1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đen viền nướu sau phục hình cố định

7 347 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 422,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tỷ lệ mất răng cao như hiện nay thì phục hình răng kim loại phủ sứ và răng sứ không kim loại là một lựa chọn chiếm tỉ lệ cao cho bệnh nhân, bởi phục hồi trả lại cho bệnh nhân được gi

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Với tỷ lệ mất răng cao như hiện nay thì phục hình răng kim loại phủ sứ và răng sứ không kim loại là một lựa chọn chiếm tỉ lệ cao cho bệnh nhân, bởi phục hồi trả lại cho bệnh nhân được giải phẩu, chức năng và vẻ thẩm mỹ

Nhưng có một thực tế là sau một thời gian sử dụng 1-2 năm, bệnh nhân thường than phiền với nha sĩ về việc viền lợi ở răng giả đổi màu đen hơn so với các răng khác.Vậy nguyên nhân là do đâu, có khắc phục được không và khắc phục như thế nào là điều mà nha sĩ phải tiên lượng được trước và tư vấn cho bệnh nhân trước khi bệnh nhân đồng ý cho bác sĩ làm

II NGUYÊN NHÂN GÂY ĐEN VIỀN NƯỚU SAU LÀM MÃO RĂNG

1 Vật liệu làm sườn mão răng bị oxy hóa

Hiện tượng này chỉ xảy ra với phục hình kim loại phủ sứ

Vật liệu làm lõi của mão có thể chia làm các nhóm sau:

- Hợp kim Niken – Crom.

- Hợp kim Titanium

Trang 2

-

- Kim loại quý: Au, Pt…

- Theo lý thuyết thì chỉ có hợp kim Niken- crom là dễ bị oxy hóa nhất, còn Titan và nhất là kim loại quý thì không bị oxy hóa, có tính trơ về mặt hóa học trong môi trường miệng, nhưng trên thực tế trong quá trình sản xuất không thể tránh khỏi việc lẫn các tạp chất, và lẫn tạp chất nhiều hay không lại còn tùy thuộc vào kỹ thuật và sự trung thực của từng labo Chính vì vậy lõi kim loại lẫn tạp chất trong mão thường bị oxy hóa sau một thời gian sử dụng, tạo ra các oxyt kim loại, giải phóng ra vùng lân cận đường hoàn tất, gây nhiễm màu ở nướu Sự oxy hóa kim loại càng tăng lên và giải phóng ra nhiều khi đường hoàn tất không khít, tạo điều kiện cho các tác nhân gây oxy hóa dễ tiếp xúc với kim loại

- Không dùng các loại kim loại có thành phần Cu cao vì khi nếu có sự hở

đường hoàn tất thì nước bọt sẽ thấm vào thì gây ra các phả ứng hóa học Cu thành CuO và đấy là nguy cơ làm đen,xanh viền nướu

- Trong thành phần kim loại có Beryllium (Be), Be có đặt tính làm cho kim lọai chảy lỏng tốt hơn, khi đó vật đúc đạt được độ tinh xảo, chi tiết nhờ vậy tăng tính chính xác Nhưng Be là chất phóng xạ, nên khích thích mô rất dữ, nhiều kỹ thuật viên Lab đã bị nổi mẫn ngứa kép dài do Be Nướu có thể bị viêm khi tiếp xúc với Be kéo dài (nếu cơ địa nhạy cảm) Hiện nay, tại Việt Nam rất nhiều lab sử dụng VeraBond V là một ceramic metal của hảng

Aalbadent cóchứa 1.95% Be Các bạn có thể tin rằng hầu hết phục hình sứ kim lọai thường màbạn gắn cho bệnh nhân có sự hiện diện của Be

- Liệu triệu chứng ê buốt trongnhiều tuần đầu sau khi gắn vĩnh viễn có phải do

Be không?(nghi vấn)

Cách khắc phục :

+ Làm đường hoàn tất sát khít

+ Lựa chọn phục hình sứ không kim loại

+ Lựa chọn labo đáng tin cậy để không bị lẫn tạp chất trong lõi kim loại

Trang 3

Đ ường hòan tất trong mão kim loại phủ sứ hoặc sứ không kim loại phải đảm bảo:

- Lấy đủ chiều dày mô răng.(nên mài ĐHT bời vai,cong không sử dụng ĐHT

bờ xuôi)

- Liên tục và trơn nhẵn, đường hoàn tất không bị dư hoặc lẹm

- Kín khít giữa răng và phục hình

Nếu DHT không đủ tiêu chuẩn sẽ dẫn tới những thất bại của phục hình, trong đó có việc làm đen viền nướu

- Việc lấy không đủ chiều dày mô răng sẽ dẫn tới 2 vấn đề :

 Một là: Sườn quá mỏng, dẫn tới không chịu nổi lực xoắn vặn cao ở cổ răng, sườn dễ bị biến dạng theo lực uốn,dẫn tới vỡ sứ bọc bên ngoài

 Hai là sườn đủ chiều dày nhưng sứ quá mỏng, hậu quả bị bong sứ cũng sẽ xẩy ra Vấn đề lộ kim loại tất yếu sẽ gây ra viền nướu bị đen bởi 2 cơ chế:

+Sự oxy hóa sườn mà hậu quả đã nói ở trên

+ Hiệu ứng ánh sáng khi đặt tấm kim loại màu đen sau nướu

- Đường hoàn tất không kín khít, lẹm hoặc dư sẽ dẫn tới hậu quả :

 Các tác nhân oxy hóa trong khoang miệng sẽ dễ dàng chui vào trong sườn gây oxy hóa kim loại ( đã nói ở trên)

 Ngoài ra, khi không kín khít thì đương nhiên sẽ có khoảng hở tồn tại,

và cement gắn sẽ chiếm chỗ vào khoảng hở đó khi gắn mão, mà rất khó kiếm xoát được vấn đề trơn nhẵn của cement trong trường hợp này, dẫn tới việc tích tụ chất màu,mảng bám, màu của ion sắt trong hemoglobin giải phóng ra khi chảy máu do viêm lợi…., dẫn tới hiệu ứng quang học nhìn thấy viền nướu bị đen Hậu quả tương tự cho việc lắp răng sai kỹ thuật,không kiểm soat cement ở đường hoàn tất

 Khắc phục:

 Sửa soạn đường hoàn tất đủ tiêu chuẩn

 Kiểm soát tốt đường hoàn tất khi lắp răng

Trang 4

3 Vỡ sứ trên đường hoàn tất

Vỡ sứ trên ĐHT, những nguyên nhân:

+Lực xóăn sinh ra từ lực nhai,nguy cơ rất cao nếu phục hình trên răng có hiện diện mất chất vùng cổ hoặc xoang V cũ (trong trường hợp này tránh đặt ĐHT tại vùng chịu lực xoắn tức là có thể đặt trên vùng mất chất – để đảm bảo thẫm mỹ nên chỉ định all ceramic hoặc ceramic shoulder; cũng có thể đặt sâu xuống quá vùng mất chất- lưu ý khỏang sinh học)

+Cement bị hòa tan (thực chất là gãy vỡ) làm ĐHT ở trong tình trạng không được nâng đở, khi không được nâng đở, kim lọai bị rung khi truyền lực và sứ

bị vỡ Ngòai ra cement hòa tan còn gây ravi kẻ ,vi kẻ gây viêm, viêm gây tụt nướu, tụt nướu làm lộ đường hòan tất đã vỡ sứ,hiện tượng đen đường viền nướu xãy ra nhanh

+Sử dụng vật liệu không phù hợp hay nói một cách khác là sử dụng kim lọai

có hệ số dãn nở nhiệt (coefficient of expansion) không cùng phạm vi với sứ

vỡ sứ trong trường hợp này không chỉ ở đường hòan tất, mà có thể xãy ra bất

cứ vị trí nào, có thể nhận biết dễ dàng khi thấy sứ vỡ lộ kim lọai hòan tòan do bong lớp opaque Khi hệ số dãn nở giữa kim lọai và sứ không cùng phạm vi thì giao diện giữa kim loại và opaque bị tách ra trong quá trình nướng các lớp tiếp theo

+Insert của scaler (bút cạo vôi ) là “sát thủ mang gương mặt trẻ thơ”, trong khi cạo vôi khi cố lấy vôi hay những cement thừa ở ĐHT sứ nên cẩn thận là sau khi cạo vôi phải đền cái mão sứ Nên chỉnh Power thấp nhất để giảm độ rung tối đa hoặc thay thế bằng dụng cụ cầm tay

+Các rạn nứt có thể xuất hiện khi chỉnh sửa đường hoàn tất tại phòng khám trong quá trình lắp thử răng dẫn đến việc vỡ sau khi được gắn do các lức xoắn vặn gây nên

4.Hiệu ứng quang học do viền nướu quá mỏng,nướu nhiễm sắc,tụt nướu

Có một số bệnh nhân viền nướu rất mỏng, thường nữ viền nướu mỏng hơn nam Có thể kiểm tra sự mỏng viền nướu bằng cách để một tấm lá thép mỏng sau nướu, kiểm tra xem có bị ánh màu không

Trang 5

bình thường nhưng ta nhìn thấy nướu bị đen đi, khi đằng sau nướu là một vật tối màu.Vật tối màu đó có có thể là:

 Răng chết tủy, chân răng đổi màu

 Cao răng mảng bám, đặc biệt là cao răng huyết thanh

 Sườn kim loại bị lộ

 Sử dụng cùi giả để tái tạo cùi

- Nướu nhiễm màu do kim loại của phục hình: vấn đề đã được nhiều

nghiên cứu xác nhận Tùy theo thành phần của hợp kim làm phục hình có mức độ nhiễm màu của nướu khác nhau, kể cả hợp kim vàng

- Tụt nướu:

Bệnh căn:

+Hình thái: dạng sinh học của mô nha chu (mỏng,rất mỏng),hướng,vị trí của răng phục hình (lệch), thắng môi má bất thường

+ Chấn thương:Do bệnh nhân: chải răng, sử dụng chỉ nha khoa sai, thói quen xỉa tăm hay các đồ vật khác, hoặc tai nạn Do nha sĩ: mài răng, đặt đê, đặt chỉ co nướu không đúng làm tổn thương nướu, đường hoàn tất xâm phạm khoảng sinh học, Răng tạm có đường hòan tất quá dư (dài hơnchiều cao nướu rời, khi gắn răng tạm, nướu rời bị ép tối đa, lâu ngày tổnthương không hồi phục),cement gắn chui vào khe nướu mà không được lấy ra thời gian lành thương sau điều trị nha chu không đủ và có can thiệp cạo vôi, nạo túi sau khi hoàn tất phục hình

+Bệnh nha chu: thường liên quan với sự tích lũy mảng bám: bệnh

nha chu chưa được loại bỏ trước khi lấy dấu, đường hoàn tất không khít sát, không loại bỏ hết cement dư, phục hình không tiếp xúc tốt với

các răng kế cận gây nhồi nhét thức ăn hoặc bệnh nhân VSRM kém

+Lực khớp cắn: vấn đề này chưa rõ ràng, khả năng được đưa ra là

những lực khớp cắn (bất thường) có tác dụng như lực chình hình làm

tiêu lớp xương vỏ mỏng gây tụt nướu

 Khắc phục:

 Tẩy trắng răng chết tủy

 Kiểm soát cao răng mảng bám( sự trơn nhẵn và sát khít của đường hoàn tất)

Trang 6

Phục hình sứ không kim loại hoặc sứ margin (Đường tiếp xúc của răng sứ với nướu răng không có kim loại mà được kéo dài bằng một loại sứ chuyên biệt khác với sứ của thân răng đó là sứ Margin, lúc này sườn kim loại đã được thiết kế ngắn lại Độ dài của phần sứ Margin khoảng từ 1mm đến 1.5mm.)

 Khi mô răng đổi màu, để không thấy viền đen ta phải kiểm sóat 2 việc:

- Không để mô răng lộ ra: đường hòan tất dưới nướu

- Không để tụt nướu

 Phòng ngừa tụt nướu sau phục hình có ĐHT dưới nướu:

- Dựa trên những yếu tố bệnh căn bản, để phòng ngừa hiện tượng tụt nướu chúng ta phải kiểm soát tốt mô cứng (răng) lẫn mô mềm (nướu) Xin bàn chủ yếu về phần kiểm soát mô mềm

Trước hết phải đánh giá và loại bỏ nếu được những yếu tố khách quan:hình thái, khớp cắn, hướng dẫn bệnh nhân VSRM đúng và

đủ

-Đối với các yếu tố chủ quan (do nha sĩ) có tác giả đưa ra chiến lược kiểm soát mô mềm trong điều trị phục hình như sau:

+ Đạt được sự lành mạnh của mô nha chu trước khi thực hiện lấy dấu sau cùng Đây là bước quan trọng nhất bao gồm phát hiện và điều trị các vấn đề nha chu

+Đảm bảo thời gian lành thương sau điều trị nha chu (Không phẫu thuật 1-2 tuần, phẫu thuật điều trị nha chu viêm: 6-8 tuần, Phẫu thuật làm dài thân răng: 3-6 tháng)

+ Tôn trọng khoảng sinh học + Giảm thiểu tối đa chấn thương mô mềm khi mài ĐHT và co tách nướu

+Thực hiện phục hình tạm chất lượng +Loại bỏ toàn bộ cement dư

- Khắc phục hậu quả tụt nướu sau phục hình: (đương nhiên là PH phải còn tốt về mặt chức năng)

+ Yếu tố thẩm mỹ không quan trọng:Đánh giá và loại bỏ các yếu

tố là nguyên nhân gây tụt nướu Theo dõi định kỳ + Yếu tố thẩm mỹ là quan trọng:

Dùng composite che phủ bờ phục hình và phần chân răng bị bộc lộ.Phương pháp này được đưa ra trong cuốn Esthetic Dentistry, tương tự như trám răng tuy phức tạp hơn 1 chút Tuy nhiên thấy kết quả cũng không khả quan lắm.Dùng các phương pháp phẫu thuật nha chu che phủ chân răng và bờ phục hình.Làm lại phục hình

Trang 7

bỏ phần nướu nhiễm và làm lại phục hình Rõ ràng phục hình mới phải không có bờ kim loại (là nguyên nhân làm nướu nhiễm

màu),do đó phục hình toàn sứ hoặc phục hình đường hoàn tất sứ sẽ là giải pháp

5.Thiết kế phục hình và kỹ thuật lắp răng sai

a.Việc kỹ thuật lắp răng sai dẫn tới hậu quả:

 Không kiểm soát được vấn đề khớp cắn của bệnh nhân gây kênh, cản trở cắn, chạm quá mức… làm răng bị xoắn vặn gây vỡ sứ làm lộ sườn

 Chèn ép vào lợi gây thiểu dưỡng làm lợi đổi màu

b Việc thiết kế phục hình sai dẫn tới hậu quả

 Trục răng quá nghiêng dẫn tới việc răng mang mão chịu lực xoắn vặn lớn ở cô răng làm vỡ sứ làm lộ sườn

 Khắc phục:

 Lắp răng đúng kỹ thuật

 Thiết kế cầu chụp hợp lý

-

Ngày đăng: 22/06/2017, 21:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w