Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng được các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập trong dạy học chương “ Dao động cơ” – Vật lí 12 nâng cao thì sẽ phát triển kĩ năng tự đ
Trang 1=== ===
PHẠM THỊ ĐIỆP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ” – VẬT LÍ 12 NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2=== ===
PHẠM THỊ ĐIỆP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ” – VẬT LÍ 12 NÂNG CAO
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học : TS LÊ THỊ THU HIỀN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Để hoàn thành luận văn thạc sĩ, Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Vật lí và Ban chủ nhiệm cùng các thầy cô khoa Vật lí, các phòng, khoa chức năng trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy và đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý Thầy, Cô giáo tổ Vật lí
và các em học sinh trường THPT Xuân Hòa – Vĩnh Phúc đã nhiệt tình giúp đỡ, trao đổi và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Thu Hiền trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Điệp
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Xuân Hòa, tháng 12 năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Điệp
Trang 5Viết tắt Viết đầy đủ
NC:
Thực nghiệm sƣ phạm Nâng cao
Trang 61 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp mới của đề tài 3
8 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄNCỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬPMÔN VẬT LÍ CỦA HỌC SINH 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu về kiểm tra đánh giá 4
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.2 Kiểm tra đánh giá trong giáo dục 7
1.2.1 Kiểm tra 7
1.2.2 Đánh giá 7
1.2.3 Kĩ năng 9
1.3 Tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập của học sinh 10
1.3.1 Quan niệm về tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập 10
1.3.2 Các hình thức của hoạt động tự đánh giá 14
1.3.3 Mục đích, vai trò của tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập của HS 15
1.3.4 Các bước để học sinh tự đánh giá kết quả học tập 17
1.3.5 Ưu điểm và nhược điểm của hình thức TĐG 17
1.4 Kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh 18
1.4.1 Kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh 18
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự đánh giá kết quả học tập của học sinh 19
Trang 7THPT 21
1.5.2 Quy trình rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh THPT 22
1.5.3 Các mức độ thể hiện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh THPT 22
1.6 Thực trạng vấn đề rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Vật lí cho học sinh trung học phổ thông 23
1.6.1 Đối với giáo viên 24
1.6.2 Đối với học sinh 26
Kết luận chương 1 29
Chương 2MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG"DAO ĐỘNG CƠ" - VẬT LÍ 12 NÂNG CAO 31
2.1 Tổng quan về dạy học và đánh giá kết quả học tập chương “Dao động cơ” – Vật lí 12 Nâng cao 31
2.1.1 Mục tiêu dạy học chương "Dao động cơ" - Vật lí 12 nâng cao 31
2.1.1.1 Đặc điểm, cấu trúc của chương "Dao động cơ" - Vật lí 12 nâng cao 31
2.1.1.2 Mục tiêu dạy học chương "Dao động cơ ", Vật lí 12 nâng cao 34
2.1.2 Những vấn đề khó khăn khi dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh khi dạy chương “Dao động cơ” – Vật lí 12 Nâng cao 34
2.2 Đề xuất một số biện pháp góp phần rèn luyện kĩ năng tự đánh giá cho HS trong dạy học chương “Dao động cơ” – Vật lí 12 Nâng cao 36
2.2.1 Biện pháp 1: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng xác định mục tiêu, nhiệm vụ học tập 36
2.2.2 Biện pháp 2: Rèn luyện cho HS các kĩ năng thao tác tự đánh giá kết quả học tập 41
Trang 8hoạt động học tập 57
2.3 Phối hợp các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập trong tiến trình dạy học chương “Dao động cơ” – Vật lí 12 Nâng cao 61
2.3.1 Tiến trình dạy học tiết 10: Dao động điều hòa (Tiết 1) 61
2.3.2 Tiến trình dạy học tiết 12: Con lắc đơn – Con lắc vật lý (Tiết 1) 61
2.3.3 Tiến trình dạy học tiết 16: Bài tập về dao động điều hòa( Tiết 1) 61
2.3.4 Tiến trình dạy học tiết 19: Dao động cưỡng bức – Dao động cộng hưởng 69
2.3.5 Tiến trình dạy học tiết 20: Tổng hợp dao động 69
Kết luận chương 2 76
Chương 3THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 77
3.2 Nội dung của TNSP 77
3.3 Đối tượng và thời gian thực nghiệm sư phạm 78
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 79
3.4.1 Phương pháp phỏng vấn 79
3.4.2 Phương pháp quan sát 80
3.4.3 Phương pháp thống kê toán học 80
3.5 Kết quả TNSP 80
3.5.1 Về mặt định lượng 80
3.5.2 Về mặt định tính 82
Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 3.1 Kết quả học tập ở học kì I của HS hai lớp 12A2 và 12A3 78
Bảng 3.2 Điểm kiểm tra học kì II, môn Vật lí 79
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 79
Bảng 3.3 Thống kê điểm kiểm tra của hai lớp thực nghiệm và đối chứng 81
Trang 10Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện kết quả kiểm tra kiến thức tại các lớp thực nghiệm và đối
chứng ở trường THPT Xuân Hòa 81
Hình 3.2: GV hướng dẫn HS về nội dung bài học 82
Hình 3.3: GV trao đổi với HS về cách tự đánh giá kết quả học tập 83
Hình 3.4: Học sinh thảo luận với nhau về cách TĐG KQHT 83
Hình 3.5: Giáo viên hướng dẫn học sinh TĐG KQHT 84
Hình 3.6: HS lên bảng trình bày bài để các bạn đánh giá 86
Hình 3.7: HS đánh giá bài làm của bạn 87
Hình 3.8: HS làm bài tự kiểm tra và chấm chéo, 88
nhận xét đánh giá bài của bạn dưới sự hướng dẫn của GV 88
Hình 3.9 Bài tự đánh giá và chấm chéo lần 1,2,3 (từ trái qua phải) 90
của HS Nguyễn Thị Dung lớp 12A3 90
Hình 3.10 Bài tự đánh giá và chấm chéo lần 1,2,3 (từ trái qua phải) 91
của HS Dương Thị Phương Thảo 91
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong giáo dục phổ thông, kiểm tra đánh giá có liên hệ mật thiết với quá trình dạy học, có thể coi kiểm tra đánh giá là giai đoạn cuối cùng của quá trình dạy học nếu tiếp cận quá trình đào tạo là chu trình khép kín; cũng có thể coi kiểm tra đánh giá là thước đo quá trình dạy học hay là đòn bẩy để thúc đẩy quá trình dạy học
Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 Ban hành chương trình hành động của chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ
8, BCH TW Đảng khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã chỉ thị: "Đổi mới hình thức, phương
pháp thi, kiểm tra và ĐG kết quả giáo dục theo định hướng ĐG NL người học; kết hợp ĐG cả quá trình với ĐG cuối kì học, cuối năm học theo mô hình của các nước
có nền giáo dục phát triển"
Tự kiểm tra đánh giá là một phần quan trọng của hoạt động học tập có tác dụng quyết định chất lượng học tập và sự phát triển của người học Việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự kiểm tra đánh giá sẽ hướng tới việc học sinh biết tự đánh giá kết quả học tập của mình, nhận biết được kết quả học tập của mình có đạt yêu cầu so với chuẩn đề ra hay không từ đó giúp học sinh biết tự điều chỉnh phương pháp học tập giúp nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí ở trường phổ thông
Tự kiểm tra, đánh giá là một kĩ năng tự học cần rèn luyện cho học sinh trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông Cùng với việc kiểm tra, đánh giá của giáo viên thì hoạt động tự kiểm tra, đánh giá của học sinh góp phần tích cực hóa hoạt động nhận thức của các em, qua đó tự đánh giá chính xác năng lực học tập, đem lại sự hứng thú, tích cực trong học tập Tự học và tự kiểm tra, đánh giá có mối quan hệ chặt chẽ, đều nhằm giúp học sinh tự rèn luyện, trau dồi kiến thức, đáp ứng nhu cầu của việc học tập và thời đại
Trong chương trình Vật lí ở THPT, chương “Dao động cơ” là một trong những chủ đề quan trọng đối với kiến thức Vật lí THPT, kiến thức chương này khá
Trang 12trừu tượng; HS khó hình dung Vì lí do đó, việc tổ chức rèn luyện cho HS tự đánh giá kết quả học tập chương “Dao động cơ” Vật lí 12 là hết sức cần thiết góp phần nâng cao chất lượng kiến thức môn Vật lí cho HS THPT Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu "Rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học chương " Dao động cơ "-Vật lí 12 Nâng cao".
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các biệp pháp rèn luyện kĩ năng đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học chương “ Dao động cơ” – Vật lí 12 Nâng cao nhằm phát triển kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học phổ thông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học chương “ Dao động cơ” – Vật lí 12 Nâng cao
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tự đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học chương “ Dao động cơ” – Vật lí 12 Nâng cao
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập trong dạy học chương “ Dao động cơ” – Vật lí 12 nâng cao thì sẽ phát triển kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập qua đó nâng cao kết quả học tập của học sinh Trung học phổ thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lí luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; tự đánh giá kết quả học tập; các kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập
- Điều tra thực trạng hoạt động tự đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh trung học phổ thông hiện nay
- Nghiên cứu tổng quan chương “ Dao động cơ” – Vật lí 12 Nâng cao
- Xây dựng các đề kiểm tra tự đánh giá kết quả học tập cho học sinh Trung học phổ thông nhằm rèn luyện kĩ năng tự đánh giá cho HS trong dạy học chương “Dao động cơ” – Vật lí 12 nâng cao từ đó soạn thảo một số tiến trình dạy học có áp các biện pháp đã đề xuất
Trang 13- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm hiệu quả và tính khả thi của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết: Đề tài nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu giáo dục học, tâm lí học, phương pháp dạy học bộ môn, chương trình, sách giáo khoa Vật lí 12 Nâng cao, và các tài liệu thiết yếu phục vụ nghiên cứu chương “ Dao động cơ” – Vật lí 12 Nâng cao
- Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp nhằm tìm hiểu thực trạng tự đánh giá trong dạy học ở nước ta, nguyên nhân và
đề xuất biện pháp rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh THPT
- Thực nghiệm sư phạm: Vận dụng các biện pháp đề xuất vào thực tiễn dạy học nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài
- Thống kê toán học: Xử lí, thống kê, đánh giá kết quả điều tra và kết quả
thực nghiệm sư phạm
7 Đóng góp mới của đề tài
- Về lý luận: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề rèn luyện kĩ
năng tự đánh giá kết quả học tập Vật lí cho học sinh THPT
- Về thực tiễn: Xây dựng các biện pháp rèn luyện về kỹ năng tự đánh giá
môn Vật lí cho học sinh Trung học phổ thông; soạn thảo các tiến trình dạy học chương “ Dao động cơ” – Vật lí 12 nâng cao
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄNCỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬPMÔN VẬT LÍ CỦA HỌC SINH
1.1 Tổng quan nghiên cứu về kiểm tra đánh giá
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Vai trò, ý nghĩa quan trọng của KT và ĐG năng lực nhận thức của người học, nhà giáo dục học J.A.Comenxki (1592 - 1670) người Séc khẳng định việc KTĐG tri thức người học như một yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả quá trình dạy học [dẫn theo 1]
Nghiên cứu vấn đề KTĐG dưới góc độ phương tiện điều khiển quá trình dạy
học, N.V Savin đã nêu: "Kiểm tra là một phương tiện quan trọng không chỉ để ngăn
ngừa việc lãng quên mà còn để nắm được tri thức một cách vững chắc hơn"[dẫn theo
1] Ông cho rằng, ĐG có thể trở thành một phương tiện quan trọng để điều khiển việc
học tập của người học, đẩy mạnh phát triển giáo dục người học Đánh giá được thực hiện trên cơ sở KT và ĐG theo hệ thống 5 bậc: Xuất sắc (điểm 5), Tốt (điểm 4), Trung bình (điểm 3), Xấu (điểm 2), Rất xấu (điểm 1) Từ đó, V.N Savin khẳng định KT và
ĐG là hai hoạt động khác nhau, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau KT không chỉ giúp người học nắm tri thức mà còn nắm kĩ năng, kĩ xảo T.A.Ilina nhấn mạnh chức năng quan trọng của KT, ĐG, coi nó như là một phương tiện để nâng cao chất
lượng dạy học "Việc đánh giá là một phương tiện kích thích mạnh mẽ và có một ý
nghĩa giáo dục rất lớn trong điều kiện nếu như nó được giáo viên sử dụng đúng đắn"[9]
Giai đoạn từ những năm 70 thế kỷ thứ XX trở lại đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu giải quyết từng vấn đề cụ thể trong hoạt động KTĐG tri thức của người học Thời kỳ này đã có những cuộc thảo luận điểm số như một phương tiện đánh giá người học Các nhà khoa học giáo dục cho rằng ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục của điểm số là sự kết hợp giữa điểm KT hàng ngày với điểm tổng kết trong việc ĐG trình độ của người học và mối quan hệ biện chứng của điểm số với các phương tiện
Trang 15khác nhau trong việc tổ chức quá trình dạy học và giáo dục cũng được xem xét Gần đây vấn đề tự ĐG của người học được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm B.R.Goya (Ấn Độ) là nhà khoa học có nhiều năm làm việc ở UNESCO đã đi sâu tìm hiểu việc giảng dạy người học ở các vùng khó khăn cho thấy, việc tự KTĐG kiến thức của người học rất quan trọng Theo tác giả, một khi người học tự ý thức được điểm mạnh cùng điểm yếu của mình và tự mình phát hiện ra điều mình đã biết,
đã hiểu và những điều chưa biết, chưa hiểu thì tự chúng sẽ sản sinh ra động cơ học tập và hứng thú để khắc phục điểm yếu hoặc đào sâu lại các vấn đề nào đó
Hiện nay, xu hướng ĐG mới của nền GD thế giới là ĐG theo năng lực Đã có một số quốc gia như Anh, Phần Lan, Australia, Canađa,…, và một số tác giả như
B Bloom, L Anderson, C Cooper, S Dierick, F Dochy, A Wolf,…, quan tâm nghiên cứu về ĐG năng lực Ở Australia, Hội nghị giữa Hội đồng giáo dục Australia và các Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo - Việc làm các bang của Australia (9/1992) đã đưa ra kiến nghị coi phát hiện và giải quyết vấn đề là một trong bảy NL then chốt
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ĐG cũng đã được nghiên cứu, vận dụng ở nhiều phương diện
và mức độ khác nhau Đã có một số nghiên cứu trong lĩnh vực KTĐG như Trần Bá
Hoành với “Đánh giá trong giáo dục"[5]; Lê Đức Ngọc với “Vắn tắt về đo lường
và đánh giá thành quả học tập trong giáo dục đại học"[17]; Lâm Quang Thiệp với
"Trắc nghiệm và ứng dụng"[22] Các tác giả tiếp tục nghiên cứu toàn diện vấn đề
ĐG và đổi mới ĐG, từ thống nhất khái niệm KT, ĐG, đo lường, chuẩn ĐG, đổi mới đã đi sâu phân tích ưu điểm (và hạn chế) của việc đổi mới phương pháp KT bằng TNKQ Ngoài ra còn một số tài liệu có tính chất chuyên khảo khác, như
Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan với“Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra
và đánh giá thành quả học tập" [7]; Nguyễn Công Khanh với “Đổi mới kiểm tra – đánh giá học sinh phổ thông theo cách tiếp cận năng lực"[10]; Lâm Quang Thiệp
"Trắc nghiệm và ứng dụng"[22] đã phân tích ưu điểm, hạn chế của các phương
pháp ĐG, đặc biệt là kĩ thuật xây dựng câu hỏi TN, đưa ra quy trình xây dựng và xử
Trang 16lý bộ công cụ KT một số môn học
Thời gian gần đây, một số luận án tiến sĩ đã nghiên cứu về đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức KTĐG kết quả học tập của HS như luận án tiến sĩ của
Bùi Thị Hạnh Lâm, “Rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn toán của
học sinh trung học phổ thông”[12]; luận án tiến sĩ của Lê Thị Thu Hiền về "Đổi mới hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Vật lý của học sinh dự bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin";luận án của Nguyễn Bảo Hoàng
Thanh về "Sử dụng phối hợp trắc nghiệm khách quan và tự luận cải tiến hoạt động
kiểm tra đánh giá kết quả học tập phần vật lý đại cương của sinh viên đại học sư phạm [21], của tác giả Lê Phước Lượng về "Nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo kết quả học tập Vật lý đại cương và vận dụng nó trong việc đánh giá hiệu quả dạy học"[13],… Nhìn chung các tác giả đã có những nghiên cứu về đổi mới hình thức,
phương pháp và vận dụng các phương tiện hiện đại trong đánh giá kết quả học tập của người học
Từ cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX ở nước ta, hoạt động đổi mới đánh giá được chú ý nhiều hơn Các trung tâm đánh giá ra đời ở các Viện nghiên cứu và một số trường Đại học, Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục của Bộ GD & ĐT được thành lập Nhiều công trình lý luận chung về đánh giá, đặc biệt là phương pháp và kĩ thuật đánh giá được nghiên cứu và bước đầu áp dụng ở tất cả các cấp học Yêu cầu của đổi mới giáo dục là đẩy mạnh phát triển các năng lực của học sinh trong đó coi trọng đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực người học Trong các công trình đã liệt kê ở trên, các nhà khoa học đã khẳng định vấn đề KTĐG kết quả dạy học như một phạm trù của lý luận dạy học, là một khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy học, vì vậy phải coi trọng và thực hiện tổ chức KTĐG một cách khách quan và khoa học, trong đó đặc biệt chú trọng việc rèn luyện kĩ năng tự kiểm tra đánh giá kết quả người học sẽ giúp nâng cao một số năng lực cốt lõi của học sinh trong quá trình học tập
Trang 171.2 Kiểm tra đánh giá trong giáo dục
1.2.1 Kiểm tra
Trong QTDH, có thể hiểu: KT là cách thức, hoạt động của người KT nhằm thu thập thông tin về hoạt động học tập của HS Từ đó đưa ra cơ sở để ĐG KQHT, rèn luyện, sự tiến bộ của HS Có thể chia KT thành các loại sau:
- KT thường xuyên: được diễn ra trong mỗi tiết học, hoặc sau một vài bài trong
cùng một chủ đề KT thường xuyên có thể được thực hiện trong hoạt động KT bài
cũ, trong hoạt động xây dựng kiến thức mới, củng cố bài mới, hay KT 15 phút KT thường xuyên giúp cho GV kịp thời điều chỉnh cách dạy; thúc đẩy HS tích cực học tập một cách liên tục, hệ thống; đồng thời giúp HS điều chỉnh cách học, tạo điều kiện vững chắc để QTDH đạt kết quả cao
- KT định kỳ: được thực hiện sau khi học xong một chương, một phần của
chương trình hoặc sau một học kỳ đã được lên kế hoạch từ trước Nó giúp cho GV
và HS nhìn lại kết quả dạy và học sau những kỳ hạn nhất định; ĐG được việc nắm vững kiến thức, KN, kĩ xảo của HS Qua đó củng cố, mở rộng những điều đã học,
bổ sung những thiếu sót, đặt cơ sở tiếp tục học sang những phần mới
- KT tổng kết: Hình thức KT này được thực hiện vào cuối mỗi giáo trình, cuối
năm học nhằm ĐG kết quả chung, củng cố mở rộng chương trình môn học, chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học chương trình của năm học sau
1.2.2 Đánh giá
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, đánh giá được hiểu là: Nhận định giá trị Kết quả học tập và rèn luyện của HS được thể hiện thông qua việc đánh giá những kết quả học rập và rèn luyện đó [20]
Theo J.M.De Ketele: “ĐG có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết theo một mục đích nào đó” [dẫn theo 1]
Theo Trần Bá Hoành [5], Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan [7], Nguyễn
Công Khanh [10], có thể hiểu: “ĐG kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý
thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS từ đó giúp GV
Trang 18phân tích, nhận định và đưa ra quyết định về bản thân HS để từ đó xác định các tác động và nguyên nhân của kết quả học tập đó giúp phản hồi lại quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học”
Có 3 loại hình đánh giá:
- Đánh giá chẩn đoán: Thường được tổ chức thực hiện trước khi dạy một
chương trình hay một vấn đề quan trọng nào đó nhằm giúp giáo viên nắm được tình hình nhưng kiến thức liên quan đã có trong học sinh, những điểm học sinh đã nắm vững, những lỗ hổng cần bổ khuyết, để quyết định cách dạy thích hợp
- Đánh giá từng phần (hay đánh giá quá trình): ĐG này được tiến hành
nhiều lần trong giảng dạy để phục vụ quá trình dạy-học với mục đích lấy thông tin phản hồi cho HS và GV thể hiện hiệu quả của hoạt động giảng dạy trong việc phát triển khả năng của người học mà chứ không phải là việc chứng minh HS đã đạt được một mức thành tích nào đó nhằm cung cấp những thông tin ngược, để giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh cách dạy và cách học, ghi nhận kết quả từng phần để tiếp tục thực hiện chương trình một cách vững chắc
- Đánh giá tổng kết: Thực hiện chức năng ĐG để xác định mức độ đạt thành
tích của HS sau thời gian học tập, nhưng không quan tâm đến việc thành tích đó đã đạt được ra sao ĐG này thường được tiến hành khi kết thúc năm học, khoá học bằng những kỳ thi nhằm đánh giá tổng quát kết quả học tập, đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra
Xu hướng đổi mới đánh giá hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới tập trung vào 3 loại ĐG chính:
- Đánh giá sự phát triển của HS: Tập trung vào 2 loại hình ĐG chính là ĐG tổng kết và đánh giá quá trình
- Đánh giá xác thực: Đánh giá này nhằm mục đích kiểm tra các năng lực cần
có của người học trong việc lĩnh hội kiến thức vào thực hiện một nhiệm vụ được giao trong bối cảnh thực tế
- Đánh giá sáng tạo: Đánh giá thông qua sản phẩm của người học, đây là hình thức ĐG được vận dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, từ ĐG quá
Trang 19trình; ĐG xác thực và ĐG đồng đẳng giữa các HS với nhau
Muốn ĐG được kết quả học tập hay năng lực của HS, không thể thiếu vai trò của KT vì kiểm tra là công cụ dùng để tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức
độ đạt được của người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển Kiểm tra bao gồm xác định điều cần kiểm tra, công cụ kểm tra và sử dụng kết quả kiểm tra, tức là đánh giá
Có nhiều phương thức KTĐG, tùy thuộc vào loại hình KTĐG mà có thể lựa chọn phương thức kiểm tra cho phù hợp
- Đối với ĐG chẩn đoán, ĐG tổng kết, các hình thức kiểm tra thường dùng là vấn đáp, trắc nghiệm, tự luận
- Đối với ĐG xác thực: Thường dùng cách thức kiểm tra theo hướng giao cho HS thực hiện dự án; làm các poster; đóng vai; thực hiện các bài thực hành, thí nghiệm
- Đối với ĐG sáng tạo: Thường sử dụng các hình thức thi sáng tạo kĩ thuật; thiết kế đồ dùng học tập;
Kiểm tra - đánh giá tuy là hai quá trình khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau và không thể tách rời
1.2.3 Kĩ năng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về KN
Theo Từ điển Tiếng Việt: "KN là khả năng vận dụng những kiến thức trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế"[20]
Ph.N.Gônôbôlin cho rằng: KN là những phương thức tương đối hoàn chỉnh
của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kĩ xảo – những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động [dẫn theo 12]
N.D.Levitov quan niệm: “KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó
hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [dẫn theo 12]
Trang 20Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về KN tuỳ theo cách nhìn khác nhau của các tác giả mà nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác Chung quy lại, ta thấy có hai hướng tiếp cận khái niệm KN như sau:
Hướng thứ nhất, xem xét KN nghiêng về mặt kĩ thuật của hành động, coi KN như là một phương tiện thực hiện hành động mà con người đã nắm vững Theo quan điểm này người có KN là người đã nắm vững tri thức về hành động theo đúng yêu cầu của nó
Hướng thứ hai, xem xét KN nghiêng về năng lực của con người, là biểu hiện của năng lực con người chứ không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động Quan điểm này chú ý tới kết quả của hành động, coi KN là năng lực thực hiện một công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong một thời gian nhất định, trong những điều kiện, tình huống mới
Mặc dù vậy, nhưng về cơ bản, các quan điểm đó không có sự mâu thuẫn, trái ngược nhau và đều thống nhất với nhau ở một số điểm chung, đó là:
- Nói đến KN tức là nói đến “biết làm”
- KN là kiến thức trong hành động, có cơ sở là kiến thức
- Nói đến KN là nói đến sự nắm vững cách thức thực hiện các thao tác, trình tự tiến hành các thao tác, là nói đến triển vọng về kết quả khi hành động diễn ra
- KN luôn được biểu hiện qua các nội dung cụ thể
- KN được hình thành theo con đường luyện tập
Theo chúng tôi, KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hoặc một công việc nào đó dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có của bản thân để hành động sao cho phù hợp với điều kiện nhất định
1.3 Tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.3.1 Quan niệm về tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập
- Tự đánh giá xét từ góc độ triết học
Trong triết học duy vật biện chứng, từ thời xa xưa con người đã có khả năng
tự nhận thức và tự phản ánh thế giới khách quan
Trang 21Tất cả các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan luôn tồn tại vận động và phát triển theo quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập, nghĩa là phát hiện ra mâu thuẫn và giải quyết tốt mâu thuẫn sẽ thúc đẩy sự vật và hiện tượng phát triển không ngừng Quá trình học tập của HS cũng tuân theo quy luật đó Thông qua TĐG người học thấy được mâu thuẫn giữa mục tiêu, nhiệm vụ học tập với kiến thức,
KN thực tế của họ, tức là mâu thuẫn được người học ý thức đầy đủ, sâu sắc và có nhu cầu giải quyết Do đó, mâu thuẫn trở thành động lực giúp quá trình học tập vận động phát triển theo hướng tích cực
Quy luật thống nhất biện chứng giữa “Hoạt động dạy” và “Hoạt động học” là quy luật cơ bản chi phối mối quan hệ thầy và trò trong QTDH Giáo viên với vai trò
là người chủ đạo, tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động nhận thức của HS, còn
HS với hoạt động học (hoạt động nhận thức) HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể nhận thức, do đó không thể không vận động trên cơ sở phát huy cao độ tính tích cực, tính tự giác và độc lập dưới sự hướng dẫn và điều khiển của GV Quá trình ĐG
là một khâu trong QTDH nên phải có sự thống nhất giữa ĐG của giáo viên với TĐG của HS Hơn nữa, chỉ khi nào TĐG được mình thì HS mới thực sự trở thành chủ thể của hoạt động nhận thức [12]
Theo quan điểm duy vật biện chứng, thực tiễn là điểm khởi đầu và cũng là điểm kết thúc trong hoạt động nhận thức của HS, kết quả hoạt động thực tiễn (hoạt động học tập) sẽ phản ánh trình độ nhận thức (KQHT) của người học Do đó, HS chỉ có thể
TĐG được KQHT của mình thông qua chính các hoạt động học tập của các em
- Tự đánh giá xét từ góc độ tâm lí học
Theo tâm lí học lại cho rằng cần tạo điều kiện để HS ngày càng tự đảm đương những chức năng vốn chỉ là của giáo viên, trong đó có việc ĐGKQHT của bản thân Theo Kharlamov, hoạt động học tập chỉ thực sự có hiệu quả khi người học là chủ thể tự giác, tích cực của quá trình học tập
Theo [12], Người ta thường nêu lên những tiền đề “tự nhiên” hay được tạo ra
ở các nhà trường làm cơ sở cho sự biện luận như sau:
Trang 22- Khả năng nội quan (Introspection), kinh nghiệm bản thân được hình thành
và phát triển từ tuổi thiếu niên
- Theo thời gian và tuổi đời, HS tự tích lũy được những hiểu biết, kinh nghiệm
về bản thân trong sự giống và khác những người xung quanh, về cả những chuẩn mực ĐG nào đó Trong tâm lí học phát triển, H.Thomas đã có lần bị phê phán vì
không coi khả năng TĐG là tiêu chuẩn của sự phát triển
- Các công trình thực nghiệm cho thấy, dưới tác động của nhà trường, việc ĐG quá cao về bản thân của HS có thể thay đổi theo hướng ngày càng phù hợp với thực
tế hơn
- HS có thể TĐG còn nhờ ở sự chỉ dẫn, hỗ trợ, nhận xét của nhóm, giáo viên
và gia đình hay nói khác đi là thông qua các cơ chế tâm lí xã hội
Một trong những cơ sở tâm lí học của hoạt động TĐG của người học là mối quan
hệ giữa cảm xúc và sự phát triển trí tuệ Hơn nữa, khuyến khích TĐG ở người học giúp
họ phát huy tinh thần trách nhiệm của bản thân trong quá trình học Những người học tích cực tham gia vào TĐG sẽ thành thạo trong quá trình củng cố hoạt động của họ Họ biết ĐG chính xác về bản thân và nhận xét với thái độ xây dựng đối với công việc của người khác TĐG không chỉ phát triển ở người học khả năng phân tích tỉ mỉ điểm
mạnh, điểm yếu mà còn cho thấy những thông tin đó rất có giá trị
Con đường hiệu quả nhất để HS nắm vững kiến thức, phát triển KN là phải đưa HS vào vị trí chủ thể trong hoạt động nhận thức Vai trò chủ thể của HS trong hoạt động nhận thức thể hiện ở việc HS tự định hướng, tự tổ chức, tự điều chỉnh và
TĐGKQHT của mình
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của lứa tuổi
HS trung học cơ sở; ở tuổi này, quá trình tự ý thức diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ và có đặc thù riêng Họ không chỉ có nhu cầu ĐG mà còn có khả năng ĐG sâu sắc và tốt hơn thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng sống
và của chính mình
Cùng với sự thay đổi vai trò của người học trong QTDH thì vai trò của người học trong quá trình ĐG cũng có sự thay đổi Họ không chỉ là người chịu sự ĐG và thực
Trang 23hiện những quy định của quá trình ĐG mà họ còn là người trực tiếp tham gia vào quá trình ĐG, trong đó có ĐG chính bản thân mình, tức là TĐG
- Tự đánh giá xét từ góc độ giáo dục học
Theo [12], thì TĐG là một hình thức ĐG mà đối tượng TĐG kết quả của việc
nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ học tập Thông thường người TĐG sử dụng các bộ công cụ đã được thiết kế trước để đo về những nội dung họ muốn biết về bản thân Việc ĐG có thể được thực hiện thông qua tự so sánh với các đối tượng khác đang có cùng chức năng, mục tiêu hoặc nhiệm vụ , để thấy được vị trí của mình so với những người đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ tương xứng xung quanh
TĐG về năng lực, sở thích, nhân cách và giá trị của bản thân sẽ giúp HS có nhận xét đúng về các mặt mạnh hoặc hạn chế của mình Hiện nay trên các trang mạng có rất nhiều bộ công cụ giúp HS có thể TĐG các năng lực, sở thích và giá trị của bản thân Dựa vào kết quả TĐG, HS sẽ điều chỉnh hoặc nhờ sự giúp đỡ bên ngoài để có thể phát huy thế mạnh hoặc khắc phục những hạn chế của mình nhằm đạt được mục tiêu cá nhân trong lĩnh vực nào đó
TĐG là một khâu hiệu quả và quan trọng đối với việc ĐG cả quá trình học Một khi người học có thể TĐG chính việc học của mình và nền tảng kiến thức của
họ đang có thì họ có thể nhận ra những lỗ hổng trong kiến thức của bản thân, nhờ
đó mà quá trình học hiệu quả hơn, khuyến khích sự tiến bộ của HS và góp phần vào
việc tự điều chỉnh quá trình học
Việc HSTĐG không những góp phần mục tiêu ĐG mà còn có ý nghĩa rất lớn Việc làm này có tác dụng bồi dưỡng cho HS ý thức trách nhiệm, tinh thần tự phê bình, khả năng TĐG, tính độc lập, lòng tự tin và tính sáng tạo
Việc HS TĐG có thể diễn ra khi họ phải làm một bài tập, trình diễn một hoạt động trước lớp, tạo một sản phẩm học tập Điều này có thể được thực hiện ngay từ những lớp HS còn nhỏ tuổi và được sử dụng ngày càng được rộng rãi ở những lớp trên
Trang 24Sự hiểu biết về bản thân là một yếu tố vô cùng quan trọng Khi ĐG đúng về mình, người ta có thể xác định được phương hướng đúng cho sự tự giáo dục bản thân Nói khác đi, TĐG là tiền đề định hướng của tự giáo dục
Như vậy TĐG đã được quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm qua nhưng cho đến nay quan niệm về TĐG vẫn chưa có sự đồng nhất Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào thì TĐG cũng bao gồm: thu thập, xử lí các thông tin về bản thân; đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn do bản thân hoặc người khác đề ra; trên cơ sở đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; đề xuất những quyết định để cải thiện thực trạng
Vì vậy, ta có thể hiểu TĐG KQHT là quá trình thu thập, phân tích và lí giải thông tin về KQHT của bản thân, đối chiếu với mục tiêu, nhiệm vụ của bài học, môn học, lớp, nhà trường nhằm tạo cơ sở cho các quyết định để việc học tập của chính họ ngày một tiến bộ hơn
Với cách hiểu như thế thì:
- TĐG KQHT là bộ phận của quá trình ĐG và thuộc dạng ĐG quá trình Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó cũng có thể mang tính chất của ĐG chuẩn đoán hoặc tổng kết
- TĐG KQHT là một hoạt động tự phản ánh quá trình học của bản thân người học về những vấn đề như: đã học được những gì, đã học như thế nào và cần phải làm gì để học tốt hơn
Trong phạm vi luận văn này, TĐG KQHTđược xem xét trong mối quan hệ với
ĐG và với hoạt động dạy học, tức là nó vừa có tính chất ĐG để điều chỉnh quá trình học tập, vừa có tính chất của việc học, tự học Như vậy, TĐG KQHT có thể diễn ra trong toàn bộ quá trình học tập của HS, khi học tập có sự hướng dẫn của giáo viên
và khi không có sự hướng dẫn của giáo viên
1.3.2 Các hình thức của hoạt động tự đánh giá
- HS TĐG dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên: Hình thức này diễn ra
trong QTDH, thầy trò giáp mặt nhau trên lớp Trong quá trình truyền thụ kiến thức, thầy khéo léo cài đặt những hoạt động để HS có thể TĐG Chẳng hạn, thông qua trả
Trang 25lời các câu hỏi, qua nhận xét về bài làm của mình, của bạn, hoặc qua nhận xét, phân tích, ĐG của giáo viên, qua các phiếu học tập, qua trao đổi thảo luận trong nhóm, Trong hình thức này, việc ĐG của thầy sẽ là mẫu, là chuẩn mực để HS TĐG
- HS TĐG không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên: Hình thức này có
thể bao gồm hai kiểu cơ bản là: HS TĐGtheo sự hướng dẫn (gián tiếp) của giáo viên hoặc HS độc lập tiến hành hoạt động TĐG
+ Trên cơ sở QTDH trên lớp, GV đưa ra các yêu cầu để HS tự học và TĐG KQHT, đó là TĐG theo sự hướng dẫn (gián tiếp) của giáo viên Chẳng hạn, sau giờ học giáo viên đưa ra phiếu hướng dẫn học ở nhà hay câu hỏi yêu cầu hiểu sâu, mở rộng vấn đề hoặc bài tập vận dụng, HS tự học và đối chiếu kết quả hoặc “bắt chước” giáo viên tiến hành TĐG KQHT
+ Khi TĐG trở thành nhu cầu, thói quen thì HS có thể tiến hành hoạt động này một cách tự giác trong quá trình tự học của mình, đó là HS độc lập tiến hành hoạt động TĐG Các em có thể TĐG về mức độ lĩnh hội kiến thức sau khi học xong một nội dung hay khi tham khảo xong một tài liệu
1.3.3 Mục đích, vai trò của tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập của HS
- Mục đích của TĐG
+ Xét về phương diện hoạt động, TĐG là mục đích tự thân của con người, giúp
nhìn nhận lại bản thân, biết được năng lực của mình, do đó họ có thể lựa chọn và tiến hành những hoạt động thích hợp để đạt được mục đích công việc Biết TĐG là một điều kiện quan trọng quyết định phần thành công, tránh phần thất bại trong mọi công việc của mỗi con người Đối với quá trình giáo dục, TĐG tạo cơ hội cho người học đưa ra những nhận xét, bình phẩm và tự phán quyết về công việc học tập của mình, do đó phát huy vai trò nội lực của người học trong quá trình giáo dục
+ Xét về phương diện mục đích, TĐG KQHT tạo cơ hội cho HS thấy được những
điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, thấy được những cơ hội và thách thức đối với công việc của mình và do đó HS có thể tự tin hơn trong việc hoạch định tương lai, cải thiện việc học tập của họ TĐG KQHT chẳng những giúp cho người học nhanh tiến bộ mà còn cung cấp những thông tin giúp giáo viên ĐG HS sâu sắc, chính xác hơn
Trang 26Dạy học theo hướng coi trọng vai trò chủ động của người học, coi việc rèn luyện phương pháp tự học để chuẩn bị cho HS năng lực tự học liên tục suốt đời thì giáo viên phải hướng dẫn nhằm hình thành và phát triển KN TĐG KQHTđể họ tự điều chỉnh cách học Do đó, xét trong phương diện tự học, TĐG KQHT là một khâu quan trọng, vừa giúp người học xác định hiệu quả của quá trình tự học vừa điều chỉnh và định hướng cho quá trình tự học tiếp theo
- Vai trò, ý nghĩa của TĐG
TĐG góp phần phát triển hứng thú của người học trong quá trình tự học và phát huy tính độc lập của họ, do đó nó rất cần thiết đối với QTDH[16]
TĐG rất cần thiết bởi: nó giúp cho HS trở nên có trách nhiệm hơn đối với quá trình học của bản thân; cung cấp thông tin phản hồi về quá trình học tập của chính người học, giúp họ thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, năng lực, trình độ kiến thức, KN của bản thân để có được sự điều chỉnh và định hướng hoạt động học tập tiếp theo cho phù hợp; giúp cho HS tự tin, tích cực, độc lập và linh hoạt hơn trong học tập [12]
TĐG không chỉ có ý nghĩa lớn với hoạt động học của HS mà nó còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động dạy của giáo viên vì chúng giúp cho: các bài học trở nên nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn nhờ HS hoạt động tích cực và độc lập hơn; cung cấp thông tin phản hồi giúp giáo viên nhận ra sự tiến bộ của HS; chia sẻ trách nhiệm ĐG và kết quả ĐG sẽ chính xác hơn, việc xây dựng kế hoạch học tập cho HS của giáo viên trở nên sát thực hơn; giúp giáo viên thấy được những việc tiếp theo họ phải làm đối với từng cá nhân và các nhóm
Như vậy, TĐG có ý nghĩa, vai trò rất lớn trong QTDH và trở thành một thành phần của hoạt động học tập Nó là “lực nắn” hữu hiệu cách học, phát huy nội lực người học, là công cụ phản ánh năng lực, giúp nâng cao hiệu quả học tập Do đó, TĐG là một KN quan trọng trong quá trình học giúp cho người học có thể học tập suốt đời Hơn nữa, TĐG giúp HS có thể ĐG chính xác bản thân và chia sẻ trách nhiệm ĐG với giáo viên
Trang 271.3.4 Các bước để học sinh tự đánh giá kết quả học tập
Bước 1: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ học tập Mục tiêu, nhiệm vụ học tập là
kết quả cần phải đạt được ở HS sau mỗi nội dung hoặc hoạt động học tập của họ, thường được giáo viên đặt ra trước, trong hoặc sau một bài học, một hoạt động, cũng có khi được chính người học đặt ra Mục tiêu, nhiệm vụ học tập phải bám sát
và dựa trên cơ sở là chuẩn kiến thức, KN của môn học [16]
Bước 2:Thực hiện hoạt động học tập.Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ học tập,
HS tiến hành hoạt động học tập Có thể là hoạt động học tập ở lớp, ở nhà, có thể có giáo viên hướng dẫn trực tiếp hoặc không Hoạt động có thể diễn ra trong thời gian ngắn hay dài tùy thuộc vào mục tiêu đặt ra là mục tiêu ngắn hạn hay dài hạn, mục tiêu trước mắt hay lâu dài [16]
Bước 3: Đối chiếu KQHT với mục tiêu, nhiệm vụ học tập.Để kiểm nghiệm
hiệu quả hoạt động học tập, HS phải biết đối chiếu kết quả với mục tiêu, nhiệm vụ của bài học, môn học nhằm xác định mức độ đạt được sau khi học (xem mục tiêu nào đã đạt được, mục tiêu nào chưa đạt được) [16]
Bước 4: Ra quyết định.Trên cơ sở đối chiếu, so sánh kết quả ĐG với mục tiêu,
nhiệm vụ học tập, người học phân tích, bình luận, nhận xét và ĐG, về KQHT của mình Từ đó, họ xác định được nguyên nhân, bước tiếp theo trong hoạt động học của mình nhằm tự rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh kiến thức, KN và cải thiện việc học tập[16]
1.3.5 Ưu điểm và nhược điểm của hình thức TĐG
Trong đổi mới ĐG, TĐG KQHT đã và đang trở thành một hình thức ĐG có vai trò quan trọng Ta có thể thấy được các ưu điểm cơ bản là: TĐG cho phép HS chú ý hơn đến các mục tiêu học tập; Khi HS có KN TĐG sẽ có nhiều khả năng hoàn thành được các nhiệm vụ khó khăn một cách tự tin hơn với khả năng của họ và có trách nhiệm hơn đối với việc học tập; Động lực học tập được nâng cao, HS định hướng tốt hơn hoạt động học tập và công việc tiếp theo; Cung cấp phản hồi về KQHT để HS có thể tự cải thiện quá trình học tập; TĐG giúp cho HS học tập độc lập, tích cực, chủ động hơn
Trang 28Tuy nhiên, trong một số trường hợp HS TĐG không đúng, có thể ĐG quá cao hoặc quá thấp về mình TĐG sẽ không cung cấp cho HS sự phản hồi đầy đủ về thành tích học tập khi nó được sử dụng một cách đơn độc Do đó, cần kết hợp TĐG của HS với ĐG của giáo viên và các lực lượng giáo dục khác
1.4 Kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.4.1 Kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
KN TĐG kết quả học tập là KN học tập của HS, được người học tiến hành trong quá trình học, là một KN quan trọng để cải thiện quá trình học và nhờ TĐG giúp cho người học thấy được họ đã đạt được những gì và cách thức để cải thiện quá trình học TĐG có thể diễn ra và được rèn luyện trong cả quá trình học, dưới nhiều dạng: qua các câu hỏi, qua lời nhận xét của giáo viên, ĐG từ giáo viên và bạn học, qua thảo luận nhóm, qua việc giải bài tập, qua hồ sơ học tập, Qua đó HS tự mình phản ánh về những vấn đề tiềm ẩn, phân tích xem đã học như thế nào, KN nào đã được hình thành,
KN nào cần phải có HS có thể tiến hành TĐG KQHT dựa trên kiến thức hoặc hành vi của bản thân thông qua các nội dung học tập và chỉ có được KN thông qua con đường
- Thông qua TĐG HS thấy rõ hơn mục tiêu, nhiệm vụ môn học: Khi ý thức
được mục tiêu, nhiệm vụ học tập, HS có thể TĐG mức độ kiến thức, KN, do đó công việc học tập của họ trở nên có định hướng rõ ràng, chủ động, tích cực hơn Hơn nữa, HS chỉ có thể đạt được thành tích về học tập nếu họ hiểu mục đích và có
thể TĐG xem họ cần phải làm gì để đạt được nó [21]
Như vậy, để TĐG được thì HS phải nắm chắc mục tiêu, nhiệm vụ học tập Ngược lại, TĐG giúp cho HS tự đối chiếu KQHT của bản thân mình với mục tiêu, nhiệm vụ học tập để thấy được mức độ đạt được mục tiêu, nhiệm vụ học tập của
Trang 29bản thân Do đó, thông qua TĐG người học sẽ thấy rõ hơn mục tiêu, nhiệm vụ học tập
- TĐG cung cấp cho người học thông tin phản hồi về chính quá trình học của họ:
Sự thay đổi có ý nghĩa nhất trong việc nâng cao KQHT của HS là thông tin phản hồi Miêu tả đơn giản nhất cho việc cải cách giáo dục chính là tận dụng các chức năng của thông tin phản hồi
Như vậy, xuất phát từ ý nghĩa to lớn của thông tin phản hồi và vị trí, vai trò của việc TĐG KQHT cho thấy: Dựa trên cơ sở các thông tin phản hồi HS có thể tự điều chỉnh được phương pháp học tập của cá nhân TĐG sẽ giúp HS định hướng rõ ràng hơn kế hoạch trong tương lai, tích cực, hứng thú và tự tin hơn trong học tập
- TĐG giúp người học tích cực hơn, chủ động hơn trong học tập và là xu thế mới trong dạy học
Để nâng cao kết quả học tập cho HS, đòi hỏi bên cạnh ĐG của giáo viên cần phải chú ý và kết hợp với TĐG của HS, tức là tăng cường KNTĐG ở HS trong QTDH
Người học nên được giúp đỡ để phát triển khả năng và thói quen của sự tự phản chiếu để họ có thể tăng khả năng tự điều khiển và điều chỉnh
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Yếu tố chủ quan
TĐG là một bộ phận của quá trình ĐG Quá trình TĐG là do bản thân HS
tự thực hiện Hay nói cách khác, HS chính là chủ thể của hoạt động TĐGKQHT của HS Do đó, hoạt động TĐG của người học chịu sự chi phối của các yếu tố như: kiến thức, động cơ, thái độ, hiện tượng tâm lí TĐG bản thân
- Kiến thức là một yếu tố căn bản nhất để người học có thể TĐG Người học phải có nền tảng kiến thức mới có thể thực hiện được các KN cần thiết trong hoạt động TĐG như: đối chiếu, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa…
- Động cơ TĐG là một yếu tố quan trọng để “quyết định sự hình thành” và
“phát triển” KNTĐG Động cơ TĐG xuất phát từ động cơ học tập, muốn xác định
Trang 30mức độ nhận thức của bản thân so với mục tiêu học tập Chỉ khi nào HS có động cơ học tập đúng đắn thì quá trình TĐG mới diễn ra tự giác, tích cực và chính xác Do
đó, trong QTDH, người giáo viên phải khơi dậy động cơ học tập đúng đắn cho HS, qua đó thúc đẩy động cơ TĐG
- Thái độ học tập ở đây là sự hứng thú, tinh thần hợp tác, ham học hỏi,…Để học tập đạt hiệu quả cao HS cần có những thái độ tích cực Do đó, thái độ học tập của
HS là vấn đề then chốt quyết định nên chất lượng học tập Nếu HS có thái độ học tập tích cực thì họ sẽ có nhu cầu TĐG về mình để biết được năng lực của bản thân từ đó
để điều chỉnh quá trình học
- Trong TĐG, người ĐG và người bị ĐG là một nên chủ thể sẽ có những đặc điểm tâm lý của người ĐG và người bị ĐG Tâm lý lo lắng kết quả TĐG có được chấp nhận hay không có thể có những tác động nhất định tới hoạt động TĐG bản thân
+ ĐG quá thấp bản thân, lo sợ TĐG cao hơn so với ĐG bên ngoài, bị ảnh hưởng của “hình tượng nhân cách”, do đó TĐG thấp so với trình độ thực sự của bản thân
+ ĐG bản thân một cách mơ hồ, qua loa chờ đợi sự ĐG bên ngoài Để tránh xung đột mâu thuẫn giữa ĐG bản thân và ĐG bên ngoài người TĐG có thể ĐG một cách định tính khái quát hóa, vận dụng phán đoán, dùng các từ ngữ mơ hồ
+ ĐG bản thân quá cao Cho rằng TĐG là cơ sở nền tảng, ĐG bên ngoài chỉ là qua loa, vì thế mong muốn coi khởi điểm của TĐG của bản thân cao hơn khởi điểm của TĐG bên ngoài
Do đó, bên cạnh việc dạy học sinh có đủ kiến thức cần thiết để HS có thể TĐG, giáo viên cần giúp HS có được động cơ, hứng thú và tâm lí thoải mái, tự tin khi thực hiện việc TĐGKQHT, đảm bảo kết quả TĐG chính xác giúp nâng cao chất lượng dạy học
- Yếu tố khách quan
Hoạt động TĐGKQHT của HS có thể diễn ra trên lớp hay ở nhà Do đó, người học luôn chịu sự tác động của các yếu tố khác như: giáo viên, bạn bè, phương tiện thông tin, gia đình, xã hội, HS hiện nay tiếp thu các kiến thức chủ yếu trong nhà
Trang 31trường do đó TĐGKQHT của họ chịu ảnh hưởng lớn bởi nhân tố giáo viên, bạn học
- Quá trình giảng dạy của giáo viên có ảnh hưởng lớn đến hoạt động TĐG của HS thông qua trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân người Giáo viên Kiến thức chuyên môn của giáo viên chính xác, khoa học là nền tảng cơ bản để HS
có được những tri thức chính xác và khoa học Từ đó có thể TĐG chính xác KQHT của bản thân); Nghiệp vụ của giáo viên ở đây là phương pháp dạy học, giọng điệu, kiến thức xã hội, ngôn ngữ cơ thể… của giáo viên Các yếu tố này có ảnh hưởng đến hứng thú, động cơ học tập và TĐG của HS
- Sự ĐG của bạn bè cũng ảnh hưởng đáng kể đến TĐG của HS Trong quá trình học tập cùng nhau, đặc biệt đối với hình thức thảo luận nhóm, HS có thể TĐG kiến thức của bản thân qua việc đối chiếu mình với bạn hoặc qua những lời nhận xét của bạn Ngoài ra, ĐG của bạn bè cũng là một động lực quan trọng khiến cho người học có nhu cầu tự khẳng định mình Do đó, trong quá trình học giáo viên phải chú ý
và tăng cường sự ĐG lẫn nhau giữa các HS là cơ sở quan trọng để giúp HSTĐG
1.5 Rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập củahọc sinh trong dạy học Vật lí
1.5.1 Hệ thống cáckĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh THPT
Qua tìm hiểu về KNTĐGKQHT của HS THPT, chúng tôi thấy để HS THPT
có KNTĐGKQHT môn Vật lí thì cần có những KN sau:
KN tự xác định mục tiêu, nhiệm vụ học tập
KN thao tác tự đánh giá
KN thu thập thông tin
KN phân tích và xử lí thông tin
Trang 32KN TĐG mức độ đạt được và sự tiến bộ về kiến thức và KN sau khi học
KN tự điều chỉnh bản thân sau khi TĐG
1.5.2 Quy trình rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh THPT
Việc rèn luyện cho HS kĩ năng TĐG phải bắt đầu từ việc sơ khai nhất làm cho HS hiểu được TĐG để làm gì? Phải TĐG như thế nào thì mới đạt hiệu quả và phân tích thông tin TĐG như thế nào để đưa ra các nhận định chính xác về bản thân Chúng ta có thể tổ chức rèn luyện kĩ năng TĐG kết quả học tập môn Vật lí của HS theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1:Giúp HS nâng cao nhận thức về TĐG và hình thành cho HS thói
quen TĐG Đây là giai đoạn chuẩn bị nền tảng quan trọng cho quá trình TĐG Trong giai đoạn này, GV phải trang bị cho HS kiến thức Vật lí, TĐG, phải định hướng, tạo hứng thứ, động cơ và nhu cầu TĐG
Giai đoạn 2: Giúp HS “hình thành”, “phát triển” các thao tác giúp HS TĐG
Thông qua các hoạt động cụ thể trong quá trình học tập, qua các tình huống DH GV nên làm mẫu việc ĐG, cho HS ĐG lẫn nhau, từng bước dẫn dắt HS TĐG, thử thực hiện việc TĐG theo yêu cầu,…nhằm hình thành ở HS các thao tác TĐG
Giai đoạn 3: Giúp HS có cơ hội luyện tập TĐG Trong giai đoạn này, GV tổ
chức HĐ học tập để HS rèn luyện TĐG qua việc: tự học, thảo luận nhóm, hồ sơ học tập,…Ngoài ra, GV nên nhắc nhở HS nên có thói quen TĐG KQHT của mình khi
họ tiến hành hoạt động học tập
1.5.3 Các mức độ thể hiện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh THPT
Mức độ 1: Bắt chước
Trong các hoạt động dạy học trên lớp giáo viên làm mẫu việc ĐG KQHT cho
HS, giúp HS thấy được sự cần thiết phải ĐG, TĐG và bắt chước cách TĐG của GV
GV có thể tổ chức hoạt động TĐG trong phần KT bài cũ, phần củng cố từng phần hay phần củng cố toàn bài, xây dựng kiến thức mới GV cũng nên cố gắng giúp HS thấy được các bước, các thao tác cần thiết để thực hiện hoạt động ĐG Qua đó HS
Trang 33sẽ bắt chước được cách làm của GV, đồng thời học được cách thức để ĐG KQHT, tức là HS trang bị được cho bản thân kiến thức về ĐG Như vậy, ở mức độ này HS
1.6 Thực trạng vấn đề rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Vật
lí cho học sinh trung học phổ thông
Để tìm hiểu kĩ hơn về KN TĐG KQHT của HS và việc rèn luyện KN TĐG KQHT trong dạy và học vật lý ở trường THPT, chúng tôi tiến hành khảo sát để tìm hiểu thực trạng KN TĐG và việc rèn luyện KN TĐG KQHT vật lý của HS
* Mục đích
Tìm hiểu về mức độ hiểu về vấn đề TĐG của GV; thực trạng KN TĐG và rèn luyện KN TĐG KQHT vật lý của HS; sự cần thiết của việc rèn luyện KN TĐG KQHT
Trang 34* Đối tượng
Đối tượng khảo sát là các GV vật lý, CBQL, HS của một số trường trên địa bàn tỉnh Vính Phúc: THPT Xuân Hòa (Phúc Yên), THPT Bến Tre (Phúc Yên) Qua điều tra, khảo sát chúng tôi thu được ý kiến của 15GV, 136 HS
* Nội dung
Tìm hiểu mức độ hiểu của GV, CBQL về vấn đề TĐG; thực trạng KN TĐG và rèn luyện KN TĐG KQHT vật lý của HS; sự cần thiết của việc rèn luyện KN TĐG KQHT
* Phương pháp
Để có được thông tin khách quan, chúng tôi tiến hành phỏng vấn, dự giờ, sử dụng phiếu hỏi với các đối tượng là GV và HS Đồng thời chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu những tài liệu liên quan đến thực trạng ĐG ở trường THPT
1.6.1 Đối với giáo viên
Để có thể rèn luyện được KN TĐG KQHT cho HS đòi hỏi GV phải có sự hiểu biết đầy đủ, cơ bản về vấn đề này Hơn nữa, đây là vấn đề mới và còn có nhiều cách hiểu khác nhau Do đó, để nắm được thực trạng vấn đề nghiên cứu tôi đã thực hiện phiếu điều tra với các GV bộ môn Vật lí của ba trường gồm: THPT Xuân Hòa, THPT Hai Bà Trưng, THPT Bến Tre Cả ba trường này đều thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và ở gần nhau gồm có 22 giáo viên Vật lý Nội dung các câu hỏi điều tra được thể hiện tại phụ lục 1
Trang 35Từ phần trả lời của các GV được hỏi thấy kết quả:
Mức độ Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
1 Thầy (cô) có hay cho HS nhận xét bài làm
trên bảng của bạn trên lớp không?
2 Thầy (cô) có cho học sinh chấm điểm bài
làm trên bảng của bạn trên lớp không?
3 Thầy (cô) có hay cho đề kiểm tra và yêu
cầu HS chấm bài lẫn nhau và nhận xét
không?
4 Thầy (cô) có hay ra đề trắc nghiệm về nhà
và các em có thể trao đổi bài, đáp án với
Với số liệu thu được ở trên cho thấy:
- Hầu hết cácthầy, cô đã cho HS nhận xét về bài làm của bạn khi bạn trình bày xongvà cho phép các em đánh giá bằng điểm số Tuy nhiên hầu hết các thầy cô đều mới chỉ cho các em nhận xét sau đó giáo viên chốt nội dung và cho điểm chứ chưa cho học sinh cho điểm bài của bạn vì các em chưa đủ khả năng chấm bài của bạn
- Các thầy cô thường xuyên cho đề kiểm tra (dưới dạng trắc nghiệm) và yêu cầu học sinh chấm chéo, vì học sinh chỉ cần đối chiếu đáp án đúng rồi nhân số câu đúng lên thành điểm số nên học sinh cũng chưa có kỹ năng sâu về đánh giá
- Đa số các thầy cô không cho HS tự chấm bài của mình vì sợ học sinh
Trang 36không trung thực, không đánh giá đúng bài làm của mình
Sau khi thu xong phiếu điều tra trên, tôi tiếp tục phát phiếu điều tra (Phụ lục
2) để xem các GV đang hiểu thế nào về vấn đề “tự đánh giá kết quả học tập của
HS” và “rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của HS” Kết quả thu được
cho thấy: hầu hết GV đều đồng ý việc rèn luyện KN TĐG KQHT là rất cần thiết với HS; KN TĐG KQHT giúp HS có mục tiêu học tập rõ ràng, tạo thuận lợi để HS chiếm lĩnh kiến thức một cách khoa học; tuy nhiên, đa số GV chưa cho HS được rèn luyện KN TĐG KQHT, nhìn chung họ còn chưa hiểu đầy đủ về KN này Phần lớn
GV được hỏi cho rằng TĐG KQHT chỉ là việc HS tự chấm điểm được chính xác bài làm của mình Một số GV được hỏi cho rằng đã được nghe thấy vấn đề này nhưng bây giờ mới được hiểu đầy đủ, chính xác Một số khác lại cho rằng khái niệm này quá mới đối với họ và họ chưa được tiếp cận, do đó rất băn khoăn trong việc đưa ra
ý kiến Qua đây, tôi nhận thấy việc hiểu vấn đề TĐG của GV còn hạn chế, đại đa số đối tượng được hỏi đều cho rằng mới chỉ nghe đến TĐG còn chưa biết thực hiện cụ thể như thế nào
Sau khi kết thúc điều tra đối với GV và đưa ra ý kiến về vấn đề rèn luyện KN TĐG cho HS thì hầu hết GV đều nhận thấy ưu điểm của hình thức học tập này, tuy nhiên cũng còn tồn tại một số ý kiến không đánh giá cao việc đổi mới phương pháp dạy học và việc rèn luyện KN TĐG KQHT, nguyên nhân là do các GV này ngại đổi mới, ngại thay đổi cách thức tổ chức giờ dạy và còn hoài nghi về hiệu quả của các PPDH mới
1.6.2 Đối với học sinh
Để biết được HS có thực sự TĐG KQHT khi học hay không chúng tôi đã thăm dò ý kiến của HS lớp 12A1( khối A) và 12A3( khối A1) trường THPT Xuân Hòa thông qua phiếu ĐG (Phụ lục 3) Tôi thực hiện phát 83 phiếu và thu
về 81 phiếu hợp lệ
Kết quả thu được như sau:
Về lực học của HS được hỏi: có 29,5% HS giỏi; 58,4% HS khá; 12,1% HS trung bình và 0% học sinh yếu Trong đó, có một số HS đã TĐG được mình làm bài
Trang 37tập đúng hay sai còn hầu hết là chưa TĐG được Điều này có thể giải thích do các
em chưa có cơ sở để tự đánh giá hay chưa biết tự đánh giá xem mình đúng hay sai, các em thường nghĩ mình đúng khi đã làm ra được kết quả
Hầu hết HS được hỏi có thể “vận dụng ngay kiến thức” để giải những bài tập
cơ bản Điều này do các bài tập cơ bản thường chỉ việc áp dụng công thức đơn thuần, nên những học sinh trung bình – khá trở lên là có thể làm được Các em chỉ quan tâm đến mình hiểu được gì và nhớ được những kiến thức gì sau khi học xong tiết học Đây cũng là suy nghĩ mang tính chất lối mòn của phương pháp dạy học truyền thống
Ví dụ kết quả khảo sát ý kiến trả lời ở câu 5 như sau:
Bảng 1.2 Kết quả điều tra HS câu số 5
Mức độ Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
1 Giáo viên có thường xuyên phát đề cho các em
tự đánh giá trên lớp học không? 12% 67% 21%
2 Các em có thường xuyên tự đánh giá kết quả
học tập của bản thân không? 9,6% 84,5% 5,9%
3 Giáo viên có thường xuyên phát đề cho các em
tự đánh giá ở nhà không? 10,2% 82,9% 6,9%
4
Các em có thường xuyên giải một bài tập rồi so
sánh bài giải của mình với bài giải mẫu hay so
sánh với bài làm của một bạn khác không?
78,9% 16,8% 4,3%
5
KQHT sau quá trình TĐG của em có tương
đương với kết quả học tập mà giáo viên đánh
Trang 38Bên cạnh đó, do hiện nay các GV vẫn còn sử dụng phương pháp dạy truyền thống, thuyết trình, nên vai trò của HS không được phát huy tối đa
Ở câu 6, đa phần các em chỉ nghĩ việc TĐG KQHT của bản thân có lợi ích là giúp chúng ta nắm được lực học của bản thân Rất ít nói thêm lợi ích của TĐG KQHT của bản thân giúp HS có động lực để thay đổi cách học sao cho tiến bộ hơn Kết hợp với quan sát cho thấy HS chưa được làm quen nhiều với KN TĐG KQHT Trong một tiết học, GV chỉ cung cấp thông tin kiến thức cho HS mà không cho HS
có cơ hội tự nhận xét, đánh giá
Bên cạnh đó, do hiện nay các GV vẫn còn sử dụng phương pháp dạy truyền thống, thuyết trình, nên vai trò của HS không được phát huy tối đa
Đa số HS chỉ có thói quen ĐG KQHT của bản thân qua việc giải bài tập, ĐG lời giải bài tập, chưa có thói quen đặt ra cho mình các câu hỏi, đặc biệt là các câu hỏi mang tính định hướng để cải thiện thực trạng học tập Trao đổi kĩ thêm chúng tôi biết được đa số HS học lí thuyết rất qua loa mà đã vội vàng làm bài tập, chủ yếu các em chỉ cần nhớ các công thức để áp dụng mà không chú ý đến bản chất vấn đề Đây là một thói quen học tập rất nguy hiểm Chính vì vậy rất nhiều HS làm bài tập
bị sai bản chất hoặc không hiểu bản chất, thực tế này đã được thấy qua nhiều lớp
có tư duy cũ, chưa xem việc TĐG KQHT của HS là một trong những căn cứ để ĐG
HS bên cạnh việc giúp cho HS học tập tự giác, tiến bộ hơn
- Đa số HS chưa có được KN TĐG KQHT, phần lớn HS chỉ ĐG kiến thức bản thân thông qua làm bài tập, các em chưa thấy được sự cần thiết của việc TĐG
Trang 39KQHT để thực hiện điều này một cách hào hứng, tự giác và khoa học
Thực trạng trên là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp tôi xây dựng các biện pháp sư phạm để rèn luyện KN TĐG KQHT môn Vật lí cho HS ở trường THPT
Kết luận chương 1
TĐG là một hoạt động quan trọng trong quá trình ĐG và là hoạt động quan trọng trong quá trình dạy học Vật lí TĐG giúp cho HS thấy rõ mục tiêu học tập, giúp cho HS thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của mình, từ đó có sự điều chỉnh quá trình học tập của bản thân để đạt được mục tiêu học tập TĐG KQHT là một KN rất cần thiết trong quá trình học tập môn Vật lí nói riêng và trong tất cả các môn học khác nói chung
Để tìm hiểu về mức độ hiểu vấn đề TĐG của GV, thực trạng KN TĐG và rèn luyện KN TĐG KQHT, tôi tiến hành khảo sát ở trường THPT Việc khảo sát đã được thực hiện bằng cách phối hợp các phương pháp: dự giờ, phỏng vấn, phiếu hỏi, nghiên cứu tài liệu liên quan Kết quả tìm hiểu cho thấy, đa số GV đều nhận thức được vai trò của việc TĐG KQHT của HS, sự cần thiết phải rèn luyện KN TĐG KQHT cho HS Tuy nhiên, phần lớn GV chưa hiểu hoặc chưa thật sự hiểu về vấn đề này nên chưa thực hiện được trong quá trình dạy học Nhìn chung HS chưa có KN TĐG KQHT, nếu có thì cũng chưa tốt Qua trao đổi với GV, chúng tối cũng nhận được ý kiến đề nghị xem xét nghiên cứu để kết quả của việc TĐG KQHT của HS sẽ
là một trong những căn cứ để ĐG HS giúp cho việc ĐG HS được khách quan, chính xác và tạo động lực tốt cho HS trong việc TĐG KQHT Đặc biệt, GV rất mong sớm được tiếp cận và được tập huấn về vấn đề rèn luyện KN TĐG
Hiện nay, GD nước ta đang thực hiện đổi mới từ chương trình, SGK, PPDH
và ĐG Hơn nữa vấn đề ĐG ở nước ta còn lạc hậu, chủ yếu ĐG dựa trên ĐG của
GV và các lực lượng GD khác, chưa quan tâm đến TĐG của HS Do đó, để công cuộc đổi mới này có hiệu quả thực sự đòi hỏi phải đổi mới về ĐG một cách toàn diện về nội dung, hình thức và quá trình ĐG Đặc biệt là cần tạo điều kiện để HS tham gia vào quá trình ĐG KQHT tức là TĐG Nói cách khác, chú trọng đến vấn dề
Trang 40TĐG là một yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới ĐG trong GD hiện nay
Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn đã nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề xuất một số biện pháp để rèn luyện KN TĐG KQHT của học sinh trong chương 2