1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh

99 364 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Giáo trình “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục cải tạo phạm nhân” Trần Văn Hòa chủ biên năm 2012 [4] định nghĩa: “Trại giam là cơ quan thi hành án phạt t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Đức Hải

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn Trại giam Quảng Ninh, Học viện Cảnh sát nhân dân đã cung cấp số liệu và Phòng Quản lý môi trường, Cục Quản lý khoa học công nghệ và Môi trường, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật (Tổng cục IV), Bộ Công an đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi thực hiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự động viên to lớn về thời gian, vật chất và tinh thần mà gia đình và bạn bè đã dành cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Bằng Thủy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Lưu Đức Hải, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Nguyễn Bằng Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN……… i

LỜI CẢM ƠN……… ii

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Mục tiêu nghiên cứu……… 2

3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu……… 2

4 Ý nghĩa của đề tài……… 3

5 Cấu trúc luận văn……… 3

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5 1.1 Tổng quan về phát triển bền vững………

1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững………

1.1.2 Tình hình phát triển bền vững trên thế giới………

1.1.3 Tình hình phát triển bền vững ở Việt Nam………

5 5 9 10 1.2 Cơ sở lý luận về quản lý trại giam……… 12

1.2.1 Một số khái niệm về trại giam, phạm nhân, pháp luật thi hành án phạt tù và quản lý Nhà nước………

12 1 2.1.1 Khái niệm về trại giam……… 12

1 2.1.2 Khái niệm về phạm nhân……… 12

1 2.1 3 Khái niệm về pháp luật thi hành án phạt tù……… 13

1 2.1 4 Khái niệm về quản lý nhà nước……… 13

1 2.1 5 Khái niệm quản lý nhà nước về thi hành án phạt tù……… 14

1.2.2 Nội dung, nhiệm vụ, nguyên tắc của công tác quản lý trại giam… 15

1.2.2.1 Nội dung công tác quản lý trại giam……… 15

1.2.2.2 Nhiệm vụ công tác quản lý trại giam……… 17

1.2.2.3 Nguyên tắc công tác quản lý trại giam……… 19

1.2.3 Các hình thức quản lý trại giam……… 21

Trang 6

1.2.3.1 Giam giữ phạm nhân theo khu……… 21

1.2.3.2 Giam giữ phạm nhân theo loại……… 22

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu……… 23

1.3.1 Hệ thống pháp luật về quản lý trại giam……… 23

1.3.2 Nghiên cứu quản lý trại giam trên thế giới……… 31

1.3.2.1 Sơ lược về nhà tù và tù nhân trên thế giới……… 31

1.3.2.2 Các văn bản quy phạm pháp luật Quốc tế về thi hành án phạt tù……… 35

1.3.3 Nghiên cứu quản lý trại giam ở Việt Nam……… 39

1.3.3.1 Giai đoạn 1945 đến 1954……… 39

1.3.3.2 Giai đoạn 1954 đến 1975……… 40

1.3.3.3 Giai đoạn 30-4-1975 đến nay……… 43

1.3.4 Nghiên cứu lịch sử hình thành và quá trình phát triển của trại giam Quảng Ninh………

43 Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 49

2.1 Địa điểm nghiên cứu……… 49

2.2 Thời gian nghiên cứu……… 49

2.3 Đối tượng nghiên cứu……… 49

2.4 Cách tiếp cận……… 49

2.4.1 Tiếp cận hệ thống……… 49

2.4.2 Tiếp cận bền vững……… 50

2.5 Các phương pháp nghiên cứu……… 50

2.5.1 Phương pháp thu thập tổng hợp tài liệu……… 50

2.5.2 Phương pháp khảo sát và điều tra thực tế trại giam Quảng Ninh… 51 2.5.3 Phương pháp xây dựng bộ tiêu chí / chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của trại giam trên cơ sở phân tích hệ thống các trại giam Việt Nam và tư liệu Thế giới 51

Trang 7

2.5.4 Phương pháp phân tích tổng hợp SWOT……… 52

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN……… 53

3.1 Hiện trạng công tác quản lý trại giam Quảng Ninh……… 53

3.1.1 Hiện trạng cơ sở vật chất và nguồn nhân lực quản lý trại giam Quảng Ninh

53 3.1.2 Hiện trạng hoạt động của trại giam Quảng Ninh 56

3.2 Bộ tiêu chí quản lý trại giam Quảng Ninh (quy mô giam giữ 2.000 phạm nhân) 64

3.2.1 Tiêu chí về kinh tế 65

3.2.2 Tiêu chí về xã hội 66

3.2.3 Tiêu chí về môi trường 68

3.2.4 Tiêu chí về văn hóa 68

3.3 Kết quả đánh giá tính bền vững của trại giam Quảng Ninh 70

3.3.1 Đánh giá tính bền vững của trại giam Quảng Ninh theo bộ tiêu chí 71

3.3.2 Đánh giá tính bền vững của trại giam Quảng Ninh theo SWOT 74

3.4 Đề xuất giải pháp quản lý trại giam Quảng Ninh bền vững 74

3.4.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 74

3.4.2 Nhóm giải pháp về xã hội 75

3.4.3 Nhóm giải pháp về môi trường 80

3.4.4 Nhóm giải pháp về văn hóa 81

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 85

PHỤ LỤC: Một số hình ảnh về trại giam Quảng Ninh ……… 88

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 - Kết quả chất lượng không khí, vi khí hậu 60

Bảng 2 - Kết quả chất lượng nước sinh hoạt 61

Bảng 3 - Kết quả phân tích chất lượng nước thải sinh hoạt 62

Bảng 4 - Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của Trại giam 69

Bảng 5 - Đánh giá tính bền vững của trại giam Quảng Ninh theo Bộ tiêu chí 70 Bảng 6- Đánh giá tính bền vững của trại giam Quảng Ninh theo SWOT 71

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1- Mô hình phát triển bền vƣ̃ng kiểu 3 vòng tròn 7

Hình 1.2 - Mô hình phát triển bền vƣ̃ng kiểu tam giác 7

Hình 1.3 - Mô hình phát triển bền vƣ̃ng kiểu quả trƣ́ng 8

Hình 1.4 -Mô hình phát triển bền vƣ̃ng của UNESCO 9

Hình 2 - Sân tennis trại giam Quảng Ninh 88

Hình 3 - Ao nuôi trồng tôm, thả cá trại giam Quảng Ninh 88

Hình 4 - Sân bóng, sân hội thao thể dục thể thao tại trại giam Quảng Ninh 89

Hình 5 - Khu nhà truyền thống trại giam Quảng Ninh 89

Hình 6 - Toàn cảnh trung tâm chỉ huy, lãnh đạo của trại giam Quảng Ninh 90

Hình 7 - Khu làm việc của Cán bộ chiến sỹ tại trại giam Quảng Ninh 90

Trang 10

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Giáo trình “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục cải tạo phạm nhân”

Trần Văn Hòa chủ biên năm 2012 [4] định nghĩa: “Trại giam là cơ quan thi hành

án phạt tù, có chức năng tiếp nhận, tổ chức quản lý, giam giữ, giáo dục cải tạo những người chấp hành án tù có thời hạn và tù chung thân (gọi chung là phạm nhân) theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của Bộ Công an”

Dựa trên thực tế quản lý ở các trại giam hiện nay và dựa trên cách tiếp cận truyền thống của lý thuyết về sự phát triển bền vững là sự hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế - môi trường - xã hội - văn hóa, tác giả xây dựng khái niệm về quản

lý trại giam bền vững bao gồm nhiều hoạt động từ việc đảm bảo cơ sở vật chất

hạ tầng (ăn, ở, mặc); đảm bảo môi trường sống trại giam xanh, sạch, đẹp (không khí, đất, nước); đảm bảo quyền con người (được tôn trọng, được học tập, lao động, sản xuất, dạy nghề); thông qua các hoạt động đó để tiến hành giáo dục họ thành người có ích cho xã hội và chuẩn bị các điều kiện tốt nhất giúp họ tái hòa nhập cộng đồng

Cơ sở tác giả lựa cho ̣n tra ̣i giam Quảng Ninh là địa điểm nghiên cứu bởi vì: tỉnh Quảng Ninh có vị trí xung yếu, chiến lược về chính trị - kinh tế - an ninh -quốc phòng Cùng với Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh là “một trong ba cực tăng trưởng trong tam giác kinh tế”, động lực phát triển phía Bắc của đất nước Đối với vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh là cửa ngõ để giao lưu hàng hóa, thông thương của vùng thị trường Đông Bắc Á, hội tụ “hai hành lang, một vành đai kinh tế” là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn như than, xi măng, nhiệt điện, vật liệu xây dựng đồng thời cũng là trung tâm du lịch với các di tích, danh thắng nổi tiếng thế giới như Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Yên Tử hàng năm thu hút hàng triệu khách du lịch trong nước và quốc tế

Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Trước tình hình quốc tế ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; các chính sách về biên giới, biển đảo của Trung Quốc ảnh hưởng đến an ninh biên giới lãnh thổ của nước ta; các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị không ngừng gia tăng các hoạt động chống

Trang 11

phá, kêu gọi, kích động biểu tình chống phá quyết liệt cách mạng Việt Nam Tình hình trật tự an toàn xã hội được đảm bảo nhưng còn nhiều diễn biến phức tạp với tính chất và mức độ vi phạm hình sự ngày càng nguy hiểm, phương thức hoạt động đa dạng, thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh; tệ nạn xã hội như tai nạn giao thông, tệ nạn ma túy, mại dâm, buôn bán phụ nữ trẻ em qua biên giới nhất là sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu; Ngoài ra Quảng Ninh còn là một trong 12 tỉnh ven biển của Việt Nam thuộc khu vực nhạy cảm

về biến đổi khí hậu và có tính dễ tổn thương cao đối với nước biển dâng, bão, áp thấp nhiệt đới, gió lốc… cùng với nhiều phức tạp mới về diễn biến tội phạm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Tất cả vấn đề trên tiềm ẩn nhiều tội phạm trật tự xã hội gia tăng, sẽ tác động rất lớn đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tạo áp lực cho công tác giam giữ, quản lý trại giam Những yêu cầu đó đòi hỏi sự cải cách hành chính và giải pháp quản lý trại giam bền vững

Trên cơ sở đó tác giả quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải

pháp quản lý trại giam bền vững/ Nghiên cứu trường hợp trại giam Quảng Ninh” tại xã Hồng Thái Đông, Đông Triều, Quảng Ninh làm luận văn tốt nghiệp

của mình với mong muốn góp phần đưa ra các giải pháp phát triển bền vững cho công tác quản lý trại giam Quảng Ninh với quy mô giam giữ 2.000 phạm nhân

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích được hiện trạng quản lý trại giam Quảng Ninh (quy mô giam giữ 2.000 phạm nhân)

- Xây dựng được bộ tiêu chí quản lý trại giam bền vững (quy mô giam giữ 2.000 phạm nhân), từ đó đánh giá tính bền vững của trại giam Quảng Ninh

- Đề xuất được giải pháp quản lý trại giam bền vững

3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

3.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu Luận văn đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Khái niệm quản lý trại giam bền vững ?

- Bô ̣ tiêu chí nào có thể dùng để đánh giá tính bền vững của mô ̣t tra ̣i giam?

Trang 12

- Thực trạng quản lý trại giam Quảng Ninh?

- Trại giam Quảng Ninh đạt tiêu chí nào về quản lý bền vững?

- Giải pháp quản lý nào có thể giúp trại giam Quảng Ninh phát triển bền vững?

3.2 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu có bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của công tác quản lý trại giam

sẽ phục vụ hiệu quả cho hệ thống công tác quản lý thi hành án phạt tù Việt Nam với các trại giam có quy mô giam giữ 2.000 phạm nhân trong đó có trại giam Quảng Ninh

4 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đưa ra giải pháp quản lý trại giam bền vững (có quy mô giam giữ 2.000 phạm nhân), cụ thể là trại giam Quảng Ninh

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung Luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong chương 1, tác giả trình bày cơ sở lý luận về quản lý trại giam (một

số khái niệm cơ bản; nội dung, nhiệm vụ, nguyên tắc; các hình thức quản lý trại giam) và tổng quan vấn đề nghiên cứu về hệ thống pháp luật quản lý trại giam, đặc biệt kể tới công tác quản lý trại giam trên thế giới, ở Việt Nam và trại giam Quảng Ninh (tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh Lịch sử hình thành, các giai đoạn phát triển của trại giam Quảng Ninh)

Chương 2: Địa điểm, thời gian, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Trong chương 2, tác giả đã sử dụng nguồn số liệu tin cậy, chính xác kết hợp với khảo sát và điều tra thực tế trại trại giam Quảng Ninh để xây dựng, đề xuất giải pháp quản lý trại giam Quảng Ninh bền vững (với quy mô giam giữ 2.000 phạm nhân)

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trong chương 3, tác giả đã xây dựng được bộ tiêu chí và đề xuất được các giải pháp quản lý trại giam Quảng Ninh bền vững

Trang 13

Hình ảnh: Khu làm việc của Cán bộ chiến sỹ trại giam Quảng Ninh

(xã Hồng Thái Đông, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh)

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về phát triển bền vững

1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững

Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi

trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

- Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau

- Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái Phát triển kinh

tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai

- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ

Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp

quốc, “phát triển bền vững” được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được

những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Định nghĩa này được nhiều tổ chức và quốc gia

trên thế giới thừa nhận và được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm về phát triển bền vững vì nó mang tính khái quát hoá cao về mối quan hệ giữa các thế

hệ về thoả mãn các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, từ đó tạo ra phát triển bền vững, vì suy cho cùng, bản chất của phát triển bền vững tức là sự tồn tại bền vững của loài người trên trái đất không phân biệt quốc gia, dân tộc và trình độ kinh tế, xã hội, ở đây sự tồn tại của loài người luôn gắn với sự tồn tại của môi trường kinh tế, xã hội và tự nhiên mà con người cần phải có Tuy nhiên, định nghĩa này thiên về đưa ra mục tiêu, yêu cầu cho sự phát triển bền

Trang 15

vững, mà chưa nói đến bản chất các quan hệ nội tại của quá trình phát triển bền vững là thế nào?

Chính vì vậy, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra định nghĩa

cụ thể hơn, đó là: “phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” Định nghĩa này đã đề cập cụ thể hơn về mối quan hệ ràng buộc giữa sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai, thông qua lồng ghép quá trình sản xuất với các biện pháp bảo toàn tài nguyên, nâng cao chất lượng môi trường Tuy vậy, định nghĩa này vẫn chưa đề cập được tính bản chất của các quan hệ giữa các yếu tố của phát triển bền vững và chưa

đề cập đến các nhóm nhân tố cụ thể mà quá trình phát triển bền vững phải đáp ứng (tuân thủ) cùng một lúc, đó là nhóm nhân tố tạo ra tăng trưởng kinh tế, nhóm nhân tố tác động thay đổi xã hội, bao gồm thay đổi cả văn hoá và nhóm nhân tố tác động làm thay đổi tài nguyên, môi trường tự nhiên Theo hướng phân tích đó, Luận văn đề xuất một cách định nghĩa cụ thể hơn về phát triển bền vững, đó là: phát triển bền vững là một phương thức phát triển kinh tế- xã hội nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường với mục tiêu đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thế hệ hiện tại đồng thời không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Hay nói cách khác: đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người Định nghĩa này có thể mở rộng với ba cấu thành cơ bản về sự phát triển bền vững:

- Về mặt kinh tế: Một hệ thống bến vững về kinh tế phải có thể tạo ra hàng hoá và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ và nợ nước ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

- Về mặt xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi công dân

Trang 16

- Về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trì nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế

Phát triển bền vững có thể được minh hoạ theo các mô hình sau đây:

Trang 17

Mô hình 1.1 và mô hình 1.2 được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm về phát triển bền vững thời gian gần đây, chúng có điểm giống nhau và được gọi chung là mô hình “ba trụ cột” do đều được xây dựng dựa trên ba trụ cột của phát triển bền vững là: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Tuy nhiên giữa hai mô hình này cũng có những điểm khác biệt nhất định: trong khi mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn nhấn mạnh đến việc để phát triển bền vững nhất thiết phải đảm bảo cả ba mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường thì mô hình tam giác lại nhấn mạnh vào sự ràng buộc, chi phối và tác động thuận nghịch giữa ba thành tố: mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường để phát triển bền vững Bên cạnh đó, một số ý kiến cho rằng hai mô hình này chưa tính toán một cách đầy đủ, rõ ràng đến yếu tố

“chất lượng cuộc sống của con người”

Mô hình phát triển bền vững kiểu quả trứng do Liên minh quốc tế về bảo

vệ thiên nhiên (IUCN) đưa ra năm 1994 Mô hình này minh hoạ mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái như là một vòng tròn nằm trong một vòng tròn khác, giống như lòng đỏ và lòng trắng của một quả trứng gà Điều này hàm ý rằng, con người nằm trong hệ sinh thái và hai đối tượng này hoàn toàn phụ thuộc, tác động, chi phối lẫn nhau Giống như một quả trứng chỉ thực sự tốt khi cả

Trang 18

lòng đỏ và lòng trắng đều tốt, lòng trắng là môi trường để lòng đỏ phát triển, một

xã hội chỉ phát triển bền vững khi cả con người và hệ sinh thái ở điều kiện tốt

Như vậy, mỗi mô hình có những thế mạnh cũng như những hạn chế nhất định Luận văn sử dụng mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn làm cơ

sở để phân tích (Hình 1.1) và lựa chọn mô hình phát triển bền vững của unesco

để nghiên cứu (Hình 1.4) do mô hình này phản ánh rõ nhất phát triển bền vững

là miền giao thoa giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường và văn hóa Nói cách khác, nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững đạt được trên cơ sở đảm bảo hài hoà được cả bốn mục tiêu: kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa

Giá trị, niềm tin, hành vi

Môi trường

Bảo tồn, giữ gìn, bảo vệ

Kinh tế

Công việc, tài chính, giáo dục

Hình 1.4 Sơ đồ phát triển bền vững của Unessco

Trang 19

1.1.2 Tình hình phát triển bền vững trên thế giới

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào

năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội

Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy

ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ : Phát triển bền vững là " 1 Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường

Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và

đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường

Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi

là Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái

Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển

Mục tiêu đề ra có thể tùy thuộc vào từng hòan cảnh khác nhau, nhưng giờ đây mọi sự phát triển đều xoay quanh 3 thành tố chính đó là : Môi trường bền vững- Kinh tế bền vững- Xã hội bền vững

Trang 20

1.1.3 Tình hình phát triển bền vững ở Việt Nam

Ở Việt Nam, phát triển bền vững là một trong những nội dung cơ bản để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng là mục tiêu quan trọng hàng đầu mà nền kinh tế hướng tới Quan niệm về phát triển bền vững

thường được tiếp cận theo hai khía cạnh: Một là, phát triển bền vững là phát

triển trong mối quan hệ duy trì những giá trị môi trường sống, coi giá trị môi trường sinh thái là một trong những yếu tố cấu thành những giá trị cao nhất cần

đạt tới của sự phát triển Hai là, phát triển bền vững là sự phát triển dài hạn, cho

hôm nay và cho mai sau; phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng tới mai sau Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững được định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Đây là định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam

Từ nội hàm khái niệm phát triển bền vững, rõ ràng là, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững cần giải quyết hàng loạt các vấn đề thuộc ba lĩnh vực là kinh tế, xã hội và môi trường

Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam và kết quả ban đầu

Mặc dù việc triển khai tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững chưa lâu nhưng chúng ta đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các bước tiếp theo Có thể nêu một số nét nổi bật

Lĩnh vực kinh tế: Tính từ năm 2006 đến hết năm 2011, tốc độ tăng trưởng

kinh tế bình quân 6 năm đạt gần 7%; năm 2012, GDP tăng 5,03%, GDP bình quân đầu người đạt 1.540 USD Cơ cấu kinh tế cũng có những bước tiến triển tích cực, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP ngày càng tăng, khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP ngày càng giảm An ninh lương thực được bảo đảm Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực kinh tế đã góp phần tích cực vào việc phát triển bền vững các lĩnh vực khác

Lĩnh vực xã hội đạt một số chuyển biến tích cực Đó là sự nghiệp giáo

dục có bước phát triển, chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo đạt tới 20% tổng chi ngân sách; đến năm 2011, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn

Trang 21

giáo dục trung học cơ sở Việc giải quyết việc làm đạt kết quả tích cực: trong 6 năm (2006 - 2011), đã giải quyết được việc làm cho hơn 9 triệu lao động Năm

2012 đã tạo việc làm mới cho hơn 1,5 triệu người; năm 2013, phấn đấu tạo việc làm cho 1,6 triệu người; tuyển mới dạy nghề cho 1,9 triệu người; thực hiện chiến lược dạy nghề gắn với tạo việc làm Năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 3,53%, ở khu vực nông thôn là 1,55% Công tác xóa đói, giảm nghèo có nhiều tiến bộ, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,6% và đến cuối năm 2013 ước còn 7,6% Năm 2012, Việt Nam xếp thứ 127 trên tổng số 187 nước và vùng lãnh thổ về HDI và được xếp vào nhóm có tốc độ tăng chỉ số HDI cao Việt Nam hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG) do Liên hợp quốc đặt ra cho các nước đang phát triển đến năm 2015

Lĩnh vực môi trường trong những năm qua đã được chú trọng hơn Việc

bảo vệ tài nguyên, môi trường đã đi vào nền nếp Bằng những chính sách hợp

lý, các giải pháp quyết liệt, vấn đề bảo vệ môi trường sống, chống ô nhiễm các nguồn nước, không khí đã được tất cả các địa phương, các ngành và các tầng lớp nhân dân đồng thuận và cùng tham gia Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng được quan tâm hơn nên tình trạng cháy và chặt phá rừng đã giảm đi

Với những phân tích trên, có thể thấy, phát triển bền vững đã trở thành một phương thức phát triển tổng hợp đa ngành, liên ngành, thành chương trình hành động với nhiều tiêu chí ngày càng được cụ thể và rõ nét Vì vậy, Luận văn

“Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững - Nghiên cứu trường hợp trại giam Quảng Ninh” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trại giam ở nước ta trong tương lai

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý trại giam

1.2.1 Một số khái niệm về trại giam, phạm nhân và quản lý trại giam

1.2.1.1 Khái niệm về trại giam

Trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù, có chức năng tiếp nhận, tổ chức quản lý, giam giữ, giáo dục cải tạo những người chấp hành án tù có thời hạn và

tù chung thân (gọi chung là phạm nhân) theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của Bộ Công an [4]

1.2.1.2 Khái niệm về phạm nhân

Trang 22

Theo từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội 1988),

"phạm nhân là người có tội bị xử án và đang ở tù”

Trong Điều 1, Chương I - Quy chế Trại giam có ghi:

”Phạm nhân là người đang chấp hành các hình phạt tù trong các trại giam Phạm nhân là người đã có hành vi phạm tội, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Khái niệm phạm nhân chỉ rõ, người phạm tội, bị tòa án kết án tù giam và chỉ khi nào đưa vào chấp hành án tại trại giam thì mới gọi là phạm nhân Người đã

bị kết tội nhưng chưa đi chấp hành án đều không gọi là phạm nhân Về vị trí pháp lý, phạm nhân là người bị pháp luật tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền cơ bản của công dân (theo Hiến pháp) như: quyền tự do đi lại và cư trú, quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; quyền bầu cử, ứng cử; quyền tự do kinh doanh; quyền lập hội, biểu tình; quyền đảm bảo bí mật thư tín, điện tín, bất khả xâm phạm về chỗ ở Nhưng phạm nhân vẫn được hưởng các quyền cơ bản của công dân như quyền được sống, được bình đẳng trước pháp luật; được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền được khiếu nại, tố cáo, quyền được thông tin, được học tập và lao động, nghiên cứu khoa học, phát minh sáng kiến, cải tiến kỹ thuật ”;

Như vậy, phạm nhân không phải đã hoàn toàn ”mất quyền công dân” như nhiều người thường nghĩ, mà họ còn được hưởng rất nhiều quyền công dân cũng như các quyền con người theo pháp luật Quốc tế và Việt Nam quy định Phạm nhân được hưởng một số quyền cơ bản của công dân đồng thời phải thực hiện một số nghĩa vụ của công dân cũng như bổn phận của người đang chấp hành hình phạt tù Bổn phận đó là: phải chấp hành hình phạt tại trại giam, phải

bị giam giữ; lao động và học tập theo quy định của pháp luật; phải tuân theo mọi mệnh lệnh, chỉ dẫn của cán bộ trại giam; không được đưa vào buồng giam những đồ vật thuộc danh mục cấm: không được uống rượu, bia; phải lao động ngày 8h (trừ ngày lễ, tết )

Việc nhà nước thông qua cơ quan tổ chức thi hành án phạt tù, đảm bảo các quyền cơ bản cho phạm nhân và buộc họ phải thực hiện tốt các nghĩa vụ và bổn phận của mình trong thời gian ở trại giam là hai mặt thống nhất của quá trình chấp hành án phạt tù, bảo đảm cho họ học tập cải tạo tiến bộ để trở thành người có ích

Trang 23

1.2.1.3 Khái niệm về pháp luật thi hành án phạt tù

Pháp luật thi hành án phạt tù là một bộ phận trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thi hành và chấp hành án phạt tù nhằm giáo dục cải tạo người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [3]

1.2.1.4 Khái niệm về quản lý Nhà nước

Quản lý Nhà nước là hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước, do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy Nhà nước, trên cơ sở quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước để quản lý xã hội và đất nước [3]

1.2.1.5 Khái niệm quản lý Nhà nước về thi hành án phạt tù

Quản lý Nhà nước về công tác thi hành án phạt tù (được hiểu theo nghĩa rộng) là sự thể hiện vai trò quản lý Nhà nước đối với các hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong việc sử dụng quyền lực hành chính, pháp lý để xây dựng và sử dụng phương tiện pháp luật trong lĩnh vực thi hành án đối với loại án tù có thời hạn, tù chung thân theo quy định của Nhà nước Đồng thời, thông qua hoạt động quản lý, giáo dục người bị kết án tù

để tiếp tục hoàn thiện pháp luật, cơ chế tổ chức thực hiện trong lĩnh vực thi hành án phạt tù [3]

Quản lý Nhà nước về thi hành án phạt tù đó là hoạt động của toàn bộ bộ máy Nhà nước bảo đảm cho:

Một là, bản án hình sự (bản án hoặc quyết định phạt tù) có hiệu lực pháp

luật của Tòa án được chấp hành đầy đủ và nghiêm minh;

Hai là, đảm bảo hiệu lực điều hành, quản lý công tác thi hành án phạt tù

của bộ máy Nhà nước;

Ba là, tuân thủ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và các nguyên tắc

trong quản lý Nhà nước về thi hành án phạt tù;

Bốn là, tổ chức việc thi hành án Buộc những người bị kết án phải thi

hành bản án, quản lý hệ thống trại giam, giáo dục, cải tạo những người phạm tội thành người lương thiện, có ích cho xã hội;

Trang 24

Năm là, ngăn chặn, phòng ngừa những hành vi vi phạm trật tự của quốc

và điều hành của các cơ quan Nhà nước Việt Nam được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành án pháp luật, có liên quan chặt chẽ đến hoạt động lập pháp, hành pháp và cần thực hiện trong cuộc sống hàng ngày Đó là chức năng quan trọng của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án phạt tù

1.2.2 Nội dung, nhiệm vụ, nguyên tắc của công tác quản lý trại giam

1.2.2.1 Nội dung

Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về lý luận Nhà nước và pháp luật:

xã hội loài người từ khi có nhà nước và để bảo vệ sự tồn tại và phát triển, nhà nước đã thành lập các công cụ bạo lực: quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù để trừng trị và trấn áp các lực lượng chống lại giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó, nhà tù của mỗi nước là công cụ để quản lý và giam giữ những người phạm tội, cách ly họ với xã hội và cộng đồng

Sau ngày 30/4/1975, đất nước thống nhất, trại giam của Nhà nước ta làm nhiệm vụ quản lý, giam giữ và giáo dục những đối tượng là ngụy quân, ngụy quyền, các đối tượng trong các tổ chức, đảng phái phản động, bọn tội phạm hình

sự nguy hiểm cho an ninh quốc gia (ANQG) và trật tự an toàn xã hội (TTATXH)

Hội nghị trại giam toàn quốc lần thứ 3 (tháng 3/1971) đã xác định trại giam của Nhà nước ta có 3 nhiệm vụ: (1) quản lý, giam giữ; (2) giáo dục, cải tạo; (3) đấu tranh khai thác Trong đó, nhiệm vụ quản lý, giam giữ có tầm quan trọng đặc biệt, là nền tảng quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, cải tạo và đấu tranh khai thác

Về phương diện pháp lý có thể hiểu: quản lý, giam giữ phạm nhân ở trại giam là hoạt động của lực lượng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp

Trang 25

buộc những người có án phạt tù có thời hạn, tù chung thân phải chấp hành án phạt tại trại giam, cách ly họ với xã hội nhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức sống và làm việc theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), một trong những vấn đề có tính nguyên tắc là: bảo đảm pháp chế XHCN, mọi hành vi vi phạm pháp luật phải bị

xử lý, các bản án phạt tù và quyết định của tòa án phải được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Theo luật thi hành án hình sự, những người có án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân phải vào trại giam để chấp hành án

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giao cho công an

và Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ chức năng quản lý công tác thi hành án phạt

tù và tổ chức công tác thi hành án phạt tù Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, Bộ Công an giao cho Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ

tư pháp giúp Bộ trưởng bộ Công an quản lý và tổ chức thực hiện công tác thi hành án phạt tù trong lực lượng công an nhân dân và trực tiếp quản lý, giam giữ phạm nhân ở các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ do Bộ Công an quản lý trên phạm vi cả nước

Hoạt động quản lý, giam giữ phạm nhân của lực lượng cảnh sát thi hành

án hình sự và Hỗ trợ tư pháp vừa là hoạt động thực thi pháp luật, vừa là hoạt động nghiệp vụ của ngành công an, đồng thời cũng là một bộ phận rất quan trọng của công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực ANTT Đây là một lĩnh vực công tác đặc thù của lực lượng cảnh sát thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp,

có đặc điểm rất khác trong ngành công an

Quản lý, giam giữ phạm nhân ở trại giam là thực hiện sự cưỡng chế của Nhà nước đối với người phạm tội Trong thời gian chấp hành án phạt tù ở trại giam phạm nhân bị tước quyền tự do và một số quyền công dân và bị hạn chế nhiều quyền công dân khác Họ bị giam giữ và quản lý chặt chẽ ở trại giam, họ

bị cách ly với xã hội bên ngoài và trong suốt thời gian chấp hành án họ phải chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại giam

Để quản lý, giam giữ nghiêm ngặt, chặt chẽ phạm nhân ở trại giam lực lượng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phải sử dụng tổng hợp các

Trang 26

biện pháp nghiệp vụ của ngành: biện pháp pháp luật, nghiệp vụ, vũ trang, khoa học kỹ thuật, vận động quần chúng, kinh tế, ngoại giao để tổ chức quản lý và duy trì trật tự, kỷ luật chung ở trại giam và bảo đảm an toàn trại giam trong mọi tình huống

Quản lý, giam giữ phạm nhân ở trại giam là một khâu, một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án phạt tù Bởi vì nó trực tiếp quản lý, giam giữ hầu hết những phần tử nguy hiểm cho ANQG và TTATXH, cách ly chúng khỏi đời sống xã hội Nhưng đồng thời nó làm tiền đề và tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục phạm nhân trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội, ngăn ngừa họ tái phạm tội

Vì vậy, trong quá trình phạm nhân chấp hành án phạt tù phải đặc biệt coi trọng công tác quản lý, giam giữ nghiêm nghặt, chặt chẽ, không để họ có điều kiện hoạt động chống phá, trốn trại, phạm tội mới Buộc họ phải chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy trại giam Tuyệt đối không được chủ quan, mất cảnh giác hoặc có sơ hở, thiếu sót trong quản lý, giam giữ để phạm nhân có thể lợi dụng hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng cho trại giam [4]

1.2.2.2 Nhiệm vụ

Trong tổ chức thi hành án phạt tù ở trại giam, lực lượng cảnh sát thi hành

án hình sự và Hỗ trợ tư pháp có nhiệm vụ: quản lý, giam giữ, giáo dục phạm nhân thành người lương thiện, có ích cho xã hội, tiến hành đấu tranh khai thác, phát hiện, thu thập các thông tin về tội phạm để mở rộng công tác điều tra, đấu tranh phòng chống tội phạm, cụ thể như sau:

- Quản lý, giam giữ nghiêm ngặt, chặt chẽ không để phạm nhân có hành động chống phá, trốn trại, phạm tội mới, vi phạm Nội quy trại giam

Phạm nhân là người đang chấp hành bản án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân ở các cơ sở giam giữ của Nhà nước Trong thời gian chấp hành hình phạt tù phạm nhân bị giam giữ nghiêm ngặt, chặt chẽ trong các buồng giam, khu giam Họ bị tước quyền tự do và một số quyền công dân khác, buộc phải sống cách ly với xã hội, mọi hoạt động phải tuân thủ nội quy trại giam và sự hướng dẫn của cán bộ, chiến sỹ trại giam Những hành vi vi phạm nội quy trại giam của phạm nhân phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật

Trang 27

Để quản lý, giam giữ phạm nhân được nghiêm ngặt, chặt chẽ, không để phạm nhân trốn trại hay thực hiện những hành động chống phá, đưa vật cấm vào trại giam, liên lạc, móc nối với các đối tượng xấu ngoài xã hội, các phần tử chống đối ở nước ngoài hay phạm tội mới, điều trước tiên hệ thống buồng giam, khu giam, các điều kiện vật chất khác để giam giữ phạm nhân phải được xây dựng kiên cố, vững chắc đảm bảo tính khoa học và được lắp đặt các thiết bị kiểm soát an ninh theo quy định và mẫu thiết kế

- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời mọi hành vi vi phạm nội quy trại giam của phạm nhân

Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý, giam giữ phạm nhân là phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trại giam, không để cho phạm nhân thực hiện các hành vi vi phạm Nội quy trại giam, xây dựng môi trường trại giam thành môi trường giáo dục mang tính nhân văn, nhân đạo cao cả, tạo điều kiện để phạm nhân cải tạo tiến bộ nhanh chóng được tái hòa nhập cộng đồng Tuy nhiên, một số phạm nhân khi vào trại giam chấp hành án vẫn không hối cải, luôn tìm mọi sơ hở của cán bộ trại giam để thực hiện các hành vi chống đối cải tạo gây mất ổn định môi trường trại giam Vì vậy, trong công tác quản lý, giam giữ phạm nhân lực lượng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phải chủ động phát hiện sớm các âm mưu và hành động chống phá của phạm nhân, đồng thời có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh những phạm nhân có hành vi vi phạm nội quy trại giam theo đúng quy định của pháp luật

Việc xử lý những phạm nhân có có hành vi vi phạm nội quy trại giam phải đảm bảo tính công khai, công bằng, nghiêm minh và đúng pháp luật

- Phát hiện những thông tin về tội phạm, người phạm tội để mở rộng công tác điều tra, tiếp tục đấu tranh chống các loại tội phạm và phục vụ cho công tác giáo dục

Phát hiện thông tin về tội phạm để mở rộng công tác điều tra, đấu tranh phòng chống tội phạm là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thể hiện tư tưởng và quan điểm tiến công tội phạm một cách triệt để của lực lượng công an nhân dân Mỗi lực lượng công an nhân dân trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình phải quán triệt thật tốt tư tưởng và quan điểm nêu trên

Trang 28

Quản lý, giam giữ phạm nhân ở trại giam là hoạt động cần thiết, quan trọng nhưng không có nghĩa là tước bỏ tất cả các quyền công dân của họ Với bản chất nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta đòi hỏi cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp không được lấy việc quản lý, giam giữ để ngược đãi, hành hạ, nhục hình, tra tấn đối với phạm nhân Mục đích cuối cùng của công tác thi hành án phạt tù là giáo dục những người lầm đường, lạc lối, có hành vi vi phạm pháp luật thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa

họ phạm tội mới Vì vậy, công tác quản lý, giam giữ phạm nhân phải dựa trên nội quy trại giam, làm cho phạm nhân nhận thức được việc tuân thủ Nội quy trại giam là quyền, nghĩa vụ của bản thân họ, là giúp họ tiến bộ, cải tạo tốt để được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước

Hệ thống quản lý trại giam của Nhà nước ta đang quản lý số lượng rất lớn phạm nhân Đây là những phần tử hết sức nguy hiểm cho an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội Vì vậy, trong quá trình quản lý, giam giữ phạm nhân, lực lượng Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp cần chống tư tưởng cho rằng ở giai đoạn thi hành án phạt tù chỉ có nhiệm vụ quản lý, giam giữ và giáo dục phạm nhân mà xem nhẹ các yêu cầu nghiệp vụ của ngành Công an Phải xây dựng và quán triệt tư tưởng tiến công tội phạm một cách triệt để, không để một thông tin nào liên quan đến tội phạm còn sót lọt có liên quan đến phạm nhân nào không được làm rõ Đồng thời phải xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nghiệp vụ trong ngành Công an và các cơ quan bảo vệ pháp luật [4]

1.2.2.3 Nguyên tắc

Quản lý, giam giữ phạm nhân ở trại giam là một công tác rất quan trọng,

có liên quan trực tiếp đến cuộc sống và sinh mạng của hàng vạn phạm nhân đang thi hành án phạt tù ở trại giam Đồng thời, nó còn liên quan đến đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước

Để làm tốt công tác quản lý, giam giữ phạm nhân lực lượng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phải tuân theo các nguyên tắc sau:

- Đảm bảo chế độ xã hội chủ nghĩa trong quản lý, giam giữ phạm nhân Đây là một nguyên tắc cơ bản có tính chủ đạo trong hoạt động thực thi pháp luật ở nước ta, đặc biết đối với công tác công an nói chung, công tác trại

Trang 29

giam nói riêng Thực hiện tốt nguyên tắc này bảo đảm cho pháp luật của Nhà nước được thực thi một cách nghiêm chỉnh

Để thực hiện được nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, công tác quản

lý, giam giữ phạm nhân cần phải đảm bảo một số nội dung:

+ Phạm nhân phải bị quản lý, giam giữ ở trại giam, những phạm nhân trốn trại phải nhanh chóng bắt lại để tiếp tục chấp hành án ở trại giam

+ Trong công tác quản lý, giam giữ phạm nhân phải thực hiện đúng những điều quy định trong Luật Thi hành án hình sự, Nội quy trại giam của Nhà nước Việt Nam

+ Phải quán triệt thật tốt ”nguyên tắc nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trấn áp kết hợp với giáo dục cải tạo”

+ Trong quản lý, giam giữ phạm nhân phải đảm bảo sự công bằng, công minh, thưởng, phạt nghiêm minh

Cán bộ Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp là người đại diện cho cơ quan Nhà nước có nhiệm vụ trực tiếp quản lý, giam giữ, giáo dục phạm nhân, do đó, trong cuộc sống hàng ngày phải thể hiện là tấm gương mẫu mực để cảm hóa, giáo dục đối với phạm nhân

+ Mọi thái độ, cử chỉ, tác phong, lời nói, việc làm của cán bộ Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phải đúng đắn, có tình, có lý và mang tính nhân văn

+ Phải tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và các quyền chính đáng của phạm nhân Tuyệt đối không được có lời nói hay hành động xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự, thân thể của phạm nhân

+ Nghiêm cấm mọi hành vi ngược đãi, tra tấn, nhục hình hay có hành động đối xử tàn nhẫn, hành hạ vô nhân đạo đến thể xác và tinh thần của phạm nhân

+ Kiên quyết xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm Nội quy trại giam của phạm nhân và những việc làm vi phạm pháp luật, sai nguyên tắc trong công tác quản lý, giam giữ phạm nhân của lực lượng Cảnh sát thi hành án hình

sự và hỗ trợ tư pháp

Trang 30

- Kết hợp biện pháp cưỡng chế với giáo dục trong quản lý, giam giữ phạm nhân

Cưỡng chế và giáo dục là hai mặt của một vấn đề, cưỡng chế là thể hiện tính cứng rắn, mạnh mẽ còn giáo dục là thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt Việc vận dụng kết hợp giữa cưỡng chế với giáo dục là phương pháp khoa học trong giáo dục con người Phương pháp giáo dục này càng có ý nghĩa quan trọng trong khoa học giáo dục phạm nhân, một lĩnh vực giáo dục đặc thù, giáo dục hoàn lương đối với những con người phạm tội

Bản chất của Nhà nước Việt Nam khác hẳn so với các Nhà nước của giai cấp bóc lột Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân Xuất phát từ truyền thống nhân đạo của Nhà nước Việt Nam mà trong công tác quản

lý, giam giữ phạm nhân phải lấy giáo dục là chính Ông cha ta đã từng dạy “lấy

chính nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”, đây là tư

tưởng thể hiện sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam

từ bao đời nay Ngày nay, Nhà nước ta xác định mục đích cuối cùng của quá trình tổ chức thi hành án phạt tù là giáo dục những người phạm tội thành người

có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội để trả họ về với cuộc sống cộng đồng Vì vậy, trong quá trình quản lý, giam giữ phạm nhân ở trại giam phải coi trọng việc giáo dục công dân, giáo dục pháp luật…để phạm nhân hiểu rõ đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thấy được tội lỗi của bản thân, thấy được việc bị quản lý, giam giữ ở trại giam là một tất yếu để trả giá cho hành động tội lỗi, đây không phải là sự trả thù của Nhà nước đối với họ Việc giáo dục phạm nhân phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ trong suốt thời gian phạm nhân chấp hành án phạt tù ở trại giam Đi đôi với việc giáo dục về tư tưởng phải coi trọng sự cưỡng chế bằng pháp luật Mọi hoạt động trong quản lý giam giữ phạm nhân phải dựa trên cơ sở pháp luật, phải tuân thủ pháp luật, dùng pháp luật để bắt buộc phạm nhân tuân theo nội quy, kỷ luật của trại giam [4]

1.2.3 Các hình thức quản lý trại giam

Trong công tác quản lý trại giam, hiện nay Nhà nước Việt Nam đang áp dụng các hình thức quản lý, giam giữ đối với phạm nhân như sau:

1.2.3.1 Giam giữ phạm nhân theo khu

Trang 31

Theo Điều 27, Luật Thi hành án hình sự: căn cứ tính chất tội phạm, mang

án của người chấp hành án phạt tù, trại giam tổ chức giam giữ phạm nhân thành

2 khu (Khu giam giữ người bị kết án tù trên 15 năm, tù chung thân, thuộc loại tái phạm nguy hiểm; khu giam giữ người bị kết án tù từ 15 năm tù trở xuống)

+ Khu I: là nơi giam giữ người bị kết án tù trên 15 năm, tù chung thân người bị kết án tù thuộc loại tái phạm nguy hiểm Khu này bố trí ở phân trại gần trung tâm chỉ huy của trại giam

+ Khu II: là nơi giam giữ những người bị kết án tù từ 15 năm trở xuống Trên thực tế hiện nay, tất cả các trại giam thuộc bộ Công an quản lý được

cơ cấu thành một số phân trại, các phân trại phân bổ trên địa bàn rộng nhiều phân trại cách xa trung tâm, vì vậy, việc tổ chức giam giữ phạm nhân ở các trại giam là hết sức khó khăn trong quá trình thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự và hướng dẫn của Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp

Tổ chức giam giữ phạm nhân theo khu trong mỗi trại giam đã làm thay đổi căn bản hình thức giam giữ phạm nhân theo loại trại giam trước đây Tuy nhiên, hình thức giam giữ này đã đảm bảo được yêu cầu và nguyên tắc của công tác giam giữ phạm nhân là nghiêm ngặt, chặt chẽ, phân hóa đối tượng giam giữ;

là cơ sở tiến hành áp dụng các chính sách và đề ra các biện pháp giáo dục, cảm hóa phạm nhân trong quá trình chấp hành hình phạt

Việc tổ chức giam giữ phạm nhân theo khu đã khắc phục được tình trạng tập trung số lượng đông phạm nhân nguy hiểm, mức án cao, nhiều tiền án, tiền

sự vào một trại giam (trại giam loại I trước đây) gây ra tình trạng căng thẳng, khó khăn cho công tác quản lý giam giữ phạm nhân Tổ chức giam giữ phạm nhân theo khu đảm bảo sự bình đẳng trong công tác, đồng thời huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống trại giam Mỗi trại giam đều có điều kiện củng cố, xây dựng ngày càng phát triển và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục cải tạo người phạm tội

Tổ chức giam giữ phạm nhân theo khu ở các trại giam tạo điều kiện cho phạm nhân chấp hành hình phạt tù gần địa phương nơi cư trú và tạo điều kiện thuận lợi cho thân nhân gia đình phạm nhân trong việc thăm nuôi, phối hợp với trại giam để giáo dục phạm nhân [4]

Trang 32

1.2.3.2 Giam giữ phạm nhân theo loại

Giam giữ phạm nhân theo loại là hình thức giam giữ phạm nhân theo những loại ký hiệu khác nhau Khi tổ chức giam giữ phạm nhân không được giam chung cùng buồng những phạm nhân khác loại ký hiệu Tùy theo tính chất tội phạm mà bố trí đội và buồng giam cho phù hợp

Ngoài ra, số phạm nhân phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, phạm nhân

có quốc tịch nước ngoài được tổ chức giam cùng một phân trại hoặc khu riêng đảm bảo nghiêm ngặt, chặt chẽ đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, pháp luật và đối ngoại Không giam chung phạm nhân có các tội về xâm phạm an ninh quốc gia với phạm nhân có án tù về các tội liên quan đến trật tự an toàn xã hội trong cùng một buồng, một đội

Giam giữ phạm nhân theo loại đã tách riêng được số phạm nhân phạm tội chống đối, không chịu cải tạo với các phạm nhân ăn năn hối cải… để lực lượng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp sử dụng biện pháp quản lý, giam giữ phù hợp

- Giam giữ phạm nhân trong các trường hợp đặc biệt

Ngoài hai hình thức giam giữ nêu trên, Bộ Công an còn hướng dẫn tổ chức giam giữ trong một số trường hợp đặc biệt sau:

+ Giam giữ phạm nhân vi phạm kỷ luật tại buồng kỷ luật

Những phạm nhân có hành vi vi phạm nội quy, quy chế trại giam ở mức phải xử lý bằng hình thức phạt giam trong nhà kỷ luật thì giám thị trại giam ký quyết định giam trong buồng kỷ luật đến 7 ngày và có thể gia hạn đến 15 ngày

+ Giam giữ riêng những phạm nhân thuộc loại đặc biệt nguy hiểm hoặc do yêu cầu chính trị, nghiệp vụ

+ Giam giữ phạm nhân ở trại tạm giam, nhà tạm giữ

Giam giữ phạm nhân ở trại tạm giam, nhà tạm giữ, đây là hình thức giam giữ thường được áp dụng đối với những người phạm tội lần đầu, phạm tội ít nghiêm trọng, thuộc thành phần cơ bản và có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải Những phạm nhân này phải được quản lý và giam giữ ở khu vực riêng, tách biệt với khu giam giữ người bị tạm giữ, tạm giam

Trang 33

Giám thị trại tạm giam chịu trách nhiệm về việc quản lý, giam giữ, giáo dục người chấp hành hình phạt tù tại trại tạm giam theo quy định của pháp luật

về thi hành án phạt tù Người chấp hành hình phạt tù tại trại tạm giam có nghĩa

vụ và quyền lợi như người chấp hành hình phạt tù tại trại giam

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.3.1 Hệ thống pháp luật về quản lý trại giam

Hệ thống pháp luật về quản lý trại giam của Nhà nước ta là tập hợp toàn

bộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đang có hiệu lực thi hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thi hành của những cơ quan,

cá nhân có thẩm quyền và việc chấp hành bản án của người bị kết án tù có thời hạn hoặc tù chung thân

Trong suốt chiều dài lịch sử, Nhà nước Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau Nhà nước ta đã ban hành những văn bản pháp luật tương ứng để quản lý xã hội đương đại, trong đó có pháp luật

về thi hành án phạt tù Cùng với sự phát triển của các ngành luật có quan hệ trực tiếp như luật Hình sự, luật Tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù nói riêng của Nhà nước ta có quá trình phát triển lâu dài cùng với sự phát triển của đất nước

a Lịch sử hình thành pháp luật thi hành án phạt tù của Nhà nước Việt Nam

- Thời kỳ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước ngày ban hành Pháp lệnh Thi hành án phạt tù (8/3/1993)

Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, hệ thống tư pháp của chế độ cũ bị xóa bỏ và được thay thế bằng hệ thống tư pháp của chính quyền cách mạng Do điều kiện mới giành được chính quyền, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tạm thời sử dụng luật lệ của chế độ cũ Sắc lệnh 10/10/1945 giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ cho đến khi ban hành các luật lệ thống nhất trong toàn quốc Theo điều 10 của Sắc lệnh này “Các luật lệ cũ được tạm giữ lại chỉ thi hành khi nào không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể Dân chủ cộng hòa”

Trang 34

Thực hiện chính sách nhân đạo và phù hợp với yêu cầu của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 xá tội các phạm nhân, Sắc lệnh số 40/SL ngày 29/3/1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân, có quy định về việc bắt, giam giữ người rất cụ thể

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thấy rõ vị trí quan trọng của các trại giam trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc và yêu cầu giam giữ cải tạo người phạm tội, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã công bố Sắc lệnh số 150/SL ngày 7/11/1950 về tổ chức các trại giam Sắc lệnh này có giá trị quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật thi hành án phạt tù Nó thể hiện chính sách mới trong việc giáo dục cải tạo người phạm tội Điều 1 của Sắc lệnh

ghi rõ: “Phạm nhân phải giam giữ trong các trại giam để trừng trị và giáo

hóa”

Việc giáo dục phạm nhân được tổ chức trong trại giam bằng công tác lao động và đời sống tập thể, được học tập văn hóa và hướng dẫn nghề nghiệp… Phạm nhân phải lao động một ngày là 8 giờ (trừ ngày chủ nhật, ngày lễ hoặc ốm đau), trong trường hợp cần thiết có thể làm thêm giờ Mỗi trại giam có một chánh giám thị và hai phó giám thị chịu trách nhiệm quản lý toàn diện về trại giam bao gồm: tổ chức sắp xếp và đảm bảo đời sống đặt dưới quyền kiểm soát của Ủy ban kháng chiến tỉnh hoặc Ủy ban hành chính liên khu Công tác bảo vệ

do công an và quân đội bảo vệ

Ngày 07/7/1962, Hội đồng Chính phủ ra chỉ thị số 15/VP về tăng cường công tác trại giam; chỉ thị số 02/CP ngày 01/4/1982 của Bộ Nội vụ quy định việc tiến hành phân cấp quản lý cải tạo phạm nhân toàn quốc; thông tư số 01-TT/LB ngày 16/2/1984 của Liên bộ Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ về việc thi hành nghiêm chỉnh các bản án phạt tù giam hoặc tử hình đã có nhắc nhở các Tòa địa phương và cơ quan công an trong việc tổ chức thi hành án phạt tù; ngày 28/6/1988, Quốc hội thông qua bộ luật Tố tụng hình sự và có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/01/1989 Bộ luật đã dành phần thứ năm quy định về trình tự thi hành

án và quyết định của tòa án, trong đó có chế định về thi hành án phạt tù

- Thời kỳ sau khi ban hành Pháp lệnh thi hành án phạt tù (08/3/1993) Trải qua 48 năm, từ tháng 8/1945 đến tháng tháng 3/1993 Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật về công tác thi hành án phạt tù Những văn

Trang 35

bản pháp luật này là cơ sở pháp lý cho các hoạt động thi hành án phạt tù của Nhà nước ta Kết quả của công tác thi hành án phạt tù góp phần quan trọng vào

sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thi hành án phạt tù của Nhà nước ta trong thời gian này vẫn là những văn bản pháp luật thiếu tính đồng bộ, lẻ tẻ, giá trị pháp lý chưa cao, điều đó làm ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật thi hành án phạt tù trên thực tiễn, chất lượng và hiệu quả công tác thi hành án phạt tù còn có những hạn chế, bất cập cần được khắc phục Vì vậy, trong thời gian này Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật về thi hành án phạt tù, cụ thể:

+ Pháp lệnh Thi hành án phạt tù (Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 9 thông qua ngày 08/3/1993) Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 gồm 6 chương, 37 điều, quy định về thi hành án phạt tù ở Việt Nam

Pháp lệnh thi hành án phạt tù được ban hành ngày 08/3/1993 là một bước phát triển quan trọng của khoa học pháp lý về thi hành án phạt tù, đáp ứng tình hình thực tiễn phù hợp với sự phát triển về chính trị - xã hội của đất nước góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới

+ Quy chế trại giam (ban hành theo Nghị định số 60/CP ngày 16/9/1993 của Chính phủ) Quy chế trại giam gồm 8 chương, 35 điều Quy định về tổ chức trại giam;

Quy chế trại giam quy định cụ thể, chi tiết các thủ tục thi hành án phạt tù; chế độ giam giữ phạm nhân theo 3 loại trại giam (trại giam loại 1, loại 2, loại 3)

+ Các Bộ, Ngành chức năng đã ban hành các thông tư, quyết định… để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh thi hành án phạt tù

* Thông tư số 03/TTLT ngày 30/6/1993 của liên ngành Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ - Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh 1993

* Quyết định số 458/BNV (V19) ngày 13/12/1993 của Bộ trưởng Bộ Nội

vụ về quản lý Nhà nước công tác thi hành án phạt tù trong lực lượng CAND

Trang 36

* Thông tư số 11/TTLB ngày 20/12/1993 của liên bộ: Bộ Nội vụ - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Lao động Thương binh và xã hội hướng dẫn việc giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, dạy văn hóa, dạy nghề; chế độ sinh hoạt giải trí cho phạm nhân

* Thông tư số 12/TTLB ngày 20/12/1993 của Liên Bộ: Bộ Nội vụ - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Lao động Thương binh và xã hội hướng dẫn việc giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, dạy văn hóa, dạy nghề; chế độ sinh hoạt giải trí cho phạm nhân

* Quyết định số 482-BNV/V26 ngày 10/8/1995 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành nội quy trại giam (nội quy trại giam loại 1; nội quy trại giam loại 2; nội quy trại giam loại 3 thuộc hệ thống trại giam do Bộ Nội vụ quản lý)

+ Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt

tù (Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 19/10/2007)

Trải qua 14 năm thi hành Pháp lệnh thi hành án phạt tù (08/3/1993) đã phát huy tác dụng tích cực và có hiệu quả trong lĩnh vực quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân, góp phần quan trọng trong phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới của toàn diện đất nước, của cải cách tư pháp, cải cách hành chính theo đường lối của Đảng, Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 và ban hành những văn bản pháp luật mới về lĩnh vực thi hành án phạt tù là một đòi hỏi tất yếu khách quan Pháp lệnh sửa đổi bổ sung năm 2007 đã sửa đổi 16/37 điều, bãi bỏ 2 điều và bổ sung thêm

Trang 37

Trong chiến lược cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến việc sửa đổi, bổ sung và xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh và đồng bộ Hệ thống pháp luật thi hành

án phạt tù đến nay đã được cơ quan có thẩm quyền xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao, làm cơ sở cho các hoạt động thi hành án phạt tù trong giai đoạn hiện nay

+ Luật Đặc xá (Quốc hội khóa XII thông qua ngày 21/11/2007)

Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt

họ có quá trình cải tạo tốt, ăn năn, hối cải và có ý thức chấp hành pháp luật Đặc

xá thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch nước Đặc xá thể hiện truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội đã ăn năn, hối cải Ngày 21/11/2007 tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XII đã thông qua luật Đặc xá, ban hành theo quyết định số 07/2007/QH12 ngày 21/11/2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2008 Luật Đặc xá có 6 chương, 36 điều

+ Luật Tương trợ tư pháp (Quốc hội khóa XII thông qua ngày 21/11/2007) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2008 Luật Tương trợ tư pháp

có 7 chương, 72 điều Quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước Việt Nam trong tương trợ tư pháp

+ Luật Thi hành án hình sự (Quốc hội khóa XII thông qua ngày 17/6/2010) có hiệu lực từ ngày 01/7/2011

Luật Thi hành án hình sự có 15 chương, 182 điều Quy định nguyên tắc, trình tự, tổ chức nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành bản án, quyết định của Tòa án đối với các hình phạt của Bộ luật Hình sự

- Để phù hợp với những quy định của Luật thi hành án hình sự, Luật đặc

xá và Luật tương trợ tư pháp của Quốc hội ban hành Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ với chức năng, thẩm quyền đã ban hành các văn bản pháp luật sau:

Trang 38

+ Ngày 28/7/2011 Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2011/NĐ-CP quy định về biện pháp thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Nghị định gồm 4 chương, 16 điều)

+ Ngày 16/9/2011 Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2011/NĐ-CP quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù (Nghị định gồm 5 chương, 33 điều)

+ Ngày 15/12/2011 Chính phủ ban hành Nghị định số 117/2011/NĐ-CP quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân (Nghị định gồm 4 chương, 17 điều)

+ Ngày 17/2/2012 Chính phủ ban hành Nghị định số 09/2012/NĐ-CP quy định về tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh theo quy định của Luật Thi hành án hình sự (Nghị định gồm 3 chương, 15 điều)

+ Ngày 20/3/2012 Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2012/NĐ-CP quy định về cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự (Nghị định gồm 4 chương, 18 điều) Quy định về xây dựng, thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng

cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân

có liên quan trong xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu về thi hành án hình

sự

- Để hướng dẫn thực hiện các quy định của Luật thi hành án hình sự và các Nghị định của Chính phủ mới ban hành các Bộ, ngành chức năng đã ban hành các thông tư để hướng dẫn thực hiện như sau:

+ Ngày 12/01/2010 Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT-BTC-BCA-BQP thực hiện chế độ lao động

và sử dụng kết quả lao động, dạy nghề của phạm nhân trong các trại giam

+ Ngày 06/2/2012 Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân

Trang 39

+ Ngày 13/02/2012 Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao ban hành Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT- BCA-BQP-BNG hướng dẫn việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân

+ Ngày 28/3/2011 Bộ Công an ban hành Thông tư số 13/2011/TT-BCA quy định về quản lý, trang bị, khai thác sử dụng hệ thống kiểm soát an ninh các

cơ sở giam giữ trong CAND

+ Ngày 14/4/2011 Bộ Công an ban hành Thông tư số 16/2011/TT-BCA quy định về công tác Cảnh sát Quản giáo

+ Ngày 26/5/2011 Bộ Công an ban hành Thông tư số 36/2011/TT-BCA ban hành Nội quy trại giam

+ Ngày 03/6/2011 của Bộ Công an ban hành Thông tư số BCA quy định về phân loại và giam giữ phạm nhân theo loại

37/2011/TT-Thông tư số 37/2011/TT-BCA gồm 5 chương, 17 điều Nội dung của Thông tư ngoài việc quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc phân loại và tổ chức giam giữ còn quy định cụ thể 04 căn cứ phân loại phạm nhân Việc phân loại phạm nhân phải được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân Phạm nhân được phân thành 03 loại: A, B,

C Loại A được phân thành 04 loại: Ađb, A1, A2, A3 Loại B được phân thành

04 loại: Bđb, B1, B2, B3 Loại C được phân thành 04 loại: Cđb, C1, C2, C3 Mỗi loại ký hiệu được quy định rất cụ thể Hàng năm, căn cứ vào kết quả cải tạo của phạm nhân các trại giam, trại tạm giam phải tiến hành xét nâng, hạ loại đột xuất cho phạm nhân Việc tổ chức giam giữ phạm nhân ở trại giam được tổ chức giam giữ theo 02 khu Khu 1, giam giữ những phạm nhân có mức án tù trên 15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc loại tái phạm nguy hiểm Khu 2, giam giữ những phạm nhân có mức án tù từ 15 năm trở xuống, phạm nhân có mức án tù trên 15 năm đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù còn dưới 15 năm, phạm nhân, phạm nhân Ađb, Bđb, Cđb không thuộc các trường hợp giam giữ tại khu

2 Phạm nhân được chia thành đội để giam giữ và quản lý khi học tập, lao động, học nghề và sinh hoạt Phạm nhân bị giam giữ trong các buồng giam, giam giữ theo loại ký hiệu Phạm nhân là nữ, là người chưa thành niên, là người nước ngoài, bị mắc các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, phạm nhân có dấu hiệu bị bệnh tâm thần, phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy trại giam,

Trang 40

phạm nhân có biểu hiện, hành vi câu kết, móc nối với phạm nhân khác hoặc các đối tượng bên ngoài tìm cách chống phá, trốn trại giam, có hành vi chống đối quyết liệt…phải được giam giữ riêng Ngoài ra, Thông tư còn quy định cụ thể về việc quản lý phạm nhân trong khi lao động, học nghề, khám điều trị tại bệnh viện, cơ sở y tế

+ Ngày 27/6/2011 Bộ Công an ban hành Thông tư số 40/2011/TT-BCA quy định về tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân

Thông tư số 40/2011/TT-BCA gồm 3 chương, 14 điều Nội dung của Thông tư quy định cụ thể 04 tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù Căn cứ vào việc chấp hành 04 tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù của mỗi phạm nhân trại giam, trại tạm giam tiến hành xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân Căn cứ vào kết quả thi đua chấp hành án phạt tù phạm nhân được xếp loại cải tạo tương xứng: loại tốt, loại khá, loại trung bình và kém Việc xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù cho phạm nhân được tiến hành theo định kỳ và định kỳ: tuần, tháng, quý, 6 tháng và 1 năm

+ Ngày 30/6/2011 Bộ Công an ban hành Thông tư số 46/2011/TT-BCA gồm 6 chương, 15 điều: quy định việc phạm nhân thăm gặp thân nhân; nhận, gửi thư, nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân

+ Ngày 09/8/2011 Bộ Công an ban hành Thông tư số 58/2011/TT-BCA gồm 7 điều, quy định về đồ vật cấm đưa vào trại giam và việc thu giữ, xử lý đồ vật cấm

+ Ngày 07/10/2011 Bộ Công an ban hành Thông tư số 68/2011/TT-BCA gồm 4 chương, 25 điều, quy định về hoạt động vũ trang bảo vệ trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và dẫn giải phạm nhân

Các văn bản pháp luật nêu trên là nền tảng cơ sở pháp lý cho các hoạt động thi hành án phạt tù của Nhà nước ta trong tình hình hiện nay Tuy nhiên hoạt động thi hành án phạt tù là một loại hoạt động phức tạp, nhiều quan hệ xã hội, hành vi phát sinh trong lĩnh vực thi hành án phạt tù cần được các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục nghiên cứu ban hành

1.3.2 Nghiên cứu quản lý trại giam trên thế giới

Ngày đăng: 29/06/2017, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Trại giam Quảng Ninh (2016). Báo cáo tổng kết “Tình hình, kết quả các mặt công tác năm 2016, dự kiến chương trình công tác năm 2017” của trại giam Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình, kết quả các mặt công tác năm 2016, dự kiến chương trình công tác năm 2017
Tác giả: Trại giam Quảng Ninh
Năm: 2016
39. Các nguyên tắc cơ bản về đối xử với tù nhân http://www.ohchr.org/english/law/basicprinciples.htm (1990) Link
1. Trần Văn Hòa (2014), Tổ chức và hoạt động của lực lƣợng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp, Học viện Cảnh sát nhân dân Khác
2. Trần Văn Hòa (2013), Pháp luật quốc tế về Thi hành án phạt tù (Dùng cho đào tạo đại học hệ chính quy chuyên ngành Giáo dục cải tạo phạm nhân), Học viện cảnh sát nhân dân Khác
3. TS. Hoàng Thị Bích Ngọc (2013), Giao tiếp và giao tiếp của phạm nhân, Nhà xuất bản Công an nhân dân Khác
4. Nguyễn Văn Tuấn (2013), Lý luận cơ bản về Thi hành án phạt tù (Dùng cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục cải tạo phạm nhân), Học viện Cảnh sát nhân dân Khác
5. Trần Văn Hoà (2012), Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục cải tạo phạm nhân, Học viện cảnh sát nhân dân Khác
6. Trần Văn Hoà (2011). Tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước đối với phạm nhân (Dùng cho hệ chính quy đào tạo chính quy chuyên ngành Giáo dục cải tạo phạm nhân), Học viện Cảnh sát nhân dân Khác
9. Chính phủ - Nghị định số 117/NĐ-CP (2011) Quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân Khác
10. Bộ Công an - Thông tƣ số 40/TT-BCA (2011) Quy định về tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân Khác
11. Bộ Công an - Thông tƣ số 36/TT-BCA (2011) ban hành Nội quy trại giam Khác
12. Bộ Công an - Quyết định 2851/QĐ-BCA (2015) Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trại giam thuộc Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp Khác
13. Hệ thống hóa các văn bản pháp luật quốc tế và Việt Nam liên quan đến công tác Nhà tù, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1997 Khác
14. Viện nghiên cứu quyền con người, một số văn kiện của Liên Hợp quốc về quyền con người trong quản lý tư pháp, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2009 Khác
15. Học viện Cảnh sát nhân dân, Công tác thi hành án phạt tù - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2006 Khác
16. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
17. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
22. Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) Khác
23. Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966) 24. Công ƣớc của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em (1989) Khác
25. Các quy tắc chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân (1955) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh: Khu làm việc của Cán bộ chiến sỹ trại giam Quảng Ninh - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
nh ảnh: Khu làm việc của Cán bộ chiến sỹ trại giam Quảng Ninh (Trang 13)
Hình 1.4 Sơ đồ phát triển bền vững của Unessco - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Hình 1.4 Sơ đồ phát triển bền vững của Unessco (Trang 18)
Bảng 1- Kết quả chất lƣợng không khí, vi khí hậu - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Bảng 1 Kết quả chất lƣợng không khí, vi khí hậu (Trang 69)
Bảng 2 - Kết quả chất lượng nước sinh hoạt - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Bảng 2 Kết quả chất lượng nước sinh hoạt (Trang 70)
Bảng 3 - Kết quả phân tích chất lượng nước thải sinh hoạt - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Bảng 3 Kết quả phân tích chất lượng nước thải sinh hoạt (Trang 71)
Bảng 4 - Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của Trại giam - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Bảng 4 Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của Trại giam (Trang 78)
Hình 3 - Ao nuôi trồng tôm, thả cá trại giam Quảng Ninh - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Hình 3 Ao nuôi trồng tôm, thả cá trại giam Quảng Ninh (Trang 97)
Hình 2 - Sân tennis trại giam Quảng Ninh - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Hình 2 Sân tennis trại giam Quảng Ninh (Trang 97)
Hình 4 - Sân bóng, sân hội thao thể dục thể thao tại trại giam Quảng Ninh - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Hình 4 Sân bóng, sân hội thao thể dục thể thao tại trại giam Quảng Ninh (Trang 98)
Hình 5 - Nhà truyền thống trại giam Quảng Ninh - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Hình 5 Nhà truyền thống trại giam Quảng Ninh (Trang 98)
Hình 6 - Toàn cảnh trung tâm chỉ huy, lãnh đạo của trại giam Quảng Ninh - Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh
Hình 6 Toàn cảnh trung tâm chỉ huy, lãnh đạo của trại giam Quảng Ninh (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w