1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá xu thế nguyên nhân tác động của biến động nguồn nước đến phát triển kinh tế xã hội tỉnh thái bình đề xuất giải pháp quản lý phát triển bền vững

101 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian nghiên cứu, đến nay luận văn Thạc sĩ với đề tài: " Nghiên cứu đánh giá xu thế, nguyên nhân và tác động của biến động nguồn nước đến phát triển kinh tế xã hộ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Tuấn Anh, tôi xin cam đoan đề tài luận văn của tôi là do tôi làm Những kết quả nghiên cứu là trung thực Trong quá trình làm tôi có tham khảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và cấp thiết của đề tài Các tài liệu trích dẫn rõ nguồn gốc và các tài liệu tham khảo được thống kê chi tiết Những nội dung và kết quả trình bày trong Luận văn là trung thực, nếu vi phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ

Nguyễn Tuấn Anh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu, đến nay luận văn Thạc sĩ với đề tài: " Nghiên cứu đánh giá xu thế, nguyên nhân và tác động của biến động nguồn nước đến phát triển kinh

tế xã hội tỉnh Thái Bình, đề xuất giải pháp quản lý, phát triển bền vững " đã được

hoàn thành tại Trường Đại học Thủy lợi với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, của các đồng nghiệp và bạn bè

Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn và PGS.TS Ngô Văn Quận, người đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước Trường đại học Thủy lợi, lãnh đạo và các anh chị đang công tác tại trường Đại học Thái Bình đã giúp

đỡ, tạo điều kiện và dành thời gian cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài luận văn này

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG NGUỒN NƯỚC VÀ CÁC TÁC ĐỘNG LIÊN QUAN 4

1.1 Nguồn nước và biến động nguồn nước 4

1.1.1 Tổng quan trên thế giới 4

1.1.2 Nguồn nước ở Việt Nam 5

1.2 Tổng quan vùng nghiên cứu 9

1.2.1 Vị trí địa lý 9

1.2.2 Điều kiện địa chất 10

1.2.3 Đặc điểm khí tượng 11

1.2.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 12

1.2.5 Đặc điểm dân cư 13

1.2.6 Hiện trạng phát triển kinh tế 14

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA NGUỒN NƯỚC TỈNH THÁI BÌNH VÀ CÁC TÁC ĐỘNG LIÊN QUAN 18

2.1 Hiện trạng nguồn nước 18

2.1.1 Nguồn nước mặt 18

2.1.2 Nguồn nước ngầm (nước dưới đất) 19

2.2 Hiện trạng khai thác, sử dụng nước 20

2.2.1 Khai thác, sử dụng nước cho nông nghiệp 20

2.2.2 Khai thác, sử dụng nước cho công nghiệp 23

2.2.3 Khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt dịch vụ 24

2.3 Nguồn nước đến tỉnh Thái Bình 26

2.3.1 Tổng lượng tài nguyên nước mưa 26

2.3.2 Tổng lượng tài nguyên nước mặt 28

2.4 Xu thế và nguyên nhân biến động nguồn nước 31

2.4.1 Biến động nguồn nước do biến đổi khí hậu 31

2.4.2 Tác động của xâm nhập mặn 33

2.4.3.Tác động của ô nhiễm nguồn nước 34

2.4.4 Tác động của hoạt động khai thác thượng nguồn 46

2.4.5 Tác động của biến đổi lòng dẫn 47

2.5 Xu thế biến động nhu cầu sử dụng nước 49

2.5.1 Xu thế phát triển kinh tế xã hội 49

2.5.2 Căn cứ tính toán nhu cầu sử dụng nước hiện tại và năm 2030 54

2.5.3 Xác định nhu cầu dùng nước đến năm 2030 67

2.5.4 Xu thế biến động về nhu cầu sử dụng nước 72

2.6 Đánh giá các vấn đề nảy sinh do biến động nguồn nước 74

2.6.1 Thiếu hụt nước cấp so với nhu cầu sử dụng nước 74

2.6.2 Các vấn đề và mâu thuẫn có thể nảy sinh 75

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC PHỤC VỤ SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH THÁI BÌNH 80

3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 80

3.1.1 Biến động về chất lượng nước 80

Trang 4

3.1.2 Biến động về số lượng nước 81

3.2 Giải pháp công trình 82

3.3 Giải pháp phi công trình 86

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC……… ……… 86

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân bố dân cư theo các đơn vị hành chính 14

Bảng 1.2 Giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Thái Bình 15

Bảng 1.3 Diện tích nuôi trồng thủy sản tỉnh Thái Bình 16

Bảng 1.4 Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu phân theo loại hình kinh tế 17

Bảng 2.1 Hiện trạng cống lấy nước trên sông trục chính tỉnh Thái Bình 21

Bảng 2.2 Tổng hợp hiện trạng trạm bơm tưới, tưới tiêu kết hợp tỉnh Thái Bình 23

Bảng 2.3: Hiện trạng khai thác nước cho công nghiệp tỉnh Thái Bình 24

Bảng 2.4 Tỷ lệ đấu nối sử dụng nước sạch khu vực nông thôn 24

Bảng 2.5 Tỷ lệ khai thác nước tập trung cho sinh hoạt phân theo nguồn nước 25

Bảng 2.6: Số lượng giếng khai thác nước trên khu vực tỉnh Thái Bình 25

Bảng 2.7 Tổng lượng nước trung bình năm của tỉnh Thái Bình 26

Bảng 2.8 Tổng hợp tài nguyên nước mặt do mưa sinh ra trên địa bàn tỉnh 27

Bảng 2.9 Phân phối dòng chảy và tổng lượng bình quân tháng theo lưu vực 27

Bảng 2.10 Các vị trí trích xuất lưu lượng dòng chảy 28

Bảng 2.11 Tổng lượng tài nguyên nước từ các sông chính qua địa bàn tỉnh Thái Bình29 Bảng 2.12 Phân phối dòng chảy, tổng lượng tài nguyên nước từ các con sông chính 29 Bảng 2.13 Độ mặn trung bình (STB) tháng trên một số sông chính tỉnh Thái Bình [4]34 Bảng 2.14 Khoảng cách xâm nhập mặn trên một số sông chính tỉnh Thái Bình [4] 34

Bảng 2.15 Giá trị giới hạn các thông số chất lượng nước mặt [6] 35

Bảng 2.16 Nồng độ NH4+ và PO43- trung bình tại ngã ba Phúc Khánh và sông Long Hầu từ năm 2014-2018 (mg/l) 36

Bảng 2.17 Hàm lượng COD và BOD5 trung bình tại ngã ba Phúc Khánh và sông Long Hầu từ năm 2014-2018 (mg/l) 37

Bảng 2.18 Hàm lượng các chất COD, BOD5 trên sông Hồng trong năm 2018 (mg/l) 38 Bảng 2.19 Hàm lượng COD, BOD5 trên sông Hóa và sông Luộc trong năm 2018 (mg/l) 39

Bảng 2.20 Hàm lượng COD, BOD5 trên sông Trà Lý trong năm 2018 (mg/l) 40

Bảng 2.21 Hàm lượng COD, BOD5 trên sông Kiến Giang trong năm 2018 (mg/l) 41

Bảng 2.22 Nồng độ các chất NH4+ , PO43- trên sông Kiến Giang năm 2018 (mg/l) 42

Bảng 2.23 Hàm lượng COD và BOD5 trên sông nội đồng năm 2018 (mg/l) 43

Bảng 2.24 Mức độ suy giảm lượng bùn cát về các cửa sông [4] 49

Bảng 2.25 Các chỉ tiêu quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản 51

Bảng 2.26 Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp tỉnh Thái Bình 53

Bảng 2.27: Trạm khí tượng Thái Bình 57

Bảng 2.28: Số liệu khí tượng trạm Thái Bình từ năm 1997 - 2016 [8] 58

Bảng 2.29: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tháng thời kỳ cơ sở năm 1986-2005 và năm 2030 (P=85%) 59

Bảng 2.30 Hệ số sinh lý cây trồng theo các giai đoạn phát triển 59

Bảng 2.31 Tổng hợp diện tích gieo cấy tỉnh Thái Bình đến năm 2030 60

Bảng 2.32 Mức tưới các loại cây trồng trong khu vực 61

Bảng 2.33 Diện tích nuôi trồng thủy sản đến năm 2030 62

Tiêu chuẩn cấp nước nuôi trồng thủy sản theo nghiên cứu của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình thể hiện ở bảng 2.23 [9]: 62

Trang 6

Bảng 2.34 Tiêu chuẩn cấp nước cho nuôi trồng thủy sản nước ngọt 62

Bảng 2.35 Tổng hợp đàn gia súc, gia cầm tỉnh Thái Bình đến năm 2030 63

Bảng 2.36 Tiêu chuẩn cấp nước cho các loại vật nuôi [10] 64

Bảng 2.37: Dân số các thời kỳ trong vùng nghiên cứu 66

Bảng 2.38 Tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt của tỉnh Thái Bình [11] 66

Bảng 2.39 Tiêu chuẩn cấp nước cho hoạt động dịch vụ, công cộng 67

Bảng 2.40 Dự báo nhu cầu nước tưới theo đơn vị hành chính 68

Bảng 2.41 Dự báo nhu cầu nước thủy sản theo đơn vị hành chính 69

Bảng 2.42 Dự báo nhu cầu nước chăn nuôi theo đơn vị hành chính 69

Bảng 2.43 Tổng nhu cầu nước cho nông nghiệp theo đơn vị hành chính 70

Bảng 2.44 Dự báo nhu cầu nước công nghiệp theo đơn vị hành chính 71

Bảng 2.45 Dự báo nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt, dịch vụ theo đơn vị hành chính 72 Bảng 2.46 Tổng nhu cầu nước tỉnh Thái Bình theo đơn vị hành chính 72

Bảng 2.47: Tỷ trọng nhu cầu nước tỉnh Thái Bình 74

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình 10 Hình 1.2: Diện phân bố và đặc tính nước dưới đất tầng chứa Holoxen (a) và Pleistoxen (b) vùng đồng bằng Bắc Bộ 20 Hình 2.1 Xu thế biến đổi của lượng mưa năm, mùa mưa và mùa khô tại Thái Bình [4]31 Hình 2.2 Mức độ xâm nhập mặn kịch bản hiện trạng và năm 2050 [4] 34 Hình 2.3 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng NH4+ và PO43- tại ngã ba Phúc 36 Khánh và sông Long Hầu từ năm 2014-2018 (mg/l) 36 Hình 2.4 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD và BOD5 ngã ba Phúc Khánh và sông Long Hầu từ năm 2014 - 2018 (mg/l) 37 Hình 2.5 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD, BOD5 trên sông Hồng năm 2018 (mg/l)38 Hình 2.6 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD, BOD5 trên sông Luộc và sông Hóa (mg/l) 39 Hình 2.7 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD, BOD5 trên sông Trà Lý năm 2018 (mg/l) 40 Hình 2.8: Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD, BOD5 sông Kiến Giang năm 2018 (mg/l)41 Hình 2.9 Biểu đồ biểu diễn Nồng độ các chất NH4+ , PO43- trên sông Kiến Giang

2018 (mg/l) 42 Hình 2.10 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD trên sông nội đồng năm 2018 (mg/l) 44 Hình 2.11 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng BOD5 trên sông nội đồng năm 2018 (mg/l) 45 Hình 2.12 Diễn biến mực nước và lưu lượng thời kỳ mùa kiệt (tháng 1 và tháng 2 tại

Hà Nội) [4] 48 Hình 2.13 Diễn biến bùn cát tại một số vị trí trước và sau khi có hồ Hòa Bình [4] 48 Hình 2.14 Cơ cấu nhu cầu nước tỉnh Thái Bình 74

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

KT - XH Kinh tế - xã hội

KCN, CCN TCXD

LVS

Khu công nghiệp, cụm công nghiệp Tiêu chuẩn xây dựng

Lưu vực sông

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tác động của biến đổi khí hậu và các hiện tượng cực đoan về thời tiết đã làm thay đổi rất lớn nguồn nước đến tại các lưu vực sông ở Việt Nam, trong đó có hệ thống sông Hồng - Thái Bình Bên cạnh yếu tố tự nhiên thì việc khai thác sử dụng nguồn nước trên dòng chính như thủy điện, khai thác khoáng sản, khai thác vật liệu xây dựng, v.v cũng gây ra nhiều tác động bất lợi cho vùng hạ du Thực tế qua số liệu thống kê của các cơ quan chuyên ngành cho thấy lượng nước về hạ du trong mùa khô của hệ thống sông Hồng - Thái Bình có sự biến động đáng kể, trong đó sự suy giảm cả về lưu lượng

và mực nước khiến cho các hoạt động khai thác nguồn nước gặp nhiều khó khăn Trong khi đó áp lực gia tăng dân số và sự phát triển của các ngành kinh tế xã hội ở vùng đồng bằng và ven biển khiến cho nhu cầu sử dụng nước tăng cao, nảy sinh mâu thuẫn giữa các ngành sử dụng nước và làm cho nguồn nước trên hệ thống sông có chiều hướng suy giảm Đồng thời ô nhiễm môi trường nước cũng là một trong những

hệ lụy của việc khai thác, phát triển không bền vững, không kiểm soát được các nguồn thải v.v dẫn tới nguồn nước trên các dòng sông, các hệ thống thủy lợi, hệ thống cấp nước không đảm bảo, góp phần vào việc làm suy giảm nguồn nước có thể khai thác phục vụ các nhu cầu sử dụng ở hạ du

Tỉnh Thái Bình là một vùng trọng điểm về sản xuất nông nghiệp, phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước và chất lượng nước mặt trên các hệ thống sông trong tỉnh và từ các hệ thống thủy lợi Hiện nay việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã có những bước đột phá mạnh mẽ, đa dạng, trong đó phát triển công nghiệp, thủy sản, du lịch v.v dần chiếm tỷ trọng lớn hơn, cùng với sự phát triển của các đô thị, các khu vực tập trung đông dân cư v.v dẫn tới yêu cầu sử dụng nước ngày càng cao hơn cả về số lượng và chất lượng nước

Xuất phát từ những vấn đề nói trên, đề tài: " Nghiên cứu đánh giá xu thế, nguyên nhân và tác động của biến động nguồn nước đến phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình, đề xuất giải pháp quản lý, phát triển bền vững " là rất cần thiết, góp phần quản

Trang 10

lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý, bền vững nguồn nước, phục vụ yêu cầu sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nước mặt, bao gồm số lượng và chất lượng nước, sự biến động và khả năng khai thác, sử dụng

- Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Thái Bình

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cách tiếp cận:

- Tiếp cận theo mục tiêu phát triển: Nghiên cứu hướng tới đánh giá sự biến động tác

động đến các mục tiêu phát triển của tỉnh Thái Bình

- Tiếp cận hệ thống theo không gian và thời gian: Thái Bình là một tỉnh hạ du sông

Hồng, sông Thái Bình nên khi nghiên cứu biến động nguồn nước của vùng nghiên cứu cần xem xét trên quy mô hệ thống sông toàn lưu vực Biến động nguồn nước cũng được phân tích một cách hệ thống giữa quá khứ, hiện tại và tương lai

- Tiếp cận tổng hợp: Nguồn nước là một trong những thành phần cấu thành tài nguyên

và cơ sở phát triển cho vùng nghiên cứu tỉnh Thái Bình, cần xem xét nghiên cứu trong một không gian phát triển tổng hợp, tác động qua lại với nhiều yếu tố khác

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp kế thừa: Luận văn sử dụng, kế thừa quả nghiên cứu, đề tài, dự án trên

thế giới cũng như tại Việt Nam về các vấn đề thống kê, phân tích, đánh giá tác động

- Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu: Nhằm đánh giá hiện trạng, thu thập

số liệu phục vụ công tác tính toán, đánh giá

Trang 11

- Phương pháp thống kê phân tích: Thống kê và phân tích các số liệu đo đạc, thu thập

được để xác định nguyên nhân, xu thế biến động và các tác động đến phát triển sản xuất, dân sinh kinh tế

- Phương pháp ứng dụng phần mềm, công cụ toán học: Luận văn sử dụng các phần

mềm và công cụ toán học để tính toán hoặc phân tích biến động của nguồn nước, nhu cầu nước và chất lượng nước

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ BIẾN

ĐỘNG NGUỒN NƯỚC VÀ CÁC TÁC ĐỘNG LIÊN QUAN

1.1 Nguồn nước và biến động nguồn nước

1.1.1 Tổng quan trên thế giới

Nguồn nước trên bề mặt Trái Đất khoảng chừng 1454.106km3, chiếm 71% bề mặt trái đất chừng 71% Hầu hết là nước mặn (chiếm hơn 97% tổng lượng nước gồm nước đại dương, biển, hồ nước mặn, một phần nước ngầm) Phần nước ngọt (bao gồm cả một phần nước ngầm và cả hơi nước) chỉ không đến 3%, trong đó đã gần 77% là đóng băng ở miền cực và trong băng hà, mà khoảng 90% khối lượng băng lại ở Nam Cực, còn phần lớn tập trung ở băng đảo Greenland Cuối cùng chỉ còn một phần rất nhỏ 0,7% tổng lượng nước, tức khoảng 215.200 km3 có vai trò quan trọng bảo tồn sự sống trên toàn hành tinh Số nước ngọt này đại bộ phận thuộc về các hồ nước ngọt, ngoài ra

là các dòng chảy trong sông, suối và khí ẩm, hơi nước trong đất, trong khí quyển Trong quá trình tuần hoàn của nước, mỗi năm mặt biển bốc hơi chừng 449.000 km3, lục địa khoảng 71.100 km3 Hơi nước từ biển theo gió vào lục địa hàng năm gây mưa khoảng 108.400 km3 nước Như vậy dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm hàng năm chảy từ lục địa ra biển khoảng 37.000 km3 So với tổng lượng nước chung trên Trái Đất thì lượng nước này không đáng kể, nhưng nó lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống con người và các sinh vật sống trên lục địa Đó là nguồn nước sử dụng của con người [1]

Nguồn nước sử dụng của con người phân bố không đều theo cả không gian và thời gian Theo không gian, do ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, mặt đệm từng nơi mà lượng mưa có thể rất khác nhau Nơi mưa nhiều lượng mưa hằng năm có thể mấy ngàn

mm, nơi mưa ít chỉ vài trăm mm, thậm chí không mưa Thí dụ lượng mưa năm trung bình tại Haoai12.092 mm, Rê-uy-ni-ông 12.000 mm, Ca-mơ-run 10.470 mm và một số vùng xích đạo là những nơi mưa nhiều.Bốc hơi bình quân năm trên các đại dương 930 đến 1.070 mm, trên lục địa từ 420 đến 500 mm Như vậy, trên đại dương, lượng bốc hơi hàng năm lớn hơn lượng nước đến 100 mm, còn trên lục địa, lượng mưa lớn hơn lượng bốc hơi đến 250 mm

Trang 13

Lượng nước thừa trên lục địa chính là lượng dòng chảy trên các dòng suối chảy ra đại dương Do mưa phân bố không đều mà lượng dòng chảy trên các sông suối cũng phân

bố không đều Trong 144,5 106km2 lục địa, có 6.106 km2 hoàn toàn không có dòng chảy Một ít ao hồ ở những vùng đó chủ yếu là do nước ngầm cung cấp nên nước tương đối mặn

Vùng dòng chảy rất nghèo chiếm khoảng 32 triệu km2, trong đó châu Âu và châu Á 18 triệu km2, châu Phi 9 triệu km2, châu Úc 4 triệu km2, còn lại là một số vùng châu Nam

Mỹ Vùng có dòng chảy rất phong phú thuộc lưu vực của 21 con sông từ 10 vạn km2 đến 1 triệu km2 chiếm khoảng 28,4 triệu km2

Trung bình hằng năm sông, suối đổ ra biển trên 15.500km3 nước Khoảng 20% lượng nước nói trên thuộc về sông Amazon có chiều dài 7025 km với diện tích lưu vực khoảng 7.050.000 km2 Bên cạnh đó còn có một số con sông khác trên thế giới như sông Nil với chiều dài 6.671km, sông Mississipi có chiều dài 6.212 km Một lượng nước ngọt quan trọng được dự trữ trong các hồ lớn như hồ Viktoriino ở Châu Phi diện tích 68.800 km2, độ sâu lớn nhất là 125m, hồ Tanganijka ở Châu Phi với diện tích 32.880km2, độ sâu lớn nhất 1.470 m, hồ Baikal Châu Á có diện tích 31.500 km2

, độ sâu lớn nhất 1.620 m Hồ Baikal dự trữ khoảng 1/10 lượng nước ngọt trên cả hành tinh với trữ lượng 23 tỷ m3 nước

Theo thời gian, sự phân bố không đồng đều thể hiện đặc tính biến đổi theo mùa của mưa và dòng chảy, đó là mùa mưa và mùa khô; hay mùa lũ và mùa kiệt Mùa mưa, lũ cũng là mùa nước hay gây úng Mùa khô, kiệt cũng là mùa thiếu nước cho con người Mức độ phát triển kinh tế không đều trên thế giới khiến cho nhu cầu sử dụng nước cũng không giống nhau giữa các nước, các khu vực Vấn đề thừa nước, thiếu nước trở thành vấn đề quan trọng đối với sự phát triển của loài người hiện tại và tương lai

1.1.2 Nguồn nước ở Việt Nam

Chế độ nước của Việt Nam có những nét riêng của vùng nhiệt đới ẩm, gió mùa với lượng mưa phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành dòng chảy với mạng lưới sông khá dày đặc Nếu chỉ tính những sông suối có chiều dài từ 10 km trở

Trang 14

lên và có nước chảy thường xuyên thì trên lãnh thổ nước ta có khoảng 2360 sông suối với mật độ trung bình khoảng 0,6 km/km2 Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện về cấu trúc địa chất, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng và khí hậu mà mạng lưới sông suối phát triển không đều trên lãnh thổ, từ 0,3 km/km2 ở vùng khô hạn đến 4 km/km2 ở vùng đồng bằng sông Hồng - Thái Bình và đồng bằng sông Cửu Long Ở vùng núi cao, địa hình chia cắt mạnh, mưa nhiều mạng lưới sông suối khá phát triển với mật độ 1-2 km/km2 Trên phần lớn lãnh thổ còn lại có mật độ sông suối khoảng 0,5 -1 km/km2 Cứ đi dọc

bờ biển khoảng 20 km lại gặp một cửa sông Tổng lượng dòng chảy của tất cả các con sông chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 853 km2 Tỉ trọng nước bên ngoài chảy vào nước

ta tương đối lớn, chiếm 60% so với tổng lượng nước sông toàn quốc, riêng đối với sông Cửu Long là 90%

Mạng lưới sông suối ở Việt Nam phát triển không đồng đều trên toàn lãnh thổ Mạng lưới sông suối là nơi hình thành, chuyên chở và tàng trữ nguồn nước sông - một phần quan trọng nhất của tài nguyên nước - là nguồn cung cấp chính cho sinh hoạt và sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho thuỷ điện, giao thông thuỷ , nuôi trồng thuỷ sản Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, mạng lưới sông suối phát triển không đều có thể gây ra những khó khăn, như mạng lưới sông suối ở các vùng khô hạn thường xảy ra hạn hán

Hệ thống sông ngòi của nước ta được nuôi dưỡng bởi nguồn nước mưa tương đối dồi dào Lượng mưa trung bình nhiều năm có thể đạt xấp xỉ 1960 mm tức khoảng 650

km3/năm Miền núi mưa nhiều hơn đồng bằng và các vùng khuất gió Sự chênh lệch giữa vùng có lượng mưa lớn và vùng có lượng mưa nhỏ khoảng 5-6 lần Trong khi

đó trên thế giới mức chênh lệch này có nước lên tới 40-80 lần Sự phân bố tài nguyên nước có liên quan chặt chẽ với sự phân bố lượng mưa Vùng mưa lớn có dòng chảy sông lớn, vùng mưa nhỏ có dòng chảy sông nhỏ xen kẽ nhau Vùng có dòng chảy lớn đạt trên 100 l/s/km2 và vùng có dòng chảy nhỏ 5 l/s/km2 chênh lệch nhau 20 lần

Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Công bằng khoảng 500 km3, chiếm tới 59 % tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước; sau đó đến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%); hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả,

Trang 15

Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%); các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%); các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%) [1]

Nước ta có trữ lượng nước ngầm phong phú, khoảng 130 triệu m3

/ngày, đáp ứng được 60% nhu cầu nước ngọt của đất nước Ở vùng đông bằng châu thổ, nước ngầm ở độ sâu từ 1 - 200 m, ở miền núi nước ngầm thường ở độ sâu 10 - 150 m, còn ở vùng núi

đá vôi nước ngầm ở độ sâu khoảng 100m Đặc biệt vùng Tây Nguyên, nước ngầm thường sâu vài trăm mét, còn ở một số nơi thuộc đồng bằng sông Cửu Long như: Hà Tiên, Cà Mau, Bến Tre, v.v nước ngầm thường bị nhiễm mặn, dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt

Theo báo cáo của “Chương trình Bảo vệ môi trường quốc gia” thì tài nguyên nước

Việt Nam bao gồm nước mặt, nước dưới đất và nước biển

+ Tổng lượng nước mặt trung bình năm của Việt Nam khoảng 830 tỉ m3 được tập trung chủ yếu trên 8 LVS lớn, bao gồm: LVS Hồng - Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã,

Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông Mê Công (Cửu Long) Tuy nhiên, khoảng 63% nguồn nước mặt của Việt Nam (tương ứng với 520 tỷ m3) có nguồn gốc ở ngoài ranh giới quốc gia, chỉ có gần 310 tỉ m3 mỗi năm được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng 80,6 tỷ m3 cho các mục đích nông nghiệp, sản xuất năng lượng, sinh hoạt, nuôi trồng thuỷ sản và hoạt động sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ Tuy nhiên, khai thác, sử dụng tài nguyên nước chưa hợp lý và thiếu bền vững đã và đang gây suy giảm tài nguyên nước

+ Ước tính trữ lượng nước dưới đất trong các thành tạo chứa nước chính ở Việt Nam khoảng 172,6 triệu m3/ngày Tổng lượng khai thác nước dưới đất khoảng 10,53 triệu

m3/ngày, trong đó đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ là hai khu vực khai thác nhiều nhất với tổng lượng khai thác của 2 vùng khoảng 5,87 triệu m3/ngày chiếm 55,7% tổng lượng khai thác toàn quốc Lượng nước khai thác tập trung ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh với tổng lượng nước khai thác khoảng 2,63 triệu m3/ngày chiếm gần 25% tổng lưu lượng khai thác toàn quốc

Trang 16

Trong mấy thập kỷ qua, dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và con người, nước dưới đất

có sự biến động khá mạnh mẽ Do khai thác sử dụng một cách chưa hợp lý, tài nguyên nước dưới đất đang có chiều hướng suy giảm về trữ lượng với mực nước xuống thấp Điển hình là vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng Nam Bộ, mực nước tầng chứa nước Pleistocene có xu hướng giảm dần tại một số vùng có hoạt động khai thác nước mạnh + Chất lượng nước biển ven bờ ở Việt Nam còn khá tốt với hầu hết giá trị các thông số đặc trưng nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 10-MT:2015/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ khu vực cửa sông và sự tiếp nhận chất thải của các hoạt động phát triển kinh tế ven biển, một số vùng biển có hàm lượng TSS (tổng lượng chất rắn lơ lửng) cao Bên cạnh đó, sự gia tăng hàm lượng chất hữu cơ

và dầu mỡ cũng là những vấn đề cần quan tâm đối với chất lượng nước biển ven bờ Việt Nam trong những năm gần đây

Nước biển khơi ở Việt Nam được đánh giá có chất lượng tốt, chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ, hàm lượng DO (lượng oxy hòa tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của sinh vật nước) luôn đảm bảo cho vùng nước bảo tồn thủy sinh theo tiêu chuẩn ASEAN Hầu hết các thông số đặc trưng cho chất lượng nước biển xa bờ đều đạt QCVN 10- MT:2015/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Hiện nay, trong nước có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nước, đặc biệt là khu vực đồng bằng Bắc Bộ và tỉnh Thái Bình Trong đó kể đến những nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Đề tài “Nghiên cứu cân bằng, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước sông Hồng

và các sông khác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Bộ” do PTS.TS Nguyễn Đình Thịnh (Viện Quy hoạch Thủy lợi) chủ trì đã điều tra, đánh giá, cảnh báo sự thiếu hụt nguồn nước ở đồng bằng Bắc Bộ Đồng thời đề xuất các giải pháp bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước sông Hồng và các sông khác trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ

Đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp đới bờ phục vụ phát triển bền vững vùng duyên hải Bắc bộ - thí điểm tại tỉnh Thái Bình” do TS Nguyễn Hoàng Giang chủ trì đã điều tra, phân tích, đánh giá hiện trạng tài nguyên nước khu vực đồng

Trang 17

bằng Bắc Bộ, trong đó thí điểm tại tỉnh Thái Bình Đề tài chỉ ra những vấn đề khó khăn về khai thác và quản lý nguồn nước cũng như những tác động do nguồn nước đến phát triển kinh tế xã hội khu vực Đồng thời đề xuất những giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên đới bờ vùng duyên hải Bắc Bộ nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng

“Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Thái Bình đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình năm 2017, đã nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên, hiện trạng khai thác sử dụng nước cũng như các lợi ích và hạn chế mà nguồn nước khu vực mang lại Trong đó có đề cập đến những biến đổi về nguồn nước, tình trạng thiếu nước và những ảnh hưởng của nguồn nước đến phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình Từ đó đề xuất các phương án quy hoạch, bảo vệ và phát triển nguồn nước khu vực tỉnh Thái Bình hiện tại và đến tương lai năm 2030

Vì nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý báu nhưng không phải là vô tận Mà hiện nay Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu nước do tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gia tăng dân số và biến đổi khí hậu Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu toàn cầu mà Việt Nam được xếp vào một trong năm quốc gia có nguy cơ bị tác động mạnh mẽ Do đó việc đánh giá tổng thể thực trạng tài nguyên nước và những ảnh hưởng của biến động nguồn nước là một yêu cầu cấp thiết phục vụ chiến lược dài hạn và bền vững của đất nước

1.2 Tổng quan vùng nghiên cứu

1.2.1 Vị trí địa lý

Thái Bình là tỉnh đồng bằng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ được bao bọc bốn phía là biển và sông Với vị trí địa lý 20,170 - 20,440 vĩ độ Bắc và 106,060 - 106,390 kinh độ Đông Phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ, phía Tây và Tây Nam giáp với tỉnh Nam Định, phía Bắc Thái Bình giáp tỉnh Hưng Yên và Hải Dương (ngăn cách bởi sông Luộc), phía Đông Bắc giáp Hải Phòng (ngăn cách bởi sông Hóa) Chạy dọc theo chiều

từ Tây sang Đông có chiều dài 54 km và từ Bắc xuống Nam dài 49 km

Nằm trong vùng có lợi thế của khu tam giác kinh tế đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội- Hải Phòng - Quảng Ninh) Có lợi thế vị trí địa lý cách Hà Nội khoảng 110 km, Hải Phòng

70 km, với một lợi thế rất quan trọng trong phát triển kinh tế tỉnh là tuyến đường quốc

Trang 18

lộ 10 đi qua, đây là tuyến đường huyết mạch giao thông giữa các tỉnh đồng bằng ven biển Bắc Bộ Ngoài ra còn tuyến quốc lộ 37B là tuyến đường bộ nối ba tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hà Nam có chiều dài toàn tuyến là 139 km

Tỉnh được chia ra làm 8 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố (7 huyện và 1 thành phố trực thuộc tỉnh) bao gồm: thành phố Thái Bình (trung tâm kinh tế và chính trị của tỉnh), huyện Kiến Xương, huyện Vũ Thư, huyện Đông Hưng, huyện Quỳnh Phụ, Huyện Hưng Hà, huyện Tiền Hải và huyện Thái Thụy Trong đó có hai huyện tiếp giáp biển là Tiền Hải và Thái Thụy

Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình

1.2.2 Điều kiện địa chất

Về địa chất đới bờ vùng đồng bằng Bắc Bộ bao gồm tỉnh Thái Bình là vùng tiếp giáp giữa hai miền địa chất: Miền Đông Bắc Bắc Bộ và Miền Tây Bắc Bắc Bộ với ranh giới

là đới khâu hay đới đứt gãy Sông Hồng Đồng bằng Bắc Bộ phân bố trọn vẹn trong phần đỉnh tây bắc của bồn trầm tích Kainozoi (KZ) Sông Hồng kéo dài theo hướng tây bắc-đông nam ra biển dưới Vịnh Bắc Bộ Ở phạm vi đất liền và ven biển chiều dày

Trang 19

trầm tích KZ đạt tới 4-5 km là nơi phân bố hầu hết các khoáng sản có ích như dầu khí, than,… Địa tầng được chia ra thành: 1) Địa tầng trước Đệ Tứ là nền đá gắn kết bên dưới; 2) Địa tầng Đệ Tứ gồm các tầng trầm tích bở rời bên trên đến bề mặt có chiều dày 160 - 200 m bao gồm các tầng chứa nước ngầm nông

Về kiến tạo cấu trúc bồn trầm tích Sông Hồng là một vùng trũng kéo dài đối xứng được khống chế bởi đứt gãy chính: Sông Lô và Vĩnh Ninh ở phía đông bắc và đứt gãy Sông Chảy, Sông Hồng ở phía tây nam, là một phần của đới đứt gãy Sông Hồng có quy mô lớn hành tinh kéo dài từ Tây Tạng (Trung Quốc) qua Lào Cai tới Biển Đông ở kinh độ 109 oĐ

1.2.3 Đặc điểm khí tượng

Khí hậu của và tỉnh Thái Bình nằm trong vùng khí hậu duyên hải nhiệt đới gió mùa Hàng năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa, gió mùa đông nam từ tháng 6 đến tháng 10 Thời tiết nóng ẩm mưa nhiều Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, gió mùa đông Bắc, thời tiết lạnh, khô hanh, ít mưa

Các yếu tố khí hậu cũng biến đổi theo mùa, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước tưới cho cây trồng Mùa mưa: Lượng mưa chiếm 80 - 85% tổng lượng cả năm Mưa không đều tập trung vào một số trận lớn gây úng lụt Mùa khô: Lượng mưa chỉ chiếm 15 -20% tổng lượng cả năm, là mùa gây tái nhiễm mặn cho đất và nguồn nước tưới

Chế độ mưa (trung bình 149,7 mm) thuộc loại trung bình trên toàn quốc và được phân hóa ra hai mùa khác nhau Mùa mưa khu vực Thái Bình trùng với mùa hoạt động của gió mùa mùa hè và thịnh hành là gió Đông Nam Số ngày mưa năm ở đây dao động trong khoảng 117 - 153 ngày và phân bố tương đối đều trong năm, chỉ có 3 tháng 11,

12 và 1 có dưới 10 ngày mưa/tháng do ảnh hưởng của kiểu thời tiết khô hanh rất đặc trưng của miền Bắc nước ta Hầu hết các tháng còn lại trong năm đều có số ngày mưa dao động trong khoảng 10 - 20 ngày/tháng, trong đó tháng 8 hoặc 9 có nhiều ngày mưa nhất trong năm, đạt khoảng 14 - 20 ngày

Vào mùa mưa, lượng mưa đạt trung bình trong khoảng 124,2mm/tháng, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 (mưa lớn tập trung tháng 9 - 10), chiếm 84 - 92% tổng lượng mưa toàn năm Thời gian này thường trùng với hiện tượng bão lụt, kết hợp với lượng

Trang 20

mưa lũ từ thượng nguồn đổ về qua hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, ảnh hưởng rất lớn đến nuôi trồng thủy sản như: làm ngọt hóa các đầm nuôi, tăng độ đục trong ao, giảm giá trị pH, giảm lượng ô xy hòa tan, kéo theo nhiều chất bẩn có chứa mầm bệnh, v.v

Mùa khô lượng mưa chỉ đạt 15,8 - 43,4 mm, tập trung vào các tháng còn lại trong

năm (tháng 11 - tháng 4 năm sau), kết hợp với lượng nước ở thượng nguồn bị chặn lại

do giữ nước trên các hồ chứa phục vụ thủy lợi; làm cho lưu lượng nước đổ xuống thượng nguồn bị giảm mạnh Dẫn đến sự xâm thực của nước lợ từ ngoài biển vào sâu trong đất liền qua các hệ thống sông (từ 10 - 20 km), độ xâm thực này đối với các sông là khác nhau: đối với sông Hóa độ muối vào sâu hơn rất nhiều so với sông Trà

Lý, sông Lân, riêng sông Hồng khả năng xâm thực nước mặn vào trong nội đồng vùng huyện Kiến Xương là tương đối lớn

Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 85,2% và không có sự thay đổi độ ẩm nhiều qua các tháng trong năm Vào mùa mưa, lượng mưa lớn, nhưng nhiệt độ, số giờ nắng cao dẫn đến khả năng bốc hơi mạnh, do vật độ ẩm tương đối ổn định

Mùa gió Đông Bắc kéo dài từ tháng 10 đến tháng 1; trong các tháng 12, 1 là gió mùa lục địa, đem lại thời tiết lạnh và khô Trên biển, gió hướng Đông Bắc chiếm ưu thế tuyệt đối, với tần suất khoảng 70% Ở bờ biển, tùy theo hình thái địa hình mà hướng gió thịnh hành có thể là Đông Bắc hoặc Bắc Tần suất tổng cộng của các hướng có thành phần Bắc chiếm khoảng 50 ÷ 60%, thấp hơn so với ở vùng biển khơi Trong thời

kỳ này gió hướng Đông cũng thường xuất hiện với tần suất 20 ÷ 30% Từ tháng 2 đến tháng 4 là thời kỳ suy thoái của các luồng gió từ phương Bắc, đồng thời gió Đông phát triển mạnh và trở nên thống trị Ở vùng Thái Bình, gió Đông đã trở nên thịnh hành từ tháng 2 Tần suất gió Đông trong các tháng 2, 3, 4 lên đến 50 ÷ 60%; hướng gió Bắc vẫn còn chiếm tỷ lệ khoảng 15 ÷ 25%

1.2.4 Đặc điểm thổ nhưỡng

Là vùng đất phù sa trẻ được bồi đắp, thuộc đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều Đất đai hầu hết là mặn do nước biển Trong đó có các loại đất: mặn trung tính, mặn phèn, phèn mặn Mức độ mặn tuỳ thuộc vào vị trí địa lý, địa hình, thổ

Trang 21

nhưỡng, nguồn nước và hệ thống thuỷ lợi Giới hạn các vùng đất nhiễm mặn rất khác nhau, có nơi giới hạn đất không bị nhiễm mặn (với độ mặn trung bình) chỉ cách biển

15 - 20km, có nơi giới hạn đó kéo dài 40 - 50km

Độ phì trong đất tương đối cao, có tiềm năng phát triển kinh tế lớn hơn so với các vùng đất khác Đất ven biển vùng đồng bằng sông Hồng được chia thành 05 nhóm với

19 loại đất như sau:

+ Nhóm đất cát có diện tích 6.115,8 ha với 03 loại đất

+ Nhóm đất mặn có diện tích 70.007,5 ha với 03 loại đất

+ Nhóm đất phèn có diện tích 38.699,6 ha với 04 loại đất

+ Nhóm đất phù sa có diện tích 57.348,9 ha với 06 loại đất

+ Nhóm đất xám có diện tích 4.892,2 ha với 03 loại đất

Nhóm đất phù sa có chất lượng tốt nhất trong số các nhóm đất trong vùng, tuy nhiên

độ phì nhiêu của nhúm đất này cũng chỉ đạt mức trung bình đến khá Cần sử dụng triệt

để nhóm đất phù sa cho sản xuất nông nghiệp

Đất có vấn đề bao gồm các nhóm: đất cát, mặn và phèn chiếm tới 44,74% diện tích tự nhiên của vùng Trong đó đất mặn sú vẹt đước, đất mặn nhiều, đất phèn và đất cát (7.2006,1 ha, chiếm 26,45% diện tích đất tự nhiên) có nhiều hạn chế đối với cây trồng nông nghiệp Khi sử dụng các nhóm đất này chú ý các biện pháp cải tạo và bảo vệ đất Thổ nhưỡng ở các huyện ven biển Thái Bình có các loại đất chính sau: đất mặn, đất mặn ít, đất ít phèn, mặn ít, đất phù sa màu nâu vàng nhạt không được bồi, đất phù sa glây mạnh, úng nước, đất phù sa màu xám nhạt không được bồi, đất phù sa

1.2.5 Đặc điểm dân cư

Dân số Thái Bình tính đến năm 2016 là 1.789.942 người trong đó dân số trung bình phân theo thành thị là 187.864 người; nông thôn là 1.602.078 người Mật độ dân số trung bình là 1.128 người/km2 (trong đó mật độ cao nhất tại thành phố Thái Bình là 2.745 người/km2) Tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số tăng từ 8,8‰ (2015) lên 9,0‰ (2016) Số người trong độ tuổi lao động: 1.104,72 nghìn người trong đó lao động nữ chiếm 52,38%

Trang 22

Phân bố dân cư tỉnh Thái Bình theo đơn vị hành chính thể hiện ở bảng 1.1 [2]:

Bảng 1.1 Phân bố dân cư theo các đơn vị hành chính

1.2.6 Hiện trạng phát triển kinh tế

1.2.6.1 Nông nghiệp

Năm 2016, giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 25.432 tỷ đồng, tăng 5,6% so với năm

2015 Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 225.148 ha, giảm 0,41% so với năm 2015 Trong đó diện tích lúa đông xuân là 79,7 nghìn ha, giảm 0,4%; diện tích lúa mùa là 80.4 ha giảm 0,6%

Tình hình chăn nuôi phát triển ổn định Tổng đàn trâu, bò ước 48.431 nghìn con tăng trên 1,6% so với năm trước Chăn nuôi trâu, bò chủ yếu vẫn tập trung tại các hộ nhỏ để cung cấp thịt cho thị trường, tuy nhiên xu hướng đang phát triển tại một số hộ nuôi quy mô đầu con nhiều như ở huyện Kiến Xương, Vũ Thư… đặc biệt công ty TNHH MTV chăn nuôi Việt Hùng thuộc tập đoàn Hòa Phát với hình thức nhập bò trưởng thành về nuôi trong khoảng thời gian từ 2,5 đến 3 tháng với số lượng lớn, đạt trọng lượng chênh lệch từ 100 - 120 kg/con mới xuất bán đã góp phần làm tăng sản lượng cũng như giá trị của ngành chăn nuôi

Tổng đàn lợn hiện có 1.048 nghìn con, tăng 0,09% so với năm 2015 Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 201.649 tấn, tăng 3,6% so với năm 2015 Tổng số gia cầm ước đạt 12.208 nghìn con, tăng 3,7% so với năm 2015 Trong đó số lượng gà ước đạt 8.846 nghìn con tăng 3,5%; vịt, ngan, ngỗng ước đạt 3.152 nghìn con tăng 4,3% so với cùng

(km 2 )

Dân số trung bình (người)

Mật độ dân số (người/km 2 )

Trang 23

kỳ năm 2015 Sản lượng thịt gia cầm giết bán ước đạt 47.520 tấn, tăng 5,4% so với năm 2015

Việc tăng cường đầu tư hạ tầng kĩ thuật cho nông nghiệp trong những năm qua đã tạo điều kiện cho sản xuất vụ đông được duy trì và phát triển theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị thu nhập Sản xuất cây vụ đông và cây màu tuy bị giảm về diện tích (do ảnh hưởng của thiên tai và thực hiện chỉnh trang đồng ruộng xây dựng nông thôn mới, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển đất ở dân cư) nhưng tỉnh đã kịp thời ban hành chính sách hỗ trợ, khuyến khích sản xuất những cây màu có giá trị kinh tế cao (như khoai tây, bí xanh, dưa các loại v.v…) nên giá trị vẫn tăng khá Trong nông nghiệp trồng trọt vẫn là ngành chính chiếm 47,69%, chăn nuôi chiếm 45,15%, dịch vụ

và các hoạt động khác chiếm 7,16% Giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Thái Bình thể hiện ở bảng 1.2 [2]:

Bảng 1.2 Giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Thái Bình

4 Huyện Đông Hưng 3.134.811 2.992.857 3.278.209 3.381.586 3.576.050

5 Huyện Thái Thụy 3.234.747 3.115.511 3.530.856 3.649.423 3.862.114

6 Huyện Tiền Hải 2.556.855 2.514.959 2.728.884 2.940.017 3.049.853

7 Huyện Kiến Xương 2.719.694 2.560.000 2.813.695 2.905.826 3.082.507

Trong những năm gần đây Thái Bình đã và đang chuyển đổi một số lớn diện tích làm

Trang 24

muối trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ tại các huyện Thái Thụy, Tiền Hải Tính đến 2016 diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh là 14.845 ha Diện tích nuôi trồng thủy sản tỉnh Thái Bình thể hiện ở bảng 1.3 [2]:

Bảng 1.3 Diện tích nuôi trồng thủy sản tỉnh Thái Bình

Trong 14.845 ha nuôi trồng thủy sản, cá vẫn là loại thủy sản dược ưu tiên (8.821 ha) do mang lại hiệu quả kinh tế cao Mô hình nuôi cá lồng tiếp tục được phát triển và nhân rộng Sản phẩm chính là cá diêu hồng, cá chép, cá lăng…

1.2.6.2 Công nghiệp - Xây dựng

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2016 ước đạt 50.324 tỷ đồng, tăng 13,9% so với năm

2015 Trong đó kinh tế nhà nước ước đạt 3.487 tỷ đồng, tăng 80%; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 34.888 tỷ đồng, tăng 10,5%; kinh tế vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 11.949 tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm 2015

Hoạt động của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp ổn định và khá; đến nay

có 137/159 dự án đi vào hoạt động; giá trị sản xuất chiếm 40% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh Nghề và làng nghề tiếp tục được duy trì và phát triển với tổng 247 làng nghề được công nhận Tổng hợp các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh Thái Bình thể hiện ở bảng 1.4 [2]:

Trang 25

Bảng 1.4 Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu phân theo loại hình kinh tế

Nước mắm 1000 lít 4.019 4.128 4.376 4.469 4.857 Bia các loại 1000 lít 104.574 116.110 100.500 98.693 104.678 Nước khoáng 1000 lít 31.010 35.723 23.750 21.394 21.394

Khăn tay các loại Tấn 25.717 29.478 35.176 57.703 63.459 Quần áo may sẵn 1000 cái 53.902 67.377 79.062 92.679 94.521 Giày dép da 1000 đôi 1.169 1.421 1.693 2.028 2.819

Sứ dân dụng 1000 cái 12.124 16.298 19.066 26.903 29.825 Gạch ốp lát 1000 m2 11.828 12.794 13.571 13.542 17.756 Gạch đất nung 1000 viên 561.173 531.198 479.077 505.233 492.255

Trang 26

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA NGUỒN NƯỚC TỈNH THÁI BÌNH VÀ CÁC TÁC ĐỘNG LIÊN QUAN

2.1 Hiện trạng nguồn nước

2.1.1 Nguồn nước mặt

Tỉnh Thái Bình nằm ở cuối nguồn hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình, chịu ảnh hưởng lớn từ nguồn nước thượng nguồn Nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh được cung cấp bởi hai nguồn chính:

- Lượng dòng chảy từ sông Hồng chảy vào tỉnh phân phối qua các sông Luộc, sông Hóa, sông Trà Lý

- Lượng dòng chảy sinh ra từ mưa trên địa bàn tỉnh

Trong đó nguồn nước trên các sông Hồng, Luộc, Hóa và Trà Lý gần như bị phân tách với nguồn nước nội sinh trong tỉnh bởi hệ thống đê bao Bên cạnh đó sông Trà Lý chảy xuyên qua tỉnh theo hướng Tây - Đông, phân tách tỉnh Thái Bình thành 2 vùng

hệ thống khai thác nước riêng biệt Do đó, tỉnh Thái Bình được chia thành 2 vùng chính như sau:

- Vùng Bắc Thái Bình nằm ở phía Bắc sông Trà Lý, được ranh giới bởi sông Hồng, Luộc, Hóa và Trà Lý bao gồm các huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy và các xã/phường Hoàng Diệu, Đông Hòa, Đông Thọ, Đông Mỹ của thành phố Thái Bình, với diện tích đất tự nhiên: 90.638 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 55.737 ha

Nguồn nước cung cấp chính cho vùng Bắc Thái Bình là các sông Hồng, Luộc, Hóa, Trà Lý; ngoài ra còn có nguồn nước của các sông nội đồng: Tiên Hưng, Diêm Hộ Vùng Bắc Thái Bình được chia thành 2 tiểu vùng như sau:

+ Tiểu vùng Tiên Hưng: ranh giới bởi đê bao sông Luộc, Hồng, Trà Lý và tỉnh lộ 396B có diện tích 42.153 ha bao gồm toàn bộ huyện Hưng Hà, 40 xã thuộc huyện Đông Hưng, 11 xã của huyện Quỳnh Phụ và 4 xã/phường của thành phố Thái Bình

Trang 27

+ Tiểu vùng Diêm Hộ: ranh giới bởi đê bao sông Luộc, Hóa, Trà Lý, đê biển và tỉnh

lộ 396B có diện tích 41.195 ha gồm toàn bộ huyện Vũ Thư, 28 xã/thị trấn thuộc huyện Quỳnh Phụ và 4 xã thuộc huyện Đông Hưng

- Vùng Nam Thái Bình (tiểu vùng Kiến Giang) nằm ở phía Nam sông Trà Lý, được ranh giới bởi sông Hồng và Trà Lý bao gồm diện tích của các huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và phần còn lại của thành phố Thái Bình với diện tích đất tự nhiên: 67.997 ha, diện tích đất sản xuất nông nhiệp 38.001 ha

Các nhu cầu khai thác, sử dụng nước của vùng Nam Thái Bình được đáp ứng bởi sông Trà Lý, Hồng và sông nội đồng Kiến Giang

Chế độ thủy văn trên sông chia làm hai mùa rõ rệt Mùa lũ, nước sông dâng cao uy hiếp nghiêm trọng đê điều, các công trình lấy nước… Về mùa mưa, các sông trên đều

có lưu lượng lớn nước ngọt ép nước mặn lùi về phía biển, độ phù sa đậm đặc Mùa cạn, lượng nước sông chỉ băng dưới 1/10 lượng nước sông mùa lũ

Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng còn gặp nhiều hồ, đầm góp phần cung cấp nước ngọt, ép nước mặn và phát triển nuôi trồng thuỷ sản

Một hiện tượng điển hình của thuỷ văn là quá trình ngập lũ và ngập triều Ngập lũ thường gặp trong mùa mưa do lượng nước từ thượng nguồn đổ về nhiều, gặp triều cường không tiêu được ra biển gây úng lụt cục bộ Hiện tượng ngập triều hàng ngày gặp ở vùng đất ngoài đê biển và vùng cửa sông đổ ra biển Khi triều lên đẩy mực nước

ở các sông lên cao, khả năng lấy nước ở các cống đầu mối lớn nhưng chất lượng nước không tốt (không đảm bảo) do nguồn nước bị nhiễm mặn

2.1.2 Nguồn nước ngầm (nước dưới đất)

Nước dưới đất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ bao gồm tỉnh Thái Bình theo điều kiện địa chất gồm 3 tầng:

1) Tầng nông ở phần trên trầm tích Đệ Tứ phân bố ở độ sâu vài mét đến hàng chục mét, theo ký hiệu địa tầng gọi là tầng chứa nước Holoxen (Hình 1.2 a) có thành phần thay đổi do ảnh hưởng của nước biển trong các giai đoạn biển tiến thường bị nhiễm mặn, diện phân bố nước nhạt thường tồn tại trong phạm vi hẹp nên có trữ lượng nhỏ

Trang 28

chỉ đủ cho khai thác ở quy mô gia đình;

2) Tầng chứa nước Pleistoxen (Hình 1.2 b) ở tầng đáy trầm tích Đệ Tứ thành phần cát, cuội, sỏi có diện phân bố nước nhạt tương đối rộng rãi nhưng không đồng đều, có trữ lượng tương đối lớn 3,848 triệu m3/ngày tập trung ở các tỉnh phía tây bắc Đồng bằng Bắc Bộ (Vĩnh Phúc, Hà Nội) có điều kiện cho khai thác công nghiệp

a) b)

Hình 1.2: Diện phân bố và đặc tính nước dưới đất tầng chứa Holoxen (a) và Pleistoxen

(b) vùng đồng bằng Bắc Bộ Chú giải màu chỉ thị đặc tính nước: màu xanh: nước nhạt; màu tím: nước lợ; màu đỏ: nước mặn

3) Tầng chứa nước trong trầm tích Neogen có trữ lượng lớn và chất lượng nước tốt nhưng diện phân bố thường hẹp, phân bố ở độ sâu lớn (hàng trăm mét) trong đá nứt nẻ dọc các đứt gãy kiến tạo, chưa được nghiên cứu đánh giá đầy đủ

2.2 Hiện trạng khai thác, sử dụng nước

2.2.1 Khai thác, sử dụng nước cho nông nghiệp

Nguồn cấp nước tưới cho vùng là sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá và sông Trà Lý Nước được dẫn vào các sông trục nội đồng qua các cống đầu mối, các trạm bơm lấy nước từ các sông trục chính này lên ruộng Ruộng đất của hệ thống phân bố chủ yếu ở cao trình +1,25-+1,5m vì vậy có rất ít diện tích được tưới tự chảy, toàn vùng chủ yếu tưới bằng động lực Toàn tỉnh hiện có 244 cống dưới đê, 1992 cống nội đồng,

Trang 29

1.439 trạm bơm điện chia thành 2 hệ thống thủy lợi Bắc Thái Bình và Nam Thái Bình

Hệ thống Bắc Thái Bình giới hạn bởi sông Hoá, sông Luộc, sông Hồng, và sông Trà Lý; gồm các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Thái Thuỵ và phần phía Bắc của TP Thái Bình Hệ thống Nam Thái Bình giới hạn bởi sông Hồng và sông Trà Lý; gồm các huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và phía Nam TP Thái Bình

Nguồn nước ngọt cung cấp cho vùng từ sông Hồng, sông Hóa và Trà Lý là rất dồi dào

và chất lượng đảm bảo Tuy nhiên mực nước và sự xâm nhập mặn trên sông Hồng, Hóa và Trà Lí cũng như các sông vùng hạ du Thái Bình lại phục thuộc hoàn toàn vào

sự điều tiết của hồ chứa Hòa Bình- Thác Bà và Tuyên Quang Nếu mực nước điều tiết tại Hà Nội đạt >2,5 m thì mực nước các sông vùng hạ du sẽ đảm bảo cho các cống hoạt động bình thường

Bảng 2.1 Hiện trạng cống lấy nước trên sông trục chính tỉnh Thái Bình

STT Tên cống Huyện Khẩu độ Cao trình đáy (m)

F tưới (ha)

Ghi chú

TK TT Tổng 84.278 59.509

Trang 30

9 Láng Quỳnh Phụ 2x3 -1

Trang 31

10 Nguyệt Lâm Kiến Xương 5x6

2x1,5

-3,8

2.2.2 Khai thác, sử dụng nước cho công nghiệp

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 6 khu công nghiệp tập trung đều khai thác, sử dụng nguồn nước mặt phục vụ sản xuất và sinh hoạt của công nhân

Hiện trạng khai thác nước cho công nghiệp tỉnh Thái Bình thể hiện ở bảng 1.7:

Trang 32

Bảng 2.3: Hiện trạng khai thác nước cho công nghiệp tỉnh Thái Bình

TT Khu công nghiệp Vị trí

Diện tích (ha)

Nhà máy nước (NMN)

Nguồn nước

Nhu cầu nước (m 3 /ngđ)

Nghìn

TT An Bài và xã An Thanh, huyện Quỳnh Phụ 214,22 NMN KCN Cầu Nghìn Sông Hóa 6.000 – 7.000

2 KCN Gia Lễ

Đông Xuân, Đông Dương, Đông Quang (huyện Đông Hưng), Đông Thọ, Đông

Mỹ (Thành phố Thái Bình) 84,7

NMN Hoàng Diệu Sông Trà Lý

NMN thành phố Sông Trà Lý

Sông Long

2.2.3 Khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt dịch vụ

Thái Bình là tỉnh có hệ thống cấp nước sạch tập trung khá phát triển Hiện nay trên toàn tỉnh có 75 công trình khai thác nước tập trung Ngoài khu vực thành phố có 2 nhà máy nước (nhà máy nước thành phố Thái Bình và nhà máy nước Hoàng Diệu) với tổng công suất khai thác 52.000 m3/ngày đêm thì khu vực nông thôn cũng được quan tâm đầu tư các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung Tỷ lệ cấp nước từ công trình tập trung đạt 64,6%, trong đó thành phố Thái Bình và huyện Vũ Thư có tỷ lệ cấp nước cao đạt trên 94%, thấp nhất là huyện Quỳnh Phụ chỉ đạt 40,5%

Bảng 2.4 Tỷ lệ đấu nối sử dụng nước sạch khu vực nông thôn

Trang 33

Trong số các công trình cấp nước tập trung, nguồn nước được khai thác chủ yếu là nước mặt, chiếm tỷ lệ 98%, khai thác từ nước ngầm chỉ chiếm 2% Trong đó các huyện thị như thành phố Thái Bình, Vũ Thư, Tiền Hải, Kiến Xương khai thác 100% nguồn nước mặt (Bảng 1.9)

Bảng 2.5 Tỷ lệ khai thác nước tập trung cho sinh hoạt phân theo nguồn nước

Khai thác từ nước mặt Khai thác từ nước ngầm

Tổng (m 3 /ngđ)

Công suất (m 3 /ngđ)

Bảng 2.6: Số lượng giếng khai thác nước trên khu vực tỉnh Thái Bình

Đơn vị hành chính Số lượng giếng

Trang 34

2.3 Nguồn nước đến tỉnh Thái Bình

2.3.1 Tổng lượng tài nguyên nước mưa

Tỉnh Thái Bình có các trạm mưa tương đối dày, tuy nhiên tỉnh là vùng đồng bằng, không có sự chênh lệch về địa hình, đặc trưng khí tượng tương đương nhau Nên sử dụng các trạm mưa trên lưu vực có tính đại biểu để tính toán tài nguyên nước mưa Luận văn tham khảo số liệu quan trắc của các trạm khí tượng do Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia quản lý, quan trắc chỉnh biên theo một quy trình - quy phạm rất rõ ràng nên bảo đảm về chất lượng tài liệu, thời kỳ đo liên tục và ổn định có thể dùng để tính toán và đánh giá tài nguyên nước mưa trên địa bàn tỉnh

Lượng nước mưa trung bình rơi trên toàn vùng là 1519,2 mm, ứng với tổng lượng nước mưa rơi trên địa bàn tỉnh là 2,41 tỷ m3

Trong đó, lượng mưa bình quân khu vực Bắc Thái Bình là 1.434 mm ứng với 1,30 tỷ

m3/năm chiếm 54% tổng lượng nước từ mưa trên toàn tỉnh Nam Thái Bình có lượng mưa bình quân là 1.632,3 mm ứng với 1,11 tỷ m3/năm chiếm 46% lượng nước từ mưa trên toàn tỉnh

Bảng 2.7 Tổng lượng nước trung bình năm của tỉnh Thái Bình

STT Tên vùng/Tiểu vùng Diện tích (ha) X0 (mm) Tổng lượng nước

Trang 35

Bảng 2.9 Phân phối dòng chảy và tổng lượng bình quân tháng theo lưu vực

Trang 36

2.3.2 Tổng lượng tài nguyên nước mặt

Luận văn tham khảo kết quả tính toán tổng lượng tài nguyên nước mặt của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình [3] Trích xuất kết quả lưu lượng nước tại các vị trí trên các sông Hồng, Luộc, Trà Lý, sông Thái Bình để xác định tài nguyên nước đến hiện trạng từ sông chính qua địa bàn tỉnh Thái Bình bằng mô hình mike 11

Bảng 2.10 Các vị trí trích xuất lưu lượng dòng chảy

Trang 37

11 TBi_TB2 Sông Thái Bình sau nhập lưu sông Hóa Thái Bình

Bảng 2.11 Tổng lượng tài nguyên nước từ các sông chính qua địa bàn tỉnh Thái Bình

STT Kí hiệu

Tổng lượng dòng chảy (tỷ m 3 )

W 0

3 tháng lớn nhất 3 tháng nhỏ nhất Tháng lớn nhất Tháng nhỏ nhất

Bảng 2.12 Phân phối dòng chảy, tổng lượng tài nguyên nước từ các con sông chính

Trang 38

Nhận xét: Tổng lượng dòng chảy từ các con sông qua tỉnh Thái Bình khá dồi dào,

đảm bảo cung cấp đầy đủ nước cho các nhu cầu nước Tuy nhiên có thể nhận thấy, tại

1 số vị trí sông có lượng nước đến khá thấp, đặc biệt vào các tháng tháng kiệt Đặc biệt

là tại vị trí sông Hóa với tổng lượng dòng chảy trung bình thấp nhấp vào tháng II và tháng III là 0,11 tỷ m3 Sông Trà Lý với tổng lượng dòng chảy thấp nhất vào tháng II

và tháng III là 0,11 tỷ m3 và 0,72 tỷ m3.Sông Hóa là nguồn cung cấp nước cho các huyện Quỳnh Phụ, Thái Thụy Sông Trà Lý là nguồn cung cấp nước cho các huyện Thái Thụy, Đông Hưng, Hưng Hà và thành phố Thái Bình

Trên cơ sở nguồn nước đến để đánh giá tổng quan nguồn nước đến để từ đó làm cơ sở

so sánh với tổng lượng nhu cầu nước trên từng khu vực Nhận định khả năng thiếu hụt nước cấp cho một số vùng vào mùa kiệt

Trang 39

2.4 Xu thế và nguyên nhân biến động nguồn nước

2.4.1 Biến động nguồn nước do biến đổi khí hậu

Tài nguyên nước vùng ven biển Bắc Bộ nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng trong những năm gần đây đang có những diễn biến - cực kỳ phức tạp liên quan đến nhiều vấn đề và khó kiểm soát, song đến nay việc nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học cho giải quyết vấn đề này vẫn còn hạn chế

Do tác động của biến đổi khí hậu, lượng mưa trong mùa kiệt giảm đi dẫn đến giảm lưu lượng dòng chảy đến và nhiệt độ tăng dẫn đến tăng nhu cầu sử dụng nước Do vậy, dòng chảy trên toàn bộ mạng sông bị suy giảm và mức độ ngày càng trầm trọng theo thời gian Vì lưu lượng giảm nên mực nước ở vùng không chịu ảnh hưởng của thuỷ triều cũng sẽ giảm theo, chủ yếu là trên sông Hồng từ thượng lưu đến dưới trạm thuỷ văn Hà Nội khoảng 5 km và trên sông Đuống xuống sau cửa sông khoảng 15 km Hình 2.1 cho thấy thống kê tại trạm Thái Bình có lượng mưa năm và mùa mưa, mùa khô đều

có xu thế giảm

Hình 2.1 Xu thế biến đổi của lượng mưa năm, mùa mưa và mùa khô tại Thái Bình [4] Ngược lại, dưới tác động của nước biển dâng, mực nước trong mùa kiệt trên hầu hết các sông chịu ảnh hưởng của thủy triều trong vùng đồng bằng ven biển đều thể hiện xu thế tăng so với trường hợp không xét đến kịch bản BĐKH Như vậy, có thể nhận định rằng trong điều kiện BĐKH và nước biển dâng, do mực nước tăng nên khả năng lấy nước của các cống khu vực chịu ảnh hưởng của thủy triểu vùng đồng bằng ven biển sẽ được cải thiện [4]: Trong giai đoạn 2020-2050, mực nước tại cống Liên Mạc và cống Xuân Quan thể hiện xu thế giảm từ 7 đến 28cm và 15 đến 46cm lần lượt ứng với

Trang 40

trường hợp không xét đến kịch bản BĐKH và có xét đến kịch bản BĐKH Ảnh hưởng của BĐKH dẫn đến mực nước tại các vị trí này giảm khoảng từ 7 đến 20cm nhiều hơn

so với trường hợp không xét đến các yếu tố BĐKH Tại vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều, mực nước ở các trạm được dự tính sẽ có xu hướng giảm trong trường hợp không xét đến kịch bản BĐKH và thể hiện xu hướng tăng khi xét đến kịch bản BĐKH và nước biển dâng Cụ thể, nếu không xét đến kịch bản BĐKH thì mực nước tại các trạm vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều sẽ giảm 4-9; 7-17; và 9-24cm lần lượt ứng với các giai đoạn 2020, 2030 và 2050 Trong trường hợp xét đến ảnh hưởng của kịch bản BĐKH và nước biển dâng, mực nước tại các trạm vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều

sẽ tăng 2- 4; 4-7; và 6-12cm lần lượt ứng với các giai đoạn 2020, 2030 và 2050 Như vậy, BĐKH và đặc biệt là mực nước biển dâng trong tương lai sẽ được dự tính làm tăng mực nước tại vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều khoảng 6-11; 12-22; và 18-31cm so với trường hợp không xét đến BĐKH ứng với các năm 2020, 2030 và 2050

Sự khắc nghiệt của thời tiết ngày càng gia tăng về mùa mưa xuất hiện những trận mưa lớn vượt quá tần suất thiết kế gây ngập úng nghiêm trọng cho lưu vực, về vụ xuân lại khô kiệt thiếu nước, do vậy cần phải xem xét năng lực tưới, tiêu, phòng chống lũ của các công trình hiện có Hầu hết các hệ thống sông trục còn nông và hẹp, hàng năm do lấy nước phù sa vào tưới nên kênh mương bị bồi lắng nhiều, không được nạo vét kịp thời Khu vực ven biển lại bị ảnh hưởng của mặn nên gây khó khăn cho việc lấy nước tưới cho cây trồng vào mùa kiệt

Hiện trạng hệ thống đê sông, đê biển tuy đã được nâng cấp nhưng vẫn còn một số đoạn chưa đủ mặt cắt, mặt đê phần lớn chưa được cứng hoá, có nhiều cống không đảm bảo

an toàn cần phải hoành triệt trong mùa mưa bão

Biến đối khí hậu tại tỉnh Thái Bình biểu hiện rõ nét nhất thông qua các hiện tượng khí tượng, khí hậu cực đoan như: bão và áp thấp nhiệt đới, nắng nóng, rét đậm rét hại, lũ lụt, hạn hán…, các hiện tượng này có xu thế ngày một nhiều hơn, mức độ, cường độ tần suất khó dự báo hơn Cụ thể [7]:

- Nhiệt độ: Trong vòng 55 năm qua từ 1960 – 2015, nhiệt độ trung bình năm tại tỉnh Thái Bình đã tăng lên 0.41oC, nhiệt độ mùa mưa tăng 0.92oC, nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè

Ngày đăng: 22/03/2021, 21:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm