Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý bảo vệ bền vững tại vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén.
- Đánh giá các hoạt động quản lý, bảo vệ bền vững và quy hoạch phát triển rừng tại vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén.
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ bền vững tại VQG Phia Oắc - Phia Đén.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã đưa ra các cơ sở khoa học cần thiết để lựa chọn giải pháp quản lý và bảo vệ bền vững tại Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, tỉnh Cao Bằng.
QUAN TÀI LIỆU
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành nguyên tắc quan trọng trong quản lý kinh doanh rừng tại Việt Nam Đây cũng là tiêu chuẩn mà các hoạt động kinh doanh rừng cần đạt được Hiện nay, có hai định nghĩa chính về QLRBV đang được áp dụng trong nước.
Theo ITTO, QLRBV là quá trình quản lý bền vững các lâm phận nhằm đạt được các mục tiêu quản lý rừng rõ ràng, bao gồm việc đảm bảo sản xuất liên tục các sản phẩm và dịch vụ mà không làm giảm giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, đồng thời tránh gây ra tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và xã hội.
Theo Tiến trình Hensinki, Quản lý Rừng Bền Vững (QLRBV) là việc quản lý rừng và đất rừng một cách hợp lý nhằm duy trì đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh và sức sống của rừng Mục tiêu của QLRBV là bảo tồn tiềm năng rừng trong hiện tại và tương lai, đồng thời đảm bảo các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu mà không gây hại cho các hệ sinh thái khác (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2006).
Quản lý rừng bền vững (QLRBV) là hoạt động ngăn chặn tình trạng mất rừng, đảm bảo khai thác và lợi dụng rừng không mâu thuẫn với việc duy trì diện tích và chức năng của rừng Điều này bao gồm sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ, cũng như bảo vệ môi trường, đầu nguồn, chống cát bay và sạt lở đất Mục tiêu của QLRBV là phát huy đồng thời giá trị kinh tế, xã hội và môi trường của rừng, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh.
Bền vững về kinh tế trong ngành lâm nghiệp là việc đảm bảo hoạt động kinh doanh rừng diễn ra liên tục và hiệu quả, với năng suất ngày càng tăng Điều này bao gồm việc không khai thác quá mức tài nguyên rừng, duy trì và phát triển diện tích cũng như trữ lượng rừng, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất rừng.
Bền vững xã hội trong kinh doanh rừng yêu cầu tuân thủ luật pháp và thực hiện nghĩa vụ với cộng đồng Điều này đảm bảo quyền lợi và mối quan hệ tốt đẹp với người dân và cộng đồng địa phương.
Bền vững về môi trường trong kinh doanh rừng đảm bảo khả năng phòng hộ môi trường và duy trì đa dạng sinh học, đồng thời không gây hại cho các hệ sinh thái khác Hiệu quả môi trường của rừng có thể được xác định bằng giá trị kinh tế, giúp giảm chi phí phục hồi và ổn định môi trường sống Do đó, quản lý và sử dụng rừng bền vững là nhiệm vụ cấp bách, là giải pháp quan trọng cho sự tồn tại lâu dài của xã hội và thiên nhiên.
Quản lý tài nguyên rừng bền vững trên thế giới
Hệ sinh thái rừng là một cấu trúc phức tạp, chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài, do đó, tiêu chí quản lý rừng bền vững cần được điều chỉnh liên tục để phù hợp với các hoàn cảnh mới Những tiêu chí này không chỉ cần phản ánh bối cảnh quốc gia mà còn phải xem xét các điều kiện sinh thái, môi trường cụ thể cùng với các yếu tố xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tinh thần.
Thách thức của hệ thống chứng nhận rừng toàn cầu là xây dựng một phương pháp linh hoạt, phản ánh hoàn cảnh riêng của từng quốc gia trong khi vẫn tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế Phương pháp này cần đảm bảo các yêu cầu thực tiễn và tiêu chí cụ thể cho quản lý rừng bền vững toàn cầu, đồng thời được cập nhật liên tục để tích hợp kiến thức mới và điều chỉnh theo nhu cầu thay đổi.
Nhiều khu rừng, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, vẫn chưa được quản lý bền vững Một số quốc gia thiếu chính sách lâm nghiệp, khung thể chế và luật pháp cần thiết để thúc đẩy quản lý rừng bền vững Đồng thời, nhiều quốc gia khác lại gặp khó khăn về kinh phí và năng lực kỹ thuật trong việc quản lý rừng hiệu quả (Nguyễn Hồng Nhung, 2017).
Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được các nước phát triển như Thụy Điển, Nhật Bản và Pháp chú trọng từ sớm, với nhiều giải pháp như đầu tư hạ tầng lâm nghiệp, hỗ trợ hoạt động lâm sinh và cho vay vốn lãi suất thấp Tuy nhiên, tài nguyên rừng toàn cầu và ở Việt Nam đang suy giảm nghiêm trọng về số lượng và chất lượng Theo FAO, trong vài thập kỷ qua, thế giới đã mất hơn 200 triệu ha rừng tự nhiên, nhiều diện tích còn lại cũng đang trong tình trạng thoái hóa về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái.
Vào đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển, đã áp dụng hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập trung, trong khi vai trò của cộng đồng trong việc quản lý rừng chưa được chú trọng Điều này dẫn đến việc khai thác tài nguyên rừng chủ yếu để lấy lâm sản và đất đai cho nông nghiệp, gây ra tình trạng khai thác quá mức và suy thoái nghiêm trọng tài nguyên rừng Để khắc phục tình trạng này, các nhà lâm học Đức như G.L.Hartig, Heyer và Hundeshagen đã nghiên cứu và đề xuất nguyên tắc khai thác bền vững cho các rừng thuần loại đều tuổi.
- 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley - 1922) đã nghiên cứu và đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi (Lê Thiên Vinh, 2007).
Phần Lan là quốc gia có tỷ lệ rừng che phủ lớn nhất ở châu Âu, với 86% diện tích đất là rừng, theo Hiệp hội rừng Phần Lan Rừng không chỉ cung cấp gỗ và thực phẩm như nấm và các loại quả, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp không khí trong lành Hơn nữa, rừng là nơi sinh sống của nhiều loài thực vật, động vật, côn trùng và vi sinh vật, góp phần duy trì hệ sinh thái đa dạng.
Người dân Phần Lan rất chú trọng đến quản lý rừng bền vững, nhận thức rõ tầm quan trọng của rừng trong đời sống hàng ngày Rừng không chỉ cung cấp tài nguyên mà còn đóng vai trò thiết yếu trong bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái.
19, Đạo luật Rừng đầu tiên đã được Chính phủ Phần Lan thông qua vào năm
1886, trong đó có điều luật cấm phá rừng (Robert Munroe, 2013).
Ngày nay, quyền sở hữu rừng được pháp luật bảo vệ và chứng nhận tự nguyện, yêu cầu chủ rừng trồng rừng mới thay thế sau khai thác Hầu hết các khu rừng thương mại tại Việt Nam được chứng nhận PEFC (90%) và FSC (6%), thiết lập tiêu chuẩn lâm sinh và nâng cao đa dạng sinh học Theo Hiệp hội Lâm nghiệp Phần Lan, diện tích rừng được bảo vệ tại đây đã tăng gấp 3 lần trong 35 năm qua.
Việc sử dụng gỗ từ các nguồn được chứng nhận giúp các công ty đảm bảo tính hợp pháp và khả năng truy nguyên của gỗ, ngăn chặn hoạt động xuất - nhập gỗ và bột giấy bất hợp pháp Mỗi cây được thu hoạch sẽ được thay thế bằng 4 cây con mới, góp phần vào sự bền vững trong quản lý rừng Tính bền vững này còn thể hiện qua việc sử dụng tối ưu từng phần của cây, giảm thiểu chất thải trong quá trình sản xuất Cụ thể, thân cây chính được dùng cho xây dựng, phần nhỏ hơn cho bột giấy, và cành cây trở thành nguyên liệu cho năng lượng sinh học (Robert Munroe, 2013).
Thụy Điển, quốc gia châu Âu xếp thứ 15 thế giới về độ phủ xanh với 69,2% diện tích đất là rừng, xác định tính bền vững qua các lĩnh vực kinh tế, xã hội và sinh học Tính bền vững được coi là nền tảng cho sự phát triển lâm nghiệp của đất nước này (Robert Munroe, 2013).
Sự bền vững kinh tế trong ngành lâm nghiệp đảm bảo rằng việc sản xuất gỗ mang lại lợi nhuận đủ để duy trì hoạt động và quản lý hiệu quả Bền vững xã hội liên quan đến quyền lợi của người lao động, dân số địa phương và các cơ hội giải trí, nhằm đảm bảo sự phát triển lâu dài cho cộng đồng Đồng thời, tính bền vững sinh học tập trung vào khả năng sản xuất bền vững của đất đai, bảo tồn các quá trình sinh thái tự nhiên và duy trì đa dạng sinh học (Robert Munroe, 2013).
Tại Thụy Điển, quản lý rừng bền vững phải tuân thủ quy định pháp luật, yêu cầu tái sinh và trồng rừng mới sau thu hoạch Ngoài Luật lâm nghiệp, Thụy Điển còn áp dụng chứng nhận quốc tế tự nguyện FSC và PEFC, với khoảng 2/3 diện tích đất lâm nghiệp được chứng nhận theo các quy tắc này.
Chính phủ Thụy Điển coi rừng là nguồn tài nguyên vô hạn quan trọng, khi được quản lý hợp lý Cây xanh không chỉ hấp thụ CO2 từ khí quyển trong quá trình phát triển mà còn tiếp tục cô lập CO2 trong suốt vòng đời của các sản phẩm gỗ Trong một năm điển hình, lượng CO2 mà Thụy Điển thu được từ việc quản lý rừng và sản phẩm gỗ đã vượt qua lượng CO2 phát thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong vận tải (Robert Munroe, 2013).
Thụy Điển có thể giảm đáng kể lượng khí thải CO2 thông qua việc kết hợp quản lý rừng hiệu quả với việc sử dụng dư lượng gỗ đã khai thác để sản xuất năng lượng và các sản phẩm từ gỗ.
Kinh nghiệm quản lý rừng bền vững của Thụy Điển không chỉ thúc đẩy tăng trưởng ròng mà còn bảo vệ đa dạng sinh học, tạo ra một mô hình quan trọng giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Quản lý tài nguyên rừng bền vững ở Việt Nam
1.3.1 Một số chương trình, hội nghị đánh giá công tác quản lý rừng bền vững
Tại Việt Nam, hàng triệu người phụ thuộc vào rừng, và họ thường là những người hiểu biết nhất về hệ sinh thái này Những cộng đồng này đóng vai trò quan trọng trong việc tìm ra các phương pháp bảo vệ rừng hiệu quả cho các thế hệ tương lai.
Sự mở rộng không bền vững của độc canh, chủ yếu để trồng cây cao su và cây keo, là nguyên nhân chính gây ra nạn phá rừng ở Việt Nam WWF đang nỗ lực thay đổi tình hình này bằng cách vận động chuỗi cung ứng, từ các công ty quốc tế đến nông dân, nhằm tạo ra một thị trường bền vững cho các sản phẩm không gây hại cho rừng.
Để giảm động cơ chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, WWF hỗ trợ các hộ trồng cây keo tại Việt Nam đạt chứng chỉ FSC, chứng nhận sản phẩm từ rừng đảm bảo trách nhiệm môi trường và lợi ích xã hội WWF cũng giúp các chủ rừng nhỏ thành lập hợp tác xã đồng sở hữu, nơi họ có thể bán gỗ có chứng chỉ Mô hình hợp tác xã này giúp họ trở thành các chủ thể kinh doanh hợp pháp, tiếp cận nguồn tài chính tốt hơn và tạo ra chu kỳ thu hoạch dài hơn, an toàn hơn về tài chính cho cộng đồng.
Quản lý bền vững rừng sản xuất không chỉ tăng năng suất mà còn giảm thiểu áp lực lấn chiếm đất rừng tự nhiên, góp phần bảo vệ môi trường (WWF Việt Nam).
Vào ngày 1 tháng 12 năm 2017, Hội nghị công tác quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ toàn quốc được tổ chức tại Thừa Thiên - Huế, với mục tiêu tìm kiếm các giải pháp hiệu quả hơn trong việc quản lý hệ thống rừng đặc dụng và rừng phòng hộ tại Việt Nam.
Vào ngày 15/11/2017, Quốc hội khóa 14 đã thông qua Luật Lâm nghiệp tại kỳ họp thứ tư, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc phát triển ngành Lâm nghiệp Luật này khẳng định vai trò của Lâm nghiệp như một ngành kinh tế kỹ thuật, liên kết chặt chẽ từ quản lý, bảo vệ, phát triển rừng cho đến sử dụng, chế biến và thương mại lâm sản.
Năm 2017 đánh dấu sự khởi đầu của Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 886 của Thủ tướng Chính phủ Mục tiêu của chương trình là đạt giá trị sản xuất lâm nghiệp từ 5,5 đến 6,0% mỗi năm, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42% và diện tích rừng các loại lên tới 14,4 triệu ha vào năm 2020.
Vào ngày 10 tháng 5 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Tăng cường năng lực quản lý hệ thống khu bảo tồn, cùng với Kế hoạch hành động khẩn cấp để bảo tồn linh trưởng tại Việt Nam, với mục tiêu đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
Từ ngày 20 đến 22 tháng 11 năm 2018, Hội nghị công tác quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ năm 2018 đã được tổ chức tại Thành phố Đồng Hới, do Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với BQL VQG Phong Nha - Kẻ Bàng Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo Vụ quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ đã trình bày kết quả công tác quản lý trong năm 2018 cùng với những nhiệm vụ trọng tâm cho năm tiếp theo.
2019 Trong năm các khu rừng đặc dụng đã phát hiện và xử lý 1.075 vụ vi phạm, có 10 vụ chống người thi hành công vụ (giảm 66% so với năm 2017); có
Năm 2018, đã có 97 đề tài nghiên cứu, tăng 31% so với năm 2017, trong khi rừng phòng hộ ghi nhận 288 vụ vi phạm Từ 164 khu rừng đặc dụng, 61 khu tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, thu hút hơn 1,5 triệu lượt khách, ước tính đạt 1,86 triệu lượt trong năm, với doanh thu dự kiến 175 tỷ đồng, tăng 28% so với năm trước VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đón 771.711 lượt khách, doanh thu đạt 223,1 tỷ đồng, chiếm 30% tổng số du khách đến các VQG cả nước Hội nghị đã trình bày 12 báo cáo chuyên đề về bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên, và đa dạng sinh học, đồng thời đánh giá kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2018 và nhiệm vụ năm 2019, cùng với việc triển khai Luật Lâm nghiệp năm 2019 Các nhóm thảo luận tập trung vào cơ chế tài chính bền vững, quản lý và bảo vệ rừng, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao chất lượng bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.
Hội nghị năm 2019 xác định các nhiệm vụ trọng tâm bao gồm: Triển khai Luật Lâm nghiệp và các nghị định hướng dẫn có hiệu lực từ 1/1/2019; quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ; thúc đẩy nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái trong các khu rừng này; và tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác bảo tồn thiên nhiên.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Chỉ thị số 1788/CT-BNN-TCLN nhằm xác định nhiệm vụ và giải pháp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng Chỉ thị này cũng đề cập đến việc cho thuê môi trường rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ tài nguyên rừng và phát triển bền vững.
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, phòng hộ, với việc thành lập 395 khu rừng quản lý 6,75 triệu ha, tập trung vào các hệ sinh thái đặc trưng Những khu rừng này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, phòng hộ đầu nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời góp phần thích ứng với biến đổi khí hậu Công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường cũng đã nâng cao giá trị cảnh quan thông qua các dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái, tạo sinh kế và cải thiện đời sống cho người dân.
Công tác quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ hiện đang gặp phải nhiều vấn đề, bao gồm tình trạng phá rừng và khai thác lâm sản trái phép Hạ tầng và trang thiết bị liên quan chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến việc đầu tư không tương xứng với mục tiêu bảo vệ rừng Tiềm năng và lợi thế của môi trường rừng bền vững chưa được khai thác hiệu quả, khiến cho nguồn tài chính cho việc tái đầu tư vào rừng chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.
1.3.2 Nghiên cứu Quy định về quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
1.3.2.1 Nội dung phương án quản lý rừng bền vững đối với rừng đặc dụng
Theo Điều 5, Thông tư Số: 28/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm
2018 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 quy định về nội dung phương án quản lý rừng bền vững đối với rừng đặc dụng:
1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; thực trạng hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học, di tích lịch sử - văn hóa, cảnh quan: a) Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, rừng, hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học, di tích lịch sử - văn hóa, cảnh quan trong phạm vi của khu rừng; đánh giá điều kiện tự nhiên về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thủy văn, thổ nhưỡng và kinh tế - xã hội theo số liệu thống kê; b) Tổng hợp đặc điểm dân số, lao động, dân tộc, thu nhập bình quân đầu người/năm theo Mẫu số 01 Phụ lục VII kèm theo Thông tư này; c) Tổng hợp, đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng về giao thông theo Mẫu số
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu
Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén tọa lạc tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, bao gồm 05 xã là Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh, Hưng Đạo và thị trấn Tĩnh Túc.
- Có Tọa độ địa lý:
+ Từ 22°31'44" đến 22°39'41" vĩ độ Bắc;
+ Từ 105°49'53" đến 105°56'24" kinh độ Đông.
Hình 1.1: Sơ đồ vị trí vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén
1.4.1.2 Địa hình, đất đai a Địa hình
Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén sở hữu địa hình đa dạng với độ dốc lớn, bao gồm các khu vực dốc và núi đất xen lẫn núi đá vôi Địa hình nơi đây cao dần từ phía Đông sang phía Tây và từ phía Nam lên phía Bắc.
- Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao ≥700m, chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên của VQG, cao nhất là đỉnh núi Phia Oắc 1.931 m;
Kiểu địa hình của VQG chủ yếu là núi thấp và đồi, với độ cao dưới 700m, chiếm khoảng 7% tổng diện tích tự nhiên Khu vực này bao gồm các dãy núi đất và địa hình caster, phân bố chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam, có độ dốc trung bình từ 25 đến 30 độ và độ cao trung bình khoảng 600m.
Địa hình thung lũng, lòng chảo và dốc tụ chiếm khoảng 3% tổng diện tích tự nhiên, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình Phần lớn diện tích này hiện đang được sử dụng cho canh tác nông nghiệp.
Theo tài liệu thổ nhưỡng của huyện Nguyên Bình, trên địa bàn có những loại đất chính sau:
- Đất Feralit mầu đỏ nâu trên núi đá vôi: Phân bố tập trung ở độ cao từ 700m - 1700m so với mặt nước biển.
Đất Feralít màu vàng nhạt ở vùng núi cao có quá trình Feralít yếu và quá trình mùn hoá mạnh, thích hợp cho nhiều loại cây trồng như Thông, Sa mộc, Tông dù, Lát hoa, Dẻ đỏ, Trẩu, Sở cùng với các loại cây đặc sản, cây thuốc và cây ăn quả khác.
Đất Feralít màu đỏ vàng núi thấp phân bố ở độ cao từ 300m đến 700m, hình thành từ các loại đá mẹ như mácma a xít, trung tính kiềm, đá sạn kết và đá vôi Loại đất này chứa ít khoáng nguyên sinh, có phản ứng chua và thích hợp cho nhiều loài cây trồng như Thông, Sa mộc, Tông dù, Kháo vàng, Cáng lò, Lát hoa, Keo, Dẻ đỏ, Trẩu, Sở, Hồi, Quế, Chè đắng cùng một số cây thuốc và cây ăn quả khác.
Đất bồn địa và thung lũng bao gồm đất phù sa mới, cũ, sản phẩm đất dốc tụ và sản phẩm hỗn hợp, thường được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp.
Theo tài liệu quan trắc khí tượng thủy văn huyện Nguyên Bình, khí hậu nơi đây mang đặc trưng của khí hậu lục địa miền núi cao, được chia thành hai tiểu vùng khí hậu khác nhau Vùng cao có khí hậu cận nhiệt đới, trong khi vùng thấp chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nơi đây có hai mùa rõ rệt trong năm.
Mùa mưa ở khu vực này kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85,4% tổng lượng mưa hàng năm, với đỉnh điểm rơi vào các tháng 7 và 8 Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.592 mm, trong đó năm có lượng mưa cao nhất là 1.736 mm và năm thấp nhất là 1.466 mm.
Mùa khô tại khu vực này diễn ra từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Thời tiết trong mùa này thường có nhiệt độ thấp, lượng mưa ít và xuất hiện nhiều sương mù.
Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 18°C, với nhiệt độ cao nhất thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 9, dao động từ 24,5°C đến 26,9°C, có lúc lên tới 34°C Ngược lại, nhiệt độ thấp nhất xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có thể giảm xuống mức -2°C đến -5°C.
- Độ ẩm tương đối bình quân cả năm là 84,3%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 là trên 87%, thấp nhất vào tháng 12 là 80,5%.
Sương mù thường xuất hiện vào sáng sớm, chiều tối và đêm trong suốt năm, với điểm sương mù nặng nhất tại đỉnh đèo Colea Đặc biệt, khi nhiệt độ giảm xuống thấp, khu vực đỉnh Phia Oắc và đèo Colea còn ghi nhận hiện tượng mưa tuyết.
VQG Phia Oắc - Phia Đén là nguồn gốc của nhiều con sông như Sông Hiến, Sông Năng và Sông Thể Dục, với hệ thống suối dày đặc, trung bình 2 km suối trên 1 km², cung cấp nước quanh năm, đặc biệt nhiều vào mùa mưa Tuy nhiên, do địa hình chia cắt mạnh và sự hiện diện của núi đá vôi, tài nguyên nước phân bố không đồng đều, gây khó khăn cho việc khai thác nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, đặc biệt tại xóm Phia Đén và các thung lũng Karts.
Khu rừng có diện tích rộng và địa hình phức tạp, trong khi ranh giới giữa các phân khu chức năng chưa được xác định rõ ràng, đặc biệt là ranh giới giữa rừng đặc dụng và các loại đất khác, gây khó khăn cho công tác quản lý Hơn nữa, cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc bảo tồn đa dạng sinh học và các hoạt động của đơn vị quản lý còn thiếu đầu tư.
Khu vực VQG Phia Oắc - Phia Đén có khí hậu lục địa miền núi cao, với mùa hè mát mẻ và mùa đông lạnh giá, đặc biệt nhiệt độ có thể xuống thấp kèm theo sương mù và sương muối, điều này gây khó khăn cho các hoạt động sản xuất lâm nghiệp Mặc dù hệ thống thuỷ văn không lớn, nhưng đây là nguồn gốc của các con sông như Sông Hiến, Sông Năng và Sông Thể Dục, có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển sản xuất kinh doanh cũng như công tác bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái, động thực vật quý hiếm.
1.4.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng
Thông tin ở phần này được tác giả tổng hợp từ “Niêm giám thống kê” của
Chi cục Thống kê huyện Nguyên Bình và các báo cáo của VQG năm 2019.
1.4.2.1 Điều kiện dân sinh a Dân số, dân tộc và phân bố dân cư
Nằm trong VQG và khu vực vùng đệm có 42 thôn/xóm (31 thôn/xóm và
Các phân khu chức năng của VQG Phia Oắc - Phia Đén
1.5.1 Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt
- Tổng diện tích 4.035,5 ha, chiếm 38,1% nằm tại Tiểu khu 338, 352 xã Thành Công; Tiểu khu 333, 334 xã Quang Thành; Tiểu khu 327, 337 xã Phan Thanh; Tiểu khu 321, 322 thị trấn Tĩnh Túc.
Phân khu này sở hữu hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới núi trung bình, với các trạng thái rừng tự nhiên đang phục hồi Đây là khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao, với nguồn tài nguyên động, thực vật phong phú Diện tích và không gian đủ lớn giúp phát triển mạnh mẽ cho hệ sinh thái động thực vật, tạo thành các khu vực liền kề, liên khoảnh.
- Được bao quanh bởi phân khu phục hồi sinh thái, có tác dụng như một vùng đệm bảo vệ khỏi các mối đe dọa bên ngoài.
Ranh giới giữa các tiểu khu rừng và hệ sinh thái được xác định rõ ràng, dễ nhận biết tại thực địa thông qua các đặc điểm địa hình và địa vật đặc trưng.
Bảng 1.1: Đặc trưng cơ bản phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
TT Dấu hiệu xem xét Đặc trưng cơ bản Điểm nhấn
- Thị trấn Tĩnh Túc Ranh giới đi theo đường mòn
- Xã Quang Thành Ranh giới đi theo đường phân thuỷ
- Xã Thành Công Ranh giới đi theo đường phân thuỷ
- Xã Phan Thanh Từ độ cao ≥1200 m
2 Quy mô Diện tích: 4.035,5 ha
3 Đặc trưng Đa phần diện tích là rừng tự nhiên Loài đặc hữu, quý hiếm
4 Nhiệm vụ chính Bảo tồn và phát triển bền vững Quản lý, bảo vệ và nghiên cứu
1.5.1.2 Chức năng a Chức năng bảo tồn hệ sinh thái và sinh cảnh:
+ Bảo tồn hệ sinh thái ở trạng thái “nguyên sinh” và “ít bị tác động” tự nhiên hoặc gần với tự nhiên;
+ Đảm bảo các quá trình tái sinh tự nhiên được diễn ra mà không có sự can thiệp của con người;
Bảo vệ hệ sinh thái rừng lùn, hay còn gọi là “rừng rêu,” là nhiệm vụ quan trọng nhằm duy trì đặc trưng khí hậu ôn đới của miền Bắc Việt Nam Hệ sinh thái này không chỉ có giá trị về mặt sinh thái mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn các loài thực vật và động vật quý hiếm, có nguy cơ bị đe dọa, đặc hữu và nhạy cảm.
Bảo vệ các khu vực thiết yếu cho nhân giống và nuôi dưỡng động vật, đồng thời ngăn chặn khai thác trái phép và bảo vệ sự ổn định của các sinh cảnh tự nhiên.
+ Bảo vệ các sinh cảnh quan trọng của các loài động thực vật nguy cấp quý hiếm hoặc có giá trị khoa học và kinh tế cao.
Các khu vực bảo tồn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh sản và phục hồi các loài thương mại như cá mà không gây xáo trộn hệ sinh thái Chúng hoạt động như các khu vực lõi trong mạng lưới sinh thái, giúp bảo tồn các cảnh quan và hệ sinh thái Ngoài ra, những khu vực này cũng cho phép nghiên cứu và giám sát quá trình diễn thế tự nhiên của các hệ sinh thái và loài mà không có sự can thiệp từ con người Cuối cùng, chúng giúp giảm nguy cơ đe dọa cho các hệ sinh thái và sinh cảnh, bảo vệ các khu vực có nguy cơ cao như khu vực cháy rừng.
Bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên là rất quan trọng, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường sống Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu khoa học mà còn hỗ trợ giáo dục và đào tạo về bảo tồn thiên nhiên.
Các tuyến đường mòn được thiết kế với chiều rộng tối đa 1,5 m, bao gồm các điểm ngắm động vật, điểm dừng chân và biển chỉ dẫn cho hệ thống đường tuần tra, nhằm phục vụ du lịch sinh thái và các điểm quan sát Quá trình thi công cần đảm bảo không làm ảnh hưởng đến môi trường và đa dạng sinh học.
Tận dụng các khu vực không có rừng trong phân khu để phát triển đồng cỏ tự nhiên sẽ tạo ra nguồn thức ăn phong phú và môi trường sống cho nhiều loài động vật.
1.5.1.4 Quản lý phân khu bảo vệ nghiêm ngặt a Các hoạt động trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt được thực hiện theo quy định của Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 và Nghị định số: 156/2018/NĐ- CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp.
Khách tham quan có cơ hội quan sát động vật hoang dã và các hệ sinh thái tại những khu vực được giám sát bởi Vườn quốc gia Tuy nhiên, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, tất cả các hoạt động như săn bắn, khai thác tài nguyên và xâm phạm môi trường đều bị cấm.
Các hoạt động tiếp cận của con người, ngoại trừ việc tuần tra và thực thi luật pháp, cũng như tiến hành các nghiên cứu quan trọng không gây hại, đều được giám sát theo các quy định liên quan nhằm đảm bảo quản lý hiệu quả.
Xây dựn g các côn g trình dài hạn dưới mọi hình thức
Hoạ t độn g làm thay đổi quá trìn h tự nhiê n của hệ sinh thái độn g, thực
- Hoạt động thu hái hoặc hái lượm;
- Các hoạt động khác có ảnh hưởng đến phân khu bảo vệ nghiêm ngặt bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.
1.5.2 Phân khu phục hồi sinh thái
- Tổng diện tích 6.417,1 ha; thuộc Tiểu khu 337A, 338, 345, 352, 353,
355 xã Thành Công; Tiểu khu 328, 329, 333, 334 xã Quang Thành; Tiểu khu
327, 337 xã Phan Thanh; Tiểu khu 344, 347 xã Hưng Đạo và Tiểu khu 321,
Các trạng thái rừng tự nhiên trong phân khu này đã chịu tác động mạnh và hiện đang trong giai đoạn phục hồi, tuy vẫn giữ được một số đặc trưng tự nhiên Số lượng loài động thực vật đặc hữu quý hiếm ở đây không nhiều và không tập trung.
Phân khu này được quản lý và bảo vệ nhằm phục hồi hệ sinh thái, đa dạng sinh học và nguồn lợi tự nhiên, mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng Trong tương lai, một số diện tích trong khu vực có thể được bổ sung vào phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
- Phân khu phục hồi sinh thái có thiết kế bao quanh và làm vùng đệm cho Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
Phân khu phục hồi sinh thái tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, cần được thiết lập nhằm phục hồi và phát triển các hệ sinh thái rừng, bảo vệ môi trường, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu chính là thực hiện chức năng bảo tồn và phát triển bền vững cho khu vực này.
Bảng 1.2: Đặc trưng cơ bản phân khu phục hồi sinh thái
TT Dấu hiệu xem xét Đặc trưng cơ bản Điểm nhấn
Nằm phía dưới của phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt đến ranh giới VQG
2 Quy mô Diện tích: 6.417,1 ha
3 Đặc trưng Thảm thực vật rừng bị phá vỡ, đang trong giai đoạn phục hồi Động thực vật rừng có nguy cơ bị xâm hại
4 Nhiệm vụ chính Phục hồi và phát triển bền vững Quản lý, BV phục hồi rừng
Trong phân khu này, các trạng thái rừng tự nhiên đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và đang trong quá trình phục hồi, tuy vẫn giữ được một số đặc trưng tự nhiên Tuy nhiên, số lượng loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm ở đây không nhiều và không tập trung.
1.5.2.2 Chức năng a Chức năng bảo tồn hệ sinh thái và sinh cảnh