Ấn Độ

Họ định cư rồi đồng hoá với người bản địa Dravida tạo thành cơ sở cho sự xuấthiện quốc gia, nhà nước lần thou hai trên đất Ấn Độ, từ thế kỷ thou VII tr.CNđến thế kỷ XVI sau Công nguyên, đất nước Ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến

cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triềutrong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài

Đặc điểm nổi bật điều kiện kinh tế – xã hội của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại

là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình “công xãnông thôn”, trong đó, theo C.Mác, chế độ quốc hữu về ruộng đất là cơ sở quantrọng nhất để tìm hiểu toàn bộ lịch sử Ấn Độ cổ đại Trên cơ sở đó đã phân hoá

và tồn tại bốn đẳng cấp lớn:

Trang 3

- Đẳng cấp tăng lữ (Brahman hay đẳng cấp Bàlamơn): là đẳng cấp cĩ

vị trí cao nhất, vừa thực hiện chức năng thần quyền, vừa thực hiện một phần(phần quan trọng) chức năng thế quyền Mặc dù đạo Bàlamơn khơng cĩ tổ chứcgiáo hội, nhưng sự kết hợp giữa nĩ với thế quyền làm cho đẳng cấp này cĩ đượcđịa vị cao nhất

- Đẳng cấp quý tộc (Ksatriya): thực hiện chức năng thế quyền, song một

phần quyền lực bị đẳng cấp Bàlamơn lấn lướt, nắm giữ

- Đẳng cấp bình dân tự do (Vaisya): dân tự do ở Aán Độ và các nước khu

vực châu Aù khác với dân tự do ở phương Tây, vì ở các nước này, dân tự do làlực lượng sản xuất chủ yếu, do vậy, họ cũng là bộ phận đơng đảo nhất và cĩ vaitrị nhất định dù là trong xã hội chiếm nơ hay phong kiến Tất nhiên, về địa vị xãhội họ vẫn đứng sau đẳng cấp tăng lữ và đẳng cấp quý tộc

- Đẳng cấp nơ lệ (Ksudra): cĩ địa vị thấp nhất Song cũng khác với

phương Tây, ở đây nơ lệ khơng phải là lực lượng sản xuất chủ yếu, mà là nơ lệ

cĩ tính gia đình, làm cơng việc hầu hạ, phục dịch cho các đẳng cấp trên

Ngồi ra sự phân hố giai cấp và đẳng cấp hết sức khắc nghiệt, xã hội Ấn

Độ lúc bấy giờ cịn cĩ sự phân biệt chủng tộc, dịng dõi, nghề nghiệp, tơn giáo.Phật giáo ra đời trong làn sĩng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamơn và chế độphân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, kêu gọi lịng yêu thương, mối quan hệbình đẳng giữa người với người, cho nên cĩ thể nĩi Phật giáo chính là ước mơ,khát vọng, là tư tưởng của các đẳng cấp dưới trong xã hội lúc bấy giờ

1.2 Vai trị của người sáng lập

Phật giáo ra đời gắn liền với tên tuổi của một người thuộc tầng lớp caotrong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, đĩ là Thích Ca Mâu Ni Thích Ca Mâu Ni tênthật là Tất Đạt Đa (Siddharta), họ Cù Đàm (Gautama), ơng sinh ngày 8 tháng 4khoảng năm 563 trước Cơng nguyên và mất năm 483 trước Cơng nguyên Ơng là

Trang 4

con vua nước Tịnh Phạn, thuộc bộ tộc Sakiya Mặc dù được kế vị ngôi vua cha,nhưng đến năm 29 tuổi, ông đã từ bỏ cung điện, từ bỏ vợ con, bỏ trốn gia đình đitìm đường giải thoát cho chúng sinh.

Sau nhiều năm tìm con đường giải thoát cho chúng sinh bằng nhiều cáchthức khác nhau nhưng vẫn chưa thành công Cuối cùng, ông nhận thấy tu khổhạnh chỉ làm suy giảm tinh thần và trí tuệ; còn lối sống hưởng thụ vật chất thì chỉlàm chậm trễ sự tiến bộ của đạo đức và tâm trí, chỉ có con đường trung đạo mớimong thành chánh quả Sau 48 ngày đêm nhập định, ông đã ngộ đạo, trở thànhĐức Phật, Đức Thế Tôn hay Như Lai Lúc bấy giờ ông vừa đúng 35 tuổi

Sau khi đắc đạo, Phật tổ đi khắp nơi truyền bá tư tưởng của mình và thunhận học trò Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viếtthành văn, thể hiện trong khối lượng kinh điển rất lớn, gọi là “Tam tạng” gồm ba

bộ phận:

- Tạng kinh (Sutra-pitaka), ghi lời Phật dạy

- Tạng luật (Vinaya-pitaka), gồm các giới luật của đạo Phật

- Tạng luận (Abhidharma-pitaka), gồm các bài kinh, các tác phẩm luậngiải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau

Trang 5

CHƯƠNG II: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

2.1 Quan niệm về thế giới

Tuy vấn đề giải thoát là mục đích tối cao, là trung tâm của Phật giáo,nhưng trong triết lý Phật giáo vẫn toát lên những vấn đề về bản thể luận, nhữngvấn đề này được thể hiện trong tư tưởng về “vô thường”, “vô ngã”, qua họcthuyết về ‘nhân quả” hay “nhân sinh duyên”

Trong quan điểm về thế giới, trái với tư tưởng trong kinh Veda và kinhUpanishad cũng như trong giáo lý đạo Bàlamôn, thừa nhận sự tồn tại của mộtthực thể siêu nhiên sáng tạo và chi phối vũ trụ vạn vật (Brahma, Thượng đế);Phật giáo cho rằng thế giới về bản chất chỉ là một dòng biến ảo vô thuờng, không

do một vị thần nào sáng tạo ra cả Do vậy, trong thế giới không thực có vật,không thực có cái ngã, không có thực thể nào tồn tại thường định và vĩnh viễn.Ngay cả bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng qua là do “ngũ uẩn”hội tụ lại là: Sắc (vật chất), Thụ (cảm giác), Tưởng (ấn tượng), Hành (suy lý) vàThức (ý thức) Như vậy, không có cái gọi là “tôi” (vô ngã)

Theo triết lý Phật giáo, sở dĩ vũ trụ vạn vật biến hóa vô thường chính là dovạn vật trong vũ trụ chịu sự chi phối của luật nhân – quả Cái nhân nhờ có duyên

nợ mà trở thành quả; quả mới lại nhờ duyên mới trợ giúp mà tạo thành nhânmới Cứ như vậy, thế giới sự vật, hiện tượng cứ sinh hóa, biến hiện khôngngừng, không nghỉ theo chu trình bất tận: sinh – trụ – dị – diệt Quá trình đó cóthể diễn ra trong nháy mắt (một satna, một niệm) hay trong từng giai đoạn có sựbiến đổi về chất Vì thế, kinh Pháp cú đã viết: “các hành đều vô thường khiđem trí tuệ soi xét được như thế thì sẽ nhằm lìa thống khổ” Vậy thì “có có” –

Trang 6

“không không” luân hồi bất tận; “thoáng có”, “thoáng không”, cái còn thì chẳngcòn, cái mất thì chẳng mất.

Theo triết lý Phật giáo: tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới từ cái

vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, từ cái đơn giản đến cái phức tạp, đều chịu sựchi phối, tác động của luật nhân quả mà tồn tại và biến hiện Cái gì phát động ra

ở vật, làm cho nó biến đổi, gây ra một hay nhiều kết quả nào đó gọi là nhân Cái

gì được kết tập lại do một hay nhiều nhân gọi là quả Duyên là điều kiện, là mốiliên hệ trợ giúp cho nhân (ở trạng thái khả năng) biến thành quả (ở trạng tháihiện thực) Như thế duyên không chỉ là một cái gì đó cụ thể, xác định mà còn làđiều kiện, sự tương hợp, tương sinh nói chung giúp cho vạn pháp sinh thành vàbiến đổi

Do nhân duyên tan hợp, hợp tan, vạn vật cứ sinh hóa biến luận vô thường,hết thảy thế giới thiên hình, vạn trạng cũng chỉ là hư ảo, không có thực thể,không có bản ngã, không thực có cảnh có vật Đó là chân lý cho ta biết thựctướng của vạn pháp, chân thể của vũ trụ và chân bản tính của con người Thấyđược điều đó gọi là chân như (satya koka), là đạt tới cõi hạnh phúc, vô dục,thanh tịnh, an lạc, bất sinh bất diệt gọi là Niết bàn (Nirvana)

2.2 Quan niệm về đạo đức nhân sinh

Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự “giải thoát”(Moksa) khỏi vòng luân hồi, “nghiệp báo” để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn.Triết lý Phật giáo đã vạch ra nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đường dẫn

tới sự diệt khổ nhằm giải thoát chúng sinh khỏi bể khổ của cuộc đời bằng “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên” và “Bát chính đạo” Đây là tư tưởng triết học

đạo đức nhân sinh căn bản nhất của Phật giáo

“Tứ diệu đế” được Phật giáo coi là bốn chân lý cao thượng, chắc chắn,

hiển nhiên Tứ diệu đế bao gồm Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế

Trang 7

- Khổ đế (Duhkha – satya): Phật giáo coi cuộc đời con người là khổ, theo

quan niệm này, cái khổ bao gồm cả cái khổ và cái vui trong đời sống trần tục, vìcái vui cũng chỉ là giả tạo Kinh phật nói: “nước mắt chúng sinh nhiều hơn cảnước ở đại dương” Phật giáo đã chỉ ra tám nỗi khổ (bát khổ): sinh, lão (già),bệnh (ốm đau), tử (chết), thụ biệt ly (thương yêu nhau phải xa nhau), oán tănghội (oán ghét nhau nhưng phải sống gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốnnhưng không được), ngũ thụ uẩn (năm yếu tố uẩn tụ lại nung nấu làm khổ sở)

- Tập đế (Samudayya – satya): là nguyên nhân của đau khổ Phật giáo cắt

nghĩa nguyên nhân của sự khổ trên bằng thuyết “Thập nhị nhân duyên”:

+ Vô minh: còn gọi là “bến mê” - là sự ngu tối, làm cho con người tasống lầm lạc, đắm chìm trong đời thường Do vô minh mà có hành, vô minh làmnhân cho hành Vô minh là nguyên nhân gốc vì vô minh là khởi đầu của cácnhân duyên khác

+ Hành: là tưởng nghĩ, là hành động tạo tác, thì thành ra cái nghiệp, tức làcái nếp, cái tập khí Bởi cái nghiệp mà hành động tạo tác mãi Do hành mà cóthức, do hành làm quả cho vô minh và lại làm nhân cho thức

+ Thức: là ý thức, là biết, biết ta là ta, biết ta là một hành động tạo tácđược Do thức mà có danh sắc, do thức làm quả cho hành và lại làm nhân chodanh sắc

+ Danh sắc: là tên và hình Ta đã biết ta là riêng một vật, thì phải có tên cóhình của ta Do danh sắc mà có lục xứ Vì danh sắc làm quả cho thức và lại làmnhân cho lục xứ

+ Lục căn hay lục nhập là sáu chỗ, tức là sáu giác quan Ta thường nói cóngũ quan là: tai, mắt, mũi, lưỡi, thân mà thôi Đạo Phâït nói thêm một giác quannữa là ý thức, tức là sự suy nghĩ, sự nhận biết của mình Đã có tên, có hình là có

Trang 8

lục xứ để giao tiếp với những ngoại vật Do lục căn mà cĩ xúc Vì lục căn làmquả cho danh sắc và lại làm nhân cho xúc.

+ Xúc là xúc tiếp Bởi cĩ lục xứ là tai, mắt thì ta xúc tiếp với nhữngthanh âm, hình sắc của ngoại vật vào mình Do xúc mà cĩ thụ Vì xúc làm quảcho lục xứ và lại làm nhân cho thụ

+ Thụ là chịu, là lĩnh nạp cái ảnh hưởng, cái thế lực, hoặc cái thanh âm,hình sắc của ngoại vật vào mình Do thụ mà cĩ ái Vì thụ làm quả cho xúc vàlàm nhân cho ái

+ Aùi là khát vọng yêu thích, mong muốn, tức là lịng tư dục Do ái mà cĩthủ Vì ái làm quả cho thụ và lại làm nhân cho thủ

+ Thủ là lấy, giữ lấy, quyến luyến lấy những sự nĩ làm cho ta sống Dẫu tabiết sống là khổ, nhưng vẫn khơng bỏ những cái ta muốn lấy để sống, cứ theo đuổi

để lấy cho được Do thủ mà cĩ hữu Vì thủ làm quả cho ái và lại làm nhân cho hữu

+ Hữu là cĩ, cĩ ta, cĩ sống ở trong thế gian Bởi ham muốn những cái nĩlàm cho ta sống, cho ta thích, như là ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức Vì cĩngũ uẩn ấy cho nên ta mới cĩ trần dục, nĩ gây thành cái lậu nghiệp Do hữu mà

cĩ sinh Aáy là hữu làm quả cho thủ và lại làm nhân cho sinh

+ Sinh là sinh ra ở thế gian, làm thần thánh ở trên trời, làm người, làmquỷ, làm súc sinh Do sinh mà cĩ lão tử Aáy là sinh làm quả cho hữu và lại làmnhân cho lão tử

+ Lão – Tử là già và chết Đã sinh ra là phải già và chết Nhưng sinh với tử

là hai thể như sáng với tối, sấp với ngửa vậy Sống với chết cứ luân chuyển thayđổi nhau Chết là thể phách, cịn là tinh anh Cái tinh anh lìa bỏ cái xác đã chết,nhưng vẫn lẩn quẩn trong cái vơ minh, cho nên lại mang cái nghiệp mà lưuchuyển chìm nổi ở trong tam giới và lục đạo, tức là cứ luân hồi ở trong thế gian.Bởi vì đạo Phật gọi thế gian là gọi gồm cả tam giới và lục đạo Tam giới là dục

Trang 9

giới, sắc giới và vô sắc giới; lục đạo và cõi trời, nhân gian, a-tu-la, súc sinh, ngạquỷ và địa ngục Hễ còn luân hồi là còn cái khổ.

Vậy tập họp cả mười hai nhân duyên lại, kết thành cái dây trói buộc người

ta ở trong bể khổ, cho nên gọi là tập

Nếu giải thích mười hai nhân duyên theo chiều thuận thì trước hết bắt đầu

từ vô minh là sự mông muội, mờ tối, không sáng tỏ, không bản nhiên của tâm trícon người Vô minh như lớp mây mù bao phủ che lấp mọi sự hiểu biết chânchính, vô minh là không nhận thức được thực tướng của vạn pháp và không thấutriệt được chân bản tính của mình

Trong Tập kinh (Sutta Nipàta), câu 730, đức Phật nói: “vô minh là lớp ảokiến mịt mù dày đặc trong ấy chúng sinh quây quần quanh lộn" Chính vô minhkhiến tâm con người ta vọng động, ham muốn và hành động để thỏa mãn những

ham muốn Vậy tùy thuộc vô minh mà hành (samskara) phát sinh Chữ samskara

có rất nhiều ý nghĩa nhưng có thể định nghĩa hành là hành động tạo tác nên tạo

ra nghiệp Vậy hành là những tác ý (cetana), thiện (kusala), bất thiện (akusala) vàkhông lay chuyển (ànenja) tạo nghiệp Tất cả những tư tưởng, lời nói và việclàm, thiện và bất thiện đều nằm trong hành Chúng trực tiếp bắt nguồn từ vôminh hay gián tiếp từ vô minh thúc đẩy và nhất định đều tạo nghiệp Tùy thuộcvào hành, tức hành động thiện và bất thiện trong kiếp vừa qua thức phát sinh

trong kiếp kế tiếp Thức (vijnana) là ý thức, biết ta là ta Do thức mà có danh sắc phát sinh, ý thức là quả cho hành và lại là nhân cho ý danh sắc Danh sắc (nama-

rupa) là tên và hình Danh sắc phát sinh cùng một lúc với thức tái sinh (thức nốiliền kiếp quá khứ và kiếp hiện tại) Nếu hành và thức thuộc về kiếp quá khứ vàkiếp hiện tại của một chúng sinh, thì thức và danh sắc lại cùng phát sinh trongmột kiếp sống Do có danh sắc (tức có tên và hình của ta) mà có lục căn hay lục

nhập (sadayatana) Lục căn tức là sáu giác quan của con người để tiếp xúc, tiếp

Trang 10

nhận sự tác động của ngoại giới, gồm tai, mắt, lưỡi, mũi, thân và ý (guồng máychia lục căn của con người vận chuyển tự nhiên, khơng cần cĩ một tác nhân nàotương tự như một linh hồn để điều khiển) Mỗi căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân vàý) đều cĩ những đối tượng và sinh họat riêng biệt Mỗi đối tượng của lục căn(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) chạm với mỗi căn liên hệ, làm phát sinh mộtloại thức Như sắc tiếp xúc với nhãn làm phát sinh nhãn thức, thanh chạm với nhĩlàm phát sinh nhĩ thức Điểm giao hợp liên quan của ba yếu tố “căn” (giác

quan), “trần” (đối tượng của giác quan) và “thức” là xúc Do lục căn mà cĩ xúc

(sparasa), ấy là lục căn, là quả cho danh sắc và làm nhân cho xúc Đức Phật nĩitrong Tạp A Hàm rằng: “vì cĩ mắt và hình thể nên nhận thức phát sinh, xúc làđiểm gia hợp của ba yếu tố ấy Vì cĩ tai và âm thanh nên nhĩ thức phát sinh Vìmũi và mùi nên tỷ thức phát sinh Vì cĩ lưỡi và vị nên thiệt thức phát sinh Vì cĩtâm (ý) và cĩ đối tượng của tâm (pháp) nên ý thức phát sinh điểm giao hợp của

ba yếu tố đĩ là xúc Do cĩ xúc mà cĩ thụ, ấy là xúc làm quả cho lục căn và làm

nhân cho thụ Thụ (vedana) là tiếp thụ, thu nhận các tác động của đối tượng vào

mình, khi các đối tượng ấy tiếp xúc với các giác quan Chính thụ thu nhận quảlành hay dữ của những hành động trong hiện tại hay trong quá khứ Ngồi tâm sở

tụ, khơng cĩ một linh hồn hay một bản ngã nào hưởng quả lành hay chịu quả dữ

Cĩ ba loại thụ là thụ lạc, thụ khổ và thụ vơ ký (tức khơng hạnh phúc cũng khơngphiền não)

Do cĩ thụ cảm, thụ nhận, tiếp thụ mà cĩ ái, ấy là thụ là quả cho xúc mà lại

làm nhân cho ái phát sinh Aùi (trisna) là luyến ái, khao khát, yêu thích, mong

muốn, bấu víu

Cĩ ba loại ái dục, đĩ là: 1 Ái dục duyên theo nhục dục ngũ trần; 2 Ái dụcduyên theo khối lạc vật chất cĩ liên quan đến chủ trương thường kiến Tronglúc thụ hưởng, nghĩ rằng vạn vật là trường tồn vĩnh cửu và những khối lạc này

Trang 11

sẽ mãi mãi tồn tại; 3 Ái dục duyên theo những khoái lạc vật chất có liên quanđến chủ trương đoạn kiến Trong lúc thụ hưởng, nghĩ rằng tất cả đều tiêu diệt saukhi chết Tùy thuộc ái, thủ phát sinh Vậy ái là quả cho thụ và là nhân cho thủ.

Thủ (Upadana) là giữ lấy, cố bám lấy vật mà mình ham muốn Nguyên nhân của

thủ chính là do luyến ái và lầm lạc Thủ có bốn loại: nhục dục, tà kiến, thân kiến

và chủ trương sai lầm cho rằng: có một linh hồn trường cửu Do thủ mà lại phátsinh ý nghĩ sai lầm là: “tôi” và “của tôi” Aáy là thủ làm quả cho ái mà làm nhân

cho hữu Hữu (Bhava) là có tại tồn tại, hiện hữu Có ta với sắc, thụ, tưởng, hành,

thức nên mới có ái dục gây nên nghiệp Theo sát nghĩa gốc, Bhava là đang trởthành Hữu là hành động tạo nghiệp thiện và bất thiện (tiến trình tích cực của sựtrở thành)

Như vậy, hành và hữu đều là hành động tạo nghiệp Nhưng nếu hành làhành động trong quá khứ, thì hữu là hành động trong hiện tại Do hữu mà có

sinh, ấy là hữu làm quả cho thủ và lại làm nhân cho sinh Sinh (Jati) là hiện hữu,

là ta sinh ra ở thế gian, sinh là hiện tượng phát sinh của những hiện tượng vật-lý Có sinh tất có lão tử, ấy là sinh làm quả cho hữu và làm nhân cho lão tử

tâm-Lão tử (Java-marana) là già và chết Đã sinh ra tất phải có già và chết Nhưng

sống và chết, sinh và tử là hai mặt đối nhau mà không tách rời nhau như sáng vàtối, âm và duơng níu kéo con người trong vòng sinh tử luân hồi

Nếu giải thích mười hai nhân duyên theo chiều từ dưới lên, phải bắt đầu từ

lão tử Lão tử (java-marana) của vị lai phải chịu, là từ sinh (jati) ở vị lai mà có;

Sinh ở vị lai là kết quả tích tập mọi nghiệp ở hiện tại là hữu mà có; Hữu (bhava)

thì nương vào sự chấp trược của thủ mà có; Thủ (upàdànna) nương vào sự tham

ái vật dục mà có; Ái (trisna) nương vào sự cảm giác khổ vui của thụ mà có; Thụ

(vedana) phải dựa vào sự tiếp xúc, tiếp nhận tác động của đối tượng ngoại cảnh

của xúc mà có; Xúc (sparasa) phải nhờ sự tiếp xúc của sáu cơ quan cảm giác với

Trang 12

ngoại vật mà có ; Lục căn (sadàyatana) phải nhờ vào sự kết hợp giữa thân và tâm, danh và hình của danh sắc mà có; Danh sắc (nama- rupa) nương vào sự tác

dụng nhận thức phân biệt của thức (vijnãna) mà có; nhưng thân thể của hiện tạithì đều do kết quả của nghiệp của quá khứ đã tạo thành là hành (samskara);

Hành nương vào hoặc tức vô minh mà sinh ra.

Như vậy, dù giải thích mười hai nhân duyên theo cách nào, triết lý củaPhật giáo cũng đều chỉ ra nguyên nhân căn bản của mọi đau khổ của chúng sinh

là từ vô minh

Trong mười hai nhân duyên, hai chi sinh và lão tử là hai quả vị lai lànguyên nhân của ba chi ái, thủ hữu, gọi là ba nhân của hiện tại Năm chi: thức,danh sắc, lục căn, xúc, thủ là nguyên nhân gián tiếp cho hai quả vị lai, đồng thờilại là kết quả về nghiệp của quá khứ, nên còn gọi là năm quả của hiện tại Vôminh và hành là hai nhân quá khứ

- Diệt đế (Nirodha – satya): là giải thoát luận và cũng là lý tưởng luận của

Phật giáo, nó là phương pháp diệt trừ từ gốc đến ngọn (từ nhân cho đến quả) nỗikhổ, giải thoát con người khỏi nghiệp chướng luân hồi Theo triết lý Phật giáo,muốn vậy phải tận diệt mọi ái dục, dứt bỏ được vô minh, đạt tới sáng tỏ bản nhiêntrong tâm con người, đưa chúng sinh tới Niết bàn thường trụ

- Đạo đế (Marga – satya): là cách thức, con đường để giải thoát khỏi nỗi

khổ Con đường đó không phải là cách thức tu luyện khổ hạnh ép xác, cũngkhông phải là chìm đắm trong dục lạc thấp hèn, thô bỉ Đó là hai thái cực khôngthể đưa đến giải thoát Con đường để diệt dục vọng, xóa vô minh, giác ngộ vàgiải thoát, theo đức Phật là con đường ở giữa hai thái cực kia, là con đường tuluyện đạo đức theo giáo luật (sila), và tu luyện tri thức, trí tuệ bằng thực nghiệp

tâm linh, “trực giác” Đó chính là con đường bát chính đạo, bao gồm: Chính

kiến (nhận thức đúng, nhìn nhận rõ phải trái, không để những điều sai trái che

Ngày đăng: 18/07/2016, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w