Thực tiễn cho thấy, các trường phổ thông trên địa bàn huyện Gia Lâm nói chung và trường THCS nói riêng luôn bị sức ép của các con số đánh giá về trí dục nên các chương trình giáo dục KNS
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -
PHẠM THỊ MAI
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN GIA LÂM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM THỊ MAI
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYÊN VÂN ANH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của giáo dục Việt Nam Các kết quả này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
TÁC GIẢ
Phạm Thị Mai
Trang 4Với sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Vân Anh, người thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình và hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin được cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Phòng Giáo dục& Đào tạo huyện Gia lâm, Ban giám hiệu, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh các trường THCS Thị Trấn Trâu Quỳ, THCS Kim Sơn, THCS Lệ Chi đã tận tình giúp đỡ, cung cấp số liệu, thông tin, động viên, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song không thể tránh khỏi những thiếu xót, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ của các thầy, cô và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Mai
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vii
Danh mục biểu đồ ix
Danh mục chữ viết tắt x
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn đề tài 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG 6
SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Kỹ năng sống 8
1.2.2 Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học 9
1.2.3 Giáo dục hỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học 11
1.2.4 Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học 12
1.3 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học tại trường trung học cơ sở 16
Trang 61.3.1 Đặc điểm học sinh trung học cơ sở 16
1.3.2 Vai trò, ý nghĩa của giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động day học cho học sinh THCS 18
1.3.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học cho học sinh trung học cơ sở 19
1.3.4 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống 23
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS thông qua con đường dạy học 28
1.4 Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thông qua hoạt động dạy học 31
1.4.1 Chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trong việc quản lý nhà trường trung học cơ sở 31
1.4.2 Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học cho học sinh của Hiệu trưởng trường trung học cơ sở 33
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học cho học sinh trung học cơ sở 43
1.5.1 Yếu tố khách quan 43
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 45
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 48
2.1 Giới thiệu chung về địa bàn khảo sát 48
2.1.1 Vị trí địa lý, dân cư huyện Gia Lâm 48
2.1.2 Tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội 48
2.1.3 Quy mô trường lớp 50
2.1.4 Chất lượng giáo dục 51
2.1.5 Tổ chức khảo sát 55
2.2 Thực trạng về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học ở trường THCS huyện Gia Lâm 56
Trang 72.2.1.Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh họ sinh,
học sinh về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy
học ở trường THCS 56
2.2.2 Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 61
trường THCS huyện Gia Lâm 62
2.3 Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS huyện Gia Lâm, Hà Nội 68
2.3.1 Thực trạng lập kế hoạch quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS huyện Gia Lâm, Hà Nội 68
2.3.2 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS huyện Gia Lâm, Hà Nội69 2.3.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS huyện Gia Lâm, Hà Nội71 2.3.4 Thực trạng kiểm tra kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS huyện Gia Lâm, Hà nội 75
2.4 Đánh giá chung về thực trạng và nguyên nhân 77
2.4.1 Đánh giá chung 77
2.4.2 Nguyên nhân 77
CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 80
3.1 Định hướng triển khai hoạt động giáo dục giá trị sống ở các trường trung học cơ sở 80
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 81
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 81
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 82
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp 82
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 83
Trang 83.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính bền vững 83
3.3 Các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS huyện Gia Lâm 83
3.3.1 Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ cán bộ, giáo viên về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS 83
3.3.2 Xây dựng kế hoạch tổng thể và mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cho từng môn học và liên môn dựa trên kế hoạch giáo dục chungcủa nhà trường 90
3.3.3 Đổi mới phương pháp dạy học môn học phù hợp với mục tiêu bài học và kích thích tính sáng tạo và hứng thú học tập của học sinh 92
3.3.4 Xây dựng môi trường giáo dục mở dựa trên mối quan hệ Nhà trường – Gia đình và xã hội (hướng tới cung câp môi trường giáo dục kỹ năng sống hoàn hảo cho hoc sinh – học đi đôi với hành) 95
3.3.5 Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá giáo dục kỹ năng sống theo định hướng phát triển năng lực người học 97
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 99
3.5 Khảo sát tính cấn thiết và khả thi của một số biện pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống 100
3.5.1 Mục đích khảo sát 100
3.5.2 Đối tượng khảo sát 100
3.5.3 Nội dung khảo sát 100
3.5.4 Phương pháp khảo nghiệm 100
3.5.5 Khảo nghiệm 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Khuyến nghị 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 110
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Qui mô trường lớp, số học sinh cán bộ giáo viên các trường THCS của
huyện Gia Lâm năm học 2016- 2017 50 Bảng 2.2 Kết quả giáo dục được thể hiện qua xếp loại hạnh kiểm trong 3 năm học
vừa qua như sau: 51 Bảng 2.3 Kết quả chất lượng giáo dục các môn văn hóa 3 năm qua 52 Bảng 2.4 Kết quả điều tra trình độ chuyên môn và năng lực dạy học của GV THCS
ở huyện Gia Lâm, TP Hà Nội 53 Bảng 2.5 Đội ngũ CB, GV, NV các trường THCS 3 năm qua 54 Bảng 2.6: Thực trạng nhận thức của CBGV và cha mẹ học sinh về vai trò của giáo
dục kỹ năng sống trong nhà trường đối với sự phát triển của học sinh 56 Bảng 2.7: Thực trạng mức độ đạt được về KNS hiện nay của học sinh THCS 59 Bảng 2.8: Thực trạng nội dung giáo dục KNS cho học sinh được tích hợp qua các
môn học 61 Bảng 2.9: Thực trạng CBGV sử dụng các phương pháp GDKNS cho học sinh thông
qua hoạt động dạy học ở trường THCS huyện Gia Lâm 63 Bảng 2.10: Thực trạng học sinh thực hiện các phương pháp GDKNS 64 thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS huyện Gia Lâm 64 Bảng 2.11: Thực trạng về hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh thông qua
dạy học 65 Bảng 2.12: Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDKNS của giáo viên 67 Bảng 2.13: Thực trạng việc xây dựng kế hoạch GDKNS của CBGV 68 Bảng 2.14: Thực trạng việc tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý GDKNS cho học
sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS 69 Bảng 2.15: Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch
tích hợp GDKNS cho học sinh thông qua hoạt động dạy học 71 Bảng 2.16: Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn bồi dưỡng GV về GDKNS 74 Bảng 2.17: Thực trạng việc kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục KNS 75
Trang 10Bảng 3.1: Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý GDKNS thông qua hoạt động
dạy học trường THCS huyện Gia Lâm, Hà Nội 101 Bảng 3.2: Mức độ khả thi của các biện pháp quản lý GDKNS thông qua hoạt động
dạy học trường THCS huyện Gia Lâm 101 Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý
đã đề xuất 102
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Thực trạng nhận thức của HS về HĐGDKNS 60 Biểu đồ 3.2 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản
lý đã đề xuất 103
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Với sự phát triển của xã hội và sự hội nhập quốc tế hiện nay, môi trường sống, học tập và hoạt động của thế hệ trẻ đã có nhiều thay đổi Nhịp độ phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực kinh tế xã hội, giao lưu quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa đã và đang tạo ra những tác động phức hợp, đa chiều làm ảnh hưởng và thay đổi mạnh mẽ quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người trong xã hội hiện nay Cục diện mới này làm cho toàn xã hội có cái nhìn và những quan điểm mới về giáo dục Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, mà còn hướng đến mục tiêu phát triển đầy đủ và tự do giá trị của mỗi cá nhân giúp cho con người có năng lực để cống hiến, đồng thời có năng lực để sống một cuộc sống có chất lượng và hạnh phúc
Thực hiện xu hướng này, từ năm 2001, Bộ GD&ĐT Việt Nam đã thực hiện giáo dục kĩ năng sống (KNS) cho học sinh phổ thông với sự hỗ trợ của các tổ chức
quốc tế Từ phong trào “Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực” do Bộ
GD&ĐT phát động đến nay các trường phổ thông nói chung và các trường THCS nói riêng đã tích cực đẩy mạnh hoạt động giáo dục KNS cho học sinh, trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng về cuộc sống để các em có thể thích ứng với cuộc sống,
tự mình xử lý mọi tình huống trong học tập và cuộc sống
Có thể khẳng định, con người muốn thành công và sống có chất lượng trong
xã hội hiện đại thì đòi hỏi phải có KNS, KNS vừa mang tính xã hội, vừa mang tính cá nhân Giáo dục KNS trở thành mục tiêu và là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng xuyên suốt tinh thần của một nền giáo dục toàn diện Vì lẽ đó, nhu cầu được giáo dục KNS
ở mỗi người là một nhu cầu chính đáng, trong đó có học sinh trung học cơ sở (THCS) Việc giáo dục và hình thành, phát triển nhân cách cho học sinh được thực hiện thông qua hai con đường: dạy học các môn học và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp Tuy nhiên, việc tích hợp giáo dục KNS vào nội dung môn học bằng phương pháp nào, thời lượng, cơ cấu chương trình và cách tổ chức thực hiện ra sao để đạt được hiệu quả cao nhất đó là điều mà hiện nay nhiều nhà quản lý, nhà giáo tâm huyết đã và đang quan tâm nghiên cứu
Trang 14Thực tiễn cho thấy, các trường phổ thông trên địa bàn huyện Gia Lâm nói chung và trường THCS nói riêng luôn bị sức ép của các con số đánh giá về trí dục nên các chương trình giáo dục KNS chưa được chú trọng, việc tích hợp lồng ghép hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong các giờ dạy trên lớp thông qua bài giảng của giáo viên cũng chưa được quan tâm đúng mức, hầu hết đều chưa có chương trình dạy về giáo dục KNS thống nhất, việc giáo dục thái độ, hành vi trong từng tiết học và còn nặng về lý thuyết hoặc mới chỉ là kỹ năng giao tiếp đơn giản và giải quyết tình huống đơn giản, thuyết trình nhóm còn chưa mang thực tế cuộc sống, nặng hình thức biểu diễn
Cùng với các vấn đề nêu trên cũng còn không thể không nhắc tới vấn đề nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) trong nhà trường, họ chưa thực sự thấy hết tầm quan trọng của GDKNS cho học sinh (HS) vì vậy GDKNS và việc quản lý hoạt động GDKNS cho người học trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo dục hiện nay Việc GDKNS cho HS đặc biệt là HS THCS là vấn đề cấp thiết hiện nay của tất các quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng Đặc biệt là từ năm học 2010 - 2011 Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo triển khai dạy tích hợp GDKNS vào trong các môn học, chủ trương này bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định song cũng bộc lộ khá nhiều hạn chế cần khắc phục
Với cương vị là một CBQL nhà trường, chúng tôi nhận thấy một thực tế là thời lượng cũng như định lượng và sự quan tâm dành cho hoạt động giáo dục KNS cho học sinh còn hạn chế Hầu như chỉ được quan tâm tích hợp giáo dục tự phát trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thậm chí còn nhầm lẫn đánh đồng mục tiêu giáo dục KNS với mục tiêu giáo dục ngoài giờ lên lớp trong quá trình quản lý và tổ chức thực hiện Trong khi đó, nhu cầu, nguyện vọng, trình độ, năng lực học sinh còn nhiều điều cần được quan tâm hơn nữa
Việc quản lý hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động dạy học nếu được triển khai đúng hướng, đúng nhu cầu sẽ góp phần tăng tính hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh, tạo ra cơ hội và điều kiện để học sinh được tiếp cận với những kiến
Trang 15thức, kỹ năng thiết thực cho chính bản thân các em Xuất phát từ cơ sở lý luận và
thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh thông qua hoạt động dạy học tại các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện của các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống lý luận về GDKNS và quản lý GDKNS cho học sinh THCS thông qua hoạt động dạy học, phân tích thực trạng quản lý của các trường về giáo GDKNS cho HS các trường THCS tại Huyện Gia Lâm, Hà Nội, trên cơ sở đó
đề xuất các biện pháp để quản lý các hoạt động GDKNS giúp các nhà quản lý, lãnh đạo tham khảo để chỉ đạo quản lý hoạt động GDKNS cho học sinhTHCS
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt
động dạy học cho học sinh trường THCS
Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh thông qua hoạt động dạy học tại các trường THCS Huyện Gia Lâm- Thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý GDKNS thông qua hoạt động dạy học cho học sinh dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn xác thực phù hợp với tính quy luật của quá trình giáo dục kỹ năng sống và đặc điểm lứa tuổi học sinh THCS, phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ năng sống, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
thông qua hoạt động dạy học trong các trường THCS
Trang 16Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học tại các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
6 Giới hạn đề tài
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý giáo dục kỹ
năng sống thông qua hoạt động dạy học cho học sinh ở trường THCS
Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu 03 trường
THCS trong huyện Gia Lâm
+ Trường THCS Kim Sơn
+ Trường THCS Lệ Chi
+ Trường THCS Thị trấn Trâu Quỳ
Giới hạn về khách thể khảo sát: tổng số 319 người Khảo sát, lấy ý kiến của
95 CBGV, 112 phụ huynh, 112 học sinh của 3 nhà trường:
7 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống các
văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu về lý luận quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, của Sở GD&ĐT và các tài liệu lý luận khác có liên quan
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng các phiếu hỏi dành cho giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và học sinh để tìm hiểu về thực trạng, nhu cầu giáo dục và quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Nhóm phương pháp bổ trợ: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý
số liệu, lập các biểu bảng, sơ đồ để biểu diễn các kết quả nghiên cứu định lượng
Trang 178 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học tại các trường THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học tại các trường THCS Huyện Gia Lâm, Hà Nội
Chương 3: Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học tại các trường THCS Huyện Gia Lâm, Hà Nội
Kết luận và khuyến nghị
Trang 18CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
GDKNS là vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu ngày càng nhiều từ hơn 50 năm qua, từ các tổ chức về văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế có tầm cỡ toàn cầu đến các quốc gia, trung tâm nghiên cứu, các tổ chức giáo dục, trường học, từ những nhà nghiên cứu, nhà khoa học
Đầu thập niên 90 một số nước thuộc châu Á như: Lào, Ấn Độ, Campuchia, Thái Lan nghiên cứu và triển khai chương trình dạy kỹ năng sống ở các bậc học
từ mầm non cho đến trung học phổ thông theo hướng dạy lồng ghép vào chương trình dạy chữ, học vấn; lồng ghép vào các môn học và các chương trình ở các mức
độ khác nhau nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng sống cần thiết giúp học sinh thích nghi với cuộc sống; dạy các chuyên đề cần thiết cho người học kỹ năng nghề, kỹ năng hướng nghiệp và chia kỹ năng thành ba nhóm chính: Kỹ năng cơ bản gồm các kỹ năng đọc, viết, ghi chép; Kỹ năng chung gồm kỹ năng tư duy phê phán,
kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề; Nhóm
kỹ năng cụ thể gồm kỹ năng bảo vệ sức khỏe, bình đẳng giới
Năm 1996: UNICEF thông qua chương trình “Giáo dục kỹ năng sống để bảo
vệ sức khỏe và chống HIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà trường” được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1 của chương trình chỉ dành cho một số đối tượng của ngành giáo dục và Hội chữ thập đỏ, trang bị một số kỹ năng như: giao tiếp, nhận thức, kiên định, đặt mục tiêu, kỹ năng xác định giá trị ; Giai đoạn 2 mở rộng đối tượng và thuật ngữ kỹ năng sống được hiểu một cách rộng rãi hơn về kỹ năng sống là các kỹ năng thiết thực mà con người cần đến để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh
Năm 2003: UNICEF tài trợ cho giáo dục nhằm mục đích giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và từ đây giáo dục bắt đầu quan tâm đến giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Trang 19Các tổ chức WHO, UNESCO, UNICEF và các nhà nghiên cứu đã đi vào nghiên cứu và nhìn chung đã thống nhất đánh giá về tầm quan trọng của GDKNS, GDKNS được coi như là một nội dung giáo dục quan trọng đối với HS vì nó có ảnh hưởng và tác động tích cực đến quá trình hình thành nhân cách của HS Trên thế giới, GDKNS thường được thực hiện bằng các chương trình huấn luyện kỹ năng với những kết quả GD tích cực và có giá trị KNS là những khả năng hành động mà con người cần rèn luyện để thích ứng và làm chủ cuộc sống hiện tại cũng như tương lai của mình
1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó Khoa học giáo dục có vai trò, trọng trách lớn cả
về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo dục nước nhà
Tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan
về quá trình nhận thức về kỹ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục và GD KNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng
GD KNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam Trên cơ sở đó xác định thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh GD KNS trên cơ sở thực tiễn ở Việt Nam
và đối chiếu với mục tiêu 3 và mục tiêu 6 của Chương trình hành động Dakar trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện chiến lược và chương trình giáo dục với UNESCO tại
Hà Nội Tác giả đã cho ra đời hai cuối sách: “Giáo trình giáo dục kỹ năng sống [20]
và “Nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam” [21]
Ngoài tác giả đã nêu trên còn có: Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh [22]; Giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục sức khỏe cho HS
của tác giả Nguyễn Võ Kỳ Anh (1998), Bộ giáo dục đào tao, Vụ giáo dục thể chất,
Cục xuất bản Bộ Văn hóa, Hà Nội [23]; Hướng dẫn thực hiện giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh phổ thông của Nguyễn Dục Quang, Nhà xuất bản ĐHQG, Hà
Nội [27]; Mấy vấn đề về giáo dục kỹ năng sống ở trường THCS của Vũ Khắc Bình,
Trang 20Lê Quốc Anh (2009), Bộ Giáo dục và Đào tạo [29] Các tài liệu trên đều trình bày chi tiết lý luận liên quan đến kỹ năng sống: Thế nào là kỹ năng sống, chuẩn kỹ năng sống là gì? Hiểu rõ hơn về một số kỹ năng sống của học sinh trung học, xây dựng được các qui trình tiến hành các hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Bên cạnh đó còn có nhiều luận văn Thạc sỹ nghiên cứu về thực trạng giáo dục KNS và thực trạng quản lý giáo dục KNS cho học sinh các trường THCS, THPT từ đó đề ra các biện pháp quản lý giáo dục KNS cho học sinh như: Luận văn Thạc sỹ của tác giả Trần Thị Mỹ Hạnh ĐHSP TP Hồ Chí Minh năm 2010 về “Thực trạng quản lý giáo dục KNS cho học sinh từ các lực lượng giáo dục của Hiệu trưởng các trường THCS tại quận 11, thành phố Hồ Chí Minh”; tác giả Nguyễn Thị Tuyết Ngọc - Học viện Quản lý giáo dục năm 2011- Luận văn Thạc sỹ Quản lý giáo dục
“Quản lý giáo dục KNS cho học sinh THCS trên địa bàn thành phố Hải Dương” …
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Kỹ năng sống
Trong Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có ghi:
“Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn"
Còn trong Tâm lý học, kỹ năng được hiểu là khả năng thực hiện những thao tác được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trải nghiệm của bản thân Kỹ năng chính là công cụ để gia tăng giá trị cho kiến thức của bản thân
Theo nhóm biên soạn tài liệu GDKNS của Vụ giáo dục thể chất mà chủ biên
là Nguyễn Võ Kỳ Anh thì: “Kỹ năng sống là khả năng có được những hành vi thích
nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường ngày" [23]
Định nghĩa vừa nêu trên cũng trùng lặp với định nghĩa về kỹ năng sống của
Tổ chức Y tế thế giới WHO: “Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và những hành
vi tích cực để cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [30]
Như vậy, KNS khuyến khích thái độ tích cực, phòng ngừa và giảm thiểu các hành vi nguy cơ Nó giúp con người phát huy sức mạnh nội lực để có thể làm chủ được cuộc sống của mình và sống khỏe mạnh, hạnh phúc, có mục đích, có ý nghĩa
Trang 21Còn theo UNICEF: “Kỹ năng sống là tập hợp nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và
giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả Từ kỹ năng sống có thể được thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành động đó sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh [32]
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm kĩ năng sống Tuy nhiên, có thể tiếp cận khái niệm KNS qua 4 trụ cột của giáo dục theo UNESCO: Học để biết (learning to know), học để khẳng định bản thân (learning to be), học để cùng chung sống (learning to live together) và học để làm việc (learning to do) Tiếp cận theo bốn trụ cột trên thì KNS có thể hiểu là: kỹ năng học tập, kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kỹ năng làm việc, và đây cũng chính là khái niệm mà nghiên cứu của chúng tôi sử dụng trong quá trình nghiên cứu vấn đề quản
lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học đã lựa chọn
1.2.2 Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học
1.2.2.1 Khái niệm giáo dục
Trong Giáo dục học: Giáo dục là quá trình toàn vẹn tác động đến thế hệ trẻ
về đạo đức, tư tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ và những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội
Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) cũng đã nêu:
“Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức
nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để
họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội” [26]
Do đó giáo dục ngày nay không phải chỉ là tích tụ tri thức mà còn thức tỉnh tiềm năng sáng tạo to lớn trong mỗi con người
1.2.2.2.Giáo dục kỹ năng sống
Theo UNICEF hay UNESCO cho rằng giáo dục KNS không phải là một lĩnh vực hay môn học nhưng nó được áp dụng lồng vào trong những kiến thức, kỹ năng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời
Trang 22Ở một số quốc gia giáo dục KNS cho học sinh được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, ngoại khoá
Ở nước ta giáo dục KNS được xem xét dưới hai khía cạnh khác nhau:
- Giáo dục KNS là một lĩnh vực học tập như: giáo dục sức khỏe, HIV/AIDS
- Giáo dục KNS như là một cách tiếp cận giúp giáo viên tiến hành giáo dục có chất lượng xuyên suốt các lĩnh vực học tập
Giáo dục KNS là GD cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp HS có thái độ, kiến thức, kĩ năng, giá trị cá nhân thích hợp với thực tế xã hội Mục tiêu cơ bản của GD KNS là làm thay đổi hành vi của HS, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống góp phần phát triển xã hội bền vững
Như vậy giáo dục KNS được xem như là một cách tiếp cận giáo dục nhằm mục đích giúp con người có khả năng tâm lý xã hội để tương tác với người khác và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày một cách có hiệu quả với mục tiêu giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và làm thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ
sở giúp học sinh có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng thích hợp
Giáo dục KNS có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả; thông qua hoạt động giáo dục KNS học sinh được rèn luyện năng lực tư duy qua đó chất lượng các môn học cũng như chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường được nâng lên góp phần phát triển bền vững cho xã hội
Giáo dục KNS còn mang ý nghĩa tạo nền tảng tinh thần để học sinh đối mặt với các vấn đề từ hoàn cảnh, môi trường sống cũng như phương pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề đó
Trang 231.2.3 Giáo dục hỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học
Hiện nay giáo dục KNS là một nội dung quan trọng được thực hiện một cách
có hệ thống trong các nhà trường Giáo dục KNS giúp học sinh rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng, đối phó với những sức ép của cuộc sống, phòng ngừa những hành vi có hại cho thể chất và tinh thần của các em Giáo dục KNS giúp tăng cường khả năng tâm lí, khả năng thích ứng, giúp các em có cách thức ứng phó với những thách thức của cuộc sống
Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học là một quá trình được tiến hành bằng việc thực hiện lồng ghép mục tiêu, nội dung giáo dục kỹ năng sống với nội dung dạy học môn học và vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh hình thành hành vi mới hoặc thay đổi hành vi thói quen theo chiều hướng tích cực và thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ dạy học đề ra Việc giáo dụ kỹ năng sống thông qua dạy học các môn học là một trong những hình thức tỏ ra thích hợp cho việc tổ chức thực hiện giáo dục kĩ năng sống Những hoạt động trên tạo điều kiện học sinh hình thành và phát triển những kĩ năng sống cần thiết, như giao tiếp, giải quyết vấn đề, hợp tác, chia sẻ, ứng phó với những tình huống trong cuộc sống hàng ngày, đồng thời học sinh có cơ hội bộc lộ những
kĩ năng sống mà các em đã có được
Trong thực tế dạy học và giáo dục, chúng ta cũng nhận thấy rằng rất nhiều kĩ năng sống đã được hình thành và phát triển cho học sinh ngay trong bài giảng, tuy nhiên những kĩ năng này chưa được đề cập một cách rõ ràng với tư cách là kĩ năng sống mà chỉ ở dạng các kĩ năng cơ bản cần thiết của bộ môn, chẳng hạn kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp cùng các kĩ năng phòng chống thiên tai, dịch bệnh,
Giáo dục KNS có thể thông qua khai thác nội dung các môn học có tiềm năng như Giáo dục công dân, Ngữ Văn, Lịch sử , Địa lý Đồng thời, việc giáo dục KNS cho học sinh qua các việc dạy các môn học trong nhà trường phổ thông được thực hiện theo cách tiếp cận mới đó là sử dụng các phương pháp
và kỹ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được luyện tập,
Trang 24thực hành, trải nghiệm KNS trong quá trình học tập môn học Trong khi tham gia hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét
ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những KNS của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác KNS của học sinh cũng được phát triển tốt hơn khi giáo viên tạo cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích KNS của chính mình và người khác Cách tiếp cận này sẽ không hề làm nặng nề, quá tải thêm nội dung các môn học mà ngược lại, do sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực giáo viên còn lôi cuốn được học sinh tham gia tích cực vào quá trình khám phá và lĩnh hội tri thức, làm cho việc học tập các môn học trở nên hứng thú, hấp dẫn hơn, thiết thực và bổ ích hơn đối với học sinh Giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động dạy học cần đặc biệt chú
ý khai thác triệt để thông qua các môn học mang tính liên môn, tuy nhiên cũng cần chú ý tới tính logic và hệ thống của chương trình dạy học
1.2.4 Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học
1.2.4.1 Quản lý giáo dục
Theo tác giả Hồ văn Liên, trong tập bài giảng về “Tổ chức và quản lý giáo dục trường học" thì: “Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"[13]
Cụ thể hơn: “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”
Như vậy, quản lý giáo dục là một loại hình quản lý được hiểu là sự tác động có
ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của
hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất Trong tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có sự tác động của người đến
Trang 25người Đó là sự tác động qua lại tạo thành một loại quan hệ xã hội đặc biệt là quan
hệ quản lý
Tóm lại, quản lý giáo dục là một loại lao động điều khiển lao động Quản lý giáo dục trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo dục là quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách
Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về 5 chức năng cơ bản của quản lý, đó là:
* Kế hoạch hóa tức là lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch hoạt động
* Tổ chức gồm tổ chức triển khai hoạt động, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm trong thực hiện kế hoạch hoạt động
* Kích thích nghĩa là khuyến khích, tạo động cơ hoạt động
* Kiểm tra gồm theo dõi thực hiện, kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích quá trình thực hiện
* Và Điều phối nghĩa là phối hợp, điều chỉnh công tác
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý nêu trên tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và là cơ sở để phân công lao động quản lý Vậy: “Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra,…
1.2.4.2 Quản lý giáo dục kĩ năng sống
Xét ở mức độ cụ thể trong nhà trường: QL GDKNS là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL đến tập thể CBGV, nhân viên, HS, cha mẹ học sinh (CMHS) và các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để việc GDKNS cho học sinh đạt hiệu quả GD cao nhất
Quản lý GD KNS chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công
Trang 26tác GD KNS Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GD KNS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho HS
Về bản chất, quản lý hoạt động GD KNS là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình GD KNS nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GD KNS
QL GDKNS của hiệu trưởng nhà trường thực chất là QL về mục tiêu GD, là
QL về kế hoạch, đội ngũ, nguồn lực, điều kiện, công tác kiểm tra, đánh giá, công tác phối hợp các lực lượng GD trong việc thực hiện GDKNS cho HS
Tóm lại, QL GDKNS cho HS là hoạt động điều hành công tác GDKNS giúp các em HS hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở của kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp với hoạt động giáo dục khác
1.2.4.3 Quản lý giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: Hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên có vai trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ động, tích cực Nếu thiếu một trong hai hoạt động trên, quá trình dạy học không diễn ra
Tìm hiểu về phương thức tổ chức GDKNS trong trường THCS hiện nay cho thấy: GDKNS không thể bố trí thành một môn học riêng trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông Việt Nam bởi KNS phải được GD ở mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện, cơ hội phù hợp, do đó GDKNS phải thực hiện thông qua từng môn học và trong các hoạt động giáo dục Vì vậy, cơ hội thực hiện GDKNS rất nhiều và rất đa dạng, có thể đề cập tới một số phương thức tổ chức sau: 1/ Thông qua dạy học các môn học; 2/ Thông qua chủ đề tự chọn; 3/ Thông qua hoạt động GD ngoài giờ lên lớp; 4/ Thông qua hoạt động câu lạc bộ Có thể thấy, giáo dục KNS thông
Trang 27qua dạy học các môn học ở trường THCS là một trong những con đường trọng yếu
để hình thành KNS cho học sinh
Thông qua hoạt động dạy học có thể tiến hành các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục toàn diện nhân cách học sinh trong đó có việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục KNS là một nội dung quan trọng được thực hiện một cách có hệ thống trong các nhà trường Giáo dục KNS giúp học sinh rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng, đối phó với những sức ép của cuộc sống, phòng ngừa những hành vi có hại cho thể chất và tinh thần của các em Giáo dục KNS giúp tăng cường khả năng tâm lí, khả năng thích ứng, giúp các em có cách thức ứng phó với những thách thức của cuộc sống
Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học là một quá trình được tiến hành bằng việc thực hiện lồng ghép mục tiêu, nội dung giáo dục kỹ năng sống với nội dung dạy học môn học và vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh hình thành hành vi mới hoặc thay đổi hành vi thói quen theo chiều hướng tích cực và thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ dạy học đề ra
Các môn học như Ngữ văn, Sinh học, Lịch sử, GDCD, Địa lý… ở trường THCS có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh, nhiều môn học có nhiều khả năng giáo dục KNS cho HS, điều đó được thể hiện:
- Nhiệm vụ và nội dung của các môn học chứa đựng những yếu tố của giáo dục KNS, phù hợp với trọng tâm của giáo dục KNS là quá trình đối thoại, tương tác lẫn nhau, sử dụng vốn kinh nghiệm của người học để thực hành kĩ năng; phù hợp với cách tiếp cận làm thay đổi hành vi của người học trên cơ sở nhận thức về các vấn đề của cuộc sống
- Một trong những đặc điểm của các môn Ngữ văn, Sinh học, Lịch sử, GDCD, Địa lý là sự tích hợp nhiều nội dung giáo dục, trong đó có các nội dung giáo dục về các vấn đề xã hội Vì vậy, việc tích hợp nội dung giáo dục KNS vào các môn Ngữ văn, Sinh học, Lịch sử, GDCD, Địa lý là điều có thể thực hiện và phù hợp với xu thế hiện nay
Trang 28- Việc giáo dục các chuẩn mực xã hội không thể chỉ xuất phát từ yêu cầu nhà giáo mà phải xuất phát từ quyền lợi và nhu cầu phát triển của học sinh Giáo dục KNS giúp học sinh có những kĩ năng thiết thực để sống an toàn, lành mạnh,
có hiệu quả, do đó học sinh hứng thú học tập và lĩnh hội các chuẩn mực một cách chủ động, tự giác
Giáo dục KNS trong các môn học ở trường THCS nhằm giúp học sinh:
+ Hiểu được sự cần thiết của các KNS giúp cho bản thân có thể sống tự tin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất và tinh thần
+ Có kĩ năng làm chủ bản thân, biết xử trí linh hoạt trong các tình huống giao tiếp hằng ngày; có kĩ năng tự bảo vệ mình; rèn luyện lối sống có trách nhiệm với bản thân, bè bạn, gia đình và cộng đồng
+ Có nhu cầu rèn luyện KNS trong cuộc sống hằng ngày; ưa thích lối sống lành mạnh, có thái độ phê phán đối với những biểu hiện thiếu lành mạnh; tích cực,
tự tin tham gia các hoạt động, có quyết định đúng đắn trong cuộc sống
Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất với nhau là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểm này Vì vậy quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình sư phạm của thầy, hoạt động học tập – tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học Như vậy, quản lý giáo dục KNS thông qua hoạt động dạy - học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm thực hiện mục tiêu các nhiệm vụ giáo dục rèn KNS cho học sinh
1.3 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học tại
trường trung học cơ sở
1.3.1 Đặc điểm học sinh trung học cơ sở
Lứa tuổi THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11-15 tuổi Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của các em Tuối thiếu niên có vị trí và ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phát triển của cả đời người, được thể hiện ở những điểm sau:
Trang 29Thứ nhất: đây là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, thời kỳ trẻ đang
ở “Ngã ba đường” của sự phát triển Trong đó có rất nhiều khả năng, nhiều phương án, nhiều con đường để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân Trong thời kỳ này, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì em sẽ trở thành công dân tốt Ngược lại, nếu không được định hướng đúng, bị tác động bởi yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt các nguy cơ dẫn đến trẻ em bên bờ của sự phát triển lệch lạc
Thứ hai: Đây thời kỳ mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của mình
và những hành động cá nhân tương ứng
Thứ ba: Trong suốt thời kỳ thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý, về hoạt động, tương tác xã hội và tâm lý, nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi
Thứ tư: tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quá trình phát triển Ngay các tên gọi của thời kỳ này: thời kỳ “Quá độ”, “Tuổi khó khăn”, “Tuổi khủng hoảng”… đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển của trẻ Một mặt có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của người lớn Mặt khác, hoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự phát triển tính người lớn: phần lớn thời gian các em bận rộn, ít có nghĩa vụ với gia đình; nhiều bậc phụ huynh quá chăm sóc trẻ, không để các em phải chăm lo cho việc gia đình…
Lứa tuổi học sinh THCS là một giai đoạn chuyển tiếp trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và tuổi trưởng thành Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lần tinh thần, tạo ra sự khác biệt mới về mọi mặt: Thể chất, trí tuệ, giao tiếp, tình cảm, đạo đức … của các em Bởi vậy, Hiệu trưởng, giáo viên cần nắm được vị trí của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, những khó khăn, thuận lợi
Trang 30trong quá trình phát triển tâm - sinh lý của học sinh THCS để quản lý tốt việc giảng dạy, giáo dục KNS cho HS
1.3.2 Vai trò, ý nghĩa của giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động day học cho học sinh THCS
KNS thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội: KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực, phù hợp; KNS không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân mà góp phần thúc đẩy phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề của xã hội và bảo vệ quyền con người
Giáo dục KNS là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ: Vì thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước, nếu không có KNS các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước; Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, vì vậy việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình bạn bè và mọi người; sống tích cực, chủ động, an toàn và lành mạnh
Giáo dục KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông:
Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, SGK nhằm nâng chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước phù hợp với thực tiễn truyền thống Việt Nam, tiếp cận nền giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và toàn thế giới
Trang 31Luật Giáo dục năm 2005 Điều 2 đã xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp; Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Như vậy, mục tiêu của giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị năng lực hành động, năng lực thực tiễn và phát triển nhân cách cho các em
Giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới: Hiện nay đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa giáo dục
kỹ năng sống vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở tiểu học và trung học Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các nước được thực hiện theo ba hình thức:
+ Kỹ năng sống là một môn học riêng biệt
+ Kỹ năng sống được tích hợp vào một số môn học chính
+ Kỹ năng sống được tích hợp vào các môn học trong chương trình
Tuy nhiên, hầu hết các nước để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp KNS vào một phần nội dung của môn học, chủ yếu là các môn học khoa học giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường Một số nước đã sử dụng tiếp cận “Whole School Approach” trong đó xây dựng hình thức “Trường học thân thiện” nhằm thúc đẩy KNS cho học sinh trong nhà trường
1.3.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học cho học sinh trung học cơ sở
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS thông qua hoạt động dạy học tập trung vào các nội dung sau đây:
Trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết về kỹ năng sống, tầm quan trọng của kỹ năng sống và ý nghĩa của việc thực hiện kỹ năng sống đối với bản thân và xã hội Đồng thời giúp học sinh nắm vững quy trình tập luyện, rèn luyện kỹ năng sống và quá trình thực hành kỹ năng sống trong các tình huống khác nhau
Trang 32Hình thành ở học sinh thái độ tích cức đối với việc thực hiện hành vi, kỹ năng sống, có niềm tin trong quá trình tập luyện, rèn luyện
Tổ chức quá trình tập luyện, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học và thực hiện các nhiệm vụ dạy học đề ra
Một số kỹ năng sống cần giáo dục cho học sinh thông qua hoạt động dạy học ở trường THCS bao gồm những nội dung sau:
- Kỹ năng hợp tác và chia sẻ: Kỹ năng hợp tác là cùng chung sức làm việc,
giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết
và cùng làm việc có hiệu quả với các thành viên khác trong nhóm
Biểu hiện của người có kỹ năng hợp tác: Tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động chung của nhóm; tôn trọng những quyết định chung, những điều đã cam kết, biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với các thành viên khác trong nhóm Biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm Đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm Nỗ lực phát huy năng lực sở, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được phân công Đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động Biết cùng cả nhóm đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn, vướng mắc để hoàn thành mục đích, mục tiêu hoạt động chung Có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản phẩm do nhóm tạo ra
Có kĩ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân trong một xã hội hiện đại, bởi vì: Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng
Sự hợp tác trong công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho công việc chung
- Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một cái chi tiết của một cỗ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ
Trang 33- Kĩ năng hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hòa và tránh xung đột trong quan hệ với người khác
Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều KNS khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, đảm nhận trách nhiệm, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng phó với căng thẳng…
- Kỹ năng giao tiếp và ứng xử: Là khả năng có thể trình bày, diễn đạt bày tỏ
ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Kỹ năng giao tiếp là khả năng ứng dụng tri thức giao tiếp vào quá trình giao tiếp có hiệu quả nhất
Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác
Kĩ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình- nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống Kĩ năng này cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng
Kĩ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kĩ năng khác như bày tỏ sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiếm soát cảm xúc Người có kĩ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với mong đợi của những người khác, có cách ứng xử khi làm việc cùng và ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những điều người khác quan tâm
và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng
- Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân: Là khả năng con người hiểu về
chính bản thân mình như: cơ thể, tư tưởng, mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình làm gì kể cả lúc bản thân đang căng thẳng Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con
Trang 34người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Ngược lại, đánh giá không đúng
về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác
- Kỹ năng thể hiện sự tự tin trước đám đông: Tự tin là có niềm tin vào bản
thân; tự hài lòng với bản thân theo hình thức nói; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy mình có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ
Kỹ năng thể hiện sự tự tin trước đám đông giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình; quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống
Kỹ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm
- Kỹ năng đánh giá người khác: Là khả năng có thể hình dung và đặt mình
vào hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc, tình cảm, hoàn cảnh cũng như nhu cầu của họ
Là khả năng con người hiểu rõ về bản thân mình, các điều kiện đã có để đáp ứng nhu cầu cần thiết cho bản thân mình một cách hiệu quả nhất
Là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân chính, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ
và ứng phó một cách tích cực khi gặp khó khăn Có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và làm việc điều độ có kế hoạch, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, sống vui vẻ chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xung quanh, không đặt ra cho mình những mục tiêu quá cao so với điều kiện và khả năng của bản thân
Trang 35Là khả năng con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó
Là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc chính, trọng tâm trong một thời gian nhất định đạt hiệu quả cao nhất
Kỹ năng này cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng thẳng do
áp lực công việc
Quản lý thời gian hiệu quả là một trong những kỹ năng quan trọng trong nhóm
kỹ năng làm chủ bản thân Quản lý thời gian tốt góp phần quan trọng vào sự thành công của cá nhân và của nhóm
Là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với người khác thế nào đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp
Như vậy, nội dung giáo dục KNS cho học sinh THCS chủ yếu tập trung vào các kỹ năng tâm lý xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong những tình huống
cụ thể nhằm trang bị cho các em kiến thức, kỹ năng sống hòa nhập với gia đình, trong tập thể và ngoài xã hội, giúp các em có bản lĩnh đối mặt, tháo gỡ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống hàng ngày, biết quan tâm, chia sẻ với mọi người xung quanh, biết điều chỉnh cảm xúc cá nhân, phục vụ bản thân, quan tâm giúp đỡ người khác vì vậy giáo viên cần có những hiểu biết về tâm lý lứa tuổi, đặc thù vùng miền
để lựa chọn nội dung giáo dục KNS cho các em hiệu quả nhất góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường, gắn việc học với thực tiễn
1.3.4 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục KNS tập trung vào kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng phục vụ bản thân, kỹ năng đánh giá người khác … bằng cách tích hợp hoặc theo chủ đề cụ thể để người học hiểu về KNS đó và vận dụng giải quyết các tình huống Mỗi kỹ năng gắn với một vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, trong học tập, việc vận dụng những kỹ năng khác nhau để giải quyết vấn
Trang 36đề Trong giáo dục KNS cho học sinh ở trường THCS thường sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp động não (Công não): Động não là phương pháp giáo dục để
cho người học trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Đây là một phương pháp để “lôi ra” một danh sách thông tin và ý tưởng Cách tiến hành thường như sau:
- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề cho cả lớp hoặc nhóm suy nghĩ và trả lời
- Khích lệ người học phát biểu ý kiến và đóng góp càng nhiều ý kiến càng tốt
- Ghi các ý kiến lên bảng hoặc giấy
- Phân loại các ý kiến
- Làm rõ những ý kiến chưa rõ ràng
- Tổng hợp các ý kiến
Một số yêu cầu khi thực hiện phương pháp động não là:
Tất cả ý kiến đều được giáo viên hoan nghênh mà không phê phán, nhận định đúng sai
- Cuối giờ thảo luận giáo viên nên nhấn mạnh kết luận này là sản phẩm chung của cả lớp, nhóm
- Yêu cầu người tham gia đưa ra ý kiến ngắn gọn và chính xác, tránh dài dòng, chung chung
Phương pháp thảo luận nhóm: Thực chất của phương pháp này là để học
sinh tham gia trao đổi về một vấn đề nào đó theo nhóm Thảo luận nhóm nhỏ được
sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho người học tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, nhằm tạo cơ hội cho người học tham gia chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề nào đó Cách tiến hành như sau:
- Tổ chức: phân chia nhóm, mỗi nhóm 5 đến 6 người, giao nhiệm vụ cho nhóm
- Các nhóm thảo luận: các thành viên nhóm trao đổi để đi đến thống nhất cách làm
- Giáo viên tổng kết các ý kiến trên
Một số yêu cầu khi thực hiện phương pháp thảo luận là:
Trang 37- Quy mô nhóm lớn hoặc nhỏ, không nên để nhóm quá đông hoặc quá ít
- Nội dung thảo luận ở các nhóm có thể giống hoặc khác nhau
- Các nhóm phải cử người làm thư ký
- Cần quy định thời gian thảo luận và trình bày ý kiến
- Giáo viên bao quát toàn bộ nhóm
Phương pháp đóng vai: Đây là phương pháp tổ chức cho người học làm thử
“đóng vai” để giải quyết chủ đề đã đưa ra Quan trọng của phương pháp này là cách thức, là ứng xử, là đối thoại của nhân vật Cách tiến hành như sau:
- Chọn chủ đề
- Chia lớp thành nhóm, mỗi nhóm 5 - 7 người
- Lần lượt các vai thể hiện
- Người ngồi dưới ghi nhận xét
- Mỗi nhóm cử đại diện thể hiện
- Ý kiến của đại diện các nhóm khác
- Giáo viên nhận xét và kết luận
Yêu cầu khi thực hiện phương pháp đóng vai là:
- Chọn chủ đề phù hợp (do giáo viên gợi ý hoặc nhóm đề xuất)
- Mỗi nhóm tìm ra phương án chung nhất, hiệu quả nhất để trình bày
- Yêu cầu cả về nội dung và hình thức thể hiện
Phương pháp nghiên cứu tình huống: Nghiên cứu tình huống thường xuất
phát từ một câu chuyện được viết ra nhằm tạo ra tình huống “thật” để minh chứng cho một hoặc một loạt vấn đề Đôi khi có thể nghiên cứu tình huống trên một đoạn video, hay một băng cát xét, hoặc dưới dạng hình vẽ Cách tiến hành như sau:
- Chọn tình huống (có thể một hoặc nhiều tình huống)
- Chia nhóm (mỗi nhóm 1 tình huống càng tốt)
- Đọc (xem, nghe) tình huống
- Suy nghĩ về tình huống đó (đưa ra một vài câu hỏi)
- Cả nhóm thảo luận và thống nhất ý kiến
- Trình bày ý kiến của nhóm
Trang 38- Ý kiến của các nhóm về những vấn đề đặt ra
- Giáo viên kết luận
Một số yêu cầu khi thực hiện phương pháp tình huống là:
- Yêu cầu lựa chọn tình huống
- Tìm ra được phương án tối ưu cho mỗi tình huống
- Động viên người học tham gia phát biểu ý kiến
Các phương pháp khác: phương pháp trò chơi, phương pháp dạy học định
hướng hành động, dạy học khám phá, dạy học nghiên cứu trường hợp, dạy học dự
án, phương pháp thuyết trình, phương pháp diễn kịch…
- Phương pháp giao nhiệm vụ: Là đặt học sinh vào vị trí nhất định buộc các em
phải thực hiện trách nhiệm cá nhân Giao nhiệm vụ là tạo cơ hội để học sinh thể hiện khả năng của mình, là dịp để các em được rèn luyện nhằm tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân Khi giao nhiệm vụ phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, với khả năng của các em, không yêu cầu quá mức gây lo lắng hoang mang cho các em
- Phương pháp trò chơi: Có thể sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của
giáo dục KNS như làm quen, cung cấp và tiếp nhận tri thức, đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận Phương pháp trò chơi phát huy tính sáng tạo; hấp dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp cho học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp truyền tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho học sinh tác phong nhanh nhẹn … Những điều cần chú ý khi sử dụng phương pháp trò chơi:
- Lựa chọn các trò chơi cho phù hợp với lứa tuổi và nội dung hoạt động
- Cần chú ý đến yếu tố thời gian
- Chú ý tới điều kiện cơ sở vật chất, hoàn cảnh cụ thể
- Người chủ trò chơi phải có khả năng lôi cuốn được những người khác
- Trò chơi phải đa dạng, phong phú, dễ chơi, hấp dẫn, mang tính giáo dục
- Là trò chơi tập thể
Trên đây là một số phương pháp chủ yếu trong tổ chức giáo dục KNS được vận dụng từ các phương pháp giáo dục và phương pháp dạy học Tuy nhiên, khi vận
Trang 39dụng những phương pháp này, giáo viên cần linh hoạt, tránh máy móc, kết hợp nhiều phương pháp để đạt được hiệu quả cao nhất
Tóm lại các phương pháp này sẽ được thực hiện thông qua hoạt động dạy học như sau: Trong quá trình dạy học ở các môn học khác nhau, giáo viên lựa chọn các phương pháp cho phù hợp với từng môn học, từng tiết học Phương pháp trò chơi, phương pháp đóng vai thường được áp dụng trong tiết học môn GDCD Phương pháp thảo luậ nhóm, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp giao nhiệm vụ được thực hiện trong tất cả các môn học Các phương pháp được vận dụng để gió dục kỹ năng sống nhưng đồng thời là nhứng phương pháp giáo viên thiết kế để tổ chức cho học sinh tiếp nhận các kiến thức của bộ môn học Như vậy thong qua các tiết học có áp dụng các phương pháp nỳ không chỉ
có hiệu quả về nâng cao chất lượng bộ môn mà còn &ó vai trò trong việc rèn kĩ nưng sống cho học sinh
Hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS thông qua con đường dạy học
Xác định kỹ năng sống có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của mỗi học sinh, những năm qua ngành GD&ĐT đã chỉ đạo, lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục này vào các hoạt động, chương trình giảng dạy ở các nhà trường dưới các hình thức:
- Tích hợp nội dung giáo dục KNS thông qua dạy học các môn học chiếm ưu thế gồm các môn sau: Giáo dục công dân, Sinh học, Ngữ văn, Địa lý, Vật lý
- Tích hợp GDKNS thông qua các hoạt động ngoại khóa gắn liền với nội dung chương trình ngoại khóa của các môn học
- Tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông qua dạy học các môn học bằng việc vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực nhằm tăng cường giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh: Phương pháp công não, đóng vai, phương pháp thảo luận nhóm, dạy học hợp tác, dạy học trải nghiệm sáng tạo, dạy học học dự án, dạy học bằng tình huống, nghiên cứu trường hợp, dạy học định hướng hành động, dạy học thực hành, thí nghiệm vv…
Trang 40- Tổ chức thực hiện các chuyên đề phổ biến, giáo dục pháp luật, hoặc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở tiết sinh hoạt tập thể; vào giờ chào cờ đầu tuần, Vào tiết sinh hoạt tập thể lớp buổi học cuối tuần, nhằm bổ trợ cho hoạt động rèn luyện kĩ năng sống thông qua hoạt động dạy học đạt hiệu quả…
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS thông qua con đường dạy học
* Điều kiện về cơ sở vật chất:
Cũng như trong dạy học các môn văn hóa, hoạt động giáo dục KNS cần có điều kiện về nguồn lực tài chính, CSVC gồm các trang thiết bị, tài liệu để hoạt động đạt hiệu quả cao nhất, cụ thể như:
- Tài liệu: Sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học -Tài liệu dùng cho giáo viên trung học” là cẩm nang dành cho GVCN, Ban giám hiệu và Đội TNTP Hồ Chí Minh những lực lượng nòng cốt thực hiện chương trình giáo dục KNS Trong thư viện của nhà trường cần phải có đầy đủ loại sách tham khảo bổ trợ cho các môn học, sách giáo dục đạo đức, pháp luật để giáo viên lựa chọn nội dung giáo dục KNS phù hợp
- Trang thiết bị: Hoạt động giáo dục KNS cần có cơ sở vật chất, trang thiết bị
kỹ thuật để hoạt động đạt được hiệu quả giáo dục mong muốn Điều kiện tổ chức và phương tiện tốt sẽ làm tăng tính hấp dẫn của hoạt động Thiết bị tối thiểu để tổ chức hoạt động là: âm ly, loa đài, đầu video, đàn, dụng cụ thể thao và kinh phí hoạt động, trong khi kinh phí dành cho hoạt động không nhiều thì việc giáo viên cần có ý tưởng sáng tạo, tìm tòi các phương tiện phù hợp với điều kiện của lớp, của trường là rất cần thiết Về phía nhà trường ngoài việc quản lý tận dụng những CSVC hiện có
để phát huy hiệu quả giáo dục của hoạt động, cần phải tiết kiệm, cân đối nguồn ngân sách được giao hàng năm để mua sắm thêm CSVC, tài liệu cho hoạt động, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của CMHS, của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, hỗ trợ cho hoạt động
* Các vấn đề khác
- Về phía giáo viên