1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nghị luận học cho học sinh lớp 12 trường THPT cò nòi mai sơn sơn la

85 879 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua việc khảo sát thực tế trình độ, kĩ năng viết bài văn nghị luận nói chung và kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học nói riêng của HS lớp 12 trường Cò Nòi-Mai Sơn-Sơn La, chúng tôi thấ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT TRONG NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT CÒ NÒI -

MAI SƠN - SƠN LA

Thuộc nhóm ngành: XH2a

Sơn La, tháng 05 năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT TRONG NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT CÒ NÒI -

MAI SƠN - SƠN LA

Lớp: K54 ĐHSP Ngữ Văn A Khoa: Ngữ Văn

Năm thứ: 4/ Số năm đào tạo: 4

Ngành học: Sư phạm Ngữ Văn

Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Hà Thị Tươi

Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thùy Dung

Sơn La, tháng 05 năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đề tài này được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ của cô giáo, Thạc

sĩ Nguyễn Thùy Dung, giảng viên khoa Ngữ Văn Qua đây, chúng em xin gửi

lời cảm ơn chân thành đến cô, người luôn luôn quan tâm, chỉ bảo chúng em tận

tình trong quá trình thực hiện đề tài này

Chúng em cũng xin chân thành cảm ơn phòng Khoa học Và Quan hệ quốc

tế, thư viện trường Đại học Tây Bắc, cùng các cô giáo trong tổ Phương pháp dạy

học Ngữ Văn và Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng

em trong việc thực hiện đề tài này

Trong quá trình thực hiện đề tài do thời gian có hạn nên không tránh khỏi

thiếu sót Vì vậy chúng em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của quý

thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 05 năm 2017

Người thực hiện:

Hà Thị Tươi Thần Thị Chẳm Điêu Thị Hậu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích - đối tượng nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học……….6

7 Cấu trúc đề tài 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Khái niệm về văn nghị luận văn học 7

1.1.2 Đặc điểm của văn nghị luận văn học 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Chương trình SGK 22

1.2.2 Thực tiễn dạy và học 23

Tiểu kết 26

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT TRONG VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HS LỚP 12 27

2.1 Cung cấp cho học sinh lí thuyết về diễn đạt trong văn nghị luận văn học 27

2.1.1 Cung cấp lí thuyết về dùng từ 27

2.1.2 Cung cấp lí thuyết về sử dụng kết hợp các kiểu câu 31

2.1.3 Xác định giọng điệu phù hợp trong văn nghị luận 33

2.2 Rèn luyện cách diễn đạt trong nghị luận văn học 35

2.2.1 Rèn luyện kĩ năng dùng từ 36

2.2.2 Rèn luyện kĩ năng sử dụng các kiểu câu 38

2.2.3 Rèn luyện kĩ năng mạch lạc trong văn bản 39

2.3 Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học 44

2.3.1 Viết đoạn văn theo chủ đề 45

Trang 5

2.3.2 Rèn luyện kĩ năng viết mở bài 49

2.3.3 Rèn luyện kĩ năng viết phần kết bài 51

2.3.4 Chữa lỗi diễn đạt 52

Tiểu kết 56

CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 57

3.1 Khái quát chung về thể nghiệm 57

3.1.1 Mục đích thể nghiệm 57

3.1.2 Yêu cầu thể nghiệm 57

3.1.3 Nội dung thể nghiệm……… 57

3.1.4 Đối tượng thể nghiệm 58

3.1.5 Địa bàn, thời gian thể nghiệm 59

3.1.6 Kế hoạch tổ chức thực hiện 59

3.1.7 Cách thức dạy thể nghiệm 60

3.2 Đánh giá kết quả thể nghiệm 60

Tiểu kết 73

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

HS : Học sinh

GV : Giáo viên NXB : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa THPT : Trung học phổ thông

THCS : Trung học cơ sở

GS : Giáo sư SGV : Sách giáo viên

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngữ Văn là một trong những môn học quan trọng trong nhà trường phổ thông Bởi bộ môn Văn là môn học vừa có tính khoa học, vừa là môn học thuộc phạm trù nghệ thuật Với sự hợp nhất của ba phần Văn- Tiếng Việt- Tập làm văn cùng với sự đổi mới tích cực về phương pháp đã mang lại nhiều thành công Đặc biệt là ở phần làm văn trong chương trình THPT đã giúp cho học sinh có những

kĩ năng tạo lập và diễn đạt hiệu quả Để đạt được mục đích này việc cung cấp hệ thống tri thức về diễn đạt văn học cho các em là cần thiết, không những vậy còn phải hình thành và củng cố cho các em và vận dụng tốt vào bài văn của mình 1.2 Xuất phát từ yêu cầu của việc dạy học lí thuyết và tính chất thực hành của bộ môn Làm văn trong môn Ngữ văn, ta thấy mục tiêu lớn nhất của việc dạy học hiện nay là nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo cho HS và giúp cho các

em có được những kĩ năng cơ bản như lập luận, diễn đạt,…

1.3 Qua việc khảo sát thực tế trình độ, kĩ năng viết bài văn nghị luận nói chung và kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học nói riêng của HS lớp 12 trường

Cò Nòi-Mai Sơn-Sơn La, chúng tôi thấy rằng nhìn chung các em đã nắm đuọce những yêu cầu cơ bản của một bài văn nhưng với văn nghị luận văn học thì HS còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế trong tạo lập văn bản đặc biệt là cách diễn đạt trong nghị luận văn học

1.4 Trong thực tiễn dạy học hiện nay, HS chưa thực sự chú ý và rèn luyện cho mình những kĩ năng viết bài hiệu quả Trong đó diễn đạt là kĩ năng rất quan trọng trong bài văn nhưng chưa được các em thực sự quan tâm, các em viết bài theo cảm tính của mình, có em còn chép bài văn mẫu Trên thực tế ở trường trung học phổ thông Cò Nòi- Mai Sơn- Sơn La chủ yếu là học sinh dân tộc, kĩ năng viết bài còn yếu và việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong việc viết văn chưa thực sự được quan tâm

Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi- Mai Sơn- Sơn La” để nghiên cứu

Trang 8

2 Lịch sử vấn đề

Rèn luyện kĩ năng diễn đạt là một kĩ năng quan trọng khi tạo lập văn bản nghị luận ở trường phổ thông nên rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong bài văn nghị luận văn học cho HS trường THPT là một vấn đề được các nhà nghiên cứu hết sức quan tâm

Cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt”, NXB Giáo dục, Lê A- Nguyễn

Quang Minh- Bùi Minh Toán đã nêu ra những vấn đề chung về phương pháp dạy học Tiếng việt và phương pháp dạy học các hợp phần Làm văn ở THPT Đồng thời các tác giả đưa ra một số vấn đề lí thuyết về cách sử dụng từ ngữ làm

cơ sở lí luận cho đề tài này

Trong cuốn SGK lớp 12 (tập 2)- bộ cơ bản (2015), NXB Giáo dục- Phan

Trọng Luận, đã đưa ra yêu cầu đối với học sinh khi diễn đạt là phải biết sử dụng

từ ngữ, cách kết hợp các kiểu câu, xác định giọng điệu phù hợp Từ đó, tác giả khái quát lên cách diễn đạt sao cho đúng và phù hợp với yêu cầu của một bài nghị luận văn học và gợi ý cách diễn đạt để các em thực hành

Trong cuốn “Làm văn”- NXB Giáo dục, Lê A-Nguyễn Trí cũng nêu lên

những ý khái quát về văn nghị luận, phương pháp làm bài văn nghị luận

Trong đề tài “Rèn luyện kĩ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh

lớp 10 trường THPT Tô Hiệu- Thành phố Sơn La- Tỉnh Sơn La, Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Lệ, Trần Thị Ngân” đã đưa ra một số giải pháp rèn luyện kĩ năng

lập luận cho học sinh khi tạo lập một văn bản nghị luận

Trong đề tài “Rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận một bài thơ, một

đoạn thơ cho học sinh lớp 12 trường THPT Chiềng Sinh- Thành phố Sơn La, Nguyễn Thị Thêm, Nguyễn Thị Thắm, Nguyễn Thị Ngân” đã cung cấp cho chúng

tôi một số tài liệu tham khảo về nghị luận văn học như: thế nào là nghị luận văn học, đặc điểm của nghị luận văn học và cách thức triển khai một bài văn nghị luận văn học sao cho hiệu quả

Có thể thấy, các vấn đề lí thuyết về văn nghị luận đã được các tác giả nghiên cứu tương đối kĩ, và lí thuyết về diễn đạt trong văn nghị luận văn học đã được đề cập tương đối kĩ, tìm hiểu, lí giải ở những phương diện và mức độ khác

Trang 9

nhau Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy rằng những nhà nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở mức độ khái quát về lí thuyết diễn đạt trong nghị luận văn học, còn việc đưa ra những giải pháp nhằm rèn luyện những kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 thì chưa được đề cập đến nhiều Trong khi hiện nay chúng tôi nhận thấy các em học sinh vẫn còn nhiều vướng mắc trong khi tiến hành diễn đạt trong nghị luận văn học, chứ chưa nói đến có em còn chưa biết diễn đạt là gì? Đặc biệt chúng tôi nhận thấy chưa có tài liệu hay đề tài nào nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học cho các

em học sinh miền núi nói chung, hay trường THPT Cò Nòi nói riêng Vì vậy

thực hiện đề tài: “Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học cho

học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi- Mai Sơn- Sơn La” Chúng tôi mong muốn

đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi, từ đó góp phần nâng cao chất lượng học văn cho học sinh

Các tài liệu trên đây sẽ là định hướng cho chúng tôi nghiên cứu, đó sẽ là những cơ sở lí thuyết để đề tài được chặt chẽ Đề tài cũng chỉ là sự kế thừa, nối tiếp những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước với mục đích cụ thể hơn về cách diễn đạt trong nghị luận văn học cho một đối tượng cụ thể Hi vọng đay sẽ là công trình nghiên cứu thiết thực đối với học sinh lớp 12 nói chung và học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi nói riêng

3 Mục đích - đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp nhằm giúp các em nâng cao nhận thức và rèn luyện

kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận sao cho hiệu quả nhất qua đó nâng cao chất lượng dạy và học Làm văn ở nhà trường THPT

Đúc rút những kinh nghiệm trong học và nghiên cứu, báo cáo kết quả sau 4 năm học tập và rèn luyện ở trường đại học, cũng như chuẩn bị kiến thức, tư thế vững vàng trước khi bước vào giảng dạy môn Ngữ Văn ở trường phổ thông

Trau dồi kinh nghiệm và thao tác để sẵn sàng cho hoạt động nghiên cứu khoa học sau này

Trang 10

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu đề xuất các giải pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi- Mai Sơn-Sơn La

4 Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ của đề tài

Từ việc khảo sát thực tế về kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học của học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi-Mai Sơn-Sơn La đề tài đề ra nhiệm vụ: Trước tiên là nghiên cứu các cơ ở lí thuyết và khảo sát thực tiễn của việc dạy và học ở trường THPT Cò Nòi về diễn đạt trong nghị luận văn học Từ đó xây dựng

cơ sở lí luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp về rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học Đồng thời thể nghiệm để thấy

được tính khả thi của vấn đề được nghiên cứu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này chúng tôi đưa ra một số giải pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học Trong đó chúng tôi dừng lại tìm hiểu sâu hơn về kĩ năng dùng từ, các sử dụng kết hợp các kiểu câu và cách xác định giọng điệu phù hợp trong nghị luận văn học Nghĩa là, chúng tôi hướng vào lí luận sau đó vận dụng lí luận vào thực tiễn, hướng vào năng lực thực hành, vào kĩ năng làm bài của học sinh

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết là phương pháp được tiến hành dựa trên

cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu và thu thập những thành tựu lí luận đã có làm tiền đề

để xây dựng giả thuyết khoa học mà mình đã đặt ra

Cụ thể chúng tôi đưa ra các phương pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học Chúng tôi đã nghiên cứu lí thuyết để tìm hiểu thế nào là diễn đạt, một số phương thức diễn đạt,… Từ đó mới có thể đưa ra các kĩ năng diễn đạt thích hợp nhất cho các em học sinh lớp 12

Trang 11

Phương pháp này được thực hiện trên một số những phương diện sau:

- Xây dựng cơ sở thực nghiệm sư phạm thông qua các bài thiết kế nội dung dạy học

- Tổ chức thực hiện giảng dạy ở trường phổ thông

- Cho học sinh tiến hành làm bài theo phương pháp mới

- Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy kiểm tra, và đánh giá nhận thức

kĩ năng diễn đạt cho học sinh từ đó đề xuất một số giải pháp về việc rèn luyện các kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học cho học sinh, đồng thời khẳng định mức độ thành công của đề tài

5.4 Phương pháp thống kê

Đây là một trong những phương pháp của toán học Là phương pháp thu thập dữ liệu, tóm tắt thông tin nhằm hỗ trợ cho việc tìm hiểu một vấn đề hoặc một đối tượng nào đó Từ đó đưa ra các kết luận hoặc ước lượng thông qua các

dữ liệu thu thập được

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu thu nhận được trong quá trình điều tra, thể nghiệm

Trang 12

6 Giả thuyết khoa học

Kĩ năng diễn đạt trong nghị nhiều hạn chế cần phải khắc phục Nếu các đề

xuất giải pháp rèn kĩ năng diễn đạt cho học sinh lớp 12 trong đề tài này thành công thì sẽ góp phần giải quyết phần nào những hạn chế đó và góp phần giúp học sinh học tập tốt hơn, trở thành những chủ thể tích cực chủ động trong quá trình học tập Ngoài ra đề tài còn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Ngữ Văn

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm về văn nghị luận văn học

Một bài Làm văn thường bắt đầu bằng lối miêu tả Gắn liền với lối văn này thường là lối văn tự sự Hai lối văn này có mối quan hệ khăng khít, gắn bó chặt chẽ với nhau và chúng có chung một tên gọi là lối văn hình tượng, tức là lối văn nhằm tái hiện lại bức tranh cuộc sống và con người một cách sống động, chân thực theo một cách nào đó bằng ngôn ngữ, bằng lời văn Song bên cạnh đó hai lối văn này còn bộc lộ, giãy bày những tư tưởng tình cảm, suy nghĩ hay quan điểm của người viết trước một sự vật, hiện tượng hay một vấn đề nào đó Cách viết này được gọi là lối văn cảm tưởng Trên thực tế, rất ít khi người ta chỉ thuần túy làm văn miêu tả Miêu tả như một bài văn độc lập có lẽ chỉ tồn tại trong nhà trường Còn nói chung văn miêu tả được coi như một công cụ, một kĩ năng để làm văn bản tự sự

Nếu như bài văn thiên về trình bày các ý kiến, các lí lẽ được gọi là lối văn nghị luận Đây là lối văn bao hàm tất cả các lối văn nêu trên, song chủ yếu nó nhằm trình bày các ý kiến, các lí lẽ, các dẫn chứng để giải thích, chứng minh, biện luận thuyết phục về một vấn đề nào đó được đặt ra Nó nhằm tác động vào trí tuệ, lí trí, sự suy luận của người đọc nhiều hơn vào tư tưởng tình cảm, cảm xúc Nó là sản phẩm của tư duy lôgic

Có thể hiểu một cách đơn giản, văn nghị luận là sự bàn bạc thảo luận để

đi tới khẳng định hay bác bỏ một vấn đề nào đó Để khẳng định hay bác bỏ thì phải lập luận, mà muốn lập luận phải có lí lẽ, dẫn chứng Như vậy, lí lẽ và dẫn chứng là phương tiện, còn lập luận là phương thức để nghị luận Văn nghị luận

có đề tài, chủ đề là những vấn đề thuộc phạm vi chính trị, xã hội hoặc văn học

“Nói một cách khái quát văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết

đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn

Trang 14

luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất”.[ tr.173]

Văn nghị luận theo cách hiểu truyền thống bao gồm hai loạsi là nghị luận văn học và nghị luận xã hội Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu về mảng nghị luận văn học

Nghị luận văn học là lối văn nghị luận mà nội dung là một vấn đề văn học Vấn đề văn học ấy có thể là: một ý kiến bàn về lí luận văn học, nhận định

về một nền văn học, một thời kì hoặc một xu hướng văn học, một tác gia hay một tác phẩm văn học

1.1.2 Đặc điểm của văn nghị luận văn học

1.1.2.1 Văn nghị luận là hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng tƣ duy logic

Tư duy logic và tư duy trừu tượng chính là 2 hình thức giúp con người nhận thức thế giới Nội dung của tư duy logic là khái niệm trừu tượng, bản chất của tư duy logic là khẳng định, xác nhận

Trên cơ sở 2 loại tư duy này đã hình thành 2 loại văn bản: văn bản nghị luận và văn bản nghệ thuật Hai loại văn bản này đều sử dụng phương tiện ngôn ngữ làm công cụ biểu đạt Tuy nhiên, cách sử dụng ngôn từ của chúng có sự khác nhau Văn bản nghệ thuật tuy cũng sử dụng ngôn từ nhưng nội dung hình tượng của ngôn từ được nổi lên bề mặt, làm xuất hiện trong đầu người đọc các hình ảnh, biểu tượng giống như sự thật rồi trên cơ sở đó mà cảm nhận, suy nghĩ Đọc hai câu thơ của Hàn Mặc Tử:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

[8- tr.39]

Ta cảm nhận ngay được sự chuyển động buồn tẻ, tản mạn, sự chia lìa, ngang trái của cảnh vật Từ đó thấy được nỗi buồn man mác, sự cô đơn, mặc cảm của nhà thơ

Đó là ngôn từ trong văn bản nghệ thuật, còn ngôn từ trong văn bản nghị

luận lại được sử dụng sao cho nội dung khái niệm hiện lên bề mặt Ví dụ “gia

đình là tế bào của xã hội” hoặc “văn học là nhân học” Và với phương thức tư

Trang 15

duy này thì văn nghị luận luôn hướng tới hình thành khái niệm về sự vật, hiện tượng, tác động vào lí trí của người đọc và chiếm lĩnh bản chất trừu tượng của

sự vật và hiện tượng ấy

Như vậy, hai loại văn bản trên có mối quan hệ tương tác, gắn bó với nhau, trong văn bản nghị luận có yếu tố hình tượng, trong văn bản nghệ thuật có yếu tố nghị luận Văn nghị luận của những tác giả nổi tiếng tuy rất chặt chẽ, sắc bén nhưng không kém phần sinh động bởi nghệ thuật sử dụng các yếu tố hình tượng Trái lại, trong thơ văn, yếu tố nghị luận cũng được sử dụng không ít đặc biệt ở những nhà thơ lớn

1.1.2.2 Văn nghị luận hướng tới mục đích thuyết phục

Nghị luận không đơn thuần chỉ là nhận thức mà còn chủ yếu là thuyết phục, bởi đối tượng nghị luận bao giờ cũng có tính vấn đề, nghĩa là trong bản thân nó còn chứa đựng nhiều quan niệm, nhiều đánh giá cần làm sáng tỏ, cần được chứng minh, mà chứng minh là sử dụng, vận dụng lí lẽ, dẫn chứng để khẳng định luận điểm nào đó là đúng đắn, xác thực, các lí lẽ dẫn chứng phải lựa chọn thật tiêu biểu, trình bày rõ ràng, mạch lạc Bởi đối tượng của văn nghị luận bao giờ cũng có tính vấn đề, nghĩa là bản thân nó còn chứa đựng nhiều quan niệm, nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ, cần được chứng minh Hơn nữa thực chất của nghị luận là giao tiếp, mà giao tiếp là phải có sự trao đáp, nghĩa là ở đó tồn tại hội thoại nên đích thuyết phục trong cuộc giao tiếp ấy rất quan trọng và cần phải có

Khi viết một bài văn nghị luận bao giờ người cầm bút cũng có nhân vật đối thoại ngầm, nhân vật này luôn đòi hỏi được hiểu một cách toàn diện tính vấn

đề hay nói cách khác là đối tượng nghị luận Ngoài ra còn có các ý kiến không đồng tình mà phản bác lại người lập luận, vì thế người lập luận phải có năng lực nhất định để nghị luận sao cho thuyết phục

Muốn thyết phục được người đối thoại ngầm người lập luận phải đưa ra các

lí lẽ, dẫn chứng tán đồng với quan điểm, sự đánh giá của người viết và nhất định phải luôn hướng đến đích thuyết phục, ngoài ra còn có thể dựa vào các chân lí đã được khẳng định để dẫn dắt người đọc nhận thức và tin tưởng chân lí đó

Trang 16

1.1.2.3 Đặc điểm về nội dung và kết cấu

a Đặc điểm về nội dung

* Thống nhất giữa trí tuệ của ngôn ngữ khoa học với tính cảm xúc của ngôn

ngữ nghệ thuật

Khác hẳn với ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương mang đậm tính hình tượng và cảm xúc, văn nghị luận chủ yếu là tiếng nói đi thẳng vào lí trí người đọc Bộ phận nội dung cốt lõi của văn bản nghị luận văn học là nội dung thông tin lí tính, chất liệu chủ yếu của chúng là lí lẽ Hứng thú chủ yếu của người đọc văn bản nghị luận văn học là hứng thú muốn hiểu biết, hứng thú nhận thức, tiếp nhận chân lí Tuy nhiên, khi đã nói văn học nghệ thuật là nói đến việc khám phá

về con người, đề cập đến cảm xúc, tình cảm của con người Do vậy, văn bản nghị luận văn học là sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc, cảm hứng trữ tình, bộc lộ bằng tình cảm yêu – ghét rõ ràng qua thái độ đánh giá đối với khách thể, đối tượng đưa ra bàn luận Hai yếu tố này thể hiện như thế nào sẽ tùy thuộc vào đề tài, nội dung và thể loại cũng như phong cách sở trường, kể cả sở thích của người viết quy định

* Xu hướng trừu tượng khái quát hóa được biểu hiện bằng ngôn ngữ biểu cảm Khuynh hướng chung của văn bản nghị luận văn học là hướng tới đặc điểm bản chất của các sự kiện, hiện tượng văn học để từ đó lí giải, rút ra quy luật vận động chung của chúng

* Kết hợp tính khách quan của sự phân tích khoa học với tính chủ quan của

sự cảm thụ nghệ thuật

Phương thức biểu đạt của văn học nghệ thuật là dùng ngôn ngữ trực tiếp để bộc lộ một cách tường minh quan điểm, tình cảm, chính kiến,…của người viết đối với vấn đề đang nghị luận

Tùy thuộc vào nội dung và thể loại của văn bản nghị luận văn học mà bộc

lộ những quan điểm, cảm xúc có thể trái ngược hay thống nhất với nhau

b Đặc điểm về kết cấu

Về kết cấu, văn bản nghị luận văn học thường được tổ chức theo hệ thống logic, nó thể hiện mạch liên kết logic rõ nhất Đó là sự thống nhất giữa tư duy

Trang 17

khoa học và tư duy nghệ thuật, giữa thái độ khách quan, nghiêm túc của các nhà khoa học và thái độ chủ quan giàu cảm xúc của nhà nghệ sĩ

Văn bản nghị luận văn học thể hiện sâu sắc tính logic trong bố cục, phân đoạn, tiêu đề, trong trình bày, thuyết minh, biện luận,…Với mỗi bài văn nghị luận nói chung và văn học riêng, bao giờ cũng gồm kết cấu như sau: mở bài, thân bài, kết bài

1.1.2.4 Diễn đạt trong văn nghị luận

Diễn đạt là tỏ rõ nội dung tư tưởng, tình cảm bằng ngôn ngữ hoặc hình thức nào đó được người nói, người viết sử dụng các lí lẽ, dẫn chứng để hướng đến đích thuyết phục Bên cạnh đó phải biết cách trình bày mạch lạc, dẫn dắt sao cho việc diễn đạt bài văn nghị luận chặt chẽ, logic Mặt khác, diễn đạt phải có đích, đích của diễn đạt là dựa vào các chân lí đã có sẵn để dẫn dắt người đọc tin tưởng vào chân lí đó

Trong khi diễn đạt người viết, người nói phải đảm bảo những yêu cầu : bài văn phải có những ý sâu sắc, mới mẻ, phù hợp với yêu cầu của đề Phải được diễn đạt bằng những từ ngữ, câu văn, đoạn văn chính xác, sinh động, truyền cảm

và giàu sức thuyết phục Cần dùng từ đúng nghĩa, đặt câu đúng ngữ pháp, hành văn trong sáng, phù hợp với nội dung biểu đạt, thể hiện chính xác ý nghĩ và tình cảm của bản thân Ngoài ra, cần chú ý thêm một số điểm như lời văn nghị luận cần có tính biểu cảm, cần tránh lối dùng từ khuôn sáo, lối viết khoa trương, khoe chữ, nhận định, đánh giá cực đoan, dùng hình ảnh hoặc từ cảm thán tràn lan, không đúng chỗ,…

Trong việc hoàn thiện bài văn nghị luận cần chú ý đến hai yêu cầu Thứ

nhất bài viết phải đủ ý Thứ hai bài viết phải có “chất văn” Yêu cầu về ý nghĩa,

về nội dung nghĩa là tìm tòi, phát hiện lựa chọn và nêu các vấn đề, ý kiến Yêu

cầu về “chất văn” nghiêng về trình bày, diễn đạt Trong thực tế, có nhiều bài viết

đủ ý, có những phát hiện mới về nội dung nhưng diễn đạt chưa hay, thậm chí còn vụng về Do vậy, bên cạnh rèn luyện kĩ năng tìm ý, lập ý cần rèn luyện kĩ năng diễn đạt: dùng từ, đặt câu, sử dụng tu từ,…

Trang 18

a Các yêu cầu diễn đạt trong văn nghị luận

Nghị luận chính là một hình thức tư duy logic, ngoài ra khái niệm này còn được hiểu với nghĩa là phương thức chủ yếu dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình Nghị luận thường đi với các thao tác phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận Muốn nghị luận đúng đắn, khoa học thì phải nghiên cứu tính chất cơ bản của phương pháp diễn đạt Phương thức diễn đạt là một vấn đề lớn, việc diễn đạt cũng là một trong những kĩ năng bắt buộc cần phải có của người làm văn nghị luận

Mục đích của văn nghị luận là nhận thức và giải quyết các vấn đề bằng cách vận dụng, phối hợp linh hoạt các thao tác giải thích, phân tích, bình luận vấn đề…làm cho các vấn đề được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau Để thực hiện tốt việc đó người nghị luận cần có năng lực diễn đạt nhất định dựa vào các lí lẽ, dẫn chứng và các chân lí đã có sẵn mà suy luận Điều đặc biệt là phải đạt được độ chính xác và hướng tới đích thuyết phục, diễn đạt phải chân thực và cách suy luận phải khoa học thì mới đạt tới nhận thức và giải quyết vấn đề chuẩn xác

Trong khi nghị luận có khi ta phải vận dụng rất nhiều các cách suy luận khác nhau và nương tựa vào nhau để trình bày giải thích, phân tích, chứng minh vấn đề

Sau đây chúng tôi xin nêu ra một số yêu cầu diễn đạt trong văn nghị luận:

b Cách sử dụng từ ngữ

Trong hệ thống ngôn ngữ, từ là đơn vị tín hiệu đích thực Bản chất tín hiệu là tạo điều kiên cho ngôn ngữ trở thành công cụ giao tiếp của xã hội loài người Mà thành phần của từ được thể hiện ở thành phần ngữ âm và thành phần ngữ pháp Vì thế, nếu không nắm được từ người đọc, người nghe sẽ không hiểu hết, thậm chí hiểu sai lệch ý của người nói, người viết Mặt khác cùng với những non yếu về ngữ pháp và cách sử dụng từ ngữ làm cho việc diễn đạt trong bài văn nghị luận gặp nhiều khó khăn và không đạt hiệu quả

Về mặt nhận thực và tư duy, từ còn giúp chúng ta nhìn nhận hiện thực một cách phong phú, đa dạng và phức tạp thành những sự vật, hiện tượng đồng

Trang 19

nhất, khác biệt… Từ đó nhìn ra bản chất của sự vật khách quan thông qua hệ thống khái niệm chứa đựng trong từ Vì thế việc nắm được các từ và cách sử dụng các từ ngữ sao cho phù hợp rất quan trọng trong mục đích giáo dục ngôn ngữ, giáo dục thẩm mĩ và là điều kiện không thể thiếu để rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong một bài văn nghị luận

Khi sử dụng từ ngữ trong bài văn nghị luận cần lưu ý

Thứ nhất, cần lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề cần nghị luận; tránh dùng từ lạc phong cách hoặc những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì

Xét ví dụ : Vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh qua một số bài thơ của tập Nhật

kí trong tù: Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi

(1) Chúng ta hẳn ai cũng nghe nói về tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh Tập thơ gồm những bài được bác làm trong lúc nhàn rỗi ở nhà lao cực khổ của bọn Tưởng Giới Thạch Bác vốn chằng thích làm thơ: “Ngâm thơ ta vốn không ham…”.Nhưng trong hoàn cảnh nhà tù khổ sở, tăm tối, tâm hồn tác giả Hồ Chí Minh vẫn mang một vẻ đẹp lung linh Vẻ đẹp ấy thể hiện rõ trong các bài thơ: Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi

(2) Nhắc đến sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh, chúng ta không thể không nhắc tới tập thơ Nhật kí trong tù Tập thơ được viết trong những thời khác hiếm hoi-được thanh nhàn bất đắc dĩ của Bác giữa chốn lao tù Thơ không phải là mục đích cao nhất của người chiến sĩ cách mạng, như Người đã tự bạch một cách thật khiêm tốn:

“Ngâm thơ ta vốn không ham

Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây?”

Nhưng những vần thơ vang lên trong cảnh tù đầy, “tê tái gông cùm” lại

là những “vần thơ thép” “mà vẫn mênh mông bát ngát tình” Bởi lẽ, với người nghệ sĩ-chiến sĩ ấy, chỉ có “thân thể trong lao”, còn tinh thần Người vẫn vượt thoát qua chấn song, qua xiềng xích, qua dây trói của nhà tù Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi, là những thi phẩm tiêu biểu cho tinh thần đó

Nhược điểm lớn nhất của ví dụ (1): Dùng từ ngữ thiếu chính xác, không

phù hợp với đối tượng được nói tới Đó là những từ ngữ: nhàn rỗi, chẳng thích

Trang 20

làm thơ, vẻ đẹp lung linh,… Chúng ta có thể sửa lại những từ ngữ này để việc

diễn đạt đảm bảo yêu cầu của văn nghị luận mà vẫn giữa nguyên được ý chính

của, đoạn văn như sau: thanh nhàn, không coi thơ là mục đích chính của cuộc

Thứ hai, kết hợp sử dụng các phép tu từ từ vựng và một số từ ngữ mang tính biểu cảm, gợi hình tượng để bộc lộ cảm xúc phù hợp

Xét ví dụ:

“Ấy là Huy Cận đó-nhưng một thi sĩ “thiên nhiên” như chàng thì ở nơi

nào chẳng được, ở thời nay cũng như thời xưa; chàng như không ở trong thời gian mà chỉ ở trong không gian; người ta muốn tưởng linh hồn Huy Cận là đám mây kia, là nỗi hắt hiu trong cõi đời, là hơi gió nhớ thương…

Trong thơ Việt Nam, nghe bay dậy một tiếng địch buồn.Không phải sáo

Thiên Thai, không phải điệu ái tình, không phải lời li tao kể chuyện một cái

“tôi”; mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải tiếng đìu hiu của khóm trúc,

bông lau; có phải niềm than van của bờ sông, bãi cát; có phải mặt trăng một mình đang cảm thương cùng các vì sao?”

(Xuân Diệu, Lời tựa cho tập Lửa thiêng,

NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995) Các từ ngữ im đậm được sử dụng đều thuộc lĩnh vực tinh thần mang nét nghĩa chung: u sầu, lặng lẽ, rất phù hợp với tâm trạng của nhà thơ Huy Cận

trong tập Lủa thiêng Các từ ngữ giàu tính gợi cảm như: đìu hiu, ngậm ngùi dài,

than van, cảm thương,… cùng với lối xưng hô đặc biệt (chàng) và hang loạt các

Trang 21

thành phần đồng chức nếu bật sự đồng điệu giữa người viết (Xuân Diệu) với nhà thơ Huy Cận

Vì vậy, khi sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận người viết cần biết tránh các lỗi về dùng từ, biết lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp sẽ giúp bài văn sinh động, hấp dẫn và đạt tới chuẩn mực diễn đạt trong bài văn nghị luận

c Cách sử dụng kết hợp các kiểu câu

Dạy và học về câu không thể chỉ dừng ở mô hình cấu tạo của câu, ở việc tìm hiểu câu trong trạng thái cô lập, tách biệt khỏi mối liên hệ với hoàn cảnh giao tiếp, với những câu khác trong ngôn bản mà cần khảo sát câu trong mối liên

hệ, liên kết, kết hợp các kiểu câu trong văn nghị luận

Về mặt hình thức cấu tạo, khi đặt câu vào hoạt động hành chức của nó, cũng có hàng loạt vấn đề nảy sinh như vấn đề lựa chọn trật tự trong câu, vấn đề

sự liên kết các câu trong văn bản và sự liên hệ qua lại của câu về mặt cấu tạo ngữ pháp thể hiện qua các trường hợp mở rộng câu và tách câu Việc dạy và học

về câu không chỉ cung cấp kiến thức, nâng cao nhận thức về các bình diện của câu, mà còn rèn luyện các kĩ năng tạo câu trong các hoạt động nói và viết sao cho học sinh ngày càng vững vàng và thành thạo trong việc tạo lập các câu, liên kết các câu trong văn bản vừa đúng với cấu tạo ngữ pháp bên trong, vừa thích hợp với việc thể hiện nội dung ý nghĩa (nhận thức tư tưởng tình cảm) định biểu

lộ, lại vừa phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và các câu khác trong ngôn bản Hơn nữa, việc gắn với chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương còn được thực hiện ở các phần chương trình trình bày về sự lựa chọn trật tự, sắp xếp các thành phần câu, lựa chọn kiểu câu hoặc trình bày cách sử dụng trực tiếp và gián tiếp các kiểu câu Bởi vì chính những sự lựa chọn trật tự và liên kết các kiểu câu trong văn bản nhằm tạo nên các sắc thái nghệ thuật khác nhau, tạo nên các giá trị biểu cảm và tạo hình của ngôn ngữ nghệ thuật

Vì vậy, khi viết một bài văn nghị luận ngoài việc sử sụng từ ngữ thích hợp, ta còn phải chú ý đến cách sử dụng các kiểu câu trong văn bản

Thứ nhất, kết hợp một số kiểu câu trong đoạn, trong bài để tạo nên giọng điệu linh hoạt, biểu hiện cảm xúc

Trang 22

Ví dụ: Đề bài: Phân tích nhân vật Trọng Thủy trong Truyện An Dương

Vương và Mị Châu - Trọng Thủy

“Nếu như từ đầu truyền thuyết, khi Trọng Thủy tìm cách đánh cắp nỏ thần, những âm mưu và tham vọng tăm tối xâm chiếm con người chàng thì sau khi âm mưu hoàn tất, phần con người trong chàng mới lên tiếng Giờ đây, Trọng Thủy phải đối mặt với những mất mát lớn Mất Mị Châu- người vợ hiền dịu, ngây thơ, hết lòng vì chồng, chàng nhận ra sự tàn khốc của những âm mưu xâm lược mà chàng là kẻ thừa hành, hơn thế, chính là thủ phạm Vì sao Trọng Thủy luôn nhìn thấy hình bóng Mị Châu nơi giếng nước Vì càng không muốn tin và không chấp nhận rằng: “Nàng đã chết!’’ Không thể tha thứ cho bản thân mình, chàng đã lựa chọn cái chết Cái chết sám hối Cái chết trong ân hận muộn mằn Cái chết với khao khát chuộc lại lỗi lầm Đó là cái chết của sự tự trừng phạt Cái chết ấy có giá trị thanh tẩy những tội lỗi của Trọng Thủy”

Đoạn văn trên sử dụng nhiều kiểu câu: câu tường thuật, câu hỏi tu từ; sử dụng linh hoạt câu ngắn, câu dài; sử dụng một số phép tu từ về câu: phép chiêm xen, phép liệt kê Như vậy, cách sử dụng kết hợp các kiểu câu trong đoạn văn trên rất linh hoạt, uyển chuyển, phù hợp với lập luận và cảm xúc của người viết

Thứ hai, sử dụng các phép tu từ cú pháp để tạo nhịp điệu, nhấn mạnh rõ hơn thái độ, cảm xúc

Ví dụ:

“Cái làng Thiện Vịnh trong thơ Nguyễn Bính cũng chỉ là một bóng mơ

Làng Thiện Vịnh thật có giữa vùng chiêm khê mùa thối đất Nam Định, Thái Bình, đâu đâu cũng xơ xác nước trắng đồng, gió lùa sóng đồng cờn lên, quằn quại, lật thuyền mảng, cả đến người ra cứu lúa cũng chết đuối Mỗi năm, mỗi mùa, biết bao người đã bỏ làng đi tha phương Nhà thơ bó gối ngồi nhìn vào trong đêm Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng Nhà thơ tưởng tượng, trên những khổ cực ấy, phấp phới những lứa tuổi đang tơ, hoa cải vàng tháng chạp, mưa dây mưa dợ, trăng rằm sáng như ban ngày và những đêm chèo hát…

Thơ là niềm khao khát, là ước nguyện của con người Khi chưa quen Nguyễn Bính, tôi cũng không thật hiểu được những bài thơ viết về đồng quê của

Trang 23

Nguyễn Bính và cũng chưa phân biệt được đâu là chút lòng mộc mạc thiết tha của người làm thơ, đâu là cái hoa hòe hoa sói của chàng trai quê ra tỉnh”

(Tô Hoài, Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn học, Hà Nội, 1986)

Bài tập trên yêu cầu tập trung đánh giá hiệu quả của cách sử dụng kết hợp các kiểu câu

Đoạn trích chủ yếu sử dụng đoạn văn miêu tả với những từ ngữ, hình ảnh giàu tính hình tượng Việc sử dụng các kiểu câu này có tác dụng gợi lên ở người đọc những tưởng tượng cụ thể, sinh động về làng quê của nhà thơ Nguyễn Bính,

giúp người đọc hiểu hơn “chân quê” trong thơ của ông

Khi phân tích giá trị câu: “Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng” : ta nhận thấy

câu ngắn gọn hơn so với câu trước và câu sau nó, có tác dụng dồn nén thông tin, như một sự khẳng định chắc gọn, dứt khoát Câu không chủ ngữ nên có giá trị

khái quát Điều chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng không phải của riêng người viết,

không phải của riêng ai mà cho tất cả mọi người đọc và nghĩ về cảnh làng quê mộc mạc, yên bình của Nguyễn Bính

Việc sử dụng và kết hợp các kiểu câu khác nhau, sử dụng một số biện pháp tu từ cú pháp trong một bài văn nghị luận khiến cho việc diễn đạt trở nên linh hoạt, lập luận chặt chẽ, có sự hài giữa lí lẽ và cảm xúc, đồng thời tạo cho đoạn văn có nhạc điệu

d Xác định giọng điệu phù hợp

Văn học là “nghệ thuật ngôn từ” Quan niệm này nhấn mạnh một đặc

trưng của văn học Khi nắm được đặc trưng nói trên, việc truyền đạt nội dung của tác phẩm văn học được thực hiện trên cơ sở bám lấy từ Nhưng phương pháp dạy văn bám lấy từ thường được thực hiện hết sức thô thiển, máy móc Đây là bám lấy từ một cách hình thức, là chủ nghĩa hình thức trong dạy văn Đặc biệt học sinh thường bám lấy từ một cách vụng dại, ngô nghê Cái hay của bài văn không phải ở bản thân những từ và mĩ từ pháp ấy Nó chính là ở nội dung truyền đạt một phần và chỉ một phần thôi nhờ vào những từ và mĩ từ pháp ấy

Một người giỏi văn không chỉ dồi dào ý, giàu từ ngữ mà còn giàu ngữ điệu, giọng điệu Người dạy văn giỏi tạo ra nhiều ngữ liệu, giọng điệu thích

Trang 24

đáng, đa dạng, ăn sâu vào cảm nhận của học sinh và đây là một phần quan trọng trong tiềm lực văn của học sinh Ở trường phổ thông, đặc biệt ở cấp cơ sở, học thuộc lòng để thuộc ngữ điệu, tiết tấu cũng như đọc diễn cảm để thấm các giọng điệu của bài văn là hết sức quan trọng Dạy văn không chỉ dạy ngôn từ còn có một mục tiêu cơ bản là xây dựng và bổ dưỡng ý thức ngôn từ Có ý thức ngôn từ

là có ý thức về sức mạnh của ngôn từ Hơn ai hết, các nhà văn có ý thức về sức

mạnh này “Tôi biết sức mạnh của ngôn từ… ngôn từ là tướng của đạo quân sức

mạnh con người” (Maiakovski)

Trong Truyện Kiều muốn hiểu được sâu sắc nội dung của truyện thì phải bắt được cái giọng của tác giả trong sáu câu triết luận mở đầu Điều quan trọng

trong đoạn mở đầu này không chỉ ở luật oái oăm, ác hại trong “cõi người ta”: tài

mệnh tương đố, bỉ sắc tư phong, hông nhan bạc mệnh Điều quan trọng hơn là caí giọng mỉa mai, hờn mát, đay đả của tác giả khi nói đến những luật này:

“Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau”

Tác giả không thản nhiên ghi nhận cái luật oái oăm này Thái độ của tác giả bao hàm nhiều sắc thái Từ “khéo là” có bao nhiêu nghĩa thì cái giọng của tác giả biểu hiện ở đây có bấy nhiêu sắc thái: mỉa mai, hờn mát, bỡn cợt, châm

chọc,… “Tài mệnh tương đố” không phải là tư tưởng của Truyện Kiều.Triết lí

của Truyện Kiều là ở cái giọng của tác giả khi nói về tư tưởng này, nói ở chữ

“khéo là” xen vào câu “tài mệnh tương đố”

“Lạ gì bỉ sắc tư phong

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”

Cũng như cách phân tích ở trên “bỉ sắc tư hồng nhan bạc mệnh” không phải là tư tưởng đích thực của Truyện Kiều Ở cái giọng của tác giả rất rõ Trước luật cõi đời và luật của trời, Nguyễn Du là một người đáo để với cái giọng đay

đả, đay nghiến của ông: “Lạ gì ” ở đây bộc lộ một thái độ dè bỉu, bực tức, chán

ngán Khi ta nói “Lạ gì anh ấy” thì hoặc là ta dè bỉu, hoặc là ta bực tức, hoặc là

ta chán ngán…anh ấy, chắc không phải là một thái độ thiện cảm

Trang 25

Cái giọng văn của Nguyễn Du khi nói đến luật “hồng nhan bạc mệnh” bao

hàm một thái độ đối với “trời xanh”, một cái giọng sắng và có thái độ sấc Với thái độ ấy và cái giọng ấy, nhà thơ có chửi luôn cả trời thì chẳng có gì đáng ngạc

nhiên Nếu như “trời xanh quen thói” thì sự “má hồng đánh ghen” không thể là

một điều tốt lành

(Giọng điệu trong văn chương- GS Hoàng Ngọc Hiến) Trong nghị luận văn học để đạt hiệu quả ngoài cách sử dụng từ ngữ thích hợp, cách sử dụng kết hợp các kiểu câu thì giọng điệu cũng là một yếu quan trọng.Giọng điệu cơ bản của lời văn nghị luận văn học là trang trọng, cô đọng, hàm súc, nghiêm túc nhưng ở mỗi phần trong bài văn có thể thay đổ sao cho phù hợp với nội dung cụ thể

Ví dụ:

“Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết

[…] Nhưng xét rộng ra, cái nao nức, cái xôn xao của Xuân Diệu cũng là cái nao nức, cái xôn xao của thanh niên Việt Nam bây giờ Sự đụng chạm với phương Tây đã làm tan rã bao nhiêu bức thành kiên cố Người thanh niên Việt Nam được dịp ngó trời cao đất rộng, nhưng cũng nhân đó mà cảm thấy cái thê lương của vũ trụ, cái bi đát của kiếp người”

(Hoài Thanh- Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam,

NXB Văn học, Hà Nội, 1993)

Đoạn trích trên sử dụng nhiều từ ngữ gợi cảm, nhiều thành phần đồng chức (câu có nhiều chủ ngữ, vị ngữ) tạo giọng văn giàu cảm xúc, tạo hứng thú cho người đọc

Như vậy, để bài văn nghị luận đạt hiệu quả, sinh động, hấp dẫn; vấn đề được trình bày linh hoạt sáng tạo, đạt tới sự chuẩn mực của diễn đạt thì chúng

ta cần phải kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt ba yếu tố: Sử dụng từ ngữ thích

Trang 26

hợp, sử dụng kết hợp các kiểu câu khác nhau và xác định giọng điệu phù hợp trong bài văn

1.1.2.5 Các kiểu diễn đạt

a Kiểu diễn đạt quy nạp

Quy nạp là kiểu diễn đạt đi từ cái riêng đến cái chung, đi từ cái riêng rẽ đi đến một phán đoán chung tổng quát, từ luận chứng riêng suy ra nguyên tắc chung,nguyên lí phổ biến Hay nói cách khác, đó là quá trình suy nghĩ, vận động

từ sự xem xét những hiện tượng, đối tượng riêng lẻ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa chúng với nhau, từ đó nâng lên thành nhận định khái quát trừu tượng về những dấu hiệu chung của chúng Đây là một thao tác cụ thể của tư duy theo tính tổng hợp Ta có thể áp dụng phương pháp này để chứng minh, trình bày luận chứng trước khi đưa ra nhận xét hay kết luận có tính khái quát hơn

Ví dụ :

“Bộ Sử kí Tư Mã Thiên mà các nhà nho vẫn công nhận làm kiểu mẫu văn hay kia, nếu không phát sinh từ trong buồng gan uất ức của ông “Thái sử” thì ở đâu ra ? Gần chúng ta hơn là các nhà tiền bối như Nguyễn Du, Cao Bá Nhạn, Nguyễn Công Trứ, Yên Đổ, Tú Xương, Phan Sào Nam, Nguyễn Khắc Hiếu cũng vậy, những câu với thế cuộc nhân tình: Không có một khối óc sôi nổi, không có một thế giới quan, nhân sinh quan sinh động thì không thể sản sinh được một áng danh văn”

(Đặng Thanh Mai)

Ở ví dụ trên tác giả đã sử dụng kiểu quy nạp diễn đạt để hành văn phần đầu tác giả nêu lên các luận cứ cụ thể, phần cuối thì quy nạp thành một luận điểm khái quát

b Kiểu diễn đạt diễn dịch

Đây là kiểu ngược lại với kiểu diễn đạt quy nạp là sự vận động của tư duy

từ cái chung, cái khái quát đến cái riêng, cái cụ thể; vận dụng nguyên lí chung để xem xét các sự việc riêng biệt hoặc từ các quy luật, luận điểm chung đến các quy luật, luận điểm ít chung nhất Trong nghị luận văn học ta thường sử dụng

Trang 27

kiểu diễn dịch phân tích giải thích nhằm làm rõ ý hay mở rộng để buộc người đọc phải công nhận ý khái quát đó

Ví vụ:

“Đau thương bao giờ cũng là nguồn cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa lớn lao của văn học nghệ thuật Nguyễn Du, Tôn xtoi, Lỗ Tấn…đã trở thành nghệ sĩ lớn trước hết là vì bất cứ ai họ đã thông cảm sâu sắc và đau đớn da diết những nỗi đau nhân tình trong thời đại họ…”

(Hoàng Ngọc Hiến)

Nhờ vận dụng kiểu diễn đạt, diễn dịch nên trong đoạn văn câu thứ nhất bao giờ cũng là một nguyên lí phổ biến(bao giờ cũng là) câu thứ hai là một nhận định mới được suy ra từ quan điểm của câu thứ nhất (nhấn mạnh trước hết)

c Kiểu diễn đạt móc xích

Đây là kiểu diễn đạt có các câu được nối tiếp nhau về ý theo kiểu chuỗi xích Hệ quả của câu trước là tiền đề của câu sau Các câu đứng sau tiếp tục dẫn dắt phát triển các ý đến hệ quả cuối cùng của văn bản Nhưng cũng có khi cấu trúc móc xích được nối rộng mềm dẻo chỉ cần hai câu được nối với nhau bằng mối quan hệ liên kết tiếp giáp là đủ

Ví dụ :

(1) Thúy Kiều bỏ nhà Hoạn Thư chốn đi tưởng đã được yên thân khi tìm

được cửa phật của Giai duyên

(2) Nhưng cái từ bi của cửa phật cũng chỉ đến mức kinh sợ uy quyền của bọn quý tộc và khuyên người hoạn nạn phải chịu lấy cảnh bơ vơ

Từ nhưng nối hai đoạn văn trên theo quan hệ liên kết tiếp giáp Chỉ với điều kiện này đoạn văn trên đã được công nhận có cấu trúc diễn đạt theo kiểu móc xích

d Kiểu diễn đạt song hành

Kiểu diễn đạt song hành là kiểu diễn đạt có câu triển khai nội dung song song với nhau, không có nội dung nào bao trùm lên nội dung nào Mỗi câu trong đoan văn nêu một khía cạnh của chủ đề đoạn văn để làm rõ cho nội dung

Trang 28

So sánh tương đồng là từ một chân lí đã biết suy ra một chân lí tương tự,

có chung một logic bên trong

So sánh tương phản là đối chiếu các mặt trái ngược nhau để làm nổi bật luận điểm

g Kiểu diễn đạt tổng phân hợp

Kiểu diễn đạt này câu mở đầu đoạn văn nêu lên một nhận định chung về nhân vật Hai câu khai triển đoạn đưa ra các biểu hiện cụ thể minh họa cho nhận định chung ấy Từ những chứng cứ cụ thể này, câu kết đoạn kết thúc thành một nhận định mới phù hợp với nhận định ban đầu, vừa được nâng cao hơn Đó là mô hình tổng hợp-phân tích-tổng hợp (tổng-phân-hợp)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chương trình SGK

Từ khi cải cách giáo dục cho tới nay, môn Ngữ Văn được trả về theo đúng nghĩa đích thực của nó Theo đó, phân môn Tập Làm văn được khẳng định và việc dạy- học làm văn cũng được lưu tâm Vì vậy, SGK Ngữ Văn đã đưa vào dạy kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận

Về chương trình: bài “Diễn đạt trong văn nghị luận‟‟ được phân phối 2 tiết

Trong tiết 1 các em được học cách dùng từ ngữ và cách sử dụng kết hợp các kiểu câu Trong tiết 2 các em được rèn luyện cách xác định giọng điệu phù hợp trong văn nghị luận và vận dụng các kiến thức để giải quyết các bài tập

Về SGK: Sách dùng để giảng dạy và học tập là cuốn “Ngữ Văn 12‟‟ SGK

đã cung cấp cho học sinh những kiến thức lí thuyết và kĩ năng cơ bản có liên quan đến kiến thức diễn đạt trong văn nghị luận

Trang 29

Chúng tôi lấy SGK Ngữ Văn 12 làm tài liệu nghiên cứu chính, cũng lấy đó làm cơ sở để đề xuất rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi- Mai Sơn- Sơn La

1.2.2 Thực tiễn dạy và học

1.2.2.1 Thực trạng dạy học của giáo viên

Số lượng GV tổ văn: 07 giáo viên

Qua quá trình khảo sát thực tiễn chúng tôi thấy rằng, phần lớn đội ngũ giáo viên bộ môn Ngữ Văn của trường THPT Cò Nòi đều được đào tạo cơ bản, chính quy, nắm vững những yêu cầu kiến thức và kĩ năng trong quá trình dạy bộ môn Ngữ Văn Thầy cô của trường đều tâm huyết với nghề, có trách nhiệm trong công tác giảng dạy, tạo được sự yêu mến, hứng thú đối với các em HS khiến các

em tiếp thu bài một cách hiệu quả, nhiều giờ giảng dạy đạt kết quả tốt

Giống như các môn học khác ở trường phổ thông, Làm văn cũng có những giờ lí thuyết Nhưng lí thuyết Làm văn không phải là lí thuyết lí luận mà là lí thuyết thực hành Dạy Làm văn thực chất thực hành kĩ năng Làm văn cho học sinh Vì vậy GV dạy học bộ môn Làm văn đã sử dụng những phương pháp có liên quan đến dạy học lí thuyết và thực hành như: phương pháp rèn luyện theo mẫu, phương pháp thực hành,…

Do là giáo dục vùng cao nên cơ sở vật chất của trường THPT Cò Nòi chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học hiện nay Song song với đó là hạn chế về mặt trình độ cũng như kinh nghiệm giảng dạy của một bộ phận GV Giáo viên chưa thật sự quan tâm đến việc truyền ddatj tri thức về nghị luận văn học cho học sinh một cách sâu sắc, mới chỉ dừng lại ở việc luyện tập một số thao tác như phân tích, so sáng, kết hợp thao tác so ánh và phân tích…Đồng thời việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho học sinh mới chỉ hạn chế ở việc cung cấp lí thuyết

1.2.2.2 Thực trạng của học sinh

- Tổng số lớp12 : 07

- Tổng số học sinh: 245

- Số học sinh dân tộc: 146

Trang 30

Để khảo sát chất lượng ban đầu của học sinh chúng tôi sử dụng phiếu điều tra để thăm dò mức độ hứng thú học tập bộ môn Làm văn của học sinh, tiến hành ra đề để đánh giá chất lượng ban đầu của học sinh

Qua khảo sát thực tiễn, chúng tôi nhận thấy HS vẫn chưa biết cách lí luận, làm văn nghị luận chủ yếu dựa theo cảm tính và hứng thú ngẫu nhiên của bản thân, dẫn đến kết quả học tập bộ môn Làm văn của các em HS trong nhà trường không cao Đặc biệt là kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận, kết quả các bài kiểm tra thấp Khi được hỏi ngẫu nhiên rằng các em có thích học Làm văn không, đặc biệt là văn nghị luận thì kết quả thu được như sau:

HS Do vậy, khả năng nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, có thể những vấn đề lí thuyết các em nắm tốt nhưng khi diễn đạt thành ngôn ngữ nói và ngôn ngữa viết thì các thao tác chưa thật sự khoa học Nhiều kĩ năng làm văn của các

em mới chỉ dừng lại ở lí thuyết chưa biết áp dụng, vận dụng vào thực hành Ngoài ra do một số em chất lượng học tập bộ môn Ngữ văn còn yếu, các em không có được sự cảm nhận tinh tế về văn nên các em không thích bộ môn Ngữ văn nói chung và làm văn nghị luận nói riêng

Để nắm rõ hơn về thực trạng học môn Ngữ văn của HS, đặc biệt là kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học chúng tôi tiến hành ra đề, yêu cầu HS làm bài và thu lại chấm điểm, kết quả như sau:

Trang 31

Nhìn chung, các em đã biết diễn đạt trong bài văn của mình Tuy nhiên các

em còn mắc một số lỗi thường gặp như: diễn đạt chưa logic,… Bên cạnh đó, HS lựa chọn kết cấu của bài và kết cấu cho từng phần (mở bài, thân bài, kết bài) chưa phù hợp, chưa biết cách lựa chọn cách diễn đạt trong đoạn văn cụ thể Bởi vậy, chất lượng viết bài văn nghị luận còn chưa cao Số lượng các em viết một bài văn đúng và hay còn ít; vẫn còn một số em viết bài văn chưa đúng, chưa hay Thực tế như trên cho thấy: HS lớp 12 trường THPT Cò Nòi cần được rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận Phương pháp rèn luyện mà chúng tôi

đề xuất trong đề tài này sẽ góp phần vào việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học cho các em

Trang 32

Tiểu kết

Bất kì giải pháp dạy học nào được đưa ra cũng đều xuất phát từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình dạy học Chính vì vậy, để có được những giải pháp thiết thực nhằm rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho HS lớp 12 trường THPT Cò Nòi, ở trong chương này chúng tôi tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình dạy và học Làm văn Từ những hiểu biết nhất định của chúng tôi về văn nghị luận, cũng như diễn đạt trong văn nghị luận qua quá trình khảo sát thực tế chương trình SGK Ngữ Văn 12, thực trạng diễn đạt trong văn nghị luận của HS lớp 12 trường THPT Cò Nòi là những tiền đề đầu tiên để chúng tôi

có thể đưa ra một số giải pháp nhằm rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho HS khi làm bài văn nghị luận văn học

Trang 33

CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT TRONG

VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HS LỚP 12

2.1 Cung cấp cho học sinh lí thuyết về diễn đạt trong văn nghị luận văn học

Nói đến sự thành công của một bài văn (văn bản) nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng là nói đến nhiều phương diện Bài văn hay là sản phẩm của vốn sống, vốn văn học, năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, sự thành thạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, sự sáng tạo cá nhân Có thể nói bài văn là sản phâm tổng hợp nhất tất cả những năng lực của học sinh Bởi thế, người ta có thể nhìn vào bài văn theo từng góc độ tách biệt, chẳng hạn: góc độ năng lực văn học, năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, vốn sống hoặc những năng lực sáng tạo; nhưng người ta cũng có thể nhìn vào bài văn ở góc độ khái quát nhất, chung nhất Như vậy, ở góc độ này chúng ta thấy bài văn không phải là kết quả của một năng lực, một sự hiểu biết và cũng không phải là một phép cộng số học của những năng lực, hiểu biết đó mà là sự phối hợp chặt chẽ, sự tổng hòa của tất cả nhân tố Một trong những nhân tố không thế thiếu, đặc biệt là trong làm văn nghị luận văn học là kĩ năng diễn đạt, kĩ năng mang yếu tốt cấp thiết và quan trọng trong việc hình thành việc nắm vững kiến thức và cảm nhận của học sinh Rèn kĩ năng diễn đạt cho học sinh giúp hoàn chỉnh các tri thức về làm văn nghị luận xã hội, những vấn đề lí thuyết và thực hành đã được học ở lớp dưới (cấp cơ sở) sẽ được củng cố, bổ sung, nâng cao Kết thúc lớp 12, học sinh sẽ được trang

bị một hệ thống trọn vẹn, đầy đủ những vấn đề lí thuyết cơ bản cũng như rèn luyện những kĩ năng chính trong việc xây dựng văn bản như cách sử dụng từ ngữ, các phép liên kết từ, câu, giọng điệu

2.1.1 Cung cấp lí thuyết về dùng từ

Việc cung cấp từ ngữ hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học, trang bị những kiến thức cơ bản về từ bản với tư cách là một hệ thống hoạt động chức năng và phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh

Ngoài ra, còn nâng cao năng lực ngôn ngữ ở mức tự giác hơn, chủ động hơn Học sinh cần có năng lực lĩnh hội, sản sinh tốt các loại năng lực nói và viết,

Trang 34

hoàn cảnh, điều kiện giao tiếp, biết tự đánh giá, điều chỉnh cách viết, cách nói, cách diễn đạt Học sinh cũng cần có năng lực thưởng thức, thẩm định giá trị nghệ thuật của các tác phẩm văn chương, cái hay cái đẹp trong phong cách nhà văn, cách diễn đạt logic, vẻ đẹp tâm hồn của nhà văn

Không những thế, diễn đạt trong văn nghị luận văn học còn nâng cao năng lực tư duy (qua năng lực sử dụng ngôn ngữ) giúp học sinh biết tích lũy vốn tri thức, biết huy động và tổ chức vốn tri thức, biết đặt ra vấn đè và tự giải quyết vấn đề, biết diễn đạt kết quả của tư duy của mình một cách chặt chẽ rõ ràng có sức thuyết phục về lí trí và tranh thủ về tình cảm Việc nâng cao năng lực tư cũng giúp học sinh tạo được những cơ sở nhất định về mặt trí tuệ khi họ tiếp tục việc học tập ở bậc cao hơn, bậc đại học

Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học cho học sinh còn nhằm giúp nhằm giúp các em rèn luyện khả năng cảm nhận, trau dồi, diễn đạt trong văn nghị luận văn học

Giúp các em diễn đạt lưu loát, trôi chảy, thể hiện được cảm nhận, cảm xúc

và sự tiếp nhận của mình đối với đối tượng được phản ánh, cũng như thể hiện được cảm nhận của bản thân về các tác phẩm văn học ở các phương diện như nội dung, nghệ thuật, thế giới hình tượng nhân vật, tư tưởng, chủ đề của nhà văn đang đề cập Việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt còn rèn cho các em có cảm nhận sâu sắc hơn về các tư tưởng, chủ đề được đề cập trong văn nghị luận văn học, thuần thục trong việc sử dụng các phép liên kết, nắm được giọng điệu cũng như mạch cảm xúc trong các bài văn Không đơn thuần là làm cho học sinh nắm được những yêu cầu của kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học mà còn tạo cho học sinh thích thú với môn học Ngữ Văn nói chung và phần văn nghị luận văn học nói riêng đặt biệt là phần kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học

Rèn kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học giúp học sinh có khả năng diễn đạt tư tưởng, cảm xúc của bản thân khi tiếp cận các tác phẩm văn học bằng bài văn nghị luận Rèn kĩ năng diễn đạt còn giúp học sinh nắm được năng lực tư duy và năng lực thẩm mĩ để có thể tìm hiểu sâu sắc hơn nội dung của tác

Trang 35

phẩm văn học, làm cho học sinh hình thành cho mình tính tự giác và chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức trong tác phẩm

Muốn viết được một bài văn nghị luận văn học, trước tiên giáo viên nên hướng dẫn học sinh nắm lại lý thuyết về từng kiểu bài nghị luận văn học, cụ thể: Nghị luận về một bài thơ đoạn thơ; nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi; nghị luận về một ý kiến bàn về văn học; nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn chương

Khi giáo viên đã giúp học sinh nắm được nội dung lí thuyết của các kiểu bài nghị luận văn học, để học sinh có đủ kiến thức sơ bộ để tiến hành viết bài văn nghị luận văn học Khi vào viết một bài văn cần đảm bảo nhiều kĩ năng như

kĩ năng lập luận, kĩ năng tạo lập , kĩ năng logic…và kĩ năng rất quan trọng và không thể thiếu đó là kĩ năng diễn đạt Để hình thành được kĩ năng dùng từ tốt trong văn nghị luận văn học giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh nắm vững lí thuyết

và tiến hành làm các bài thực hành

Giáo viên hướng dẫn học sinh viết một đoạn văn ngắn sau đó giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh các sử dụng từ trong văn bản nghị luận văn học:

Bước 1: Đưa ra ví dụ, yêu cầu học sinh đọc ngữ liệu và trình bày yêu cầu

của bài đưa ra

Chỉ ra những từ ngữ không phù hợp trong đoạn văn sau, thay thế bằng các

từ ngữ thích hợp với yêu cầu của văn nghị luận và vấn đề cần nghị luận Viết lại đoạn văn khi đã sửa lại những từ không thích hợp

Đề bài: Trình bày những suy nghĩ của anh chị về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác con người qua đoạn trích cảnh VII của vở kịch Hồn Trương Ba,

da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)

“Lưu Quang Vũ là một một kịch tác gia vĩ đại Vở kịch Hồn Trương Ba,

da hàng thịt xứng đáng là một kiệt tác trong kho tàng văn học nước nhà Nhà

văn đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc : sự tranh chấp giữa linh hồn và thể xác trong quá trình con người sống và hướng tới sự hoàn thiện Thực ra con người ai mà chẳng phải sống bằng cả linh hồn và thể xác Linh hồn có cao khiết, đẹp đẽ như thế nào cũng chẳng là gì cả khi không có thể xác Anh chàng

Trang 36

Trương Ba trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt cũng thế mà thôi Anh

ta không chỉ sống chỉ bằng phần hồn Nhưng phần hồn ấy vì những thứ trớ trêu,

éo le của số phận, lại bị nhập vào xác của anh hàng thịt.Chẳng qua đó chỉ là một cái xác "âm u đui mù" nếu không có hồn Trương Ba Nhưng nó cũng không

để cho hồn Trương Ba được yên mà lại còn làm anh ta phát bệnh vì những đòi hỏi, ham muốn quá quắt của nó”

Bước 2: Để phát hiện ra lỗi, GV cần hướng dẫn HS nhớ lại kiến thức các

- Sử dụng từ đúng chính tả: không được viết hoa tùy tiện, khi viết chú ý thanh điệu, về vần, về phụ âm đầu, về phân bố các kí hiệu cùng biểu thị một âm…

- Đúng quan hệ kết hợp: các từ được sử dụng luôn luôn quan hệ với nhau

về ngữ nghĩa và ngữ pháp với các từ đi trước và đi sau nó

Học sinh nhớ lại các kiến thức tổng hợp trên để đối chiếu, tìm ra từ ngữ dùng sai

- Dừng từ không phù hợp với đặc điểm của phong cách văn bản nghị luận

văn học:viết như nói,nhiều từ ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: người

ta ai mà chẳng, chẳng là gì cả, phát bệnh

- Những từ không phù hợp có thể thay thế bằng các từ:

+ vĩ đại => nổi tiếng

+ kiệt tác => tác phẩm hay

Trang 37

Việc sử dụng từ ngữ rất quan trọng nó phải luôn phù hợp với vấn đề nghị luận

2.1.2 Cung cấp lí thuyết về sử dụng kết hợp các kiểu câu

Bên cạnh việc rèn luyện từ ngữ thì việc kết hợp các kiểu câu trong văn nghị luận văn học cũng chiếm một vị trí thiết yếu

Khi viết bài văn nói chung, bài văn nghị luận văn học nói riêng, chúng ta cần phải sử dụng kết hợp một cách linh hoạt nhiều kiểu câu khác nhau để góp phần làm phong phú hóa, sinh động hóa cách diễn đạt những ý tưởng vốn khô khan, trừu tượng; giúp cho người đọc có hứng thú tiếp nhận và dễ bị thuyết phục hơn Có những cách diễn đạt không sai, nhưng nếu cứ lặp di lặp lại quá mức sẽ gây ra cảm giác đơn điệu, nghèo nàn, nhàm chán; đó là điều ta nên tránh

Để học sinh có những lí thuyết về việc sử dụng kết hợp các kiểu câu, GV tiến hành như sau:

Bước 1 : Ôn lại kiến thức về kết hợp các kiểu câu

Chúng ta đã được tiếp xúc với nhiều kiểu câu trong văn bản nghị luận văn học các kiểu câu cũng được sử dụng linh hoạt, biểu hiện cảm xúc Các kiểu câu phân loại theo cấu tạo:

- Câu đơn: do một cụm chủ vị tạo thành

- Câu ghép: là câu do nhiều vế câu ghép lại với nhau, giữa các vế có các mối quan hệ nhất định

- Các thành phần câu:

+ Chủ ngữ: là thành phần câu trả lời cho câu hỏi Ai? hoặc con gì? Cái gì? + Vị ngữ: trả lời cho câu hỏi Làm gì? Thế nào? Là gì?

Trang 38

+ Trạng ngữ: là thành phần phụ của câu, xác định thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích… của sựu việc được nêu trong câu Trả lời cho câu hỏi Khi nào? Ở đâu? Để làm gì?

Các kiểu câu phân loại theo mục đích nói:

- Câu rút gọn (câu tỉnh lược): trong giao tiếp khi có đủ các điều kiện, người ta có thể lược bớt các thành phần của câu

- Câu ghi vấn: câu để hỏi những điều chưa biết

- Câu trần thuật: dùng để kể, tả hoặc giới thiệu về sự vật, sự việc Nói lên

ý nghĩa hoặc tâm tư, tình cảm

- Câu cầu khiến: câu dùng để nêu yêu cầu, đề nghị, mong muốn…của người nói, người viết đối với người khác

- Câu cảm thán: câu để bộc lộ cảm xúc( vui mừng, thán phục, ngạc nhiên…) của người nói, người viết

Các câu có mối liên kết chặt chẽ

Bước 2:Đưa ra ví dụ

Chỉ rõ những nhược điểm trong việc sử dụng kết hợp các kiểu câu của đoạn văn sau và nếu cách khác phục những nhược điểm đó để việc diễn đạt nội dung sáng rõ và linh hoạt hơn

“Qua việc xây dựng tình huống, khắc họa nhân vật và thể hiện tâm trạng cùng với việc sử dụng hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng, gợi những liên tưởng sâu sác cho người đọc, Nguyễn Minh Châu đã sáng tạo nên một truyện ngắn

hay và đặc sắc Qua nhân vật Nhĩ trong Bến quê, nhà văn đã nói lên những suy

tư, trăn trở của con người trong thời khắc mong manh giữa sự sống và cái chết Qua nhân vật này, tác giả muốn nhắn nhủ: hãy biết trân trọng những giá trị, những điều bình dị và gần gũi nhất trong cuộc đời”

Yêu cầu học sinh phát hiện , phân tích về việc sử dụng kết hợp các kiểu câu trong đoạn văn GV cho HS dựa vào kiến thức về câu, đặc biệt là chuẩn mực

viết câu để phát hiện và phân tích lỗi

Trang 39

Bước 3: Phân tích ví dụ:

Qua đoạn văn ta thấy bài viết sử dụng một mô hình câu cho cả đoạn, dẫn

đến cảm giác nặng nề, đơn điệu, nhàm chán

Thành phần trạng ngữ quá dài, nên chuyển qua thành phần vị ngữ để nội

dung diễn đạt rõ ràng, mạch lạc hơn.Cụ thể:

GV hướng dẫn HS sẽ xác định thành phần trạng ngữ của câu trên

Tiếp theo đó GV hướng dẫn HS xác định các thành phần khác của câu

Sau khi xác định xong, GV cho học sinh tìm nhược điểm của đoạn văn theo

định hướng sự kết hợp các câu như thế nào ? kết cấu ra sao ?

Sau khi HS đã tìm hiểu và trả lời,GV chỉ ra nhược điểm trong đoạn văn: sử dụng và kết hợp các câu có cùng một kết cấu "Qua…" khiến cho việc diễn đạt

thiếu linh hoạt, có cảm giác lặp ý, rườm rà

Việc kết hợp các kiểu câu làm cho bài văn sinh động, biểu hiện cảm xúc một cách ấn tượng.

2.1.3 Xác định giọng điệu phù hợp trong văn nghị luận

Không chỉ là biết cách sử dụng từ, kết hợp các kiểu câu mà diễn đạt trong văn nghị luận văn học chúng ta còn quan tâm đến giọng điệu, vậy giọng điệu như thế nào thì sẽ phù hợp với thể loại văn nghị luận văn học ?

"Văn học là nghệ thuật ngôn từ" Ngôn từ không chỉ gồm từ, mỹ từ Trong

tác phẩm văn học, văn phải có hồn Câu văn có hồn là câu văn có giọng điệu, ngữ điệu bởi vì từ ngữ của bài văn được chọn có thông báo nhiều điều quan trọng nhưng bài văn không có giọng đọc lên vẫn nhạt nhẽo, vô vị Sự phong phú, tính đa nghĩa,ý vị đậm đà của bài văn trước hết là ở giọng Năng khiếu văn

ở phần tinh tế nhất là năng lực bắt được trúng cái giọng của văn bản mình đọc

và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm mình viết

Việc xác định giọng điệu phù hợp trong văn nghị luận sẽ nhằm tạo cho HS

cơ sở để nắm vững cách đọc, cách suy ngẫm và cảm thụ tác phẩm nghị luận, rèn cho HS thói quen tìm hiểu, tra cứu về nội dung, nghệ thuật, tinh thần của tác phẩm, hoàn cảnh ra đời như thế nào để có giọng đọc chính xác và phù hợp với bài nghị luận

Trang 40

Giúp HS có thêm những kinh nghiệm suy ngẫm về giọng điệu của các tác phẩm nghị luận văn học, làm cho năng lức cảm thụ của HS đước nâng cao hơn, cảm thụ các bài viết có hồn hơn, ngoài ra giúp các em phân biệt giọng điệu trong văn nghị luận nó có điểm gì khác so với các bài văn kiểu khác

Để HS có những cơ sở xác định được giọng điệu phù hợp trong văn nghị luậ n văn học, GV hướng dẫn học sinh:

Bước 1: Xác định giọng điệu cơ bản của lời văn nghị luận:

Giọng điệu trang trọng, nghiêm túc nhưng mỗi phần trong bài văn có thể thay đổi sao cho phù hợp với nội dung cụ thể

Tính trang trọng, nghiêm túc thể hiện ở việc dùng từ ngữ chuẩn mực( không dùng khẩu ngữ, biệt ngữ, tiếng lóng), ở việc viết câu văn mạch lạc, ở thái

độ tôn trọng người đọc( người nghe) Tuy nhiên người viết văn có quyền sử dụng một số biện pháp tu từ từ vựng, tu từ có cú pháp trong những trường hợp

cụ thể để tạo nên sức hấp dẫn cho văn bản

Bước 2: Xét ví dụ

Tìm hiểu đoạn trích và tìm hiểu các yêu cầu:

Đối tượng nghị luận và nội dung cụ thể của đoạn trích dưới đây là gì? Giọng điệu của lời văn có điểm gì đặc biệt? Cơ sở chủ yếu tạo nên giọng điệu đặc biệt của lời văn trong đoạn trích là gì?

“Trong tình cảnh ấy, những lời thơ, ý thơ của Hàn Mặc Tử, những bài thơ

mà anh thích gọi là "thơ điên, thơ loạn", thực ra không điên loạn chút nào! Những bài thơ đọc nghe như là "kinh dị" thực ra không kinh dị chút nào Trái lại đó là những bài thơ, văn thể hiện một sức sống phi thường, thể hiện một lòng ham sống vô biên, thể hiện một ước mơ rất chi là "con người" : ước mơ được sống khi ý thức được rằng mình sắp chết, đang chết Hơn nữa vì ý thức được mình sắp chết nên phải "sống gấp", sống… bằng thơ:

[ ]"Tôi muốn hồn trào ra đầu ngọn bút

Mỗi lời thơ đều dính não cân ta."

(Nguyễn Minh Vỹ , Con người Hàn Mặc Tử qua thơ anh, trong thơ văn Hàn Mặc Tử (phê bình và tưởng niệm),NXB Giáo dục, 1993)

Ngày đăng: 30/07/2017, 08:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A – Nguyễn Quang Minh – Bùi Minh Toán (2004), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A – Nguyễn Quang Minh – Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
2. Lê A – Nguyễn Trí (2001), Làm văn, NXB Giáo dục 3. Đình Cao- Lê A (1989), Làm văn (tập 1), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn", NXB Giáo dục 3. Đình Cao- Lê A (1989), "Làm văn (tập 1)
Tác giả: Lê A – Nguyễn Trí (2001), Làm văn, NXB Giáo dục 3. Đình Cao- Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục 3. Đình Cao- Lê A (1989)
Năm: 1989
4. Diệp Quang Ban (2002), Giao tiếp văn bản mạch lạc liên kết đoạn văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp văn bản mạch lạc liên kết đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
5. Diệp Quang Ban (2013), Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết đoạn văn, NXB KHXH TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB KHXH TPHCM
Năm: 2013
6. Nguyễn Ngọc Báu, Nguyễn Quang Minh, Trần Ngọc Thêm, Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn (1985), NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn (1985)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Báu, Nguyễn Quang Minh, Trần Ngọc Thêm, Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1985
7. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn (2007), Giới thiệu giáo án Ngữ văn lớp 12, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Ngữ văn lớp 12
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2007
8. Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh (1998), Muốn viết được bài văn hay, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muốn viết được bài văn hay
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
10. Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phong (2000), Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phong
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
11. Nguyễn Quang Ninh (1993), 150 bài tập rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 bài tập rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1993
12. Nguyễn Thục Phương (2013) Học tốt Ngữ văn, NXB Tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tốt Ngữ văn
Nhà XB: NXB Tổng hợp
13. Bảo Quyến (2007), Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận, NXB Giáo dục Hà Nội 14. Trần Đình Sử, Phan Huy Dũng, Lê Quang Hưng (2011), Thực hành làm văn 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận, NXB" Giáo dục Hà Nội 14. Trần Đình Sử, Phan Huy Dũng, Lê Quang Hưng (2011), "Thực hành làm văn 12
Tác giả: Bảo Quyến (2007), Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận, NXB Giáo dục Hà Nội 14. Trần Đình Sử, Phan Huy Dũng, Lê Quang Hưng
Nhà XB: NXB" Giáo dục Hà Nội 14. Trần Đình Sử
Năm: 2011
9. Machiuskin (1927), Tình huống có vấn đề trong tư duy và dạy học Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w