1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN CỦA HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI GIAI ĐOẠN 20062011

91 513 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài đi vào nghiên cứu thực trạng phát triển của một loại hình du lịch đặc sắc ở một địa phương miền núi, đó chính là du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của huyện KBang,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07 /2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

Ngành: Kinh tế nông lâm

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS TRẦN ĐỘC LẬP

Tp Hồ Chí Minh Tháng 07 năm 2013

Trang 3

Hội đồng chấm báo cáo tốt nghiệp khoá luận đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN CỦA HUYỆN KBANG,TỈNH GIA LAI GIAI ĐOẠN 2006 – 2011”

do Nguyễn Trúc Linh, sinh viên khoá 35, chuyên ngành Kinh Tế Nông Lâm, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày tháng năm 2012

Ts TRẦN ĐỘC LẬP Giáo viên hướng dẫn

Ngày tháng năm

Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư kí hội đồng chấm báo cáo

Ngày tháng năm Ngày tháng năm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin gửi những lời tri ân đến Bố Mẹ và gia đình, những người đã sinh thành, nuôi nấng và tạo mọi điều kiện cho tôi có được ngày hôm nay Đồng thời tôi cũng cảm ơn sự giúp đỡ của bạn bè trong suốt thời gian qua đã đóng góp ý kiến và khích lệ để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý Thầy Cô trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, nhất là quý Thầy Cô khoa Kinh Tế, đã truyền dạy cho tôi những kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm làm việc vô cùng quý báu trong thời gian bốn năm học qua

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Ts Trần Độc Lập đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị phòng Văn hóa- Thông tin huyện KBang đã nhiệt tình hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập thông tin

và số liệu

Tuy nhiên, do thời gian thực hiện đề tài có hạn, trình độ hiểu biết và tầm nhìn chưa đủ sâu sắc nên đề tài chắc chắn con nhiều sai sót.Kính mong quý Thầy Cô, các bạn thông cảm và rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy

Cô cũng như các bạn

Xin chân thành cảm ơn

Sinh viên

Nguyễn Trúc Linh

Trang 5

NỘI DUNG TÓM TẮT

NGUYỄN TRÚC LINH Tháng 8 năm 2013.“Thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của huyện KBang, tỉnh Gia Lai giai đoạn 2006 – 2011”

NGUYEN TRUC LINH August 2013 “Situation and potentiality of tourism space of Gong Culture in the Central Highlands in KBang town,Gia Lai Province from 2006 to 2011”

Đề tài đi vào nghiên cứu thực trạng phát triển của một loại hình du lịch đặc sắc

ở một địa phương miền núi, đó chính là du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của huyện KBang, tỉnh Gia Lai trong giai đoạn 2006-2011

Đề tài tiến hành điều tra khảo sát 60 khách du lịch nội địa và 60 khách du lịch quốc tế một cách ngẫu nhiên Từ đó thống kê, tổng hợp và phân tích SWOT để biết được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên Qua đó đề ra một số giải pháp để phát triển một cách tốt nhất loại hình du lịch này

Thông qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài, khoá luận sẽ đưa ra những đánh giá về thực trạng phát triển du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của KBang và đề xuất một số ý kiến nhằm cải thiện các vấn đề còn tồn tại

Trang 6

1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 2 1.3.Ý nghĩa của việc nghiên cứu: 2 1.4 Phạm vi nghiên cứu: 3 

2.2.1 Số lượt khách đến các làng KGVHCCTN của Gia Lai giai đoạn 2009-2011:

2.3.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 10 

Trang 7

2.3.1.2 Khí hậu: 11 2.3.1.3 Nguồn nước: 12 

2.3.2 Tổng quan về kinh tế xã hội 13 2.3.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 13 2.3.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 13 2.3.2.3 Đánh giá nguồn nhân lực 16 2.3.3 Nguồn tài nguyên văn hoá của KBang 18 

CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 

3.1 Cơ sở lý luận 20 3.1.1 Khái niệm du lịch 20 3.1.2 Khái niệm về khách du lịch 21 3.1.3 Khái niệm sản phẩm du lịch 22 3.1.4.Khái niệm về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: 22 3.1.5 Các loại hình du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: 24 3.2 Phương pháp nghiên cứu 26 3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 26 3.2.1.1 Số liệu thứ cấp 26 3.2.1.2 Số liệu sơ cấp 26 3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 26 

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27 

4.1 Những đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện KBang, tỉnh Gia Lai 27 4.1.1 Thu nhập bình quân đầu người 27 4.1.2 Đầu tư phát triển du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 27 4.1.3 Lao động ngành du lịch 27 4.2 Hoạt động du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại huyện KBang 28 4.2.1 Doanh thu du lịch 28 4.2.2 Thị trường khách du lịch 29 4.2.3 Lượt khách lưu trú tại huyện KBang 32 4.3 Thông tin điều tra về khách du lịch 35 

Trang 8

4.4.9 Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch 51 4.4.10 Giá cả tour du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại KBang

52 4.4.11 Tình trạng của các điểm du lịch văn hoá 52 4.5 Tiềm năng du lịch không gian văn hóa cồng chiêng của KBang 53 

4.6.1 Những thành tựu đạt được 64 4.6.2 Những tồn tại, hạn chế 65 

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66 

5.1 Kết luận và kiến nghị 66 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71  PHỤ LỤC 

 

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1.Lượt khách du lịch đến các làng KGVHCCTN của Gia Lai giai đoạn 2009-

2011 7 Bảng 2.2 Doanh thu du lịch KGVHCCTN ở Gia Lai giai đoạn 2009-2011: 9 Bảng 2.3 Giá trị sản xuất – Cơ cấu sản xuất công nghiệp, xây dựng 15 Bảng 2.4 Mật độ dân số và dân số các xã, thị trấn theo đơn vị hành chính năm 2012.17 Bảng 4.1 Doanh thu ngành du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại

Bảng 4.2 Lượt khách du lịch đến các làng KGVHCCTN tại huyện KBang giai đoạn 2006-2011 29 Bảng 4.3 Khách du lịch quốc tế đến các làng KGVHCCTN tại huyện KBang giai đoạn 2006-2011 30 Bảng 4.4 Khách du lịch nội địa đến các làng KGVHCCTN tại huyện KBang giai đoạn 2006-2011 31 Bảng 4.5 Lượt khách lưu trú tại huyện KBang 32 

Bảng 4.7 Đánh giá của du khách về cơ sở lưu trú của KBang 46 Bảng 4.8 Đánh giá của du khách về an toàn vệ sinh thực phẩm tại KBang 47 Bảng 4.9 Đánh giá của du khách về cơ sở vui chơi, giải trí ở KBang 48 Bảng 4.10 Đánh giá của du khách về cơ sở mua sắm ở KBang 48 Bảng 4.11 Hình thức tổ chức chuyến du lịch của du khách 49 Bảng 4.12 Đánh giá của du khách về công tác an ninh 50 Bảng 4.13 Đánh giá của du khách đối với môi trường ở KBang 50 Bảng 4.14 Đánh giá của du khách về giá cả tour du lịch KGVCCTN 52 Bảng 4.15 Đánh giá của du khách về tình trạng các điểm du lịch văn hoá 52 

 

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.3 Bản đồ hành chính huyện KBang, tỉnh Gia Lai 10 Hình 4.1 Đồ thị thể hiện độ tuổi của du khách đến các làng KGVHCCTN ở KBang 35 Hình 4.2 Đồ thị thể hiện số lần đến KBang của du khách 37 Hình 4.3 Đồ thị thể hiện trình độ học vấn của du khách 39 Hình 4.4 Đồ thị thể hiện tỉ lệ khách du lịch phân theo thời gian lưu trú 42 Hình 4.5 Đồ thị thể hiện hình thức tìm kiếm thông tin du lịch 44 

Hình 4.7 Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 55 Hình 4.8 Thanh niên trong làng đánh cồng chiêng 55 Hình 4.9.Nam nữ cùng nhảy múa với tiếng chiêng 56 Hình 4.10 Cồng chiêng luôn gắn với các lễ hội của dân làng 57 Hình 4.11 Lễ hội cồng chiêng hùng tráng bên đống lửa 59 Hình 4.12 Lễ hội đua voi ở Buôn Đôn 60 

Trang 12

Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam từ nhiều năm nay, cũng đang bị báo động về nạn

"chặt chém", bắt nạt du khách, hạ tầng cơ sở yếu kém và chất lượng dịch vụ kém, tạo

ấn tượng xấu với du khách.Từ hơn 20 năm phát triển du lịch, Việt Nam chỉ chú trọng khai thác thiên nhiên và vẫn chưa có được một sân khấu, nhà hát biểu diễn nghệ thuật dân tộc nào đủ lớn để giới thiệu đến du khách quốc tế, thiếu định hướng chiến lược phát triển, đầu tư một cách bài bản cho du lịch, và kém xa các nước trong khu vực

Du lịch Việt Nam rất đa dạng với những di tích, danh thắng, khu du lịch quốc gia,di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của nhân loại…Trong đó Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là “kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại” Sau Nhã nhạc Cung đình Huế,

Trang 13

Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới

Đề tài: “Thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch không gian văn hóa Cồng

chiêng Tây Nguyên của huyện KBang, tinh Gia Lai giai đoạn 2006 - 2011” nhằm

phân tích thực trạng du lịch không gian văn hoa cồng chiêng Tây Nguyên ở huyện KBang để làm nổi bật những tiềm năng và thế mạnh nơi đây, đồng thời đề xuất những

ý kiến khách quan nhằm “bảo tồn vững chắc, phát huy bền vững” di sản văn hóa phi vật thể thế giới này nói riêng cũng như du lịch ở Việt Nam nói chung

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

+ Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên

ở huyện KBang,tỉnh Gia Lai

+ Phân tích những thuận lợi, khó khăn,cơ hội, thách thức của hoạt động du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên ở huyện KBang,tỉnh Gia Lai

+ Đề xuất những ý kiến nhằm phát triển bền vững du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên ở huyện KBang,tỉnh Gia Lai

1.3.Ý nghĩa của việc nghiên cứu:

Trên cơ sở đi sâu vào phân tích thực trạng và tiềm năng phát triển của du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên tại các làng dân tộc trên dịa bàn huyện KBang, tỉnh Gia Lai, nhận ra đâu là nguyên nhân khiến cho loại hình du lịch này ngày càng phát triển và nổi tiếng đối với khách du lịch cả trong và ngoài nước, đặc biệt là kể

từ khi UNESCO công nhận không gian văn hóa Cồng chiêng là kiệt tác truyền khẩu và

di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém

Từ đó đề ra các giải pháp để có thể giúp cho hoạt động du lịch không gian văn hóa

Trang 14

Cồng chiêng Tây Nguyên phát triển hiệu quả hơn, đồng thời khắc phục những yếu kém trong quá trình phát triển

Qua đó gắn liền hoạt động du lịch với duy trì bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, góp phần phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và xã

hội tại huyện KBang nói riêng và tỉnh Gia Lai nói chung

Đề tài thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 3/2013 đến tháng 8/2013

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu

Khách du lịch tại khu du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại huyện KBang, tỉnh Gia Lai

1.5 Cấu trúc khóa luận

Khoá luận chủ yếu gồm các phần sau:

CHƯƠNG 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trình bày một số khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu được áp dụng

CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 15

Trình bày chi tiết kết quả đạt được của cuộc nghiên cứu

CHƯƠNG 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm lược kết quả nghiên cứu, tôi rút ra nhận xét, đánh giá về thực trạng phát triển du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của huyện KBang, tỉnh Gia Lai giai đoạn 2006-2011 và đề xuất một số kiến nghị nhằm đưa hoạt động du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên phát triển lâu dài và bền vững

 

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Sự phát triển của du lịch không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên:

Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ

Về nguồn gốc, theo một số nhà nghiên cứu, Cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá Trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ

mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu hay trong một buổi nghe khan đều phải có tiếng cồng chiêng như là thứ để nối kết những con người trong cùng một cộng đồng

Ở phần lớn các tộc người, cồng chiêng là nhạc cụ dành riêng cho nam giới Đó là trường hợp của các tộc người như Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Xơ Đăng, Brâu, Cơ Ho Song, có những tộc người thì cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng, như Mạ, M’Nông Riêng một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ giới mới được chơi cồng chiêng

Cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hóa mang đậm dấu ấn thời gian và không gian Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến Trong đó

Trang 17

bảo lưu cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc từ thời kỳ sơ khai ở đây, mọi giá trị nghệ thuật đều nằm trong mối quan hệ tương đồng và dị biệt, xác định

cá tính vùng miền của nghệ thuật Và, với sự phong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn

bộ đến từng phần, có thể khẳng định vị trí đặc biệt của cồng chiêng Tây Nguyên trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản vô giá Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là "tiếng nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh"

Ngày 25/11/2005, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới

2.2.Tình hình du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của huyện KBang giai đoạn 2006-2011:

Du lịch KGVHCCTN huyện KBang là một bộ phận trong tổng thể hoạt động du lịch

KGVHCCTN tại tỉnh Gia Lai, không thể tách rời ra được Có thể nói sự thành công

của du lịch KGVHCCTN của huyện KBang một phần nhờ vào sự gắn liền với các điều kiện du lịch sẵn có của Gia Lai như điều kiện thiên nhiên ưu đãi, công tác qungr bá marketing, cơ sở lưu trú, văn hóa độc đáo của phố núi…Chính vì vậy, trước khi tìm hiểu rõ hơn du lịch KGVHCCTN của KBang, đề tài đi vào tổng quan một vài nét về

du lịch KGVHCCTN của Gia Lai.Đặc biệt là giai đoạn phát triển nhất giai đoạn

2009-2011

Trang 18

2.2.1 Số lượt khách đến các làng KGVHCCTN của Gia Lai giai đoạn 2009-2011: Bảng 2.1.Lượt khách du lịch đến các làng KGVHCCTN của Gia Lai giai đoạn 2009-2011

Đơn vị tính: lượt khách

Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011

SL TT(%) SL TT(%) SL TT(%)

Khách quốc tế 145.586 67,1 174.879 64,2 205.321 67,5Khách nội địa 71.41 32,9 97.59 35,8 99.02 32,5Tổng lượt khách 216 996 100 272.469 100 304.341 100

Nguồn: Sở VHDL Gia Lai Dựa vào bảng 2.1 cho thấy tổng lượt khách đến Gia Lai qua các năm đều tăng khá nhanh, cao nhất là năm 2011 với 304.341 lượt khách, tăng 11,7% so với năm

2010 Điều này có được là nhờ ngành du lịch Gia Lai đã tổ chức thêm nhiều tour du lịch về văn hóa các dân tộc, các hoạt động “đêm hội cồng chiêng”, lễ hội ” mừng xuân” và các chương trình được thiết kế phù hợp và tùy vào các mùa trong năm đã thu hút đông đảo khách du lịch Trong tổng số lượt khách đến Gia Lai, khách nội địa chiếm tỉ trọng thấp hơn là 32,5%; khách quốc tế chiếm 67,5% vào năm 2011.Lượng khách quốc tế tăng nhanh cả về sản lượng và tỉ trọng trong giai đoạn 2009-2011 là nhờ Gia Lai đã biết cách khắc phục dần những khó khăn như là dịch bệnh, thiên tai và nổi lên như là một điểm du lịch an toàn về chính trị trong khu vực cũng như thế giới.Đây

sẽ là một lợi thế trong quá trình phát triển du lịch KGVHCCTN tại Gia Lai bởi một lẽ khách hàng mục tiêu của loại hình du lịch này đại đa số là du khách nước ngoài có nền văn hóa, nếp sống văn hóa khác biệt nhiều so với văn hóa Việt Nam Trong khi khách quốc tế có tốc độ phát triển nhanh thì thị trường khách nội địa lại có những biến động lên xuống Sự sụt giảm tỉ trọng qua các năm có thể giải thích là do đời sống người dân trong nước( đặc biệt là dân thành thị) có thu nhập ngày càng cao nên họ có xu hướng

đi du lịch nước ngoài ngày càng nhiều, đồng thời Gia Lai cũng chịu sự cạnh tranh của các địa phương du lịch lân cận như Quy Nhơn, ĐăkLăk…Cho nên Gia Lai cũng cần xem lại và tìm ra biện pháp nhằm thu hút khách nội địa bởi đây là nguồn khách rất quan trọng

Trang 19

2.2.2 Số lượng công ty lữ hành:

Trong những năm qua, hoạt động lữ hành đã phát triển khá mạnh mẽ nhờ vào việc khai thác các điểm du lịch văn hóa,các khu du lịch sinh thái của Gia Lai Hoạt động lữ hành ngày càng tổ chức chuyên nghiệp và chất lượng hơn Theo số liệu thống kê của phòng Thương mại và Du lịch Gia Lai, cho đến nay, trên toàn địa bàn thành phố có 80 doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển, lữ hành; trong đó có 37 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, còn lại là kinh doanh vận chuyển

2.2.3 Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch

Hàng năm, tỉnh Gia Lai đều đẩy mạnh công tác quảng bá hình ảnh du lịch KGVHCCTN và đã thành công trong việc tạo nên thương hiệu du lịch nổi tiếng trong

và ngoài nước Trong những năm qua, KBang và tỉnh Gia Lai đã tổ chức nhiều lễ hội

du lịch với những sologan hấp dẫn như:” Gia Lai-một điểm đến với kiệt tác văn hóa KGVHCCTN” Đặc biệt là tổ chức thành công Festival Cồng chiêng Tây Nguyên năm

2007

2.2.4 Cơ sở lưu trú

Tổng số khách sạn trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai hiện nay là 502 cơ sở( chưa kể các nhà nghỉ nhỏ) với khoảng 14000 phòng trong đó 5000 phòng đạt tiêu chuẩn từ 3-5 sao với các khu du lịch có quy mô tầm cỡ như khu du lịch Biển Hồ, khu

du lịch AYunpa…Nhìn chung, cơ sở lưu trú ở Gia Lai đảm bảo về số lượng nhưng chất lượngthì cần phải cải thiện để bắt kịp với chất lượng dịch vụ

2.2.5 Các loại hình du lịch đang được khai thác

Gia Lai có nhiều lợi thế để phát triển các loại hình du lịch nằm trong nhóm phạm trù

du lịch bền vững như: du lịch sinh thái, trách nhiệm,khám phá, buôn làng…Ngành du lịch tại các địa phương trọng điểm của Gia Lai cũng nhanh chóng định hướng phát triển du lịch tại các vùng miền núi, mở rộng các hoạt động du lịch sinh thái dọc sông suối, mạnh dạn quy hoạch các vùng núi để du khách tham gia khám phá du lịch đi bộ hoặc leo núi Bên cạnh đó các công ty du lịch Gia Lai cũng quan tâm tới loại hình du lịch khám phá đời sống văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền núi Gia Lai…

 

Trang 20

Doanh thu ăn uống 102.17 176.845 121.122

Qua bảng số liệu thấy rằng hoạt động kinh doanh du lịch KGVHCCTN ở Gia

Lai tăng trưởng nhanh qua từng năm về doanh thu Chứng tỏ đường lối cũng như

chính sách hoạch định du lịch tại Gia Lai đang đi đúng hướng.Đứng đầu trong doanh

thu về du lịch, liên tục trong 3 năm 2009-2011 là doanh thu lưu trú với lượng thu cao

nhất vào năm 2011 là 555.180 triệu đồng với tốc độ tăng bình quân là 43,8% Điều này

được giải thích vì khi chính quyền Gia Lai đang tích cực khai thác các loại hình du lịch

mới thì đồng thời các công ty lữ hành cũng đầu tư thêm cơ sở hạ tầng đặc biệt là cơ sở

lưu trú để phát triển du lịch Chất lượng dịch vụ ngày càng cao kết hợp với lượng

khách du lịch tăng qua các năm đã làm cho doanh thu lưu trú tăng lên Doanh thu ăn

uống đứng thứ 2 sau doanh thu lưu trú cho thấy ảm thực đóng góp vai trò quan trọng

trong việc phát triển du lịch địa phương Bên cạnh đó nhờ vào công tác marketing hiệu

quả, lượng du khách quốc tế chọn các gói du lịch đến Gia Lai ngày càng tăng nhanh đã

góp phần làm cho doanh thu lữ hành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất

 

Trang 21

2.3 Tổng quan về huyện KBang:

Hình 2.3 Bản đồ hành chính huyện KBang, tỉnh Gia Lai

Nguồn:http://www.gialai.gov.vn

KBang là một trong 3 huyện xưa kia thuộc vùng Tây Sơn Thượng Đạo Trong Chiến tranh Việt Nam, huyện K'Bang cũng là nơi chứng kiến nhiều trận đánh khốc liệt, trong

đó có trận K'NAK năm 1965 Đây là nơi sinh của anh hùng Núp

Huyện Kbang được thành lập theo Quyết định số 181-HĐBT ngày 28-12-1984 của Hội đồng Bộ trưởng trên cơ sở chia tách từ phần đất phía bắc của huyện An Khê.Huyện lỵ là thị trấn Kbang

2.3.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

2.3.1.1 Vị trí địa lý:

Kbang là huyện miền núi Đông Trường Sơn, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Gia Lai, cách Thành phố PleiKu theo quốc lộ 19 và quốc lộ Trường Sơn Đông khoảng 100 km Huyện có toạ độ địa lý:

108017’45” - 1080 44’10” kinh độ Đông,

Trang 22

140 0’ 0” - 140 36’ 23” vĩ độ Bắc

Ranh giới của huyện:

+ Phía Bắc giáp huyện Kon plong (Tỉnh Kon Tum)

+ Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định

+ Phía Nam giáp thị xã An Khê, Đăk Pơ

+ Phía Tây giáp huyện Măng Yang, Chư Păh

Tổng diện tích tự nhiên: 184.185,92 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp hiện tại 32.686,32 ha, chiếm 17,75% diện tích tự nhiên

Địa hình, địa mạo

Huyện Kbang nằm ở sườn Đông của dãy Trường Sơn, thấp dần từ Bắc (1300m) xuống Nam (440m) và từ Tây (1600m) sang Đông (800m) Địa hình chung chia thành 3 dạng, phân bố thành 3 tiểu vùng tự nhiên khá rõ rệt:

* Địa hình núi cao trung bình: Phân bố ở phía Tây, thuộc dãy Kon Ka Kinh Diện tích 71.000 ha, chiếm 38,5% tổng diện tích

* Địa hình cao nguyên: Đây là phần lớn cao nguyên Bazan cổ Kon Hà Nừng, kéo dài

từ phía Đông Nam huyện Kon Plong (Kon Tum) tới phía Nam huyện Kbang giáp với vùng trũng An Khê Còn phía Tây, theo thung lũng sông Ba giáp với vùng núi Kon Ka Kinh, phía Đông giáp thung lũng sông Côn tỉnh Bình Định Diện tích của vùng 96.000

ha, chiếm 52% tổng diện tích của huyện

*Địa hình trũng thấp: Nằm ở phía Nam huyện, giáp với vùng núi và cao nguyên ở phía Bắc, là một phần của vùng trũng An Khê Diện tích khoảng 17.500 ha, chiếm 9,5% tổng diện tích Độ cao trung bình 440 - 600m, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ hai bên về phía sông Ba chảy dọc trung tâm

2.3.1.2 Khí hậu:

Khí hậu của huyện Kbang mang sắc thái riêng, đó là khí hậu nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng đồng thời của hai vùng khí hậu Tây nguyên và Duyên hải Nền nhiệt độ trung bình 21 - 230c; trung bình cao nhất tháng 7: 250c; trung bình thấp nhất tháng I: 190c Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 - 12, lượng mưa lớn 1500 - 2800mm, mùa khô ngắn (3-4 tháng) và mức độ khô hạn không gay gắt như cao nguyên Plei Ku Do độ cao địa hình

và hướng địa hình, nên khí hậu có sự phân hoá thành 3 tiểu vùng (tạm gọi là tiểu vùng khí hậu so với toàn huyện) Đó là:

Trang 23

- Tiểu vùng núi cao Kon Ka Kinh và Bắc cao nguyên Kon Hà Nừng (thuộc các xã Đăk Rong, Sơn Lang, Krong và Kon Pne): Ranh giới theo độ cao > 1000 m Khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình 19 - 200c, lượng mưa > 2000mm

- Tiểu vùng núi thấp và Nam cao nguyên Kon Hà Nừng (thuộc các xã Lơ Ku, Đăk Smar, Sơ Pai, thị trấn, xã Đông): Ranh giới phía Nam ở độ cao 500m giáp tiểu vùng trũng phía Nam, phía Bắc ở độ cao 900 - 1000m giáp tiểu vùng núi cao Kon Ka Kinh

và Bắc cao nguyên Kon Hà Nừng Khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình 21 - 230c, lượng mưa trung bình 1500 - 2000mm

- Tiểu vùng trũng thấp phía Nam (thuộc các xã Nghĩa An, Đăk Hlơ, Kông Bờ La, Kông Lơng Khơng, Tơ Tung): Thuộc tiểu vùng khí hậu thấp trũng An Khê, độ cao < 500m Khí hậu nhiệt đới hơi thiếu ẩm, nhiệt độ trung bình 23 - 240c, lượng mưa trung bình 1200 - 1500 mm

2.3.1.3 Nguồn nước:

* Hệ thống sông

Vùng núi và cao nguyên phía Bắc huyện Kbang là nơi bắt nguồn của 3 dòng sông chính: Sông Ba chảy dọc trung tâm huyện theo hướng Bắc - Nam và thượng nguồn sông Côn giáp ranh giới phía Đông huyện và sông Đăk Pne chảy ngược về phía Bắc Lưu vực của các con sông trên trong địa phận huyện Kbang là cả một hệ thống suối dày đặc phân bố khá đồng đều, mật độ 0,336 km/km2

* Hệ thống các hồ nước thủy điện và thủy lợi

Bên cạnh hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn huyện hiện nay còn có rất nhiều hồ nước tự nhiên và nhân tạo Kbang hiện có 3 hồ thủy điện lớn và 25 hồ đập thủy lợi nhỏ Các hồ chứa lớn của huyện có thể kể đến hồ Kanak (1.800 ha), hồ B thủy điện Vĩnh Sơn thuộc xã Sơn Lang (1.000 ha), hồ C thủy điện Vĩnh Sơn tại xã Đắk Roong (320 ha), hồ Buôn Lưới (26 ha) và hồ Plei Tơ Kơn (32 ha) thuộc xã Sơ Pai

2.3.1.4 Diện tích đất đai và địa hình

Tài nguyên đất

Theo kết quả điều tra đất của Phân viện Quy hoạch & Thiết kế Nông nghiệp Miền Trung trên bản đồ 1/50.000 năm 1978 và điều tra bổ sung phục vụ chương trình đánh giá đất Tây nguyên từ 1997 - 2004, trên địa bàn huyện có 7 nhóm đất chính với 15 đơn

vị phân loại như sau:

Trang 24

* Nhóm đất phù sa: Diện tích 540 ha, chiếm 0,3% tổng diện tích, trong nhóm này có một loại đất phù sa suối (Py)

* Nhóm đất xám: Diện tích: 27.431 ha, chiếm 15% tổng diện tích Phân bố tập trung trên địa hình đồi thấp thuộc vùng trũng phía Nam huyện

* Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích: 96.820 ha, chiếm 52,8% tổng diện tích Trong nhóm đất này gồm có:

- Đất nâu tím, nâu đỏ trên đá bazan (Ft, Fk) Diện tích 47.891 ha, chiếm 26,1% tổng diện tích

- Đất vàng đỏ trên macma axid và biến chất (Fa,Fs): Diện tích 48.929 ha, chiếm 26,7% tổng diện tích Phân bố chủ yếu trên địa hình đồi núi dốc

* Nhóm đất đen (Ru,Rk): Diện tích 940 ha, chiếm 0,5% tổng diện tích Phân bố ở vùng trũng thấp phía Nam, trên địa hình bằng thấp

* Nhóm đất thung lũng: Diện tích 170 ha Phân bố trong các thung lũng, hợp thuỷ đầu nguồn các suối thuộc vùng trũng thấp phía Nam

* Nhóm đất mùn: Diện tích 56.795 ha, chiếm 30,9% tổng diện tích Phân bố tập trung trên vùng núi cao Kon Ka Kinh và cao nguyên có độ cao > 1000m ở phía Bắc, Tây bắc

* Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: Diện tích 720 ha, chiếm 0,4% tổng diện tích

2.3.2 Tổng quan về kinh tế xã hội

2.3.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng gía trị sản xuất các ngành bình quân hàng năm giai đoạn

2001-2005 là 41%, giai đoạn 2006-2010 là 45,6%, cả thời kỳ 2001-2010 là 86,6%

- Để có được tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế nêu trên, thời kỳ 2001-2010 các ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng: Nông nghiệp 28,4%, công nghiệp 32,2%, dịch vụ 39,3%

- Động thái tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2006-2010 của huyện năm sau luôn cao hơn năm trước

2.3.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

a.Khu vực kinh tế nông nghiệp

Khu vực sản xuất nông lâm thủy sản những năm qua tăng trưởng khá nhanh Giai đoạn 2000-2005 tăng 9,3%/năm, giai đoạn 2006-2010 tăng 7,7%/năm, cr hời kỳ 2000-2010

Trang 25

tăng bình uân 8,5%/năm Trong đó thủy sản và nông nghiệp tăng cao nhất đạt bình quân 39,2%/năm và 9,9%/năm, còn lâm nghiệp giảm do trữ lượng và sản lượng khai thác gỗ giảm

* Cơ cấu, chuyển dịch cơ cấu khu vực nông, lâm, thủy sản

Cơ cấu sản xuất khu vực nông, lâm, thủy sản hiện nay: nông nghiệp chiếm 93,5%, lâm nghiệp 6,1%, thủy sản 0,4% Chuyển dịch cơ cấu theo hướng nông nghiệp và thủy sản tăng, còn lâm nghiệp giảm

b.Khu vực kinh tế công nghiệp

- Công nghiệp – Xây dựng trong những năm qua đã có sự phát triển đáng kể Giá trị sản xuất năm 2010 đạt 250.056 triệu đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân năm giai đoạn 2006-2010 là 27,5%

- Về cơ cấu sản xuất: Từ 2005 đến nay bình quân vốn XDCB địa phương quản lý đạt

226 tỷ đồng/năm, ngoài ra có nhiều dự án trung ương quản lý xây dựng trên địa bàn huyện như: Thuỷ điện KaNak, đường Trường Sơn Đông, đường tỉnh 669 , nên giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng nhanh, cơ cấu sản xuất có sự chuyển dịch từ Công nghiệp sang Xây dựng Còn trong nội bộ ngành công nghiệp thì công nghiệp chế biến đóng vai trò chính, năm 2010 chiếm 87,5% Những năm qua chuyển dịch theo hướng công nghiệp khai thác Đây là xu hướng tất yếu của thời kỳ đang phát triển

Trang 26

15

 

Bảng 2.3 Giá trị sản xuất – Cơ cấu sản xuất công nghiệp, xây dựng

      Nguồn: Niên giám thống kê KBang 2000-2005; 2006-2011

Hạng mục Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011

Trang 27

c Khu vực kinh tế dịch vụ

* Thương mại

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2010 đạt 170,366 tỷ đồng, tăng gấp 8,6 lần so với năm 2000 Tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2001 - 2005 khá nhanh, đạt 36,2%/năm, giai đoạn 2006-2010 tăng chậm đạt 13%/năm, cả thời kỳ 2001-2010 tăng 27,1%/năm

- Hệ thống chợ trên địa bàn huyện hiện nay có 3 chợ xã và 1 chợ thị trấn, trong đó nhà kiên cố 2, bán kiên cố 2 Ngoài ra tại tất cả các trung tâm xã đều có các tụ điểm thương mại và các điểm dân cư tập trung đều có các cửa hàng cửa hiệu buôn bán nhỏ

* Dịch vụ

Phát triển nhất là vận tải, bưu điện, ngân hàng: Tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2006-2010 của vận tải – bưu điện là 23,1%/năm, tài chính – ngân hàng là 20,9%/năm

2.3.2.3 Đánh giá nguồn nhân lực

a)Dân số và tỷ lệ gia tăng dân số

Kbang có cộng đồng dân cư nhiều dân tộc, với hai nhóm cơ bản là cộng đồng dân cư dân tộc ít người và cộng đồng người kinh Về cơ cấu dân cư theo dân tộc thì người kinh chiếm 52,41%, người dân tộc thiểu số chiếm 47,59%, trong đó dân tộc Bahnar 39,35%

Dân số trung bình toàn huyện năm 2012 là 64.634 người, mật độ trung bình 35 người/km2 Phân bố ở thị trấn chiếm 25,5%, khu vực nông thôn chiếm 74,5% Với 74,5% dân số sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng 49,3% trong các ngành kinh tế, song vẫn là nguồn thu nhập chính của đại bộ phận dân số Vì vậy nông nghiệp nông thôn có vai trò vô cùng quan trọng, là nền tảng ổn định để phát triển các ngành kinh tế khác

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện năm 2012 là 1,304% Tỷ lệ tăng dân số chung còn khá cao: 1,864% năm 2005; giảm xuống 1,752% năm 2010 và còn 1,374% năm 2012; bình quân thời kỳ 2005-2012 giảm 0,49%/năm

Chi tiết cho các xã, thị trấn trong vùng nghiên cứu là:

Trang 28

17

 

Bảng 2.4 Mật độ dân số và dân số các xã, thị trấn theo đơn vị hành chính năm 2012

Nguồn: Niên giám thống kê KBang 2000-2005; 2006-2010

Đơn vị hành chính Diện tích (km2) Dân số ( người) Mật độ dân số

Trang 29

b) Lao động và việc làm

- Nguồn lao động của huyện Kbang hiện nay có: 35.686 người, chiếm 57,8% dân số Trong đó:

+ Lao động trong độ tuổi: 33.112 người, chiếm 53,7% dân số

+ Lao động ngoài độ tuổi thực tế tham gia lao dộng: 2.574 người, chiếm 4,1% dân số

- Phân phối nguồn lao động trong độ tuổi như sau:

+ Lao động đang làm việc: 29.161 người, chiếm 88,1% tổng số

+ Lao động đang đi học: 2.885 người, chiếm 8,7% tổng số + Lao động làm nội trợ: 426 người, chiếm 1,3% tổng số

+ Lao động không làm việc và không có việc làm: 640 người, chiếm 1,9%.\

2.3.3 Nguồn tài nguyên văn hoá của KBang

Theo thống kê năm 2007, của nhà Văn hóa Thông tin KBang, hiện nay toàn tỉnh có 5.159 bộ cồng chiêng với 970 cái đang được lưu giữ tại các làng dân tộc ở KBang (trong đó có 33 bộ cồng chiêng bằng nguồn chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hoá trang bị cho 33 làng không có cồng chiêng) Cồng chiêng có mặt ở hầu hết các lễ nghi, lễ hội của đồng bào Jrai hoặc Bahnar, như Lễ trưởng thành, Lễ cưới, Lễ mừng sức khỏe, Lễ đâm trâu, Lễ mừng nhà mới, Lễ bỏ mả Để bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng,huyện KBang luôn duy trì tổ chức các hội thi, cuộc liên hoan cồng chiêng

từ các buôn làng, xã, huyện bằng nhiều hình thức phong phú, thiết thực Tháng

10-2007, Viện Văn hóa thông tin và Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai phối hợp tổ chức lễ hội chỉnh chiêng, đây là hoạt động thuộc khuôn khổ của chương trình hành động quốc gia

về nhiệm vụ gìn giữ và phát huy các giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Lễ hội thu hút 78 nghệ nhân thuộc các dân tộc: Ê-Đê, Bahnar, Xơ-Đăng, Jrai, Giẻ Triêng, Mạ… có thể nói, đây là cuộc phô diễn kỹ thuật chỉnh chiêng của các nghệ nhân có quy mô lớn – một công việc tối quan trọng và luôn luôn cần thiết trong các cộng đồng làng dân tộc Tây Nguyên Hiện nay số nghệ nhân có tài chỉnh chiêng còn rất ít, số đang học nghề cũng không nhiều, cho nên qua lễ hội này là dịp tạo tạo điều kiện trao đổi, học tập lẫn nhau giữa các dân tộc

Trang 30

Mới đây, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị 01/2008/CT-UBND, ngày

04-01-2008, về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng trên địa bàn tỉnh Gia Lai, theo

đó yêu cầu các cấp, các ngành, địa phương tạo điều kiện để các cụm dân cư, cộng đồng duy trì và phát huy Không gian văn hóa cồng chiêng; trong đó có các lễ hội truyền thống mang tính nhân văn cao

 

Trang 31

CHƯƠNG 3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Khái niệm du lịch

Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ

ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Mặc

dù vậy cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất

Với những cách tiếp cận khác nhau, các học giả đã đưa ra những khái niệm khác nhau về du lịch: Theo từ nguyên, trong tiếng Anh “to tour" có nghĩa là dã ngoại; trong tiếng Pháp “tour“ có nghĩa là đi dạo chơi, leo núi, vận động ngoài trời; trong tiếng Việt, du lịch là một từ đã có từ lâu gắn liền với các chuyến đi: Kinh lý, tham quan, vãn cảnh, thăm viếng… của các nho sỹ, các tầng lớp vua chúa, quan lại, các nhà truyền giáo…

Trong Từ điển tiếng Việt, du lịch được giải thích là “đi chơi cho biết xứ người" Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của con người”

Kuns, học giả người Thụy Sĩ xác nhận: “Du lịch là hiện tượng những người chỗ khác đi đến nơi không phải thường xuyên cư trú của họ bằng phương tiện vận tải và dùng các dịch vụ du lịch”

Hai học giả Hoa Kỳ là Mathieson và Wall gắn kết cả cách nhìn nhận về du lịch

từ phía người đi du lịch và người kinh doanh du lịch Các ông viết: “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ”

Trang 32

Năm 1963 với mục đích quốc tế hoá khái niệm du lịch, tại hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau:

“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn

từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Xuất phát từ hiện tượng du lịch, nhà nghiên cứu Trần Nhạn đã đưa ra một khái niệm khá toàn diện về bản chất đích thực, cơ bản của du lịch: “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lợi được tính bằng đồng tiền”

Như vậy các định nghĩa về du lịch nói trên đã tiếp cận khái niệm du lịch theo nghĩa rộng hơn, không chỉ đề cập du lịch đối với khách du lịch vãng lai mà còn thêm vào đó các hoạt động kinh doanh của các cơ sở và cá nhân phục vụ cho các nhu cầu của khách du lịch đi qua và ở lại (như việc vận chuyển, phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi, hướng dẫn tham quan, giải trí…) và các giá trị văn hoá tinh thần thu nhận được trong quá trình du lịch Khái niệm du lịch trong Luật Du lịch của Việt Nam cũng xuất phát

từ cái nhìn toàn diện này:

“Du lịch là các hoạt dộng có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi

cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

3.1.2 Khái niệm về khách du lịch

Hội nghị liên hợp quốc về du lịch tại Roma (1963) thống nhất quan niệm về khách du lịch quốc tế và nội địa, sau này được tổ chức du lịch thế giới WTO chính thức thừa nhận:

Khách du lịch quốc tế: là những người lưu trú ít nhất là một đêm nhưng không quá một năm tại quốc gia khác quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến

Khách du lịch nội địa: là một người đang sống trong một quốc gia không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó

Trang 33

trong khoảng thời gian ít nhất 24 giờ và không quá một năm với mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến

Theo pháp lệnh du lịch ở nước ta quy định:

Khách du lịch quốc tế: là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

Khách du lịch nội địa: là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

3.1.3 Khái niệm sản phẩm du lịch

Khách du lịch đi du lịch với mong muốn được đáp ứng, thoả mãn những nhu cầu về vui chơi, giải trí, chữa bệnh, phương tiện, vật chất trong chuyến đi.Hay nói cách khác các cơ sở kinh doanh du lịch phải thoả mãn những nhu cầu, mong muốn của du khách thông qua các sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch bao gồm: dịch vụ du lịch, các hàng hoá và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó

Như vậy sản phẩm du lịch gồm những yếu tố hữu hình (hàng hoá) và những yếu

tố vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách hay có thể nói sản phẩm du lịch bao gồm các hàng hoá, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch

Sản phẩm du lịch = tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hoá du lịch

3.1.4.Khái niệm về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên:

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt

tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày15 tháng 11 năm 2005 Sau Nhã nhạc cung đình Huế, đây là di sản thứ hai của Việt Nam được nhận danh hiệu này

Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen Cồng là loại có núm, chiêng không núm Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20cm đến 60cm, loại cực đại từ 90cm đến 120cm Cồng chiêng có thể được dùng đơn

lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc

Trang 34

Cồng chiêng Tây Nguyên là loại nhạc cụ độc đáo, đặc sắc và đa dạng Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang âm của riêng mình Trong đó, mỗi biên chế của từng tộc người đều cấu tạo bởi thang 3 âm, 5

âm hay 6 âm cơ bản Song, cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bên cạnh âm cơ bản bao giờ cũng vang kèm một vài âm phụ khác Thành thử trên thực tế, một dàn 6 chiêng sẽ cho ta tối thiểu 12 âm hay nhiều hơn nữa Điều đó lý giải tại sao âm sắc cồng chiêng nghe thật đầy đặn và có chiều sâu

Cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hóa mang đậm dấu ấn thời gian và không gian Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến Trong đó bảo lưu cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc từ thời kỳ sơ khai ở đây, mọi giá trị nghệ thuật đều nằm trong mối quan hệ tương đồng và dị biệt, xác định

cá tính vùng miền của nghệ thuật Và, với sự phong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn

bộ đến từng phần, có thể khẳng định vị trí đặc biệt của cồng chiêng Tây Nguyên trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam

Về nguồn gốc, theo một số nhà nghiên cứu, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá Trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ

mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu hay trong một buổi nghe khan đều phải có tiếng cồng chiêng như là thứ để nối kết những con người trong cùng một cộng đồng

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao Cồng chiêng còn

là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn

và huyền ảo Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng

Trang 35

3.1.5 Các loại hình du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên:

 Phân loại theo môi trường du lịch

 Du lịch văn hoá: là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn, hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích, công trình đương đại, lễ hội, phong tục tập quán,… Tài nguyên nhân văn thu hút du khách bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó

 - Du lịch thiên nhiên: là loại hoạt động du lịch đưa du khách về những nơi có điều kiện môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn nhằm thoả mãn nhu cầu đặc trưng của họ

 Nhiều chuyên gia nghiên cứu du lịch dùng các thuật ngữ du lịch sinh thái, du lịch xanh theo cách hiểu trên

 Phân loại theo mục đích chuyến đi

- Du lịch tham quan: tham quan là hành vi quan trọng của con người để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh Đối tượng tham quan có thể là một tài nguyên thiên nhiên

tự nhiên như một phong cảnh kỳ thú, cũng có thể là tài nguyên du lịch nhân văn như một di tích, một cơ sở nghiên cứu khoa học,…

- Du lịch giải trí: mục đích chuyến đi là thư giãn, xả hơi, bứt ra khỏi công việc thường nhật căng thẳng để phục hồi sức khoẻ Với mục đích này, du khách muốn tìm đến những nơi yên tĩnh, có không khí trong lành

- Du lịch nghỉ dưỡng: một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch là phục hồi sức khoẻ cộng đồng Theo một số học giả trên thế giới, với chế độ du lịch hợp lý, cộng đồng có thể giảm 30% ngày điều trị bệnh trong năm Địa chỉ cho các chuyến nghỉ dưỡng thường là những nơi có không khí trong lành, khí hậu dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục như các bãi biển, các vùng ven bờ nước, vùng núi, vùng nông thôn,…Cho đến nay, ngành du lịch Việt Nam chủ yếu vẫn kinh doanh loại hình du lịch này

- Du lịch khám phá: tuỳ theo mức độ, tính chất chuyến du lịch có thể chia thành du lịch tìm hiểu và du lịch mạo hiểm Tìm hiểu môi trường, thiên nhiên, phong tục tập quán, lịch sử,… là những mục tiêu chính của chuyến đi Du lịch mạo hiểm dựa trên nhu cầu tự thể hiện mình, tự rèn luyện mình và tự khám phá bản thân của con người,

Trang 36

đặc biệt là giới trẻ Những con suối chảy xiết, những ngọn núi cao chót vót, những khu rừng âm u, những hang động bí hiểm,… là địa chỉ lý thú của những người ưa mạo hiểm

- Du lịch thể thao: là loại hình xuất hiện để đáp ứng lòng ham mê thể thao của mọi người Các hoạt động thể thao như săn bắn, câu cá, chơi golf, bơi thuyền, lướt ván, trượt tuyết,… là những thể loại ưa thích và thịnh hành nhất hiện nay

- Du lịch lễ hội: tham gia vào lễ hội, du khách muốn hoà mình vào không khí tưng bừng của các cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tình đoàn kết của cộng đồng Du khách tìm thấy chính mình ở lễ hội, quên đi những khó khăn của cuộc sống đời thường

- Du lịch tôn giáo: là kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích tôn giáo Đây là các chuyến đi của du khách chủ yếu để thoả mãn nhu cầu thể hiện các lễ nghi tôn giáo của tín đồ hay tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo của người dị giáo Điểm đến của họ là các chùa chiền, nhà thờ, thánh địa,…

- Du lịch nghiên cứu: là kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích học tập, nghiên cứu Loại hình du lịch này ngày càng phổ biến do nhu cầu kết hợp học tập lý thuyết với tìm hiểu thực tiễn, học đi đôi với hành

- Du lịch hội nghị: là kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích hội nghị Đây là loại hình du lịch mới phát triển.Khách đi du lịch hội nghị thường được đảm bảo đầy đủ các phương tiện vật chất, khả năng thanh toán rất cao vì thường được bao cấp

- Du lịch thể thao kết hợp: là kết hợp du lịchtrong chuyến đi vì mục đích thể thao Khác với du lịch thể thao thuần tuý, những chuyến đi của các vận động viên có mục đích chính là luyện tập, tham dự vào các cuộc thi đấu thể thao chứ không phải là một hoạt động thư giãn nghỉ ngơi

- Du lịch chữa bệnh: là kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích chữa bệnh Mục đích chính của chuyến đi là để điều trị hoặc phòng ngừa một căn bệnh tiềm tàng nào

đó dựa vào từng loại tài nguyên cụ thể và hoạt động du lịch phù hợp Điểm đến thường

là các khu an dưỡng, khu chữa bệnh như nhà nghỉ, điểm nước khoáng, nơi có không khí trong lành

Trang 37

- Du lịch thăm thân: là kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích thăm thân Đối với những nước có nhiều ngoại kiều, loại hình du lịch này rất được coi trọng vì nó đáp ứng nhu cầu giao tiếp, thăm hỏi của những người thân giữa các miền, các nước

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

3.2.1.1 Số liệu thứ cấp

Số liệu được thu thập từ: phòng văn hóa huyện KBang, phòng Thống kê huyện KBang, thư viện huyện KBang, các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu trên bài giảng, giáo trình, internet, báo chí,…

3.2.1.2 Số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn 60 khách du lịch trong nước và 60 khách du lịch quốc tế dựa trên bảng câu hỏi soạn sẵn Việc điều tra được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đối với các khách du lịch đến các làng cồng chiêng Tây Nguyên ở huyện KBang

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềmvà các thao tác xử lý trên Excel để xử lý số liệu thu thập được Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp

 Phương pháp thống kê mô tả: dùng các con số thống kê tổng hợp để mô tả các tính chất đặc trưng của tập hợp dữ liệu, phương pháp này cho ta hiểu về dữ liệu chính xác hơn là bảng và đồ thị phân phối tần số

 Phân tích SWOT để biết điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để phát triển tốt hơn loại hình du lịch này

 

Trang 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Những đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện KBang, tỉnh Gia Lai

4.1.1 Thu nhập bình quân đầu người

Năm 2011 vừa qua, kinh tế KBang duy trì mức tăng trưởng khá; GDP toàn huyện đạt 2.185 triệu đồng, tăng 15,3%; thu nhập bình quân đầu người đạt 132 triệu đồng, tăng 3 triệu so với năm trước Nhóm ngành du lịch – dịch vụ – thương mại phục hồi nhanh, lượng khách đến tham quan tăng đáng kể; ngành công nghiệp – xây dựng giữ mức tăng trưởng khá, đạt 8,54% Năm 2012, KBang xác định đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng bền vững, trong đó chú trọng về mặt chất lượng, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng 13,3%, GDP đạt 2.476 triệu đồng

4.1.2 Đầu tư phát triển du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Đến năm 2010, toàn tỉnh Gia Lai có 95 dự án đầu tư phát triển du lịch KGVHCCTN với tổng số vốn đăng kí trên 9.000 tỷ đồng Đã có 65 dự án đi vào hoạt động Đa số các dự án có quy mô lớn đều tập trung đầu tư vào các khu vực có nhiều làng dân tộc sinh sống thuộc huyện KBang Các khu du lịch sinh thái lớn như vườn quốc gia Kon Ka Kinh đang được chú trọng đầu tư Bên cạnh đó, đã hoàn thành 9 tuyến đường quan trọng để phục vụ phát triển du lịch và dân sinh với tổng nguồn vốn giải ngân gần 3 tỷ đồng

4.1.3 Lao động ngành du lịch

Với 500 lao động làm việc tại các doanh nghiệp du lịch, chiếm 31% tổng số lao động trực tiếp tham gia trong ngành du lịch – dịch vụ, trong đó có 350 lao động đã qua đào tạo chuyên môn du lịch, chiếm 35% Lực lượng trong ngành du lịch rất trẻ, 63%

có độ tuổi dưới 45, được đào tạo chuyên môn và ngoại ngữ, có thể đáp ứng yêu cầu lao động hiện tại nhưng số lao động được đào tạo chuyên môn cao từ đại học đến sau đại

Trang 39

học chưa nhiều, hiện chỉ có 2% Do đó, đội ngũ lao động quản trị doanh nghiệp còn thiếu và yếu, hầu hết đều là người đến từ các địa phương khác và nước ngoài

4.2 Hoạt động du lịch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại huyện KBang

Tổng doanh thu 151.826 221.419 230.571 224.370 357.967 492.944

Nguồn: PVHTT KBang Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy doanh thu du lịch của KBang qua các năm đều tăng cao ngoại trừ năm 2009, doanh thu giảm 0,68% so với năm 2008 Năm 2009 thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp, nhất là sự lan rộng của cúm A/H1N1 trên cả nước làm ảnh hưởng đến thị trường du lịch Việt Nam nói chung và KBang nói riêng Trong tổng doanh thu, doanh thu lưu trú chiếm tỉ trọng lớn nhất qua các năm với trên 60% Khách

du lịch đến KBang hầu như đều ở lại để thưởng thức không gian sôi động và vui tươi của KGVHVVTN ở huyện KBang.Tuy nhiên đa phần du khách, đặc biệt là khách du lịch Việt Nam, chỉ ở lại khách sạn một đêm Đây cũng là một thách thức lớn đối với ngành du lịch KGVHCCTN huyện KBang Doanh thu vận chuyển chiếm tỉ trọng nhỏ nhất, điều này cũng dễ hiểu bởi khách du lịch đến KBang chủ yếu là đi bộ trong các làng dân tộc và cưỡi voi đi thăm quan để có thể hoà mình vào không khí núi rừng nơi

Trang 40

đây Hơn nữa huyện KBang khá nhỏ nên du khách hoàn toàn có thể đi bộ đến những nơi họ thích hoặc chỉ cần một chú voi là đủ Từ năm 2009 trở đi, doanh thu du lịch tăng trưởng khá nhanh Cụ thể, năm 2009 đạt 224.370 triệu đồng; năm 2010 đạt 357.967 triệu đồng, tăng 59,54% so với cùng kỳ năm ngoái; năm 2011 doanh thu đạt được 492.944 triệu đồng, tăng 37,71% so với năm 2010 Tổng doanh thu ngành du lịch năm 2011 đã tăng gấp 3 lần so với năm 2006 Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng cho ngành du lịch KBang

kì năm trước

Số lượng

% tăng so với cùng

kì năm trước

Số lượng

% tăng so với cùng

kì năm trước

2008 toàn cầu bước vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế làm ảnh hưởng lớn đến thu nhập và chi tiêu của mỗi người trên toàn cầu Do đó lượt khách đến KBang tuy tăng nhưng không đáng kể

Ngày đăng: 26/02/2019, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w