Đứng trước một bệnh nhân mất răng, việc lựa chọn loại phục hình nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tuổi, giới, tình trạng các răng còn lại, tình trạng vùng quanh răng, tình trạng vệ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ rất xa xưa con người đã ý thức được vai trò quan trọng của răng Răng không những quyết định chức năng ăn nhai, nó còn đóng vai trò quan trọng đối với thẩm mỹ và phát âm của con người Mất răng cũng được coi là một tình trạng bệnh lý có ảnh hưởng tại chỗ và toàn thân Nếu như sâu răng là nguyên nhân gây mất răng chủ yếu ở người trẻ thì bệnh nha chu là nguyên nhân chủ yếu gây mất răng ở người già Mặc dù công tác chăm sóc răng miệng của nước ta đã được quan tâm nhưng tỷ lệ mất răng còn tương đối cao
vì thế mà chỉ định phục hình cho từng răng mất là rất cần thiết
Ngày nay do sự hiểu biết về sức khoẻ răng miệng được nâng cao, đời sống kinh tế của nhân dân cũng khá hơn trước nên nhu cầu điều trị phục hình lại các răng mất ngày càng nhiều, theo tác giả Võ Thế Quang (1990) [1] Người có nhu cầu làm răng giả ở lứa tuổi trên 45 tuổi chiếm tỷ lệ 45%
Xử trí làm phục hình mất răng có hai loại: Phục hình tháo lắp và Phục hình
cố định Đứng trước một bệnh nhân mất răng, việc lựa chọn loại phục hình nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tuổi, giới, tình trạng các răng còn lại, tình trạng vùng quanh răng, tình trạng vệ sinh răng miệng, điều kiện kinh
tế của bệnh nhân Phục hình cố định tạo cho bệnh nhân sự thoải mái, dễ chịu, dễ thích nghi với việc mang răng giả trong miệng, phục hồi chức năng
ăn nhai và thẩm mỹ tốt
Phục hình cố định bao gồm các loại: inlay-onlay, chụp răng, răng chốt, cầu răng, cấy ghép Implant Phục hình cố định đã được thực hành từ lâu nhưng còn nhiều vấn đề chưa được đi sâu nghiên cứu như vấn đề chịu lực, chỉ định cụ thể cho từng trường hợp, viêm nhiễm sau khi lắp cầu chụp, viêm tủy răng trụ, sâu răng… Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại mà người ta có thể quan sát được là độ khít sát của phục hình Độ khít sát
Trang 2là một vấn đề quan trọng và được chú ý nhiều trên lâm sàng, đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của phục hình nhờ phòng ngừa sâu răng và viêm nha chu gây ra
do vi khuẩn và độc tố của vi khuẩn trong mảng bám Một số nghiên cứu đã cho các kết quả không giống nhau, thậm chí chênh lệch nhiều Qua nghiên cứu y văn và căn cứ vào tình hình thực tế, với mong muốn đóng góp vào việc tìm hiểu về phục hình cố định, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về độ khít sát của phục hình với cùi răng và tình trạng nha chu của các
răng trụ Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Nhận xét tình trạng nha chu và độ sát khít của phục hình cố định tại Viện đào tạo Răng Hàm Mặt trường Đại học Y Hà Nội” với 2 mục tiêu:
1 Nhận xét độ khít của bờ phục hình với đường hoàn tất ở chụp, cầu răng trên nhóm bệnh nhân được khám tại Viện đào tạo RHM
- Trường Đại học Y Hà Nội
2 Nhận xét tình trạng răng trụ của các răng được phục hình chụp, cầu răng ở nhóm bệnh nhân trên
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 MẤT RĂNG
1.1.1 Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân gây mất răng, người ta chia làm những loại sau:
- Bệnh lý về răng và quanh răng: sâu răng, bệnh lý tủy răng, cuống răng, viêm quanh răng, sang chấn khớp cắn
- Tai nạn sinh hoạt, giao thông
Theo Tống Minh Sơn, có 72% tổn thương răng cửa do chấn thương [2]
- Do bẩm sinh
- Nhổ răng do nhu cầu điều trị bệnh (tia xạ, nắn hàm)
1.1.2 Tác hại của mất răng
1.1.2.1 Tại chỗ
Mới mất răng: gây khó nhai, đau khi ăn nhai đè xuống lợi vùng mất răng Lâu dài: gây xô lệch các răng kế cận, răng đối diện có hiện tượng Popov làm biến đổi khớp cắn, biến dạng đường cong sinh lý của cung răng, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành mảng bám răng, cao răng, gây viêm quanh răng- lung lay răng [3]
- Tiêu xương hàm, rối loạn chức năng cơ và khớp TDH
1.1.2.2 Toàn thân
Do rối loạn chức năng nhai gây rối loạn tiêu hóa dẫn tới ảnh hưởng tới sức khỏe
Trang 4Ảnh hưởng đến phát âm, làm bênh nhân bị mặc cảm, ngại tiếp xúc xã hội, ảnh hưởng đến công tác, nghề nghiệp
Ảnh hưởng tới thẩm mỹ, mất răng gây hóp má, nếu mất răng không cân đối gây lệch mặt, mất răng cửa gây sập môi, khi mất răng nhiều cả hai hàm nếu không còn điểm chạm gây thấp tầng mặt dưới, tất cả yếu điểm trên đều ảnh hưởng đến tâm lý con người làm bệnh nhân ngại giao tiếp
1.1.3 Phân loại mất răng
Trong một nghiên cứu toán học 1942 Cunmer đã thống kê được hơn 113.000 kiểu mất răng khác nhau ở cả hàm trên và dưới [4], [5]
Có nhiều tác giả đưa ra phân loại dựa trên đặc điểm về giải phẫu và tuân theo một quy tắc điều trị nhất định như Kourliansky phân loại dựa vào điểm chạm răng của hai hàm Theo Kennedy, dựa vào khoảng mất răng và các răng giới hạn, theo Eichner dựa trên quan điểm răng vững chắc là do có 4 răng chạm khớp, Applegate dựa vào các răng kế cận vùng mất răng [6], [7]
Ngày nay người ta cho rằng phân loại theo Kennedy có bổ sung của Applegate là đơn giản và được sử dụng rộng rãi Phân loại gồm 6 loại sau [5], [8]:
- Loại 1: mất răng sau hai bên, không có giới hạn phía sau
- Loại 2: mất răng sau một bên, không có giới hạn phía sau
- Loại 3: mất răng một bên có giới hạn, nhưng những răng còn lại không thể gánh được lực nhai tác động lên hàm giả
- Loại 4: mất nhóm răng trước, đường giữa cắt ngang khoảng mất răng
- Loại 5: mất răng một bên có giới hạn nhưng răng trước kề khoảng mất răng không thể dung làm răng trụ được
Trang 5- Loại 6: mất răng một bên có giới hạn, những răng còn lại có thể gánh được lực nhai tác dụng lên hàm giả
Mỗi loại có 4 tiểu loại, tùy theo nó kèm theo với 1,2,3 hay 4 khoảng mất răng không kể khoảng mất răng chính Trừ loại 4 là không có tiểu loại
1.1.5 Hướng điều trị mất răng
Để phục hình lại các răng đã mất từ lâu người ta đã có hai phương pháp
đó là phục hình tháo lắp và phục hình cố định Tất cả các loại phục hình đều nhằm mục đích đáp ứng được chức năng ăn nhai, thẩm mỹ và bảo vệ các răng còn lại trên cung hàm và không gây hại cho tổ chức quanh răng
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển người ta đã tiến hành cấy ghép Implant
1.2 PHỤC HÌNH CỐ ĐỊNH
1.2.1 Vài nét lịch sử về phục hình răng cố định
- Phục hình mất răng được thực hành từ rất lâu Trên một sọ người Eturic (nước Ý 400 năm trước công nguyên) thấy cầu răng thay thế cho răng hàm và những răng bê thay thế cho răng đã mất [6], [11]
Trang 6- Chụp đúc kim loại đã thấy ở Ý vào thế kỷ 17
- Pierre Fauchard (thế kỉ 18) được coi là ông tổ của răng giả
- Thế kỷ 19 người ta đã biết lấy khuôn và làm hàm giả băng cao su, dùng răng bằng sứ cũng trong thời kỳ này càng nhai được sử dụng
- Thế kỷ 20 răng giả được phát triển theo sự phát triển của ngành RHM
- Năm 1906 Carmichacl làm chụp hở mặt ngoài răng
- Năm 1907 dùng phương pháp đúc bỏ sáp như ngày nay
- Năm 1920 làm cầu răng có sự chú ý về cơ học và sinh học
- Chụp kim loại cẩn sứ được giới thiệu vào cuối những năm 40
Đường hoàn tất bờ vai cho phục hình sứ được phát triển vào năm 1960
1.2.2 Các loại phục hình cố định
Phục hình răng là một ngành trong nha khoa chuyên nghiên cứu để phục hồi các răng hay cấu trúc răng đã mất, nhằm tái tạo và duy trì thẩm mỹ vùng hàm mặt
Phục hình cố định là môn khoa học nghiên cứu, tái tạo lại phần thân răng của một hay nhiều răng mất và những cấu trúc liên hệ nhằm phục hồi chức năng răng miệng của bệnh nhân Phục hình này được gắn chặt vào răng thật
mà bệnh nhân không thể tự tháo ra được
Có nhiều loại phục hình cố định nó phụ thuộc vào thành phần mắc giữ với răng trụ [6], [8], [12]
Trang 71.2.2.1 Inlay, Onlay, Overlay
Hình 1.1 Inlay, onlay [13]
Inlay là một phục hình răng đặt bên trong thân răng, bao bọc bởi tổ chức
mô răng, còn được gọi là phục hình bên trong thân răng Inlay thường được đúc bằng kim loại, sứ hoặc composite [5]
Trong phục hình răng cố định người ta sử dụng Inlay kim loại để làm phần giữ cho cầu răng cố định loại ngắt lực
Các inlay kim loại có thêm các chốt lưu còn được gọi là pinlay
Onlay là một biến thể của inlay, có phần mặt nhai bao phủ cả mặt nhai của thân răng
Ở mặt trong các răng cửa và răng nanh các onlay có các bậc và chốt lưu còn được gọi là pinledge, hay là biến thể của mão ¾
1.2.2.2 Chụp răng
Là một chụp có hình dạng thân răng phục hồi toàn phần hoặc một phần răng trên một răng riêng rẽ sau khi răng này được mài toàn phần hoặc một phần tuỳ theo loại chụp được chỉ định làm
Trang 8 Chụp toàn diện kim loại [5]
Hình 1.2 Chụp toàn diện kim loại [13]
Loại chụp này bao phủ toàn thể 5 mặt của thân răng Chụp được làm bằng kim loại dùng để bao bọc một răng riêng rẽ hay làm phần giữ cho một cầu răng
Chỉ định
Dùng để che chở và tái tạo một thân răng bị sâu lớn hoặc vỡ lớn do chấn thương đến mức độ không còn có thể hàn răng chắc
Múi răng bị bể mất không thể trám bền vững được
Dùng bao bọc các răng bị thiểu sản men ngà, bị nứt men răng
Dùng để điều chỉnh lại vị trí thân răng và khớp cắn cho những răng mọc lệch lạc mà không thể chỉnh hình được
Dùng bao bọc các răng sẽ mang móc cho một hàm giả tháo lắp có mô răng yếu hoặc có hình thể không thuận tiện cho sự bám giữ của móc
Dùng nâng cao khớp cắn
Chống chỉ định
Răng có buồng tuỷ quá to nếu muốn bảo tồn tuỷ
Răng bị bệnh nha chu
Trang 9 Chiều cao thân răng quá thấp
Răng nghiêng lệch quá nhiều
Răng phía trước (thẩm mỹ)
Chụp toàn diện kim loại có mặt nhựa (sứ) [5]
Hình 1.3 Chụp kim loại cẩn sứ [13]
Là chụp toàn diện bằng kim loại nhưng có mặt ngoài được phủ thêm một lớp nhựa hoặc sứ Đây là một kiểu biến đổi của chụp đúc kim loại toàn diện vì yêu cầu thẩm mỹ
Chỉ định
Có thể thực hiện trên răng sống, răng đã lấy tuỷ, cho cùi răng giả
Dùng bao bọc một răng riêng rẽ hay là phần giữ cho cầu răng
Có thể dùng cho các răng phía trước và răng phía sau
Thân răng bị bể góc, múi, không thể trám bền vững được
Thân răng bị mòn, gãy cạnh cắn
Thân răng bị thiểu sản men, dị thường mà không trám thẩm mỹ được
Răng bị nhiễm màu mà không trám thẩm mỹ được
Răng có hình dạng bất thường mà không trám thẩm mỹ được
Trang 10 Răng bị xoay lệch không chỉnh hình được, không trám thẩm mỹ được
Thân răng bị nứt
Răng trước có sức nhai mạnh, sẽ không bền nếu làm chụp Jacket
Dùng để nâng cao khớp cắn
Chống chỉ định
Răng sống có buồng tuỷ lớn
Răng trước có kích thước ngoài – trong nhỏ
Thân răng có chiều cao quá thấp
Bệnh nhân có mô răng tốt
Vệ sinh răng miệng tốt
Trang 11 Thân răng phát triển đầy đủ về chiều cao, ngoài trong, gần xa để có thể giữ cho chụp răng và thực hiện tốt các rãnh lưu, hố lưu
Thân răng có vị trí và chiều hướng bình thường trên cung răng (không xoay hoặc nghiêng lệch)
Nên làm trên răng sống có mặt không bọc nguyên vẹn, tốt
Thường được làm trên răng cửa, răng nanh, răng cối nhỏ, trường hợp đặc biệt có thể làm nên răng cối lớn
Thường dùng để làm phần giữ trên răng trụ cho cầu răng
Có thể dùng làm nẹp cho nhiều răng hoặc làm chụp riêng rẽ để phục hình các răng bị bể vỡ múi răng
Chống chỉ định
Răng đã lấy tuỷ
Răng có mô răng xấu
Vệ sinh răng miệng kém
Chiều cao thân răng thấp, chiều ngoài trong nhỏ
Thân răng bị xoay lệch nhiều
Không dùng làm phần giữ cho cầu răng quá dài
Chụp Jacket [5]
Hình 1.5 Chụp jacket [13]
Trang 12Là loại chụp toàn diện nhưng được làm bằng sứ hay bằng nhựa hoặc composite, dùng để phục hình riêng rẽ cho từng răng
Chỉ định
Bệnh nhân trên 20 tuổi
Răng tuỷ còn sống, răng đã lấy tuỷ, cùi răng giả
Răng phía trước hoặc răng phía sau tuỳ vật liệu phục hồi
Thân răng bị đổi màu không trám thẩm mỹ được
Thân răng bị bể góc mà không trám được
Thân răng có hình dạng bất thường không trám thẩm mỹ được
Thân răng bị thiểu sản men, dị trưởng không trám thẩm mỹ được
Thân răng bị mòn, gãy cạnh cắn
Răng bị xoay lệch không thẩm mỹ mà không chỉnh hình được hay trám thẩm mỹ được
Chống chỉ định
Răng có buồng tuỷ lớn
Thân răng quá thấp
Thân răng trước có kích thước ngoài trong nhỏ
Răng có cingulum quá thấp
Răng mang móc cho hàm giả tháo lắp
Trang 13 Răng có buồng tuỷ nhỏ và không quá nhạy cảm
Răng có chiều cao thân răng trung bình hoặc cao
Khớp cắn bình thường thì dùng kiểu chụp kim loại phủ sứ
Khớp cắn sâu thì dùng chụp kim loại cẩn mặt sứ
Khớp cắn đối đầu thì dùng kiểu chụp cẩn mặt sứ hoặc chụp kim loại phủ sứ
Răng hàm:
Răng có buồng tuỷ nhỏ và không quá nhạy cảm
Răng có chiều cao thấp dùng chụp kim loại cẩn mặt sứ
Răng đã lấy tuỷ
Răng trước:
Răng bị mất chất lớn do sâu răng hay chấn thương
Trang 14 Phần răng còn lại trên 2mm thì nên tái tạo lại phần cùi răng bằng kim loại đúc, bằng chốt, composite và làm chụp sứ kim loại bên ngoài
Trường hợp mất hết thân răng và chiều ngoài trong quá nhỏ thì nên làm răng chốt Richmond sứ-kim loại
Trường hợp mất hết thân răng và chiều ngoài trong mặt chân răng bình thường thì tái tạo cùi giả và làm chụp sứ - kim loại bên ngoài
Răng sau:
Tái tạo cùi răng từng phần hoặc toàn phần (cùi giả), có chốt cố định hay chốt gài
Nếu răng có chiều cao thấp thì dùng chụp kim loại cẩn sứ
Nếu răng có chiều cao tốt thì dùng chụp kim loại phủ sứ
Trang 15Chỉ định
Thân răng bị huỷ hoại lớn bởi sâu răng
Thân răng bị gãy vỡ lớn do chấn thương
Thân răng bị dị trưởng, thiểu sản men ngà nhiều, tuỷ chết, không trám thẩm mỹ hay dùng chụp jacket được
Thân răng bị mòn cạnh cắn nhiều
Thân răng hơi lệch vị trí bình thường mà không chỉnh hình răng hoặc trám thẩm mỹ được
Chân răng phát triển bình thường được chữa nội nha tốt
Mô nha chu lành mạnh
Có răng sau và khớp cắn thăng bằng
Chống chỉ định
Chân răng bị tổn thương nhỏ và răng còn tuỷ sống lành mạnh
Thân răng bị thiểu sản men ngà, mòn ngót cổ răng ít và tuỷ răng còn sống
Chân răng và mô nha chu bị nhiễm trùng
Hình thể chân răng quá cong, gãy khúc, quá ngắn, dẹp mỏng
Mô cứng chân răng mềm yếu hoặc hoá vôi nhiều
Ống tuỷ quá rộng do sâu răng hay do nội tiêu
Mặt chân răng nằm quá sâu dưới rãnh lợi
Mất răng sau chưa phục hình
Trang 161.2.2.3 Cầu răng
Hình 1.8 Cầu răng [13]
Cầu răng là loại phục hình răng cố định được dùng phục hình răng mất bằng cách dùng các răng bên cạnh làm trụ để mang gánh răng giả thay thế răng mất này [5]
Một cầu răng đơn giản thông thường gồm có 4 thành phần:
Răng trụ cầu: Là một thân răng hay một chân răng thật dùng để
chống đỡ cho cầu răng
Phần giữ: Là phần của cầu răng bám giữ trên răng trụ và nối với
răng nhịp cầu Phần giữ này có thể là onlay, inlay, chụp từng phần, chụp toàn diện, răng chốt
Nhịp cầu: Là phần của cầu răng thay thế cho răng mất, nhịp cầu có
công dụng là phục hồi chức năng và hình thể của răng mất
Phần nối: Là phần của cầu răng nối liền nhịp cầu với phần giữ, nó có
thể là loại cứng chắc hay loại không cứng chắc:
o Loại cứng chắc: Phần kim loại nối giữa nhịp cầu và phần giữ được
hàn hoặc đúc dính liền nhau
Trang 17o Loại không cứng chắc: Phần nối giữa nhịp cầu và phần giữ là một
móc khoá cơ học hay ngàm tựa Cầu răng có nối không cứng chắc gọi là cầu răng bán cố định hay cầu răng ngắt lực
Chỉ định
Khớp cắn thuận lợi, thăng bằng
Vị trí và số lượng các răng trụ phải tương xứng với các răng mất
Răng trụ có tuỷ và mô nha chu lành mạnh
Vị trí và chiều hướng của răng trụ có thể trở nên song song sau khi mài cùi răng, răng trụ không nghiêng quá 15 độ theo chiều gần xa
Chân răng có hình dạng thuận lợi cho sự cứng chắc trong xương hàm
Hình dạng chân răng cong, dị thường hay các chân răng phân kỳ
Tiết diện chân răng rộng, hình bầu dục thuận lợi hơn hình tròn
Tỷ lệ thân/chân nhỏ hơn hoặc bằng 1
Chống chỉ định
Bệnh nhân bị đa sâu răng, chất lượng men răng kém
Khớp cắn không thuận lợi, không có răng bên đối xứng hoặc mất răng phía trong cầu răng sẽ làm
Khoảng mất răng quá dài mà không có đủ số răng trụ
Cầu răng ở vùng cung răng cong mà không đủ răng trụ phía bên đối kháng cân bằng
Răng trụ có thân răng ngắn, nhỏ
Răng nghiêng nhiều
Trang 18 Răng chết tuỷ chưa được chữa nội nha
Răng có bệnh nha chu hay mô nha chu suy yếu, lợi tụt nhiều, xương
ổ răng tiêu nhiều, tỷ lệ thân/chân răng lớn hơn, lộ vùng chẽ răng
1.3.2 Các kiểu đường hoàn tất
Hình 1.9 Các kiểu đường hoàn tất [13]
1.3.2.1 Bờ xuôi (knifer edge)
Đường hoàn tất loại này không phân biệt rõ đối với phần bên dưới của
nó trên cùi răng vì mặt đứng của cùi răng gần như liên tục với phần răng bên dưới không có giới hạn rõ rệt
Loại này dễ thực hiện, dùng ở những mặt răng chỉ cần mài ít, mặt trong
và mặt bên các răng trong, chụp bằng kim loại
Trang 19Nhược điểm của loại này là bờ cạnh mão sẽ mỏng, khó đúc và dễ bị biến dạng khi thử chụp răng Ngoài ra trên mẫu hàm thạch cao cũng khó thấy giới hạn của đường hoàn tất này
1.3.2.2 Bờ vai (shoulder)
Đường hoàn tất được mài như một bậc thang thẳng góc với mặt đứng của cùi răng, loại này đòi hỏi phải mài nhiều ngà răng
Chỉ định cho chụp jacket nhựa, chụp sứ kim loại
Cạnh chụp với đường hoàn tất này dày và cứng
Khi mặt lợi của bờ vai hợp với mặt đứng một góc lớn hơn 900 thì được gọi là bờ vai nghiêng
Chỉ định đường hoàn tất dưới lợi:
- Mô răng yếu, dễ bị sâu răng
Trang 20- Thân răng có chiều cao quá thấp
- Phục hình răng trước (mặt ngoài)
- Răng có hình dạng, chiều hướng và vị trí bình thường để việc mài các mặt đứng không quá nhiều làm hại đến tủy răng
- Răng có hình dạng, chiều hướng bất thường nhưng đã được lấy tủy và tái tạo cùi răng tốt
Chỉ định đường hoàn tất trên lợi:
- Thể trạng nhạy cảm với bệnh nha chu
- Loại răng đề kháng với sâu răng tốt
- Thân răng có chiều cao bình thường hay cao
- Phục hình cho răng trong hay mặt trong các răng trước
- Thân răng có vùng cổ răng eo thắt nhiều
- Răng nghiêng mà việc mài đường hoàn tất dưới nướu làm mất nhiều ngà răng và hại tủy
- Răng bị tụt lợi đến đường cổ răng và dưới cổ răng
Chỉ định đường hoàn tất ngang lợi:
- Thực hiện ở mặt bên hay mặt trong của những bệnh nhân trẻ, rãnh lợi cạn Loại này cũng được làm cho những mão răng chuyển tiếp
Trên cùng một cùi răng có thể chỉ một vị trí đường hoàn tất, có thể hai hoặc cả ba vị trí đường hoàn tất tùy theo trường hợp
Trang 211.4 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ PHỤC HÌNH RĂNG CỐ ĐỊNH BẰNG CẦU VÀ CHỤP RĂNG
1.4.1 Ở Việt Nam
- Nguyễn Thị Thoa (2001) nghiên cứu 30 bệnh nhân với 50 đơn vị phục hình sứ (28 răng trụ, 22 răng chụp) Sau 6 tháng điều trị số bệnh nhân kiểm tra lại là 28, không có răng trụ, chụp nào bị bong; có hai bệnh nhân có hiện tượng phục hình bị mẻ sứ [14]
- Nghiên cứu của Nguyễn Minh Hiền (2003) trên 38 bệnh nhân với 40 cầu răng Sau 6 tháng điều trị số bệnh nhân kiểm tra lại là 35, không có trường hợp nào bị bong gãy, tình trạng răng trụ và vùng quanh răng tốt[15]
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cẩm Vân (2003) nghiên cứu 15 cầu răng trên 15 bệnh nhân Sau 6 tháng điều trị có 12 bệnh nhân kiểm tra lại, tình trạng răng trụ và vùng quanh răng không bị ảnh hưởng, tỷ lệ tốt đạt 91,67%
do có 1 trường hợp răng giả bị đổi màu [16]
- Nghiên cứu của Chu Thị Quỳnh Hương (2004) sau 9 – 12 tháng theo dõi đối với phục hình toàn sứ IPS EMPRESS Trong số 17 bệnh nhân với 38 chụp đơn và 5 cầu 3 đơn vị cho vùng răng trước không có chụp cầu nào bị nứt
vỡ, chức năng tốt, tình trạng răng trụ trên X quang tốt [17]
- Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Minh (2005) sau 6 – 12 tháng theo dõi
25 bệnh nhân với 43 cầu răng Trong tổng số 43 cầu có 92 trụ cầu sau 12 tháng được kiểm tra lại bằng X quang cận chóp không răng nào có hiện tượng tiêu xương, có 1 cầu thép cẩn nhựa có viêm lợi, 1 cầu sứ bị vỡ mặt ngoài gần gây lộ thép, giắt thức ăn và viêm lợi [18]
Trang 22- Theo Nguyễn Thị Kim Ngân (2007) khi nghiên cứu về phục hình toàn sứ Alumina cho 29 bệnh nhân với 53 chụp đơn, theo dõi sau 6 – 9 tháng
có răng nào biểu hiện bệnh lý vùng quanh răng hoặc cuống răng [20]
1.4.2 Nghiên cứu trên thế giới
- Valderhaug J, Ellingsen JE and Jokstad A (1993) nghiên cứu dọc 15 năm 102 bệnh nhân với 108 cầu răng Sau 5 năm, 10 năm và 15 năm số bệnh nhân khám lại lần lượt là 88, 71, và 55 bệnh nhân Số lượng mảng bám không khác nhau giữa răng trụ mang chụp và răng chứng, trong khi chỉ số lợi độ 2 và
3 xuất hiện thường xuyên ở răng mang chụp hơn là răng chứng trong suốt thời gian theo dõi Độ sâu trung bình của rãnh lợi/ túi quanh răng tăng nhẹ ở những răng trụ cầu mang chụp và không thay đổi ở răng chứng Tổn thương sâu răng phát hiện ở 3,3%, 10% và 12% bề mặt răng trụ cầu lần lượt vào năm thứ 5, năm thứ 10 và năm thứ 15 sau điều trị Không có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê trong sự mất xương giữa răng chứng và răng mang chụp [21]
- Steyern P và cộng sự (2001) nghiên cứu trên 18 bệnh nhân được phục hình với 20 cầu răng 3 đơn vị sứ toàn bộ ở vùng răng sau trong 5 năm Kết quả là 90% cầu răng không có sai sót ở bất cứ lần khám nào và hoạt động chức năng tốt sau 5 năm Không có tổn thương sâu răng hoặc dấu hiệu nào của viêm lợi hoặc viêm quanh răng nặng ở răng trụ cầu được ghi nhận [22]
Trang 23- Ödman và cộng sự (2001) nghiên cứu trên 50 bệnh nhân được phục hình với 87 chụp răng sứ toàn bộ Sau 5 năm và 10 năm, tỷ lệ tồn tại chụp răng lần lượt là 97,7% và 93,5%, và tỷ lệ thành công lần lượt là 97,7% và 92,2% 6 chụp răng (7%) được báo cáo là thất bại, 5 chụp răng (6%) được làm lại Sự toàn vẹn của đường viền chụp được đánh giá tốt hoặc chấp nhận được ở 92% các chụp răng Chảy máu lợi xảy ra ở răng mang chụp (39%) nhiều hơn một chút so với răng đối diện (27%) Số răng mang chụp được điều trị nội nha chiếm tỷ lệ thấp (2%) Các bệnh nhân đều hài lòng về thẩm
mỹ của chụp răng [23]
- Terry R Walton và cộng sự (2003) nghiên cứu 515 cầu răng sứ - kim loại trong 15 năm Sau 15 năm, 80% cầu răng vẫn còn hoạt động chức năng, trong khi 9% cầu răng đòi hỏi điều trị lại Trong các trường hợp điều trị lại, nguyên nhân do răng gãy chiếm 38%, sâu răng chiếm 11% và phá hủy vùng quanh răng chiếm 27% [24]
- Holm C và cộng sự (2003) nghiên cứu 289 cầu răng cho kết quả tỷ lệ tồn tại của cầu răng cao, 53% cầu răng vẫn còn hoạt động chức năng sau 30 năm phục hình Sâu răng trụ là nguyên nhân phổ biến nhất khiến cầu răng bị tháo bỏ Trong số những răng trụ tủy sống, 7% cần được điều trị tủy trong suốt quá trình theo dõi [25]
- Näpänkangas R, Raustia A (2008) nghiên cứu 50 bệnh nhân với 100 chụp răng sứ - kim loại sau 20 năm Kết quả là có 20 răng được nhổ vì gãy chân răng hoặc thẩm mỹ hoặc bệnh vùng quanh răng 98% bệnh nhân không
có phàn nàn về thẩm mỹ của chụp răng Dấu hiệu lâm sàng phổ biến nhất là đường viền chụp trên lợi do lợi co, chảy máu rãnh lợi khi thăm khám và hở khớp với răng đối diện Tỷ lệ thành công của chụp sau 20 năm là 75%, tỷ lệ tồn tại của phục hình là 78% [26]
Trang 24- Sailer I, Gottner J, Känel (2009) nghiên cứu 53 bệnh nhân với 67 cầu răng (36 cầu răng sứ toàn phần, 31 cầu răng sứ kim loại) sau 3 năm điều trị
Tỷ lệ thành công của cả hai nhóm là 100% Có 25% cầu răng sứ toàn phần và 19,4% cầu răng sứ - kim loại có hiện tượng mẻ sứ nhẹ Có duy nhất một cầu
sứ toàn phần bị gãy (C: 8,6%; D: 2,8% theo tiêu chuẩn UnitedStates Public Health Service) Có một vài bệnh nhân phàn nàn về sinh học Cả hai nhóm cầu răng có giá trị về các thông số sinh học giống nhau: độ sâu rãnh/ túi lợi, mất bám dính và chảy máu lợi khi thăm khám [27]
- Maged K Etman (2010), đánh giá 90 chụp răng sau 3 năm phục hình theo tiêu chuẩn United States Public Health Service Kết quả là 100% chụp răng đạt loại A và B về sự nguyên vẹn đường viền chụp, màu sắc, sâu răng thứ phát và cấu trúc bề mặt (tất cả chụp răng đạt loại B do mòn sứ ở mặt tiếp khớp) 93,4% chụp răng đạt loại A và B về nứt sứ bề mặt [28]
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Những bệnh nhân đã được điều trị bằng phục hình cố định
- Địa điểm: Trung tâm kĩ thuật cao Viện đào tạo Răng hàm mặt – Trường Đại học Y Hà Nội và Khoa RHM – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
- Thời gian: Từ 5/2014 – 9/2014
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu
- Tất cả bệnh nhân đã được làm chụp răng toàn phần, cầu răng có phần giữ là chụp toàn phần đến khám tại Trung tâm kĩ thuật cao Viện Đào tạo RHM và tại khoa RHM bệnh viện Đại học Y Hà Nội
- Thời gian làm phục hình trên 6 tháng
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Chụp răng từng phần
- Cầu răng có các phần giữ là chụp từng phần, inlay, răng chốt, cánh dán
- Bệnh nhân không hợp tác tham gia nghiên cứu
2.1.3 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
2
2 ) 2 / 1 (
)1(
d Z
Trang 26) 2 /
1
(
Z = 1,962
= 0,96: Tỷ lệ thành công của phục hình cố định [23]
d2: Sai số ước lượng với d= 0,05
=> lựa chọn 59 phục hình cố định thỏa mãn tiêu chuẩn như trên
- Cách chọn mẫu: thuận tiện
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.1 Dụng cụ
- Ghế máy nha khoa
- Bộ khay khám: gương, gắp, thám trâm
- Chỉ tơ nha khoa
Trang 272.2.2 Thu thập thông tin
Bảng 2.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu về thông tin bệnh nhân và phục
hình cố định
Các biến số Phân loại Phương pháp thu
thập
Công cụ thu thập
> 5 năm
vấn bệnh nhân
Trang 28Đánh giá kết quả dựa vào tiêu chí lâm sàng, Xquang:
+ Nhận xét chức năng khớp cắn: Khớp cắn phải đảm bảo được các điều kiện ở hai trạng thái:
Khớp cắn ở trạng thái tĩnh: Chạm đều ở khớp cắn lồng múi tối đa Trừ răng cửa hàm dưới và răng hàm lớn thứ ba hàm trên, mỗi một răng đều chạm hai răng đối diện Độ cắn chìa và độ cắn phủ ở giới hạn cho phép Đường giữa răng cửa trên và dưới là một đường thẳng
Khớp cắn ở trạng thái động: Hướng dẫn đưa hàm ra trước có sự tham gia của các răng cửa Khi trượt hàm dưới ra trước tới mức đầu chạm đầu có nhiều răng chạm, các răng sau nhả khớp Việc đưa hàm sang hai bên có sự hướng dẫn của răng nanh đúng, không gây sang chấn Tham gia việc đưa hàm sang bên có sự hướng dẫn của răng nanh đúng, không gây sang chấn Hướng dẫn đưa hàm dưới lùi sau không có tiếp xúc sớm ở tương quan tâm
- Thẩm mỹ
Các tiêu chuẩn về thẩm mỹ của phục hình bao gồm:
+ Hình thể răng: Hình dáng, kích thước của răng hài hòa, tương xứng
với răng bên cạnh (không quá to hoặc quá nhỏ) Cổ răng giả ôm khít sát, liên tục với cùi răng, điểm tiếp xúc bên cạnh tốt
Trang 29+ Màu sắc: Màu sắc tự nhiên giống răng thật
+ Đường viền lợi vùng cổ răng: Đường viền lợi tương ứng với răng bên cạnh, màu sắc vùng cổ răng hồng hào, tự nhiên
- Độ bền vững của phục hình: Phục hình phải vững ổn trên cung
răng Yếu tố giúp cho phục hình vững ổn: Mặt cắt ngang của cùi răng giả không tròn để chống xoay của chụp, độ khít của phục hình với cùi răng, điểm tiếp giáp với răng bên cạnh tốt, khớp cắn đúng
- Sự hài lòng của bệnh nhân về phục hình
Trang 30 Độ lung lay được xác định theo Miller [32]:
o Độ 0: Di động sinh lý của răng, răng di động trong xương ổ từ 0,1 – 0,2 mm theo chiều ngang
o Độ 1: Thân răng di động < 1mm theo chiều ngang
o Độ 2: Thân răng di động > 1 mm theo chiều ngang
o Độ 3: Thân răng di động nghiêm trọng theo cả chiều ngang và chiều dọc ảnh hưởng đến chức năng của răng
- Sự sát khít của chụp với cùi răng:
+ Khám lâm sàng:
- Nhìn
- Khám bằng thám trâm
- Chỉ tơ nha khoa
- Cây sonde nha chu
Khít sát hoàn toàn: Không bị mắc thám trâm hay chỉ tơ nha khoa tại rìa các cạnh của phục hình với cùi răng
Khít sát không tốt: Bị mắc thám trâm hoặc chỉ tơ nha khoa tại rìa các cạnh của phục hình với cùi răng
+ Xquang: Dùng phim Cận chóp đánh giá độ khít sát gần xa
Khít sát hoàn toàn: Hình ảnh cản quang của rìa phục hình phía gần hoặc phía xa liên tục với cùi răng
Khít sát không tốt: Hình ảnh cản quang của rìa phục hình phía gần hoặc phía xa không liên tục, trùm ra ngoài so với cùi răng
Trang 31Bảng 2.2 Các biến số và chỉ số về đặc điểm lâm sàng
Nhóm
biến số Các biến số Các giá trị
Phương pháp thu thập
Công cụ thu thập
Ăn nhai Phát âm
Thẩm mỹ
Hình thể răng Màu sắc Đường viền lợi
Độ bền vững Tình
trạng
răng trụ
Bệnh lý cuống
Có/ không Sâu răng
Độ sâu túi quanh
Quan sát (sử dụng sonde nha chu)
Sự hài lòng của bệnh nhân
Hài lòng/ Chấp nhận/ Không hài lòng
Hỏi
Độ khít sát Có/ Không
Quan sát (sử dụng thám trâm và cây sonde nha chu)
Trang 32Bảng 2.3 Các biến số và chỉ số về đặc điểm Xquang
Các biến số Phân loại
Phương pháp thu thập
Công cụ thu thập
Quan sát
Phim Xquang cận chóp
Trang 33không thành lỗ
Hở thành lỗ tới ngà hoặc
xê măng răng
Sự hài hòa về màu
sắc
Phục hình hài hòa về màu sắc, độ sáng tối và trong mờ so với răng bên cạnh
Không hài hòa giữa phục hình và răng bên cạnh trong giới hạn màu bình thường
Màu sắc phục hình khác răng bên cạnh
Khớp cắn Không cần mài chỉnh
khớp cắn và răng giả khớp với răng đối diện
Cần mài chỉnh khớp cắn hoặc hở khớp < 2mm
Cần mài chỉnh khớp cắn hoặc
hở khớp >2mm Hình thể giải phẫu Hình thể giải phẫu lý
tưởng, tiếp xúc bên tốt
Đường viền chụp liên tục với hình dạng giải phẫu của răng
Tiếp xúc bên hơi kém Đường viền chụp không liên tục với hình dạng giải phẫu răng, nhưng không lộ ngà, chân răng
Tiếp xúc bên
hở
Lộ ngà răng hoặc chân răng
Sâu răng thứ phát Không có dấu hiệu của
sâu răng thứ phát khi khám lâm sàng, hay hình ảnh hủy khoáng ở đường viền phục hình trên phim
X quang
Có sâu răng thứ phát ở đường viền chụp
Tình trạng mô
quanh răng
Mô quanh răng mạnh khỏe, lợi không viêm
Có viêm lợi độ I Lợi sưng hoặc
chảy máu, viêm lợi độ II, III Hài lòng về màu
sắc phục hình
Cả bệnh nhân và nha sỹ đều hài lòng
Bệnh nhân hoặc nha sỹ hài lòng
Màu sắc không chấp nhận được
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi và giới
Nhận xét:
Kết quả cho thấy mẫu nghiên cứu gồm có 35 bệnh nhân, trong đó nam chiếm 48,6% và nữ chiếm 51,4% Tỷ lệ nam nữ khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Trang 36Số lượng %
Số lượng %
Số lượng %
Nhận xét:
Trong bảng 3.1 ta thấy lý do chủ yếu của bệnh nhân khi làm phục hình
là để ăn nhai và thẩm mỹ, chiếm 62,9% Số bệnh nhân làm phục hình chỉ để
ăn nhai chiếm 37,1% Không bệnh nhân nào làm phục hình với lý do thẩm mỹ đơn thuần
Số lượng %
Số lượng %
Trang 37Biểu đồ 3.2 Đánh giá tiêu chí hình thể răng theo giới
Nhận xét:
Hình thể răng phục hình đạt mức tốt chiếm tỷ lệ cao nhất với 79,6%, hình thể khá chiếm 13,6% và còn lại là phục hình răng có hình thể kém chiếm 6,8%
Hình thể phục hình răng đẹp ở nữ giới (72,2%) có tỷ lệ cao hơn so với nam giới (70,6%) Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Trang 38Bảng 3.3 Đánh giá tiêu chí màu sắc răng theo giới Mức độ
Tỷ lệ đẹp và khá về màu sắc răng phục hình ở nữ giới cao hơn ở nam giới Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Trang 39Biểu đồ 3.3 Đánh giá đường viền lợi theo giới
Nhận xét:
Đường viền lợi tương ứng với 59 phục hình cố định được đánh giá ở mức tốt là rất cao (77,9%), còn lại là ở mức độ khá (22,1%) Không có phục hình nào có đường viền lợi ở mức độ kém Trong đó ở nữ giới (83,3%) có đường viền lợi đẹp hơn so với ở nam giới (58,8%)
Sự khác biệt về đường viền lợi ở nam và nữ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Trang 40Biểu đồ 3.4 Đánh giá độ bền vững của từng loại phục hình
Nhận xét:
Qua biểu đồ 3.4 ta thấy trong số 59 phục hình thì có 41 phục hình (69,5%) là chắc chắn, không bị mẻ sứ, vỡ men, không bị giắt thức ăn Có 13 phục hình được xếp vào mức độ khá trong đó cầu răng chiếm 10,2%, chụp răng chiếm 11,9% là do bị giắt thức ăn Mức kém của cầu răng chiếm 5,1%, của chụp răng chiếm 3,4% là do bị rạn, nứt, mòn hay vỡ một phần men răng
Sự khác nhau giữa độ bền vững của từng loại phục hình không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05