MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Đưa ra các giải pháp quản lý, phát triển tài nguyên nước trên lưu vực sông Gianh theo hướng bền vững.. Nội dụng nghiên cứu: Phân tích đánh giá nguồn nước, tính toán
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian dài thực hiện, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quy hoạch và
Quản lý Tài nguyên nước với đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý, phát
triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Gianh” đã được hoàn thành Ngoài
sự nỗ lực của bản thân, tác giả còn được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của các thầy
cô giáo và các đồng nghiệp, bạn bè
Đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học TS Lê Trung Tuân và PGS.TS Trần Viết Ổn - Phó Hiệu trưởng - Trường Đại học Thủy lợi đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành Luận văn này Tác giả xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thủy lợi, các thầy giáo, cô giáo Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, các thầy giáo, cô giáo các bộ môn đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn trong quá trình học tập
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Quy hoạch Thuỷ lợi, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Bình và các đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ, cung cấp các tài liệu cần thiết và đóng góp ý kiến cho tác giả hoàn thành luận văn
Tuy nhiên do thời gian có hạn, kinh nghiệm bản thân chưa nhiều, khối lượng tài liệu lớn nên những thiếu sót của Luận văn là không thể tránh khỏi Do đó, tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và của đồng nghiệp
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn tấm lòng của những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn./
Hà nội, tháng 8 năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tên tác giả: Ngô Bá Thịnh
Hà nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Ngô Bá Thịnh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lưu vực sông Gianh nằm trên địa phận 4 huyện thuộc tỉnh Quảng Bình là Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch và huyện Kỳ Anh của tỉnh Hà Tĩnh Tổng diện tích tự nhiên toàn lưu vực là 4,680 km2, trong đó diện tích đồi núi là 4,239 km2 chiếm 90,8% diện tích toàn lưu vực với 1,160 km2 là diện tích núi đá vôi Nguồn nước trên sông Gianh được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế xã hội trong vùng như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, du lịch, dịch vụ Đây là một nguồn tài nguyên quan trọng, đặc biệt cần thiết cho sự sinh tồn của xã hội và là cơ
sở vật chất để phát triển kinh tế Vị trí của sông Gianh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Bình là rất quan trọng Tuy vậy, trong những năm gần đây, nhu cầu dùng nước trong vùng đã có những thay đổi:
- Việc khai thác vùng đất ven biển phục vụ nuôi thủy sản làm tăng nhu cầu nước cho thủy sản
- Sự biến động trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp đang diễn ra ngày càng rõ nét trên toàn lưu vực
- Tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá tăng nhanh, đặc biệt là vùng hạ du lưu vực làm tăng nhu cầu nước cho công nghiệp và đô thị
Yêu cầu sử dụng nước trong vùng vẫn tiếp tục gia tăng trong khi tài nguyên nước trong lưu vực sông ngày càng bị cạn kiệt và suy thoái Do sự phân bố không đồng đều giữa nguồn nước và nhu cầu sử dụng cùng với sự suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa những người sử dụng nước, ngành sử dụng nước, giữa thượng và hạ du lưu vực sông Bên cạnh đó, công tác quản lý tài nguyên nước còn hạn chế, yếu kém do thiếu kinh nghiệm, chưa có sự đồng thuận giữa những nhà quản lý với những nhà khai thác sử dụng
Sự thay đổi và những bất cập trên đây đang đặt ra sự cần thiết phải có các giải pháp trong quản lý, phát triển tài nguyên nước lưu vực theo hướng bền vững.,
do đó cần thiết phải thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý, phát
Trang 4triển bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Gianh” để đảm bảo cho việc phát triển
tài nguyên nước của lưu vực theo hướng bền vững
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Đưa ra các giải pháp quản lý, phát triển tài nguyên nước trên lưu vực sông Gianh theo hướng bền vững
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VỊ NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu trong đề tài là nguồn nước cấp cho các ngành sử dụng nước chủ yếu trong lưu vực sông Gianh như: nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh…
4 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁCH TIẾP CẬN
4.1 Nội dụng nghiên cứu:
Phân tích đánh giá nguồn nước, tính toán nhu cầu nước của các ngành dùng nước cho các giai đoạn phát triển đến năm 2020, tính cân bằng nước, đưa ra giải pháp sử dụng nguồn nước hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả các công trình thuỷ lợi và quản lý bền vững tài nguyên nước trên lưu vực sông Gianh
4.2 Cách tiếp cận:
- Tiếp cận kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở trong nước cũng như trên thế giới;
- Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn, tổng hợp đa mục tiêu;
- Tiếp cận đáp ứng nhu cầu;
- Tiếp cận theo quan điểm hệ thống;
- Tiếp cận theo quan điểm bền vững
4.3 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sẽ sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp kế thừa, phân tích tổng hợp;
- Phương pháp chuyên gia;
- Nghiên cứu phân tích, thống kê;
- Phương pháp ứng dụng mô hình
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt Theo thống kê thì 97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở Bắc và Nam cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí Tất cả sông hồ, đất ngập nước trên thế giới cùng chỉ chiếm khoảng 1% diện tích đất
và 0,01% tổng lượng nước ngọt
Tài nguyên nước là tài nguyên thiết yếu cho sự sống nhưng đồng thời cũng là yếu tố môi trường rất quan trọng, do vậy quản lý và nghiên cứu tài nguyên nước vừa là hoạt động đánh giá tài nguyên nước vừa là đánh giá tình trạng môi trường của một vùng lãnh thổ Nước có quan hệ mật thiết với các tài nguyên khác như sinh vật, đất và chính vì thế khi xu thế sa mạc hóa, hủy hoại tài nguyên đất, rừng thì cũng đồng thời làm trầm trọng thêm tình trạng thiều nước về mùa khô và gây lũ lụt vào mùa mưa
Trên thế giới, kể từ sau Hội nghi Dublin và Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và phát triển của thế giới họp tại Rio de Janero (Brazil, 1992), phần lớn các
nước trên thế giới đều trong tiến trình thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước (QLTHTNN) với việc lấy lưu vực sông làm đơn vị quản lý nước càng được chú trọng và được coi là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, điều phối và giải quyết tốt các mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước giữa các vùng, các khu vực thượng hạ lưu của lưu vực sông
Tổ chức công tác vì nước toàn cầu (GWP) cho rằng: “Quản lý tổng hợp lưu vực sông là một quá trình mà trong đó con người phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất và các tài nguyên khác nhằm đạt được hiệu quả tối ưu của các thành quả
Trang 6kinh tế xã hội một cách công bằng mà không đánh đổi bằng sự bền vững của các hệ sinh thái then chốt” Định nghĩa này nhấn mạnh những khía cạnh nổi bật của quản
lý tổng hợp lưu vực sông và cho thấy quản lý tổng hợp lưu vực sông là sự hợp tác trong quản lý và khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên có trên toàn bộ lưu vực một cách hợp lý, hiệu quả và công bằng để đạt được lợi ích kinh tế và xã hội mà không làm tổn hại đến sự bền vững của hệ sinh thái
Lưu vực sông có thể xem như một vùng địa lý được giới hạn bởi đường chia nước trên mặt và dưới đất mà trong phạm vi đó nước trên mặt và dưới đất đều chảy một cách tự nhiên vào lưu vực sông Trong lưu vực sông tồn tại các mối quan hệ chặt chẽ giữa nước mặt và nước ngầm, giữa số lượng và chất lượng nước, giữa đất
và nước và giữa vùng thượng lưu và hạ lưu Các mối quan hệ này đã khiến cho lưu vực sông từ một vùng địa lý đã trở thành một hệ thống luôn dính kết với nhau (Bryan Bruns, D.J, 2001)
Như vậy, mục đích của quản lý lưu vực sông là:
- Bảo vệ các chức năng của sông và lưu vực sông;
- Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước trong mối quan hệ với đất và các tài nguyên sinh thái khác;
- Hạn chế suy thoái và duy trì môi trường của sông và lưu vực sông bền vững cho các thế hệ hiện tại và tương lai
1.1 VỀ QUẢN LÝ NƯỚC LƯU VỰC SÔNG TRÊN THẾ GIỚI
Quản lý lưu vực sông (QLLVS) đã có lịch sử phát triển hơn một thế kỷ qua
và hiện nay nó càng được quan tâm của tất cả các nước trên thế giới để thực hiện các mục tiêu của phát triển bền vững Khái niệm quản lý lưu vực sông hiện đại ngày nay đã vượt ra ngoài khái niệm quản lý đất và nước truyền thống, bao gồm việc quản lý tất cả những hoạt động của con người sử dụng nước hoặc gây ảnh hưởng đến các hệ thống nước ngọt
Hiện nay việc đổi mới thế chế trong QLLVS ở các nước phát triển và đang phát triển thường tập trung vào hai việc là: (1) thành lập các tổ chức quản lý ở cấp lưu vực, và (2) đổi mới các hoạt động liên quan đến quản lý nước ở lưu vực sông như là xây dựng cơ chế phối hợp, đổi mới pháp chế, thiết kế lại các công cụ kinh tế
Trang 7trong chính sách nước (như giá chuyển nước, thuế, trợ cấp), thiết kế lại các tổ chức kinh tế (các tổ chức dịch vụ công, các tổ chức cung cấp dịch vụ, thị trường nước, chuyển giao quản lý tưới cho các tổ chức dùng nước)
Trên thế giới có hàng trăm tổ chức lưu vực sông đang hoạt động, các tổ chức này có thể có cơ cấu tổ chức và chức năng không hoàn toàn giống nhau tùy thuộc vào mỗi nước và điều kiện lưu vực Các sự khác nhau thường tập trung vào các điểm chính: Hình thức tổ chức, chức năng, mức độ tham gia trong quản lý nước của
tổ chức lưu vực sông, phương thức hoạt động, cơ chế tài chính
* Mô hình quản lý lưu vực sông ở Pháp:
Nước Pháp từ năm 1966 đã quản lý tất cả 6 lưu vực sông trên cả nước dựa theo luật về nước ban hành năm 1964 Mỗi lưu vực sông có một cơ quan lưu vực với chức năng chính là:
- Định hướng và khuyến khích các hộ dùng nước sử dụng hợp lý tài nguyên nước thông qua các công cụ kinh tế
- Khởi xướng và cung cấp thông tin cho các dự án (nhưng không trực tiếp thực hiện dự án), điều hòa các lợi ích địa phương, lợi ích cá biệt và lợi ích chung trong khai thác tài nguyên nước
Cơ quan lưu vực có một Hội đồng quản trị trong đó một nửa đại diện các cơ quan nhà nước, 1/4 là đại diện các chính quyền địa phương và 1/4 còn lại là đại diện các hộ dùng nước (công nghiệp, nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt và công nghiệp, thủy sản,…) Các quyết định của Hội đồng quản trị phải được Cơ quan lưu vực sông phê chuẩn
* Mô hình quản lý lưu vực sông Hoàng Hà (Trung Quốc):
Sông Hoàng Hà lớn thứ 2 Trung Quốc với diện tích lưu vực 795.000km2, số dân 98 triệu người sống trên lưu vực Để quản lý lưu vực sông Hoàng Hà, Nhà nước Trung Quốc thành lập Ủy ban bảo vệ sông Hoàng Hà (YRCC) Ủy ban này là một
cơ quan của Bộ Thủy Lợi Trung Quốc nhằm quản lý lưu vực sông Hoàng Hà và các sông nội địa thuộc một số tỉnh và khu vực phía Tây Bắc Trung Quốc với chức năng chủ yếu là:
- Quản lý thống nhất tài nguyên nước và dòng sông;
Trang 8- Quản lý tổng hợp lưu vực sông;
- Phát triển và quản lý các công trình thủy lợi quan trọng trên lưu vực;
- Thực hiện quy hoạch, quản lý, điều phối, hướng dẫn và bổ trợ;
- Cải thiện quản lý sông và phát triển tổng hợp, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước;
* Mô hình quản lý lưu vực sông Lerma - chapala tại Mê xico:
Sông Lerma - chapala dài 750 km ở miền Trung Mexico, có diện tích lưu vực 54.000km2 , bao gồm 5 tiểu bang với tổng dân số 15 triệu người Trong lưu vực
có một hồ tự nhiên là hồ Chapala rộng 111.000ha dung tích 8 tỷ m3 nước Một trong những thách thức lớn nhất của lưu vực là hồ này bị khai thác quá mức đang bị cạn kiệt nguồn nước Việc thành lập tổ chức quản lý lưu vực sông nhằm giải quyết khó khăn này
Hội đồng lưu vực sông lưu vực sông Lerma - chapala (Lerma - chapala river basin council) thành lập năm 1993 Trong giai đoạn năm 1993 - 1998 cơ cấu tổ chức của Hội đồng bao gồm Chủ tịch là một Bộ trưởng, các thành viên là Thống đốc các tiểu bang thuộc lưu vực, Bộ trưởng của 5 bộ có liên quan và lãnh đạo của một số Ủy ban thuộc Chính Phủ Từ năm 1998 cơ cấu này được điều chỉnh lại, Chủ tịch hội đồng là chủ nhiệm Ủy ban nước quốc gia, các Ủy viên là Thống đốc của 5 tiểu bang thuộc lưu vực Ngoài ra còn có đại diện của các hộ dùng nước thuộc 6 ngành nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ, công nghiệp, chăn nuôi và cấp nước
Trang 9
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức của Hội đồng lưu vực sông Lerma- Chapala
Tổng hợp các mô hình của tổ chức quản lý lưu vực sông của thế giới có thể rút ra một số ý kiến đánh giá như sau:
- Về hình thức: Có một số hình thức của cơ quan quản lý lưu vực sông hiện
hành trên thế giới, nhưng có thể quy thành ba hình thức phổ biến nhất đó là: (i) cơ quan thủy vụ lưu vực sông, (ii) ủy hội lưu vực sông, và (iii) hội đồng lưu vực sông Mỗi loại có một mức độ tập trung quyền lực cũng như mức độ tham gia vào quản lý nước khác nhau
- Về chức năng nhiệm vụ: Chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản lý lưu vực
sông có thể nhiều hay ít tùy thuộc theo mục tiêu của cơ quan quản lý lưu vực sông được đặt ra khi thành lập Việc xác định các chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản
Văn phòng Hội đồng
Văn phòng khu vực của Uỷ ban
nước Quốc gia
Ủy viên Hội
3 Ủy ban tiểu
khu vực Nhóm công tác giám sát và đánh giá
Đại hội các hộ dùng nước cấp lưu vực
Đại hội các hộ dùng nước cấp tiểu bang
Các nhóm cộng tác chuyên đề
Trung tâm thông tin
Trang 10lý lưu vực sông phải tương xứng với yêu cầu quản lý của lưu vực sông cần phải thực hiện
- Về quyền hạn: Quyền hạn biểu thị quyền lực của cơ quan quản lý lưu vực
sông để thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý lưu vực sông Không có đủ quyền hạn thì cơ quan quản lý lưu vực sông khó có thể thực hiện các chức năng và nhiệm vụ được giao Nói chung, tùy theo hình thức tổ chức của mỗi cơ quan quản lý lưu vực sông mà nó có thể có nhiều hoặc ít quyền hạn trong quản lý TNN Quyền hạn của cơ quan quản lý lưu vực sông phải được thể chế hóa trong các văn bản Nhà nước và phải tương xứng với trách nhiệm và nhiệm vụ quản lý được giao
- Phương thức hoạt động: Phương thức hoạt động là cách thức để cơ quan
quản lý lưu vực sông thực hiện các hoạt động quản lý của mình Thí dụ như cách thức làm việc của Cơ quan điều hành hay văn phòng thường trực của cơ quan quản
lý lưu vực sông với các cơ quan hành chính trung ương hay địa phương Mỗi cơ quan quản lý lư vực sông cần có một phương thức hoạt động phù hợp với hình thức
và quy mô công việc của cơ quan quản lý lưu vực sông được giao và phải thuận lợi cho việc tổ chức và triển khai các hoạt động hàng ngày
- Cơ chế tài chính: Hoạt động của cơ quan quản lý lưu vực sông cần có
nguồn kinh phí ổn định lâu dài, nếu không thì cơ quan quản lý lưu vực sông nếu thành lập cũng khó mà hoạt động được như yêu cầu Vì thế mỗi cơ quan quản lý lưu vực sông cần xây dựng một cơ chế tài chính hợp lý để duy trì hoạt động thường xuyên hàng năm của cơ quan quản lý lưu vực sông ngay khi đề xuất thành lập cơ quan quản lý lưu vực sông Nguồn tài chính này có thể dựa trên sự trợ giúp của Nhà nước, các tổ chức quốc tế hoặc đóng góp tài chính của các tỉnh, các hộ dùng nước được hưởng lợi trên lưu vực sông Tuy nhiên phần lớn các tổ chức lưu vực sông trích một phần nguồn thu từ thuế tài nguyên nước và phí ô nhiễm nước cho các hoạt động quản lý của mình
- Thành phần tham gia: Cơ quan quản lý lưu vực sông sẽ rất hạn chế Nói
chung một cơ quan quản lý lưu vực sông thường có sự tham gia của các thành phần chủ yếu sau:
+ Cơ quan quản lý cấp Trung ương;
Trang 11+ Đại diện của các Tỉnh và địa phương;
+ Đại diện của các Bộ, ngành dùng nước;
+ Đại diện các hộ dùng nước
Tùy theo chức năng và nhiệm vụ của mỗi cơ quan quản lý lưu vực sông mà mức độ tham gia của các thành phần này có thể khác nhau tạo nên đặc điểm riêng
về hoạt động của tổ chức lưu vực sông đó
1.2 VỀ QUẢN LÝ NƯỚC LƯU VỰC SÔNG TẠI VIỆT NAM
Việt Nam là một quốc gia có lượng mưa trung bình năm khá lớn tới trên
2000 mm Ba phần tư lãnh thổ là đồi núi với độ che phủ rừng hiện khoảng 29%, mạng lưới sông, suối, đầm, hồ ao, kênh mương khá dày và có nước quanh năm Nhờ đó tài nguyên nước nhìn chung tương đối phong phú: hàng năm lượng nước mặt sản sinh nội địa đạt 32,5 tỷ m3/năm, nếu kể cả lượng nước từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào khoảng 889 tỷ m3/năm, nước dưới đất có trữ lượng tiềm năng khoảng 48
tỷ m3/năm (trầm tích bở rời: 12,6; đá lục nguyên: 7,31; đá phun trào: 2,11; đá xâm nhập: 8,05; đá carbonat: 2,4; đá biến chất: 7,79 và đá hỗn hợp: 7,75)
Mạng lưới sông suối trên lãnh thổ Việt Nam khá là nhiều Nếu chỉ tính những sông suối có nước chảy thường xuyên và có chiều dài trên 10km thì trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 2360 sông, suối các loại Tất cả các sông suối này tập trung trong 8 hệ thống sông chính và các sông vừa và nhỏ khác Tám hệ thống sông chính đó là: sông Kỳ Cùng-Bằng Giang, sông Hồng-Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai-Sài Gòn và sông Mê Công; trong đó hệ thống sông Mê Công là lớn nhất sau đó đến hệ thống sông Hồng Trong các hệ thống sông ở Việt Nam thì có một số sông bắt nguồn hay có dòng chảy qua các nước láng giềng, như sông Kỳ Cùng-Bằng Giang, sông Hồng-Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông Đồng Nai-Sài Gòn và sông Mê Công
1.2.1 Hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam
Theo điều 58 luật Tài nguyên nước, tổ chức quản lý nguồn nước ở nước ta hiện nay chủ yếu vẫn theo địa giới hành chính theo các cấp từ Trung ương đến địa phương : Hệ thống quản lý hành chính có 4 cấp, đó là:( i) chính quyền từ Trung ương; (ii) chính quyền cấp tỉnh và thành phố; (iii) quận (ở thành thị) và huyện (ở
Trang 12nông thôn); và (iv) phường (ở thành thị) và xã (ở nông thôn), trong đó UBND các cấp là cơ quan đại diện chính quyền ở mỗi cấp
Theo hệ thống này, Cơ quan quản lý nguồn nước cấp Trung ương xây dựng thể chế, chính sách để nhà nước ban hành, đồng thời chỉ đạo các tỉnh thực hiện Các tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nguồn nước cũng như thực hiện các chính sách và luật pháp về nước trong tỉnh Giữa các tỉnh không có cơ chế phối hợp cụ thể được quy định trong luật pháp mà có thể là cơ chế tự hợp tác khi cần thiết
1.2.2 Về thực hiện quản lý nước theo các lưu vực sông
Trước khi có luật tài nguyên nước, tại Việt Nam chưa có tiền đề cho việc quản lý nước theo các lưu vực sông
Luật tài nguyên nước năm 1998 trong điều 64 đã đặt cơ sở về mặt luật pháp cho việc thực hiện quản lý lưu vực sông Điều 64 Luật Tài nguyên nước mới chỉ đề cập đến việc thành lập Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông và các nội dung của quản lý quy hoạch lưu vực sông, còn về quản lý nước mới quy định về kiến nghị giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước trong lưu vực sông Tuy nhiên nghị định 179/199 NĐ-CP mới quy định việc quản lý lưu vực sông cần tổ chức thực hiện đối với các lưu vực sông lớn như lưu vực sông Hồng - Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Cửu Long Trên các lưu vực sông này thành lập các Cơ quan quản lý quy hoạch lưu vực sông với các chức năng chủ yếu là:
- Lập trình duyệt và theo dõi việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông, đảm bảo quản lý thống nhất quy hoạch kết hợp với địa bàn hành chính
- Thực hiện việc phối hợp với các cơ quan hữu quan của các Bộ, ngành và địa phương trong việc điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước của lưu vực sông và trong việc lập, trình duyệt và theo dõi việc thực hiện các quy hoạch lưu vực sông nhánh
- Kiến nghị giải quyết các tranh chấp về tài nguyên nước trong lưu vực sông Thực hiện quy định của luật Tài nguyên nước, Năm 2002 Bộ Nông Nghiệp và PTNT quyết định thành lập 3 Ban quản lý quy hoạch các lưu vực sông Hồng - Thái Bình, sông Đồng Nai, sông Cửu Long Điểm nổi bật của các Ban này là chỉ có chức
Trang 13năng về lập và theo dõi việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông mà chưa có chức năng về quản lý nước
Thực tế này cho thấy cần phải cải tiến về mặt thể chế đặc biệt là việc kiến nghị sửa đổi luật Tài nguyên nước để bổ sung thêm chức năng quản lý tài nguyên nước cho cơ quan quản lý lưu vực sông hơn là chỉ quản lý quy hoạch lưu vực sông như là Luật tài nguyên nước 1998 đã ban hành Việc cải tiến tổ chức lại các Ban quản lý cả ba lưu vực sông nói trên cho phù hợp với thực tế thì mới có thể thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước các lưu vực sông đạt được hiệu quả tốt
Trang 14CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
2.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi nghiên cứu
Vùng nghiên cứu của đề tài gồm toàn bộ dòng chính sông Gianh các phụ lưu: sông Rào Trổ, Rào Nan và sông Son, thuộc địa giới hành chính của 4 huyện là Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hoá Tỉnh Quảng Bình và 6 xã của huyện
Kỳ Anh thuộc tỉnh Hà Tĩnh Diện tích tự nhiên toàn lưu vực là 4.680 km2, có tọa độ địa lý từ 17020’ đến 18005’43” vĩ độ Bắc và từ 105036’24” đến 106036’26” kinh
độ Đông
- Phía Bắc giáp lưu vực sông Rác, sông Ròn
- Phía Nam giáp lưu vực sông Lý Hòa
- Phía Tây giáp lưu vực sông MêKông, có biên giới Việt Lào làm phân lưu
- Phía Đông giáp biển Đông
Hình 2.1: Vị trí vùng nghiên cứu
Trang 152.1.2 Đặc điểm địa hình
Lưu vực sông Gianh có địa hình rất phức tạp có thể chia ra làm 5 dạng sau:
- Địa hình núi đá vôi: Nằm tập trung ở phía hữu sông Gianh chạy dài từ Rào Nan đến biên giới Việt - Lào nối liến với cung đá vôi Phong Nha và thượng nguồn sông Đại Giang Vùng này có nhiều núi đá vôi vách thẳng đứng, nhiều chỗ núi đá
ăn sát ra bờ sông như đoạn Cẩm Lệ Địa hình dạng này chiếm tới 25% diện tích lưu vực
- Địa hình thung lũng đá vôi: Tập trung ở huyện Minh Hóa nằm trên thượng nguồn sông Rào Nan (một phụ lưu của sông Gianh) Các thung lũng nằm rải rác trong vùng núi đá vôi có địa hình tương đối bằng phẳng và bao bọc bởi 3 mặt là núi cao tạo nên những cánh đồng có nơi rộng đến 200-300 ha Địa hình dạng này chiếm 20% diện tích lưu vực và có cao độ trong khoảng 70-90 m
- Địa hình đồi núi: Dạng địa hình này nằm chủ yếu trên lưu vực sông Son (sông Trốc) và vùng thượng du của sông Rào Trổ (thuộc đất Kỳ Anh), địa hình này thường chạy dài theo sông và chia làm 2 cánh cung Ở lưu vực sông Son cánh cung phía hữu từ Rào Nan ăn sát ra biển Đông tạo thành đèo Lý Hòa Phía tả sông Son (hữu sông Gianh) từ phà Cẩm Lệ ngược lên biên giới là thung lũng dốc theo dạng mái nhà trũng xuống dòng chính sông Gianh, vùng này cũng bị các dãy núi đá vôi xâm lấn, chia cắt thành các cánh đồng nhỏ dọc theo tuyến đường sắt Bắc Nam Cao
độ bình quân các cánh đồng thung lũng dạng bãi sông này từ 10-20m, ít khi bị ngập lụt Chạy dọc sát mép sông Gianh là các thung lũng thấp hơn có cao độ từ 5-10m, hàng năm vào mùa mưa lũ hay bị ngập do trong thời gian sông Gianh có lũ lớn về tiêu thoát không kịp
- Dạng đồi và núi đất cao: Dọc theo dòng chính sông Son và phía tả thượng nguồn lưu vực suối Tiên Lang, Trung Thuần Đồi đất dạng mái nhà nghiêng từ phía
Hà Tĩnh vào dòng chính sông Gianh, độ dốc bình quân từ 25-300, vùng này ít có thung lũng nơi đây thích hợp với cây lâm nghiệp
- Khu vực đồng bằng: Đồng bằng chỉ chiếm khoảng 11% diện tích lưu vực
và có thể chia thành hai khu vực:
Trang 16+ Khu Bắc sông Gianh: Bắt đầu từ khu tưới của công trình Tiên Lang, Trung Thuần chạy dọc đến Cảnh Dương (cửa sông Gianh) Địa hình dốc theo hướng Tây - Đông, giáp biển là cồn cát cao (cao độ trung bình từ 4-7 m) Đồng bằng Bắc sông Gianh khá bằng phẳng có cao độ bình quân 3,0-3,5 m, trong vùng đồng bằng có những trảng cát xen giữa
+ Khu Nam sông Gianh: chạy từ khu tưới của hệ thống Rào Nan đến giáp biển, sát biển là dãy cồn cát có cao độ từ 5-7 m chạy suốt từ sông Gianh đến đèo Lý Hòa Đồng bằng Nam sông Gianh khá bằng phẳng có cao độ 2,0-2,5 m
2.1.3 Địa chất và khoáng sản
a Cấu tạo địa chất
Giới palezoi: Bao gồm:
- Hệ tầng Orđovic - Silur: Phân bố ở vùng rừng núi thượng nguồn sông Dinh, sông Rào Nậy (Gianh) và sông Rào Trổ với các trầm tích là đá phiến sét, cát bột kết xen lẫn lớp cát kết, đá phiến thạch anh và cuội kết thạch anh
- Hệ tầng Devon: Được phân bố thành các dải chạy dài tập trung ở vùng trung lưu của lưu vực sông Gianh thường lộ ra thành dải hẹp với thành phần cát kết, bột kết màu vàng đến nâu đỏ, đá phiến sét, đá vôi, sét vôi dày từ 600 - 1.000 m
- Hệ tầng Cacbon - Permi: Tập trung ở vùng núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng với đá vôi màu xám, đá vôi trứng cá, sét thanh, sét vôi dày từ 300 - 900 m Giới Mesozoi: Gồm
- Hệ tầng Trias và Creta: các trầm tích này chiếm diện tích khá lớn ở phía Bắc Rào Nậy, vùng kẹp giữa sông Rào Trổ và thượng nguồn sông Ròn với thành phần là cuội kết cơ sở, cát kết, bột kết và sét kết với chiều dày khoảng 1.000 - 1.500
Trang 170.5 - 1,0 m Các trầm tích hệ Holocen với nguồn gốc sông (a QIV) phân bố dọc các sông suối dưới dạng bãi bồi ven bờ và bãi giữa sông có thành phần cát, bột, sét, ở vùng đồi thì có thành phần cát, cuội, sỏi Hệ tầng có độ dày từ 2 - 8 m Các trầm tích nguồn gốc biển - gió (mv QIV) có độ dày khoảng 19 m, phân bố chủ yếu dọc theo bờ biển thành dải song song với đường bờ thành phần gồm cát, thạch anh từ nhỏ đến trung bình màu vàng xám trắng có nhiều vảy muscovit, mảnh vỏ sò, ốc biển Ngoài ra còn các trầm tích eluvi, đeluvi thuộc hệ Đệ Tứ không phân chia (Q) được phân bố ở vùng đồi núi
b Khoáng sản
Trong vùng có những mỏ khoáng sản phân bố và trữ lượng cụ thể như sau:
- Than đá xóm Nha: Được phát hiện năm 1963 than thành tạo trong hệ tầng Mục Bài (D2g mb) thuộc huyện Minh Hoá gồm: sét vôi màu xám, bột kết màu đen dày 150 m Diện tích chứa than dài 1,6 km, rộng 250 m Chất lượng than: tro độ Ak
= 3%, chất bốc Vch = 5%, nhiệt lượng Qch = 8.000 Kcal/kg Điểm này không có giá trị công nghiệp
- Than bùn Ba Đồn: Nằm trong trầm tích đầm lầy ven biển Đệ tứ Diện tích dài 7km, rộng 4 km Chất lượng than: tro độ Ak = 59,7%, chất bốc Vch = 25,1%, nhiệt lượng Qch = 1140 - 3360 Kcal/kg, S = 0,36%, tỷ trọng trung bình 1,86 Than
có thể sử dụng làm chất đốt hoặc làm phân bón Trữ lượng 1,4.106 tấn
- Kim loại: Gồm có các điểm sắt limonit ở Khe Ngang, Làng Va, Lèn á và Thu Lộc Các điểm quặng mangan Kim Lũ, Đồng Văn ở rìa nếp lồi Quy Đạt Quặng phân bố theo đứt gãy Rào Nậy tại những nơi bị cà nát mạnh
- Không kim loại: Arsen, Pyrit, Phosphorit, Kaolin, Thạch anh mạnh, pegmatit, cát thủy tinh, Thạch anh tinh thể
- Vật liệu xây dựng: Granit ở khối Đồng Lê thuộc phức hệ sông Mã có thể sử dụng làm đá ốp lát hoặc xây dựng Đá vôi xi măng đã có 4 mỏ: Ca Tạng, Kim Lũ,
Hạ Trang và Troóc tập trung một diện tích khá rộng, thành phần chủ yếu là calcit,
đá vôi này có thể dùng trong công nghiệp xi măng, trữ lượng của mỏ Hạ Trạng 0,45 triệu tấn, các mỏ khác chưa được đánh giá Đá vôi xây dựng có thể là vật liệu xây dựng có ở Văn Hoá, Minh Cầm, Thanh Sơn, các khối đá vôi có chiều dài 2,5 km,
Trang 18rộng 400-500 m và có thể làm chất độn bê tông, xây kè cống hoặc làm móng công trình Ngoài ra còn các vật liệu có giá trị khác như: đá hoa, sét chịu lửa, sét gạch ngói, cát kết xây dựng, cuội sỏi
- Nước khoáng - nước nóng: Đã phát hiện điểm nước khoáng - nước nóng là Động Nghèn và Troóc Tại Động Nghèn nước lộ ra ở ven suối với chiều dài 50 m, chảy dài như một cái phễu có đường kính 1,2 - 1,4 m, nước có mùi hắc, vị chát, nhiều bọt khí, nhiệt độ 430c, độ pH = 4,5, Q = 0,2 l/s Tại Troóc nước thuộc loại clorur-bicacbonat natri, Q = 0,52 l/s, nhiệt độ 420c, pH = 7, tự do = 13,2 mg/l, CO2, liên hệ = 3,84 mg/l
2.1.4 Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng
Đất đai trên lưu vực sông sông Gianh được thành tạo do nhiều nguồn gốc Sự xâm nhập nước biển nhiều năm và sự chuyển tải bùn cát sườn dốc, trên các sông suối bị ứ tràn pha trộn phù sa biển tạo cho vùng đồng bằng sông Gianh có lớp bề mặt là phù sa biển, phù sa sông biển và phù sa sông, sườn tích, dốc tụ và bào mòn bạc màu trên vùng đất dốc Thổ nhưỡng lưu vực sông Gianh có một số loại đất chính như sau:
- Đất phù sa bị nhiễm mặn hàng năm, cấu tượng đất màu đen lẫn nhiều vỏ sò hến Khi khô đóng vón, rắn gặp nước bở rời, độ dính kết kém Đất này tập trung ở vùng ngập nước của sông Gianh Đất đang sử dụng nuôi trồng hải sản và trồng cây
sú vẹt chắn sóng
- Đất thềm dốc cao loại đất này thành tạo do sản phẩm phong hoá bở rời của
đá Feratic, đá sét, đá sa diệp thạch đất màu vàng nhạt, vàng xám lẫn nhiều sạn sỏi, nhiều nơi đang bị xói mòn do dòng chảy mặt có tốc độ cao Đất phân bố ở vùng đồi
và núi lưu vực thượng sông Gianh thuộc Tuyên Hoá, Minh Hoá Đất phù hợp với cây lâm nghiệp, cây trồng cạn và chế độ canh tác vườn rừng, loại đất này chiếm tới 80% diện tích lưu vực
- Đất cát pha và đất cát là sản phẩm của phù sa biển, phù sa sông và phù sa sông - biển, đất có dạng đất thịt, thịt pha cát và đất mùn cát Cấu tượng của đất bở tơi, độ ngấm hút lớn, màu xám hoặc nâu xám Dễ đóng vảy khi có nước và bở rời tạo thành mùn khi bị khô hạn Phân bố chủ yếu ở khu tưới đồng bằng Nam sông
Trang 19Gianh đất thành tạo từ phù sa sông biển pha sườn tích dạng đất thịt nặng và đất thịt pha sét, cấu tượng chặt độ mùn cao màu nâu hoặc màu vàng, nghèo nàn và ít thấm nước
2.1.5 Đặc điểm khí hậu, khí tượng
2.1.5.1 Lưới trạm khí tượng thủy văn
a Trạm khí tượng và trạm đo mưa
Để phục vụ nghiên cứu tình hình khí hậu vùng, nghiên cứu đã sử dụng tài liệu của trạm khí tượng: Tuyên Hoá, Ba Đồn Tại các trạm này có các quan trắc các yếu tố: nhiệt độ không khí, bức xạ, độ ẩm, gió mưa Các trạm đo mưa: Đồng Tâm, Trooc, Làng Mô, Trường Sơn, Tân Mỹ, Nông trường Việt Trung, Mai Hóa, Minh Hóa
Phần lớn các trạm được quan trắc từ năm 1960 -1961 Các số liệu khí hậu, đo mưa của các trạm do Tổng Cục khí Tượng Thuỷ Văn cung cấp đã chỉnh lý nên chất lượng đảm bảo, tin cậy
Bảng 2.1 : Các trạm khí tượng và trạm mưa
Các yếu tố quan trắc
Tuyên Hoá 1960 - 2009 Gianh 106 0 11’ 17 0 49’ X, V, Z T o , U
Ba Đồn 1960-2009 Gianh 106 o 25’ 17 o 45’ X, V, Z T o , U Minh Hoá 1961-1965, 1975-2009 Gianh X
Tân Sum 1983 -1990 Gianh 105o52’ 17 o 51' X
Thanh Lạng 1975 - 1988 Gianh 105o51' 17o59' X Đồng Tâm 1960 - 2009 Gianh 106 0 06 17 0 50 X Mai Hoá (Lạc Sơn) 1962 - 2009 Gianh 106 0 11’ 17 0 48’ X
Ghi chú: X: lượng mưa (mm/năm); T: nhiệt độ không khí ( o C); U: độ ẩm (%); Z: bốc hơi (mm/năm); V = tốc độ gió (m/s)
b Tài liệu thủy văn
Trên sông Gianh có 2 trạm đo thuỷ văn đó là trạm Đồng Tâm trên dòng chính sông Gianh và trạm Tân Lâm trên nhánh Rào Trổ Trạm Đồng Tâm bắt đầu
Trang 20quan trắc đầy đủ các yếu tố H, Q, và độ đục từ năm 1961, đến năm 1982 thì hạ cấp, chỉ còn đo đặc trưng mực nước Trạm Tân Lâm cũng có được thời gian đo các đặc trưng H và Q từ năm 1970 đến hết năm 1979 Năm 1980 trạm này ngừng hoạt động
Có 4 trạm đo mực nước là Mai Hóa, Lạc Sơn, Phú Trịch và Thanh Khê (Tân Mỹ) Các trạm này bắt đầu đo từ những năm 1963, 1964 Đến nay chỉ còn trạm Mai Hóa
và Tân Mỹ là còn đo mực nước, trạm Phù Trịch ngừng đo năm 1969 Các trạm đo thủy văn còn hoạt động đến nay đã thống nhất cao độ về cao độ quốc gia
Bảng 2.2 : Các trạm đo mực nước và lưu lượng
Đồng Tâm 1961 - 1981 Rào Nậy 106006’ 17050’ Q(1961-1981),
H(1961-2009), ρ (1962-1974)
Tân Lâm 1970 - 1979 Rào Trổ 106013’ 17054’ Q, H
Lạc Sơn 1963 - 1982 Gianh 106011’ 17048’ H triều
Mai Hoá 1975 - 2009 Gianh H triều
Tân Mỹ 1963 - 2009 Gianh H triều
Ghi chú: Q: lưu lượng (m 3 /s); H: mực nước (m); ρ: chất rắn lơ lửng (g/l)
c Đánh giá chất lượng tài liệu quan trắc
Các trạm khí hậu được phân bố đều cho vùng núi thượng, trung du và vùng đồng bằng hạ du, các trạm khí hậu đo các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi, gió, nắng.v.v số liệu từ năm 1960 - 2009, chất lượng tài liệu tin cậy, các trạm này đều
do Tổng Cục Khí tượng Thủy văn thiết lập, quản lý, tài liệu tương đối dài có thể đưa vào tính toán đặc trưng khí hậu trong vùng
Trong số 16 trạm đo mưa đã được thiết lập hiện nay còn 9 trạm đo mưa hoạt động, còn lại các trạm đã giải thể Các trạm quan trắc mưa phân bố đều trên toàn vùng, trạm có liệt thực đo ngắn nhất cũng đạt xấp xỉ trên dưới 15 năm, trạm dài cũng trên 40 năm Vùng núi cao rất ít trạm đo mưa, đặc biệt trạm đo mưa bằng máy
tự ghi rất ít chỉ trừ một số trạm đo khí hậu có máy đo mưa tự ghi Những trạm đo mưa do Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn quản lý có chất lượng tài liệu tốt
- Tài liệu thuỷ văn: Tài liệu của các trạm đo dòng chảy thì quá ít và liệt tài liệu cũng không đủ dài Cả vùng có 2 trạm đo dòng chảy là trạm Đồng Tâm, Tân Lâm, nhưng tài liệu thực đo các yếu tố dòng chảy cũng chỉ được từ 10 năm đến 20
Trang 21năm Hai trạm này đều nằm trên dòng chính sông Gianh, phía sông Rào Nan và sông Son không có trạm đo nào, do đó khi tính toán phân phối dòng chảy cho các vùng gặp phải những khó khăn nhất định
- Về tài liệu mực nước: Các trạm đo mực nước cũng đều nằm trên dòng chính sông Gianh Số liệu thu thập được tại các trạm quan trắc mực nước đều đã được thống nhất chuyển về cao độ quốc gia, chất lượng tài liệu tốt, đảm bảo cho tính toán thủy văn trong giai đoạn quy hoạch này
2.1.5.2 Đặc điểm khí hậu, khí tượng
Lưu vực sông Gianh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Do địa hình lưu vực nằm giữa 2 dãy núi Hoành Sơn bị giới hạn bởi hai đèo (đèo Ngang và đèo
Lý Hoà) nên chế độ khí hậu ở đây cũng có những nét riêng biệt của vùng tiểu khí hậu Đặc trưng khí hậu lưu vực sông Gianh thông qua các yếu tố:
a Chế độ nhiệt
Nhìn chung, nhiệt độ trung bình năm ở vùng đồng bằng tăng dần từ Bắc vào Nam, còn ở vùng núi do độ cao và địa hình khác nhau nên phân bố nhiệt không hoàn toàn theo quy luật này Nhiệt độ trung bình năm ở vùng dao động từ 24÷25 0C
- Mùa nóng là thời kỳ nhiệt độ trung bình ổn định trên 250C Ngày bắt đầu mùa nóng có thể xảy ra từ giữa tháng IV và kết thúc vào tháng X Thời gian kéo dài trung bình 160 ngày Sự chênh lệch sớm, muộn của mùa nóng ở các nơi không lớn lắm
- Trong 3 tháng mùa lạnh (XII, I, II) thì nhiệt độ trung bình tháng I thấp nhất Nhiệt độ thấp nhất có thể xuống dưới 100C tại trung du và đồng bằng ven biển, dưới
50C ở vùng núi cao
Bảng 2.3: Đặc trưng nhiệt độ tháng năm vùng nghiên cứu
Đơn vị: o C
Tháng Trạm Yếu tố
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
T 0 C 18,0 19,1 21,6 25,1 27,7 29,1 29,2 28,1 26,2 23,8 21,2 18,5 24,0 Tmax 34,9 37,5 39,6 41,3 41,6 40,0 40,4 40,0 38,0 36,4 36,2 33,5 41,6
Tuyên
Hóa
Tmin 5,4 7,8 9,2 12,4 16,3 19,3 21,4 21,6 17,1 13,9 6,7 5,0 5,0
T 0 C 18,6 19,4 21,6 24,8 27,8 29,5 29,6 28,8 27,0 24,8 22,0 19,4 24,4 Tmax 34,7 35,6 37,8 40,0 40,3 40,1 40,6 39,7 39 35,3 34,7 38,1 40,6
Ba Đồn
Tmin 6,8 8,5 7,8 13,4 12,4 20,4 21,7 21,3 18 16 12,3 7,6 6,8
Trang 22b Số giờ nắng
Nắng là một yếu tố khí hậu có quan hệ chặt chẽ với bức xạ mặt trời và bị chi phối trực tiếp bởi lượng mây Trong vùng nghiên cứu hàng năm có đến 1.700
÷1.900 giờ nắng, nhiều hơn số giờ nắng thuộc đồng bằng Bắc Bộ
- Mùa đông trung bình mỗi tháng có khoảng 60 ÷100 giờ nắng Số giờ nắng
ít nhất vào tháng II, tháng III
- Mùa hạ trung bình mỗi tháng có 170 ÷ 250 giờ nắng, nhiều nhất là từ tháng
V đến tháng VII
Bảng 2.4: Tổng số giờ nắng trên địa bàn vùng nghiên cứu
Đơn vị: giờ
Tháng Trạm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Ba Đồn 94,3 73,7 105,8 163,4 223,0 218,3 234,5 192,4 160,5 130,6 97,6 82,2 1776,3 Tuyên Hoá 73,9 60,3 108,6 147,6 199,2 197,8 216,6 176,8 125,9 104,1 71,3 61,6 1519,5
c Độ ẩm
Độ ẩm bình quân năm trên lưu vực sông Gianh từ 84% - 86% Độ ẩm tối cao đến 92%, tối thấp 63% Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 5, tháng 6, độ ẩm cao nhất vào tháng 1, tháng 2
Bảng 2.5: Tổng số giờ năgns trên địa bàn vùng nghiên cứu
Đơn vị: %
Tháng Trạm
Trang 23Bảng 2.6: Lượng bốc hơi ống Piche
Đơn vị: mm
Tháng Trạm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Tuyên Hoá 39,5 35,7 54,5 76,8 112,1 141,4 164,4 116,5 62,7 46,2 42,1 40,5 932,4
Ba Đồn 44,5 37,0 45,0 62,2 107,5 145,0 162,1 135,0 73,6 61,4 55,9 52,4 981,6
e Gió, bão:
Do hình thế lưu vực mở rộng ra biển Đông lại bị che chắn bởi đèo Ngang và đèo Lý Hoà ở Bắc và Nam, đỉnh Trường Sơn khép kín ở phía Tây nên chế độ gió mùa ở đây đã bắt đầu bị pha tạp Trong mùa đông gió thịnh hành là hướng gió thổi
từ Đông bắc chuyển dần theo hướng chính Đông Do hoàn lưu khí quyển giao mùa tháng 4, tháng 5 có gió tây thổi từ Lào sang đến giữa mùa lũ hướng gió chính là gió Tây nam Tốc độ gió bình quân mùa đông 2,0 m/s, bình quân mùa hè 2,2 m/s Trong mùa hè thường có những đợt gió lốc xoáy nhẹ hoặc những cơn giông Nhờ sự hoạt động thường xuyên của gió mùa đông bắc, cộng với tiểu khí hậu ven biển nên từ tháng 1 đến tháng 4 ở vùng này có những trận mưa nhỏ
Bão là một tác nhân gây thiệt hại nhiều nhất cho vùng ven biển Quảng Bình theo thống kê của Cục khí tượng thuỷ văn từ 1961 đến 1989 có 130 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, có tới 22 cơn đổ bộ trực tiếp vào vùng sông Gianh, từ 1989 - 1998
có 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào từ Quảng Trị đến Quảng Bình Bão đổ
bộ trực tiếp vào vùng thường có cấp gió từ cấp 10 đến cấp 12 hướng bão có tới 70%
từ biển đông đổ bộ vào theo hướng Tây - Tây bắc nghĩa là đi dọc theo dòng chảy sông Gianh Bão thường kèm theo mưa bão gây lũ cho hai hệ thống sông này
f Chế độ mưa
Theo tài liệu đo đạc của các trạm trong lưu vực lượng mưa bình quân năm vùng này đạt từ 2.200- 2.400 mm chế độ mưa phân bố không đều theo thời gian và không gian Vùng thượng nguồn sông Gianh (Minh Hoá, Tuyên Hoá) lượng mưa bình quân năm lớn hơn vùng hạ du từ phà Gianh đến đèo Ngang từ 3 - 5% Về thời gian thời kỳ mưa chính trên lưu vực là từ tháng 8 đến tháng 11, tổng lượng mưa trong 4 tháng này chiếm tới 65% tổng lượng mưa năm Một năm ở lưu vực này có
Trang 24hai đỉnh mưa tháng 5, tháng 6 mưa tiểu mãn và tháng 10 mưa chính vụ Trong mùa
khô lượng mưa không nhiều chỉ chiếm 25% nhưng lại phân bố tương đối đều trong
các tháng
2.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI
2.2.1 Hiện trạng các ngành kinh tế xã hội
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn vùng nghiên cứu đã có sự chuyển dịch rõ ràng
theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá Tăng trưởng kinh tế theo GDP của
nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân từ 4,2-5,3%, công nghiệp và xây dựng tăng
16-18%, dịch vụ tăng 10,2-11,6%
Bảng 2.7: Cơ cấu kinh tế trên địa bàn vùng nghiên cứu
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình
Hình 2.2: Biểu đồ cơ cấu kinh tế vùng nghiên cứu
Cơ cấu kinh tế theo chiều hướng giảm ở khu vực Nông - Lâm & ngư nghiệp
và tăng ở khu vực công nghiệp dịch vụ Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn vùng vào
khoảng 11,4% Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt 7,78 triệu
đồng/người-năm
2.2.1.1 Dân số
Theo kết quả điều tra năm 2008 dân số trong vùng là 338.162 người Mật độ
dân số bình quân toàn vùng là: 58 người/km2, tốc độ phát triển dân số 1,059%
Trang 25Trong đó số dân sống ở thành thị (thị trấn, thị tứ) là 11.495 người chiếm 3,4%; còn lại là dân cư nông thôn với 326.667 người chiếm 96,6% Trong vùng có nhiều dân tộc sinh sống, đông nhất là người Kinh (chiếm 98,6%), các dân tộc ít người sống chủ yếu ở miền núi của huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá là: Bru Vân Kiều (Khùa), Mây, Sách, Thổ Arem, Mã Liềng, Chứt, Rục Dân cư phân bố không đều chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng ven biển, ở miền núi nhân dân sống rất phân tán, ở dải rác các thung lũng gần sông suối có đất bằng, dân cư thưa thớt
2.2.1.2 Hiện trạng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
a Nông nghiệp:
* Về sản xuất nông nghiệp:
Theo thống kê năm 2009 diện tích đất canh tác toàn vùng là: 23.263,4 ha Chủ yếu trồng lúa, màu (ngô, khoai, sắn, đậu các loại ), cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, vừng, thuốc lá Trong vùng gieo trồng theo 2 vụ chính là vụ Đông xuân và vụ Hè thu, một số nơi có trồng thêm vụ Đông nhưng với diện tích không đáng kể và chủ yếu là cây màu ngắn ngày như khoai Đông, các loại rau
Bảng 2.8: Thống kê diện tích gieo trồng một số cây trồng chính
1 Lúa đông xuân 8847.6
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình
Nhìn chung canh tác trong vùng còn phụ thuộc vào thời tiết nên năng suất cây trồng trong vùng còn thấp Diện tích trồng lúa trong vùng tương đối ổn định, diện tích trồng lúa chiếm khoảng 50-60% diện tích gieo trồng, còn lại là sắn, khoai, ngô và cây công nghiệp ngắn ngày
* Chăn nuôi gia súc trong vùng:
Hình thức chăn nuôi hiện tại trên địa bàn chủ yếu vẫn là chăn nuôi theo hộ gia đình Một vài nơi đã hình thành trang trại nhỏ với quy mô đàn gia súc khoảng
Trang 26dưới 100 con, đàn gia cầm dưới 10 nghìn con và đàn lợn dưới 200 con Những điểm nuôi tập trung như vậy vẫn là hộ gia đình và có sự hợp tác của nhiều hộ
Vật nuôi chủ yếu đại gia súc có trâu, bò, gia cầm và nuôi lợn Theo thống kê của các huyện đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn vùng nghiên cứu như sau:
Bảng 2.9: Thống kê chăn nuôi gia súc trên lưu vực sông Gianh
Tổng diện tích đất lâm nghiệp trong vùng hiện nay là 350.947 ha, chiếm xấp
xỉ 70% diện tích đất tự nhiên, tuy nhiên diện tích đất lâm nghiệp có rừng chỉ chiếm khoảng 50% con số trên Rừng trong khu vực có các loại sau: Rừng giàu chủ yếu phân bố ở vùng núi cao của huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá giao thông đi lại khó khăn Rừng trung bình, rừng nghèo và rừng tái sinh tập trung nhiều ở 2 huyện Bố Trạch và Quảng Trạch Theo thống kê, rừng ở đây có đến 250 loại lâm sản quý hiếm như: mun, lim, gụ, lát, hoa, trầm gió, thông nhựa Đặc sản dưới tán rừng khá đa dạng, phong phú và có giá trị kinh tế cao như song, mây, trầm kỳ, Sa nhân,
bổ chính và nhiều loại dược liệu quý khác Về thú rừng có nhiều loại quý hiếm như voi, hổ, gấu, bò tót, sơn dương, khỉ
Trong những năm gần đây ngành lâm nghiệp đang đẩy mạnh công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng, trồng dặm, tu bổ tái sinh và trồng mới (chủ yếu là thông nhựa và cây chắn gió, chống cát bay, cát nhảy ở vùng cát ven biển) Tuy nhiên nạn lâm tặc và đốt rừng làm nương rẫy vẫn còn tiếp diễn
Trang 27Bảng 2.10: Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp trên địa bàn vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu có dải bờ biển chạy dài từ chân đèo Ngang đến chân đèo
Lý Hoà, với bốn cửa sông đổ trực tiếp ra biển Đây là môi trường tốt cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản Ở các vùng cửa sông của huyện Quảng Trạch và huyện
Bố Trạch dân sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản, nuôi tôm cá ở các ao hồ nước ngọt, nước lợ dưới dạng cá thể hoặc các hợp tác xã nhỏ Tuy nhiên do phương tiện cũ lại vừa và nhỏ nên việc đánh bắt xa bờ cũng rất hạn chế
Nghề ngư nghiệp ở đây còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết do thiếu phương tiện đánh bắt xa bờ Chưa có tàu công suất đủ lớn nên không thể ra khơi xa mà chủ yếu là đánh bắt gần bờ, trong mùa mưa lũ là mùa có thể cho sản lượng đánh bắt lớn và nhiều loại hải sản có giá trị cao lại không thể ra khơi xa vì điều kiện tàu thuyền không đủ an toàn
Nghề đánh bắt thủy sản, hải sản ở trong vùng có tiềm năng, trong những năm gần đây được sự quan tâm và đầu tư hơn của nhà nước, người dân đã được trang bị phương tiện đánh bắt và hệ thống dịch vụ chế biến hiện đại hơn, khâu tiêu thụ sản phẩm cũng được chú trọng đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ở trong vùng
Theo số liệu điều tra thống kê diện tích nuôi trồng thủy sản trong vùng đạt
990 ha, trong đó diện tích nuôi trồng mặn lợ là 536 ha, nuôi trồng nước ngọt là 454 ha
Trang 282.2.1.3 Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp duy trì ở mức độ tăng trưởng khá Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành công nghiệp trong giai đoạn 2005-
2009 bình quân tăng 18%
Cơ cấu sản xuất công nghiệp có sự thay đổi, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp nhà nước giảm từ 70% năm 2001 xuống xấp xỉ 50% năm 2009 Các cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh được khuyến khích phát triển, nhiều doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ hợp tập trung vào lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sửa chữa tàu thuyền, thủ công mỹ nghệ… Các chương trình phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn đã được chú trọng, một số ngành nghệ truyền thống ở các địa phương được quan tâm khôi phục theo hướng gắn với du lịch và xuất khẩu
Đến năm 2009, phần lớn các sản phẩm công nghiệp đều phát triển ổn định và tăng khá so với năm 2009: Sản lượng klanke, xi măng tăng 16%, gạch Ceramic tăng 14%, bia các loại tăng 80%, các sản phẩm may xuất khẩu, phân bón phục vụ nông nghiệp cũng tăng mạnh… Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn
đã phát triển một số sản phẩm, dịch vụ mới như: mộc dân dụng, mỹ nghệ, sợi tơ tằm, cơ khí…
Bảng 2.11: Các nhà máy lớn do tỉnh quản lý nằm trong vùng nghiên cứu
1 NM xi măng Cosevo 1 Quảng Trạch Xi măng
2 NM gạch tuynen Ba Đồn Quảng Trạch Gạch
3 CTy phân bón sông Gianh Quảng Trạch Phân
4 XN Thủy sản sông Gianh Bố Trạch Chế biến hải sản
2.2.1.4 Giao thông vận tải
- Đường sắt: Trên địa bàn của vùng nghiên cứu có tuyến đường sắt Bắc -
Nam chạy qua từ biên giới Hà Tĩnh - Quảng Bình đến Đèo Ba Dốc là tuyến đường rất quan trọng và thuận lợi cho phát triển kinh tế vùng Trong vùng có ga Đồng Lê (Tuyên Hoá) có thể tạo điều kiện đi lại, lên xuống và bốc dỡ hàng hoá
Trang 29- Đường bộ: Tuyến đường quốc lộ 1A chạy dọc khu vực đồng bằng của
vùng nghiên cứu từ đèo Ngang đến đèo Ba Dốc, cầu sông Gianh đã được xây dựng
và hoàn thành năm 1998 tạo điều kiện cho giao thông được xuyên suốt và thuận lợi Tuyến đường quốc lộ 12A từ Ba Đồn đến cửa khẩu biên giới Cha Lo (nằm ở địa phận 3 huyện: Quảng Trạch, Tuyên Hoá, Minh Hoá) trong đó đoạn nằm trong huyện Quảng Trạch đi lại thuận tiện, hiện nay nhiều đoạn đang được nâng cấp, mở rộng Đoạn đường phía trên từ huyện Minh Hoá đi lên nhiều đoạn đi lại còn khó khăn do địa hình đồi núi hiểm trở
Tuyến đường quốc lộ 15 đi qua địa phận 3 huyện: Tuyên Hoá, Minh Hoá, Bố Trạch kéo dài từ xã Hương Hoá (Tuyên Hoá) đến Nông trường Việt Trung (Bố Trạch) là một phần của tuyến đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ đi qua vùng miền núi tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế Ngoài ra còn tuyến đường quốc lộ 20 xuất phát từ Xuân Sơn (Bố Trạch) chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam lên vùng núi đá vôi của huyện Bố Trạch và thông sang nước CHDCND Lào
Các trục đường liên xã, liên thôn tương đối phát triển cho phép ô tô đến được hầu hết trung tâm xã, nhiều công trình có tuyến đường ô tô đến tận nơi Tuy nhiên chất lượng còn thấp, mặt khác do thời tiết khắc nghiệt, nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp nên các công trình giao thông bị xuống cấp nhanh gây khó khăn cho việc đi lại nhất là vào mùa mưa lũ giao thông liên xã thường bị chia cắt Hiện nay trong vùng
đã có 105/106 xã đường ô tô đi tới được trung tâm xã
- Đường thuỷ: Giao thông đường sông được phát triển ở vùng trung và hạ du
các sông lớn, các huyện Quảng Trạch, Tuyên Hoá, Bố Trạch đều sử dụng thuyền máy, thuyền thô sơ để vận chuyển hàng hoá và hành khách trên các tuyến sông, đặc biệt huyện Quảng Trạch có trên 300 tàu thuyền trọng tải từ 8-10 tấn Bên cạnh còn
có tuyến vận tải sông biển qua cảng Gianh Tuy nhiên vận tải thuỷ chưa có quy hoạch đồng bộ và đầu tư chưa cao nên việc phát triển còn chậm
Trang 302.2.1.5 Du lịch - Dịch vụ:
a Du lịch
Trong những năm gần đây ngành du lịch Quảng Bình nói chung và vùng nghiên cứu nói riêng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về chất và lượng kể từ khi Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào tháng 7/2003 Động Phong Nha có chiều dài 13.000m gồm 14 hang đẹp do con sông ngầm hoà tan đá vôi tạo thành như hang Cà Ròn, hang Tối, hang Vòm
Ngày nay du lịch ở đây được biết đến không chỉ với vô số những địa điểm cảnh quan kỳ thú do thiên nhiên ban tặng mà còn bởi nơi đây tập trung nhiều điểm
di tích lịch sử văn hóa chùa Hoằng Phúc, Quảng Bình Quan, Luỹ Đào Duy Từ, Thành Đồng Hới, Rào Sen, Thành Nhà Ngô, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh
Du lịch phát triển kéo theo ngành dịch vụ cũng tăng theo Tổng mức bán lẻ
hàng hóa và doanh thu dịch vụ trong vùng năm 2009 đạt 2.808 tỷ đồng
2.2.1.6 Điện lực - Bưu điện
Trong vùng có tuyến đường điện 500 KV, 110 KV và 220 KV đã hạ thế để cấp điện sinh hoạt cho các cụm dân cư huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, Minh Hoá và Tuyên Hoá Do gần đường dây tải điện và có tuyến đường Hồ Chí Minh chạy qua, các vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa nên đến nay hầu hết người dân đã sử
Trang 31dụng điện để sinh hoạt Tính đến năm 2009 đã có 104/106 xã trong vùng có điện lưới Quốc gia
Hệ thống bưu điện gần đây được phát triển mạnh, tất cả các huyện lỵ, thị trấn, thị tứ đều có mạng lưới điện thoại Đến năm 2008 có 101/106 xã có điện thoại đến trung tâm, trung bình khoảng 11 người có một máy điện thoại, các mạng di động phủ sóng rộng rãi giúp nhân dân liên lạc thuận tiện
2.2.1.7 Giáo dục - Y tế - Văn hoá
a Giáo dục:
Tất cả các huyện nằm trong vùng nghiên cứu đều có trường PTTH, các xã và các cụm xã đều có trường PTCS Gần đây các huyện miền núi được chú trọng nhiều đến vấn đề phổ cập giáo dục Đến 2009 gần 100% số xã đã thực hiện được chương trình xoá nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
Những vùng dọc theo đường 1A, thị trấn Ba Đồn và các khu thị tứ có trình
độ dân trí tương đối cao Ngược lại các vùng sâu, vùng xa đời sống văn hoá, tinh thần của người dân còn nghèo nàn và lạc hậu như các dân tộc Rục, Khùa, Mày, Sách
b Y tế:
Mạng lưới y tế trong thời gian qua đã được xây dựng, củng cố nên đã đi vào hoạt động có nền nếp, việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được chú trọng Tất cả các huyện trong vùng đều có bệnh viện đa khoa trung tâm và mạng lưới y tế xã, tuy nhiên mạng lưới y tế cơ sở có cơ sở vật chất, trang thiết bị còn nghèo nàn, trình độ chuyên môn hạn chế cần có kế hoạch bổ sung, nâng cấp mới có thể làm tròn trách nhiệm chăm sóc tốt sức khoẻ ban đầu cho người dân
c Văn hoá:
Các huyện đều có các trạm phát thanh và mạng lưới truyền thanh xuống cơ
sở Các trạm thu để phát lại truyền hình cũng được chú trọng phát triển đồng thời xây dựng được một số cụm VTRO để tăng diện phủ sóng truyền hình Công tác truyền thanh, truyền hình đã đi vào nền nếp để nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân Các hoạt động văn hoá văn nghệ, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá được đẩy mạnh
Trang 32Bảng 2.12: Thống kê hiện trạng y tế - giáo dục trong vùng
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình
2.2.2 Định hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020
Phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 12% thời kỳ 2011-2015 và
trên 13% thời kỳ 2016-2020
Cơ cấu kinh tế trong vùng chuyển dịch theo hướng tăng các ngành phi nông
nghiệp, đặc biệt khu vực dịch vụ, công nghiệp-xây dựng Cơ cấu kinh tế của vùng
nghiên cứu giai đoạn đến 2020 như sau:
Bảng 2.13: Cơ cấu kinh tế vùng nghiên cứu giai đoạn đến 2020
Công nghiệp và xây dựng % 35,4 43,0 45,0
Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Quảng Bình đến 2020
2.2.2.1 Dân số
Tính đến năm 2009 dân số trên lưu vực sông Gianh là 338.162 người, tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên năm bình quân năm là 1,06 % Phấn đấu tốc độ tăng dân số
bình quân từ nay đến 2020 là 0,9%, dự báo dân số đến 2020 trên địa bàn vùng
nghiên cứu như sau:
Trang 33Bảng 2.14: Dự báo dân số 2020 trên địa bàn vùng nghiên cứu
Đơn vị: Người
Dân số HT 2020
Thành thị 11495 13422 Nông thôn 326667 381434
Giá trị sản xuất trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp đạt 70 triệu đồng/ha năm 2020 (giá 2009), bình quân lương thực 308,1 kg/người-năm
Diện tích canh tác trong vùng tương lai đến năm 2020 đạt 24.396,2 ha
- Cây lúa: Diện tích bố trí chủ yếu theo 2 hướng: Sản xuất thâm canh năng
suất cao và sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao Trong đó lúa chất lượng cao hướng thị trường vào các khu đô thị, khu công nghiệp có nhu cầu tiêu thụ lớn
Dự kiến quy mô sản xuất lúa: Căn cứ vào quy đất còn lại của các huyện, sau khi chuyển đổi mục đích phi nông nghiệp ưu tiên đất tốt có điều kiện tưới tiêu cho trồng lúa 1-2 vụ Dự kiến năm 2015 diện tích gieo trồng lúa cả năm là 22.260 ha, sản lượng thóc 112.700 tấn, năng suất bình quân 51 tạ/ha Năm 2020 diện tích gieo trồng lúa cả năm là 22.220 ha, sản lượng thóc 117.000 tấn, năng suất bình quân 55,8 tạ/ha
- Cây ngô: Phát triển cây ngô để tăng sản lượng ngô hạt làm nguyên liệu chế
biến thức ăn chăn nuôi Đẩy mạnh việc mở rộng diện tích đi đôi với thâm canh sản xuất ngô, mở rộng diện tích ngô vụ Đông xuân trên diện tích lúa 2 vụ, ngô xen trên
Trang 34đất lạc vụ xuân Dự kiến đến năm 2020 diện tích đất trồng ngô là 4.600 ha, sản lượng ngô 22.800 tấn, năng suất đạt 49,5 tạ/ha
- Cây có củ: Các loại cây có củ chủ yếu là khoai lang, sắn Trong những năm
tới khoai lang duy trì về diện tích, đưa các giống mới năng suất cao để gia tăng sản lượng làm nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi và thức ăn thô xanh cho trâu
bò Dự kiến năm 2020 diện tích khoai lang là 3.010 ha, sản lượng ước đạt 22.350 tấn
Đối với cây sắn, trong những năm tới duy trì diện tích và tăng năng suất để tăng sản lượng cho nhà máy chế biến tinh bột sắn Dự kiến năm 2020 diện tích trồng sắn là 5.300 ha, sản lượng ước đạt 92.500 tấn
- Đối với các loại rau thực phẩm: Tập trung phát triển các vùng rau chuyên
canh, mở rộng diện tích rau, thực hiện quy trình sản xuất rau sạch, rau an toàn, áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến như trồng rau trong nhà kính, nhà lưới Vùng sản xuất rau sạch tập trung ở các xã phía Đông đường Quốc lộ 1A, cụ thể như sau: huyện Quảng Trạch (các xã Quảng Phú, Quảng Xuân, Quảng Long); huyện Bố Trạch (các xã Đồng Trạch, Trung Trạch, Đại Trạch) Năng suất rau ước đạt 120 tạ/ha vào năm 2020
- Cây ăn quả: Phát triển cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như bưởi, cam bù,
nhãn, vải thiều đồng thời tập trung cho việc cải tạo vườn tạp để nâng cao hiệu quả kinh tế Các vùng tập trung phát triển là vùng gò đồi thuộc các huyện Bố Trạch, Minh Hóa, Tuyên Hóa
Bảng 2.15: Dự báo diện tích gieo trồng một số cây trồng chính đến năm 2020
1 Lúa đông xuân 9497.3
Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Quảng Bình đến 2020
Trang 35b Chăn nuôi:
Dự kiến giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng trưởng bình quân thời kỳ 2011-2015 là 8,3% và 7,6% thời kỳ 2016-2020 Cơ cấu GTSX ngành chăn nuôi chuyển dịch theo hướng tăng chăn nuôi gia súc, giảm chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi khác Cơ cấu GTSX chăn nuôi năm 2015: Gia súc 78,8%, gia cầm 13,9% và chăn nuôi khác 7,3%; năm 2020 cơ cấu tương ứng là 80,8%, 12,5% và 6,7%
- Đàn bò: Phát triển đồng cỏ chăn thả tự nhiên kết hợp với trồng cỏ để phát
triển đàn bò lai sind lấy thịt theo hướng tập trung để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn Phấn đấu tốc độ tăng trưởng đàn bò giai đoạn 2011-2015 là 4,9%/năm
và giai đoạn 2016-2020 là 4,5%/năm, trong đó tỷ lệ bò lai zebu chiếm 34% vào năm
2015 và chiếm 52% vào năm 2020
- Đàn trâu: Giảm đàn trâu cày kéo, chuyển nhanh sang phát triển đàn trâu
lấy thịt Về giống, chọn lọc nhân thuần sử dụng trâu đực tốt, luân chuyển đàn đồng thời lai tạo với trâu đực ngoại tạo con lai Nâng cao tỷ lệ thịt của trâu bằng thụ tinh nhân tạo và cấy phôi Dự kiến năm 2015 khoảng 10% nuôi trang trại, gia trại và chăn nuôi tập trung; năm 2020 khoảng 25% tổng đàn nuôi trang trại, gia trại và chăn nuôi tập trung, chủ yếu phát triển ở các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa và Quảng Trạch
- Đàn lợn: Gia tăng số lượng đàn lợn ngoại và lai 3/4 máu ngoại Dự kiến năm
2015 đàn lợn ngoại chiếm 31,9% tổng đàn và năm 2020 chiếm 41,2% tổng đàn
Bố trí vùng tập trung: Hình thành các vùng chăn nuôi lợn hàng hóa tập trung với các trang trại, gia trại, khu chăn nuôi tập trung, đưa dần chăn nuôi lợn ra xa khu dân
cư nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hạn chế ô nhiễm môi trường, tăng cường khả năng kiểm soát, phòng chống dịch bệnh Dự kiến năm 2015 khoảng 15% tổng đàn được nuôi theo hình thức trang trại và năm 2020 là 35% Vùng tập trung chủ yếu ở các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch
- Đàn gia cầm: Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đàn gia cầm theo quy mô lớn
và an toàn, sử dụng giống tiến bộ khoa học kỹ thuật, thức ăn công nghiệp, Tốc độ tăng trưởng bình quân năm giai đoạn 2011-2015: 11,4%/năm, giai đoạn 2016-2020: 8,2%/năm Phát triển chăn nuôi tập trung ở các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, năm
Trang 362015 dự kiến có khoảng 25% tổng đàn được nuôi trang trại và năm 2020 khoảng 55% tổng đàn được nuôi trang trại
Bảng 2.16: Dự báo chăn nuôi gia súc trên lưu vực sông Gianh
vệ môi trường, phấn đấu đến năm 2015 độ che phủ rừng đạt 68% và năm 2020 đạt 70% Các biện pháp phát triển lâm nghiệp đến 2020 bao gồm:
- Đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng để người dân bảo vệ và phát triển vốn rừng, đồng thời có chính sách hợp lý để đảm bảo cho nông dân sống bằng nghề rừng
- Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục để người dân hiểu và có trách nhiệm bảo vệ rừng
- Đẩy mạnh công tác khuyến lâm, công tác khoa học công nghệ, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào trồng rừng
- Huy động mọi nguồn vốn nhà nước, ODA, vốn thuế tài nguyên để đầu tư trồng mới, chăm sóc và bảo vệ rừng
- Thu hút lực lượng cán bộ có năng lực, đào tạo bổ sung nguồn nhân lực có
kỹ thuật cho lĩnh vực nông nghiệp
d Thủy sản:
Nghề đánh bắt hải sản: Chú trọng đầu tư đồng bộ: Phương tiện, ngư cụ, đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật để phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ Chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp theo hướng đánh bắt khơi và xa bờ, đẩy mạnh khai thác hải sản
Trang 37xuất khẩu, đưa sản lượng khai thác ngoài khơi chiếm 70% tổng sản lượng vào đánh
bắt vào năm 2020
Nghề nuôi trồng thủy sản: Nuôi trồng thủy sản trên các loại hình nuôi nước
ngọt, mặn, lợ, nuôi trên cát, chú trong nâng cao hiệu quả các dự án nuôi tôm công
nghiệp Đa dạng hóa các đối tượng nuôi, tập trung vào nuôi các giống có hiệu quả,
thủy đặc sản như nghêu, sò huyết, cá chình, ốc hương, ba ba… nhằm tăng giá trị nuôi
trồng Phấn đấu đến năm 2020 tổng diện tích nuôi trồng thủy hải sản đạt 1494 ha trong
đó diện tích nuôi trồng mặn lợ đạt 826 ha, và nuôi trồng nước ngọt đạt 668 ha
2.2.2.3 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Nâng cao sức cạnh tranh công nghiệp nhằm giảm thiểu những rủi ro và tranh
thủ tối đa các lợi ích trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực Phấn đấu đưa tốc
độ phát triển ngành công nghiệp thời kỳ 2011-2020 tăng bình quân 21-22%
Phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương để hình thành và xây dựng cụm khí
- điện - đạm ở khu vực thuộc huyện Quảng Trạch
Tiếp tục phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế theo hướng tăng tỷ trọng
những mặt hàng tinh chế như: sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm, thủy,
hải sản, hóa chất, cơ khí, điện tử và công nghệ thông tin, dệt may, da dày, thủy điện,
nhiệt điện…
Về tiểu thủ công nghiệp: Chú trọng phát triển khôi phục các ngành nghề
truyền thống, những sản phẩm có thị trường và thu hút nhiều lao động như: mộc mỹ
nghệ, mộc dân dụng, mây tre xuất khẩu, sành sứ, chiếu cói, sửa chữa cơ khí và tàu
thuyền Tiếp tục triển khai mô hình phát triển làng nghề ở các huyện, xây dựng các
dự án điểm về phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề ở nông thôn
để hàng năm có 3-5 cơ sở sản xuất mới ra đời…
Bảng 2.17: Dự kiến các khu, cụm công nghiệp trên lưu vực sông Gianh
Đơn vị : con
1 Khu công nghiệp tập trung 350 350
1.1 Nhà máy thuỷ điện Kim Hoá H Tuyên Hoá 260 260
1.2 Nhà máy Ximăng sông Gianh (xã Tiến Hoá) H Tuyên Hoá 90 90
Trang 382.2.2.4 Dịch vụ
Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có tiềm năng như dịch vụ vận tải biển, bưu chính viễn thông, dịch vụ khoa học công nghệ, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn Đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu
Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại, bao gồm: Các siêu thị tại trung tâm các huyện; chợ đầu mối nông sản nằm rải rác trên địa bàn các huyện Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, tập trung khai thác tiềm năng thế mạnh của di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, đa dạng hóa các loại hình du lịch Đến năm 2015 dự kiến thu hút 1,1-1,2 triệu khách du lịch, năm 2020 đón được 1,4-1,5 triệu khách du lịch
Từng bước hình thành các trung tâm du lịch của vùng: Phong Nha - Kẻ Bàng, Vũng Chùa - Đảo Yến (huyện Quảng Trạch) và Đồng Hới - Đá Nhảy (huyện
Bố Trạch)… gắn với các tuyến du lịch nội tỉnh, liên vùng và quốc tế
2.2.2.5 Các lĩnh vực xã hội
a Phát triển khoa học và công nghệ
Đẩy mạnh việc chuyển giao, ứng dụng các thành tựu về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật kiệu mới, công nghệ tự động hóa; đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong các ngành sản xuất và dịch vụ Hình thành đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ có trình độ cao Phát triển hệ thống thông tin khoa học công nghệ, xây dựng và phát triển ngân hàng dữ liệu, phổ biến thông tin khoa học và công nghệ
b Phát triển giáo dục đào tạo, dạy nghề và nguồn nhân lực
Phấn đấu đến năm 2015, có 35% trường mầm non, 90-95% trường tiểu học, 65% trường THCS, PTTH đạt chuẩn quốc gia Đến năm 2020 có 100% các huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học
Mở rộng quy mô đào tạo nghề, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp
Dự kiến đến năm 2015 có 50% lao động qua đào tạo, trong đó 30-31% được đào tạo nghề Năm 2020 trên 60% lao động qua đào tạo trong đó 40% được đào tạo nghề
c Phát triển y tế, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trang 39Nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh Tiếp tục thực hiện chính sách quốc gia về thuốc, triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu y tế quốc gia Đẩy mạnh công tác phòng chống các bệnh xã hội Triển khai mạnh mẽ các biện pháp kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm Đẩy mạnh việc quản lý và dự phòng các bệnh nghề nghiệp
- Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt 100% vào năm 2020
- Đến năm 2015: 100% trạm y tế có các bác sĩ; đạt tiêu chí 5 bác sĩ/vạn dân; 100% trạm y tế có đủ cán bộ và đảm bảo cơ cấu các chức danh theo quy định Đến năm 2020 đạt 7 bác sĩ/vạn dân, 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế
- Tỷ lệ giường bệnh đến năm 2020 đạt 23-24 giường/vạn dân, 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế
d Dân số, lao động và kế hoạch hóa gia đình
Tỷ lệ phát triển dân số giữ mức từ 0,9-1,0% vào năm 2015 và 0,8-0,9% vào năm 2020
Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lao động Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông, lâm, ngư nghiệp (năm 2015
là 57%, năm 2020 là 50%), tăng lao động công nghiệp - xây dựng (năm 2015 là 22%, năm 2020 là 25,9%), tăng lao động dịch vụ (năm 2015 là 21%, năm 2020 là 24,1%)
e Phát triển văn hóa, thông tin
Đến năm 2015 có 80% số hộ đạt gia đình văn hóa, 60-65% làng bản, tiểu khu, cơ quan, đơn vị đạt làng văn hóa và đơn vị văn hóa, 100% xã phường thi trấn
có thiết chế văn hóa đồng bộ, 100% số xã được phủ sóng truyền hình và phủ sóng phát thanh, 90% số xã có bưu điện văn hóa xã Tương ứng theo các chỉ tiêu trên, đến năm 2020 là: trên 80%, 65-70%, 100%, 90%
Phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng với nhiều đối tượng Tiếp tục thực hiện và mở rộng quá trình chuyên nghiệp hóa thể thao thành tích cao phù hợp với điều kiện của từng vùng
f Công tác giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và các chính sách xã hội khác
Trang 40Phấn đấu giải quyết việc làm và ổn định việc làm bình quân thời kỳ 2011 -
2020 là: 6-7 vạn lao động Giảm tỷ lệ thất nghiệp đến năm 2015 còn 1,8-2%, năm
2020 còn 1,5% so với lao động trong độ tuổi có khả năng lao động
Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2015 còn 7-8%, năm 2020 còn 4-5% theo chuẩn nghèo hiện nay
Phát triển mạng lưới an sinh xã hội Thực hiện tốt cac chính sách xã hội đối với người có công, gia đình thương binh liệt sĩ Nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số
2.2.3 Đánh giá chung về tình hình phát triển kinh tế xã hội
* Thuận lợi: trong quá trình phát triển kinh tế xã hội vùng nghiên cứu có
những thuận lợi:
- Địa bàn vùng nghiên cứu có mạng lưới giao thông đa dạng (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ) là điều kiện thuận lợi để học hỏi, giao lưu văn hoá, vận chuyển và trao đổi hàng hoá với các vùng lân cận và cả nước
- Vùng nghiên cứu có dải bờ biển dài, địa hình dải bờ biển tương đối thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản Vùng biển ngoài khơi có trữ lượng hải sản lớn thuận lợi cho phát triển đánh bắt xa bờ
- Cơ cấu dân số trẻ, nguồn nhân lực phổ thông tương đối dồi dào là điều kiện tốt cho phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
* Khó khăn: bên cạnh những yếu tố thuận lợi thì quá trình phát triển kinh tế
xã hội trong vùng còn gặp nhiều khó khăn thách thức:
- Vùng nghiên cứu nằm trong vùng có điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt Tình trạng thiên tai hàng năm do bão, lũ, hạn hán và xâm nhập mặn gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và ổn định dân cư trong vùng
- Khoảng cách về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp còn rất lớn, là một thách thức gần giải quyết
- Nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc Chất lượng tăng trưởng và sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và cơ cấu lao động còn chậm, chưa hình thành các ngành mũi nhọn, các sản phẩm