Tuy nhiên việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông nói chung và các trường THPT nói riêng trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, do đó giáo dục kỹ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
BÙI VIỆT HƯƠNG
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
Người hướng dẫn: PGS.TS LÊ QUANG SƠN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Quy Nhơn, tháng 7 năm 2019
Tác giả luận văn
Bùi Việt Hương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bản luận văn được hoàn thành tại Trường Đại Quy Nhơn dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Lê Quang Sơn, nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành tới người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn sâu sắc tới Phòng Đào tạo sau
Đại học, các Thầy giáo, Cô giáo Trường Đại học Quy Nhơn đã giảng dạy và
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế do vậy luận
văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn học viên để luận văn
này được hoàn chỉnh hơn
Quy Nhơn, tháng 7 năm 2019
Tác giả luận văn
Bùi Việt Hương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Giả thuyết nghiên cứu 5
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Những đóng góp của đề tài 6
9 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Ở nước ngoài 8
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 13
1.2.1 Khái niệm quản lý 13
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục 15
1.2.3 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐ GDNGLL 20
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐNGLL 22
1.3 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT 23
1.3.1 Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THPT 23
1.3.2 Nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT 24
Trang 51.3.3 Phương pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT 25
1.3.4 Nguyên tắc tổ chức giáo dục KNS cho học sinh THPT 26
1.3.5 Các lực lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT 26
1.3.6 Các điều kiện giáo dục KNS cho học sinh THPT 27
1.4 Quản lý GD KNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 28
1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THPT 28
1.4.2 Quản lý về nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT 28
1.4.3 Quản lý phương pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT 29
1.4.4 Quản lý hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh THPT 29
1.4.5 Quản lý các lực lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT 30
1.4.6 Quản lý các điều kiện giáo dục KNS cho học sinh THPT 31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý GD KNS thông qua HĐGD NGLL 31
1.5.1 Yếu tố chủ quan 31
1.5.2 Yếu tố khách quan 32
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI 34
2.1 Khái quát tình hình KT-XH huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi 34
2.2 Khát quát quá trình khảo sát 35
2.2.1 Mục đích khảo sát 35
2.2.2 Đối tượng khảo sát 35
2.2.3 Địa bàn khảo sát 36
2.2.4 Thời gian khảo sát 36
2.2.5 Nội dung khảo sát 36
2.2.6 Phương pháp khảo sát 37
2.2.7 Xử lý số liệu khảo sát 37
2.2.8 Tổng kết đánh giá thực trạng 38
Trang 62.3 Thực trạng hoạt động giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL cho học
sinh ở các trường THPT huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi 38
2.3.1 Thực trạng nhận thức mục tiêu, tầm quan trọng của hoạt động giáo dục KNS 38
2.3.2 Thực trạng về các nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT 39
2.3.3 Thực trạng về các phương pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT 41
2.3.4 Thực trạng về các nguyên tắc tổ chức giáo dục KNS cho học sinh THPT 42
2.3.5 Thực trạng về các lực lượng tham gia giáo dục KNS cho học sinh THPT 43
2.3.6 Thực trạng các điều kiện giáo dục KNS cho học sinh THPT 44
2.4 Thực trạng quản lý giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL ở các trường THPT huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi 45
2.4.1 Thực trạng công tác quản lý kế hoạch hóa GD KNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 45
2.4.2 Thực trạng công tác quản lý tổ chức, bộ máy nhân sự nòng cốt tham gia GDKNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 47
2.4.3 Thực trạng quản lý công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 48
2.4.4 Thực trạng quản lý công tác Kiểm tra đánh giá giá hoạt động giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 50
2.5 Các yếu tổ ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL ở các trường THPT huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi 51
2.6 Nhận xét, đánh giá chung 54
2.6.1 Những kết quả đạt được 54
2.6.2 Những hạn chế 55
2.6.3 Đánh giá chung 56
Tiểu kết chương 2 57
Trang 7CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI 58
3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 58
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 58
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 58
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 59
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính cần thiết và tính khả thi 59
3.1.5 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 59
3.2 Các biện pháp quản lý giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL ở các trường THPT trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi 60
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về vai trò tầm quan trọng của CBQL và các lực lượng tham gia giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL ở các trường THPT 60
3.2.2 Biện pháp 2: Kế hoạch hóa công tác quản lý giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL ở các trường THPT huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi 63
3.2.3 Biện pháp 3: Phát triển môi trường GD và đội ngũ thực hiện giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL ở các trường THPT huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi 65
3.2.4 Biện pháp 4: Phát huy tối đa vai trò chủ thể của HS trong hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động NGLL 69
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường và sử dụng hiệu quả CSVC kỹ thuật, tài chính cho hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động NGLL 73
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường Phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động NGLL 76
3.2.7 Biện pháp 7: Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL 82
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84
Trang 83.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 85
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Khuyến nghị 94
2.1 Đối với Sở GD & ĐT Quảng Ngãi 94
2.2 Đối với các trường THPT trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi 95 2.3 Đối với giáo viên 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Đối tượng tham gia khảo sát thực trạng 35
Bảng 2.2 Ý nghĩa giá trị trung bình 38
Bảng 2.3 Thực trạng về các nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT 40
Bảng 2.4 Thực trạng về các phương pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT 41
Bảng 2.5 Thực trạng về các nguyên tắc tổ chức giáo dục KNS cho học sinh THPT 42
Bảng 2.6 Thực trạng các lực lượng tham gia giáo dục KNS cho học sinh THPT 43 Bảng 2.7 Thực trạng các điều kiện giáo dục KNS cho học sinh THPT 44
Bảng 2.8 Thực trạng công tác quản lý kế hoạch hóa giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 45
Bảng 2.9 Thực trạng công tác quản lý tổ chức, bộ máy nhân sự nòng cốt tham gia giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 47
Bảng 2.10 thực trạng quản lý công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 48
Bảng 2.11 Trạng công tác kiểm tra đánh giá giá hoạt động giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 50
Bảng 2.12 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục KNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT 51
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 86
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 88
Biểu đồ 2.1 Thực trạng nhận thức mục tiêu, tầm quan trọng của đội ngũ CBQL, GV và HS về hoạt động giáo dục KNS 39 Biểu đồ 3.1 Môi quan hệ tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 90
Trang 11MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: " Phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt" Trong điều 2 Luật giáo dục
năm 2005 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã xác định rõ:
"Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của người công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Mục tiêu và mục đích của nền giáo dục
là hình thành và phát triển nhân cách cho người học nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của thời đại Hình thành nhân cách cho người học không phải chỉ trong một thời gian, một giai đoạn nhất định mà đó là quá trình lâu dài và suốt đời
Việc hình thành và phát triển nhân cách người học trãi qua các giai đoạn khác nhau nhưng có thể nói quá trình học tập ở bậc Trung học phổ thông (THPT) là giai đoạn quan trọng nhất với việc định hình nền tảng để hình thành và phát triển nhân cách người học
Bước sang thế kỷ XXI, với sự bùng nổ của tri thức, khoa học công nghệ và đặc biệt là công nghệ thông tin, nền kinh tế thế giới đang phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập mạnh mẽ
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng
Trang 12được nhu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển người học, giáo dục nước ta đã và đang đổi mới mạnh mẽ theo bố trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI
mà thực chất là tiếp cận giáo dục giá trị sống, hình thành kỷ năng sống cho người học đó là: Học để biết - Học để làm - Học để chung sống - Học để tự khẳng định mình trong Chỉ thị 40/2008/CT-BGD ĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về phát động phong trào xây dựng trường học thân thiện học
sinh tích cực, đã xác định: "Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình
huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội"
Như vậy việc làm quen với kỹ năng như: giao tiếp, thuyết tình, làm việc theo nhóm, khă năng lãnh đạo, tổ chức thậm chí là giải quyết các vấn đề liên quan đến tệ nạn xã hội, vấn đề môi trường, hỏa hoạn, đuối nước và nhiều vấn đề khác trong cuộc sống sẽ giúp các em tự tin, chủ động và biết cách xử
lý mọi tình huống trong cuộc sống Có thể nói trang bị cho các em kỹ năng sống trong nhà trường vẫn được coi là một trong những nhiệm vụ cấp bách để hình thành nhân cách cho học sinh hiện nay
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng với
sự phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học, đào tạo một thế hệ năng động, sang tạo, có những năng lực chủ yếu như; Năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội Để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội Vì vậy vấn đề GDKNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được nhiều nước quan tâm Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi
Trang 13người ( Senegan 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp Trong giáo dục hiện đại, KNS của người học là tiêu chí về chất lượng giáo dục Do đó khi đánh giá chất lượng giáo dục phải tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học Mặc dù GDKNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của tổ chức Y tế thế giới, nhưng quan niệm và nội dung GDKNS ở các nước không giống nhau Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lý, xã hội
Đối với học sinh các trường THPT ngoài những đặc điểm chung về tâm, sinh lý lứa tuổi các em, thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống
và khả năng tự phục vụ bản thân
Vì vậy đòi hỏi phải trang bị và rèn luyện những kỹ năng sống cơ bản, cần thiết giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn
bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hoà và lành mạnh, để chúng có thể tự tin tham gia vào cuộc sống đa dạng hiện nay và thích nghi với những thay đổi của xã hội
Tuy nhiên việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông nói chung và các trường THPT nói riêng trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, do đó giáo dục kỹ năng sống thông qua các môn học và các hoạt động giáo dục chưa thực sự hiệu quả Đặc biệt là công tác quản lý, chỉ đạo giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐGD NGLL còn hạn chế, lúng túng trong việc lựa chọn con đường, cách thức tổ chức hoạt động rèn kỹ năng sống cho học sinh một cách hiệu quả
Trang 14Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: "Quản lý giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường THPT huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi"
2 Mục đích nghiêm cứu lý luận và thực trạng quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
(HĐGDNGLL)
Trong các trường phổ thông, giáo dục toàn diện học sinh là một hoạt động được quy định cụ thể trong điều lệ trường học Trong các hoạt động giáo dục thì hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống hiện nay trong các trường phổ thông được các nhà quản lý rất quan tâm Từ vấn đề nghiên cứu, người thực hiện mong muốn quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong các cơ sở giáo dục có những thay đổi về nhận thức, nội dung, cách thức tổ chức và triển khai các hoạt động giáo dục KNS tạo nên sự hứng thú, hấp dẫn cho học sinh Giúp cho học sinh có những kiến thức cụ thể và tự trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động Giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT ở các trường huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Nội dung trọng tâm:
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động giáo dục KNS và quản lý hoạt động giáo dục KNS của học sinh 4 trường THPT thuộc huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi: THPT Bình Sơn; THPT Trần Kỳ Phong; THPT Lê Quý Đôn; THPT Vạn Tường
Trang 15Đề tài đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2019 - 2025
4.2 Không gian: Các trường THPT ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi
4.3 Thời gian: Đề tài nghiên cứu, khảo sát, đánh giá trong thời gian 2 năm học liền kề từ năm học 2017- 2018; 2018 - 2019
4.4 Giới hạn khách thể khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, phụ huynh học sinh, học sinh các trường THPT ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi
5 Giả thuyết nghiên cứu
Quản lý GDKNS cho học sinh trường THPT trên địa bàn huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, còn tồn tồn tại những hạn chế và bất cập nên hiệu quả của công tác giáo dục KNS cho học sinh chưa cao Trên cơ sở nghiên cứu lý luận quản lý và phân tích trong quản lý GDKNS có thể đề xuất các biện pháp quản lý hợp lý, khả thi đối với công tác giáo dục KNS cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT 6.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động GDNGLL cho học sinh THPT ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi 6.3 Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, trong giai đoạn hiện nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài sử dụng phân tích tổng hợp, phân loại và khái quát hóa trong nghiên cứu các văn kiện, tài liệu, lý luận chuyên ngành quản lý giáo dục, các
Trang 16văn bản của Đảng và Nhà nước về việc quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi đây là phương pháp cơ bản và hiệu quả trong điều tra xã hội, điều tra bằng phiếu hỏi sẽ tập trung nghiên cứu điều tra các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường từ đó đánh giá một cách khái quát vấn đề nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn hiệu trưởng, giáo viên, cán bộ Đoàn 4 trường THPT để làm rõ hơn và lý giải nguyên nhân thực trạng
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ
7.2.4 Phương pháp chuyên gia: Muốn có cái nhìn khoa học từ những người
am hiểu trong lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu, có thể sử dụng cách phỏng vấn trực tiếp hoặc gián tiếp các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu
7.3 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin
Phương pháp này sử dụng toán thống kê và phân tích số liệu, điều tra khác, đặc biệt là phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, từ đó đánh giá định lượng, định tính được kết quả của điều tra
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt
Trang 18Thuật ngữ KNS đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX, trong
một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo
dục giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần được giáo dục cho thế hệ trẻ
Những nghiên cứu về kĩ năng sống ở giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về kĩ năng sống cũng như chỉ ra được một bảng danh mục các kĩ năng sống mà thế hệ trẻ cần có Trong đó Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho những nghiên cứu về kĩ năng sống
UNESCO đã đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản để định hướng cho việc triển khai giáo dục KNS trong thực tiễn đó là: Quyền được học KNS; Phát triển những KNS; Đánh giá KNS Những nguyên tắc là cơ sở để giúp nhìn ra bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI: Học để biết; Học để làm; Học để tự khẳng định mình và Học để cùng nhau chung sống, đây chính là khung cấu trúc của một cách tiếp cận KNS trong giáo dục hiện nay
Tại diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senengan (2000) Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó tại Mục tiêu 3 có
nêu:“Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo
dục kỹ năng sống phù hợp”, tại mục tiêu 6 yêu cầu: “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kỹ năng sống của người học”
Trang 19Cho nên, học KNS trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong kỹ năng sống của người học Do đó, giáo dục KNS cho người học trở thành nhiệm vụ quan trọng của giáo dục các nước, vì thế vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm
Tại Hội nghị thượng đỉnh về trẻ em do Liên Hiệp Quốc tổ chức ở
Newyork tháng 9-1990, cuốn sách “Để con em vững bước vào đời - Pour un
bondeparrt dán la vie” tác giả đã làm rõ nguyên tắc để cứu trẻ em sinh tồn,
phải đi đôi với cố gắng làm sao cho cuộc sống ý nghĩa
Những người đang cố gắng bảo vệ, giáo dục và giúp các em trưởng thành cần lấy định đề nói trên làm kim chỉ nam
Nhóm nghiên cứu của trường đại học A&M của Mỹ trên nhóm 4H (1/1991) Nhóm 4H (Heart- Health- Head- Hand) thuộc tổ chức 4H, chuyên nghiên cứu và phát triển KNS trên các lứa tuổi Trong đó, nghiên cứu này tập trung vào sự phát triển KNS của thành niên Nghiên cứu này cho thấy sự tham gia trong chương trình 4H là khá tích cực liên quan đến phát triển kỹ năng lãnh đạo và kỹ năng tự nhận thức cuộc sống Đồng thời cũng chỉ ra mức độ phát triển kỹ năng lãnh đạo cuộc sống
Năm 2005, Bary L.Boyd trong đề tài “Kỹ năng sống cho trẻ-
Developing life skills in yourth” tác giả cho rằng thiếu niên hiện nay cần được
hình thành và phát triển KNS, tác giả cung nhấn mạnh đến những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng tự ứng phó, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kỹ năng tự nhận thức…
Mặc dù giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm, xuất phát từ quan niệm chung về KNS của Tổ chức Y tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kỹ năng sống ở các nước không giống nhau, song nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước
Trang 20vừa thể hiện được cái chung, vừa mang những nét riêng của từng quốc gia dân tộc Đến nay đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở tiểu học và trung học
Hiện nay, GDKNS đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông dưới nhiều hình thức khác nhau Kinh nghiệm GDKNS trong nhà trường ở các nước cho thấy nó thúc đẩy mối quan hệ tích cực hơn giữa học sinh và giáo viên, đem đến hứng thú học tập cho học sinh do các em cảm thấy được tham gia vào những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân, cũng như đem đến bầu không khí năng động hơn trong lớp học cũng như trong nhà trường
1.1.2 Ở Việt Nam
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam KNS và vấn đề GDKNS cho con người biết đối nhân xử thế đã có mầm mống từ lâu như học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để ứng phó với thiên nhiên Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống lúc bấy giờ
Ở Việt Nam thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các trường phổ
thông từ những năm 1995- 1996, thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ
sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo
dục và Đào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện Trong chương trình này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định
Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này đặt mục tiêu nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn
Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kĩ năng
Trang 21sống”, trong giai đoạn này khái niệm KNS và GDKNS được phát triển sâu sắc
hơn Khái niệm “kỹ năng sống” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sau
hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF và Viện chiến
lược và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23 - 25 tháng 10 năm 2003 tại
Hà Nội Từ đó người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn
về kỹ năng sống Từ năm học 2002 - 2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông trong cả nước Theo đó các nội dung GD KNS được triển khai theo các cấp học và được chủ yếu thông qua chương trình các môn học
và các hoạt động GD KNS của nhà trường cùng với một số chương trình dự
án do nước ngoài tài trợ như: Dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ đã biên
soạn tài liệu “Giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua
hoạt động ngoại khóa trong nhà trường”; Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc
(UNFPA) đã hỗ trợ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh dự án: “Hỗ trợ
tăng cường sức khỏe vị thành niên”; tổ chức UNESCO hợp tác với Viện chiến
lược giáo dục thực hiện xây dựng tài liệu GDKNS cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn
Một trong những người có nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và
GD KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình Tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan và quá trình nhận thức KNS và đề xuất yêu cầu tiếp cận KNS trong GD và GD KNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng GD KNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua GD chính quy và GD thường xuyên ở Việt Nam
Năm 2007 với đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ: “Giáo dục một số
KNS cho học sinh trung học phổ thông” do tác giả Nguyễn Thanh Bình làm
chủ nhiệm, kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ của các
em còn hạn chế Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, xác định nhu cầu GDKNS, đề tài xây dựng chương trình GDKNS cho học sinh thông qua HĐGD NGLL
Trang 22Năm học 2008-2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát dộng trong
ngành giáo dục cả nước phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực” trong đó có nhấn mạnh nội dung rèn KNS cho HS; tiếp đó
là các chương trình tập huấn GD KNS cho đội ngũ giáo viên cốt cán của các tỉnh làm nòng cốt triển khai GD KNS trong các nhà trường Năm học 2010 -
2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xuất bản bộ tài liệu dành cho giáo viên, tích hợp nội dung GD KNS trong các môn học và trong HĐGD NGLL và được triển khai thực hiện trong các nhà trường
Ngoài ra phải kế đến bộ sách gồm 03 cuốn: “ Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống” cho các đối tượng là trẻ mẫu giáo, học sinh tiểu học và học sinh trung học phổ thông do Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên) đã trình bày những đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi ảnh hưởng đến việc hình thành KNS Đồng thời với từng lứa tuổi khác nhau, nhóm tác giả đã thiết kế các nhóm chủ đề cùng với những hoạt động phù hợp nhằm hình thành KNS phù hợp…
Thực tế cho thấy những nghiên cứu KNS ở Việt Nam mới chỉ được nghiên cứu, tìm hiểu trong thời gian gần đây với số lượng các công trình nghiên cứu còn hạn chế Những nghiên cứu tập trung chủ yếu ở mặt GDKNS thông qua một số chương trình, biện pháp thực nghiệm tác động Những công trình nghiên cứu về GDKNS trong các nhà trường phổ thông chưa nhiều, công tác quản lý GDKNS ít được quan tâm hơn Do đó, KNS vẫn còn là một lĩnh vực đầy tiềm năng cần được khai thác và cần được sự quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn nữa
Như vậy, các công trình, bài viết nghiên cứu về KNS và GDKNS đã đề cập những nội dung cơ bản về KNS, cách thức GDKNS cho HS nói chung, song rất ít có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về quản
lý GDKNS thông qua hoạt động GDNGLL Đặc biệt việc nghiên cứu “Quản
lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài
Trang 23giờ lên lớp ở các trường THPT huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi” hiện nay
chưa có ai nghiên cứu
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lý
Có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về quản lý, chẳng hạn:
Theo A.G.Afanaxev: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh
ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc
đẩy sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cá nhân” [Error! Reference source not
Các tác giả tuy có cách diễn đạt khác nhau về quản lý, song có thể nhận thấy đều gặp nhau ở một số điểm chung là: quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, sao cho đem lại hiệu quả nhất và thúc đẩy sự tiến bộ
Trong từ điển Tiếng Việt quản lý được định nghĩa như sau: Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định [[24]]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [[26]]
Hai tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một
quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [[22]]
Trang 24Theo một số tác giả thì: Hoạt động quản lý là tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra
Tuy nhiên, có cách diễn đạt khác nhau về quản lý, song có thể thấy rằng nội hàm của khái niệm quản lý đều hướng tới các vấn đề cơ bản sau:
- Quản lý bao gồm 2 yếu tố, đó là chủ thể quản lý (người quản lý) và khách thể quản lý (đối tượng bị quản lý), mục tiêu quản lý nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động
- Quản lý về cơ bản là tác động lên con người để họ làm những điều bổ ích và có lợi cho tổ chức
- Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới
- Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động chung được hình thành, tiến hành trôi chảy đạt hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển
- Quản lý là chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm thu được những diễn biến thay đổi tích cực
Bản chất của quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến người bị quản lý, nhằm đạt được mục tiêu quản lý, hay bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy được nhân tố con người trong tổ chức
Từ những phân tích trên có thể hiểu về quản lý như sau: “Quản lý là sự
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản
lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt đến mục tiêu đề ra Hay nói cách khác: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”[[28], tr 3]
Qua đó ta thấy, quản lý là một loại lao động đặc biệt, lao động sáng tạo,
Trang 25hoạt động quản lý cũng phát triển không ngừng từ thấp đến cao, gắn liền với quá trình phát triển, đó là sự phân công, chuyên môn hóa quá trình quản lý
Sự phân công chuyên môn hóa lao động quản lý là cơ sở hình thành các chức năng quản lý
Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện phương hướng và giai đoạn tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu
Như vậy trong toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý, nếu không xác định chức năng quản lý thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý Từ chức năng quản lý mà chủ thể xác định các nhiệm vụ cụ thể, thiết kế bộ máy và bố trí con người phù hợp
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý có mối quan hệ biện chứng, tạo sự kết nối giữa các chu trình theo hướng phát triển
Như vậy có thể khái quát chung về quản lý: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức, có lựa chọn của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm giữ cho sự vận hành của tổ chức được ổn định
và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay ai cũng biết rằng quản lý đóng vai trò quan trọng trong bất cứ một hoạt động nào của con người
Trong bất kỳ xã hội nào hoạt động trung tâm trong các nhà trường là hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục Do đó nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, trực tiếp đào tạo, giáo dục nhân cách bằng tổ chức hướng dẫn, truyền thụ những tri thức, đạo đức mà nhân loại
Trang 26đã sàng lọc, chiết xuất được cho thế hệ trẻ
Theo nhà lý luận về quản lý giáo dục M.M.Mechti người Anh định nghĩa: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính cung tiêu nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục đảm bảo sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng và chất lượng
P.V.KhuĐôMinxky - Nhà lý luận giáo dục người Nga cho rằng: Quản
lý giáo dục là tác động hệ thống có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau để tất cả các khâu của hệ thống (từ
Bộ Giáo dục và Đào tạo đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ
Theo tác giả M.I.Kônđacốp định nghĩa: “Không đòi hỏi một định nghĩa
hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường là một hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt kinh tế xã hội, tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [[20]]
Quản lý giáo dục có 2 cấp độ là quản lý hệ thống giáo dục và quản lý nhà trường
Tác giả Phạm Minh Hạc quan niệm: “Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”
[[15], tr 22 ]
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Bản chất của việc quản lý nhà
trường là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo
Trang 27dục”[[12]]
Có thể nói nhà trường là tế bào căn bản chủ yếu, là đơn vị cấu trúc cơ
sở của hệ thống giáo dục quốc dân, là tấm gương phản ánh bộ mặt của nền giáo dục, vì các quan điểm, đường lối, chính sách giáo dục đều được hiện thực hóa bởi nhà trường Đối với sự nghiệp giáo dục cũng vậy, hiệu quả và chất lượng giáo dục phụ thuộc vào chính giáo viên và công tác quản lý hoạt động của họ trong nhà trường
Cho nên coi nhà trường như “vầng trán” của nền giáo dục một quốc gia, cũng chỉ có nhà trường mới là nơi hiện thực hóa mọi chủ trương của Đảng, Nhà nước và của ngành về giáo dục, đồng thời là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn các chủ trương, chính sách giáo dục của các cấp quản lý và những
cơ sở của nhân cách người học cũng được hình thành trong nhà trường
Vì thế khi quản lý nhà trường người Hiệu trưởng ngoài việc quản lý thầy và trò trong trường còn phải phối kết hợp với các đoàn thể, tổ chức xã hội, cá nhân ngoài nhà trường góp phần làm cho chất lượng giáo dục của nhà trường ngày một phát triển
Mục đích quản lý nhà trường là nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đưa nhà trường từ trạng thái đang có, tiến lên một trạng thái mới có chất lượng hơn Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo một lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội
Qua đó ta thấy: Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục Bản chất của quản lý nhà trường là hệ thống các tác động có mục đích,
có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam, mà tiêu điểm là quá trình dạy học - giáo dục đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới về chất góp phần thực hiện mục
Trang 28tiêu chung của giáo dục là hình thành, phát triển nhân cách người học theo yêu cầu của xã hội QLGD được tiếp cận dưới 2 góc độ đó là:
Quản lý cấp vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dục quốc dân từ trung ương đến địa phương và quản lý, còn ở cấp vi mô là quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường Chính vì lẽ đó quản lý nhà trường chính là nội dung quan trọng trong quản lý giáo dục
- Ở góc độ vĩ mô: Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng về cả số lượng cũng như chất lượng thực hiện mục tiêu của nền giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực
và bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Ở góc độ vi mô: Quản lý giáo dục tức là quản lý nhà trường mà ở đó chủ thể quản lý giáo dục là chủ thể quản lý nhà trường, đối tượng quản lý là các quá trình dạy học, giáo dục và các thành tố tham gia vào quá trình đó Quản lý giáo dục tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường để đạt được mục tiêu dự kiến
Từ cách tiếp cận khái niệm quản lý giáo dục có những đặc điểm sau:
- Quản lý giáo dục bao gồm hoạt động của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là đặc điểm tất nhiên phổ biến của quản lý
- Quản lý giáo dục là phạm trù quản lý xã hội có nội dung là quản lý hành chính nhà nước về giáo dục và đào tạo
- Quản lý giáo dục thực chất là quản lý con người; bởi vì, QLGD chính
là quản lý quá trình giáo dục và quá trình dạy học mà sản phẩm cuối cùng của
Trang 29các quá trình đó là hình thành, phát triển nhân cách người học
- Quản lý giáo dục là quá trình luôn biến đổi
- Quản lý giáo dục liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược
- Quản lý giáo dục vừa là khoa học, vừa là nghề nghiệp, và là nghệ thuật
- Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng
- Quản lý giáo dục là một quá trình thực hiện đồng bộ các chức năng quản lý
Quản lý giáo dục bao gồm 4 chức năng sau:
- Chức năng Kế hoạch hoá: Là một chức năng quản lý, kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức
và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích GD
- Chức năng Tổ chức: Là sự phối hợp các tác động bộ phận lại với nhau làm cho chúng trở nên tác động thích hợp, mà hiệu quả của tác động này lớn hơn tổng hiệu quả các bộ phận Nhờ tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực
- Chức năng Chỉ đạo: Chỉ đạo là thể hiện tính tích cực của người chỉ huy trong hoạt động của mình Chỉ đạo thực hiện kế hoạch là có sự theo dõi
và giám sát công việc để chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận để hoạt động diễn
ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp được các lực lượng GD trong một tổ chức và phối hợp tối ưu với nhau
- Chức năng Kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra, đánh giá là một chức năng
cơ bản và quan trọng của quản lý Nhờ có kiểm tra, đánh giá mà người quản
lý có được thông tin chính xác về những thành tựu công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu QLGD
Tóm lại: “Quản lý giáo dục là hoạt động của các cơ quan quản lý
Trang 30nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[[22], tr 205]
Hay nói cách khác: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có chủ định của chủ thể quản lý giáo dục đến đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để đạt được mục tiêu giáo dục trong một môi trường luôn biến động
1.2.3 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐ GDNGLL
1.2.3.1 Hoạt động giáo dục NGLL
Trong chương trình hoạt động giáo dục NGLL ở các trường THPT được quan niệm là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn trên lớp, là sự tiếp nối hoạt động dạy - học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh Như vậy hoạt động giáo dục NGLL là những hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa, là hoạt động tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp Và có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông để tạo cho học sinh có cơ hội được trãi nghiệm hành vi ứng xử của mình
1.2.3.2 Hoạt động giáo dục KNS
Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội, là khả năng ứng phó một cách
có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội
Trang 31KNS là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống Các KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “ cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “ cái chúng ta nghĩ, cảm thấy” thành hành động thực tế “ làm gì và làm cách nào”
là tích cực nhất
Hoạt động giáo dục KNS thông qua các hoạt động GDNGLL ở trường phổ thông góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển các kỹ năng, hành vi, giáo dục tình cảm, niềm tin, đặc biệt giúp người học hình thành và phát triển kỹ năng sống giúp học sinh THPT sống, học tập an toàn và thích ứng với môi trường sống luôn biến đổi, tạo cơ sở cho sự phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện đáp ứng với yêu cầu thay đổi của xã hội Do đó trong chương trình giáo dục THPT hiện nay, hoạt động giáo dục NGLL (hoạt động trãi nghiệm) là một chương trình bắt buộc
Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động trãi nghiệm nhằm thực hiện các mặt giáo dục trong nhà trường do đó nội dung hoạt động bao gồm các nội dung cơ bản sau: Hoạt động gắn liền với nội dung văn hóa trong nhà trường, hoạt động Văn hóa, văn nghệ, Thể dục - thể thao và các hoạt động
về xã hội - chính trị, nghề nghiệp, các chủ đề về tình bạn, tình yêu hôn nhân
và gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên Các vấn đề về giữ gìn phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, phòng, chống các tệ nạn xã hội, bạo lực học đường và các vấn đề về vai trò của thanh niên trong việc học tập và xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay
Hoạt động GDNGLL là một bộ phận hữu cơ trong chương trình giáo dục ở nhà trường phổ thông, là bộ phận không thể thiếu được trong chương trình Giáo dục và Đào tạo của các nhà trường phổ thông Thông qua hoạt động GDNGLL giúp nhà trường huy động các nguồn lực để giáo dục học sinh
về mọi mặt
Trang 32Hoạt động GDNGLL là môi trường hoạt động của người học có nội dung, mục tiêu, phương tiện tương đối khách quan đối với học sinh Vì vậy
nó có trở thành hoạt động của người học hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Động cơ tham gia hoạt động, môi trường hoạt động, vai trò cố vấn của giáo viên và năng lực tổ chức của học sinh Hoạt động chỉ tạo ra sự thay đổi khi người học tham gia hoạt động tự giác, tích cực và chủ động trong quá trình hoạt động
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐNGLL
HĐGD NGLL là một bộ phận của quá trình GD ở nhà trường phổ thông Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học trên lớp HĐGD NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là cầu nối gắn lý thuyết với thực tiễn và đồi sống xã hội, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động góp phần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở HS
Xuất phát từ mục tiêu, HĐGD NGLL là điều kiện thuận lợi để HS phát huy vai trò chủ thể, nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo trong quá trình học tập và rèn luyện HĐGD NGLL vừa củng cố, bổ sung và
mở rộng kiến thức đã học, vừa phát triển những kỹ năng cơ bản của HS phù hợp với yêu cầu mục tiêu GD và đòi hỏi của xã hội, góp phần quan trọng vào
sự hình thành và phát triển nhân cách cho HS
Với vị trí và vai trò tiếp cận xã hội và giáo dục đạo đức nhân cách rất đặc trưng của HĐGD NGLL thực sự cần thiết và thông qua việc chuyển tải các nội dung của HĐGD NGLL bằng các hình thức, phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực theo hướng tiếp cận và giáo dục KNS sẽ rất có hiệu quả trong thực tiễn giáo dục ở nhà trường [[5], tr 39]
HĐGD NGLL là bộ phận hữu cơ trong quá trình GD ở nhà trường THPT, là bộ phận không thể thiếu trong kế hoạch hoạt động của nhà trường; tạo sự thống nhất giữa GD trong nhà trường và GD ngoài nhà trường
Trang 33Thông qua HĐGD NGLL, giúp nhà trường huy động mọi nguồn lực để
GD HS về mọi mặt, nhằm xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
Từ các khái niệm quản lý GD KNS và quản lý HĐGD NGLL và mối quan hệ giữa chúng ta có khái niệm về Quản lý GDKNS thông qua HĐGD
NGLL được phát biểu như sau: Quản lý GDKNS thông qua HĐGD NGLL
trong nhà trường được hiểu là một hệ thống những tác động quản lý hợp lý có mục đích, có tổ chức có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và những lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt của hoạt động GDKNS thông qua HĐGD NGLL nhằm thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách cho HS
1.3 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Giáo dục KNS cho học sinh THPT cũng như các quá trình, hoạt động giáo dục khác trong trường THPT đều có cấu trúc xác định, trong đó các thành tốt mục tiêu, nội dung và phương pháp là những thành tố tạo sự khác biệt giữa giáo dục KNS với các quá trình, hoạt động giáo dục khác
1.3.1 Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THPT
Mục tiêu giáo dục của Giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường THPT nhằm giúp học sinh:Có khả năng làm chủ bản thân, thích ứng và có khả năng ứng phó trước những tình huống khó khăn thường gặp hàng ngày; Hình thành cho học sinh những thói quen, cách ứng xử có văn hóa, rèn luyện bản thân sống phải có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, có hướng suy nghĩ tích cực, có hành vi, hành động đúng đắn, lành mạnh và tự tin Như vậy mục tiêu của hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT không dừng lại
ở việc làm thay đổi nhận thức cho học sinh bằng cách cung cấp thông tin, tri thức mà còn tập trung làm thay đổi hành vi của học sinh theo hướng tích cực hơn và cách ứng xử đối với các vấn đề, các thay đổi xẩy ra trong cuộc sống hằng ngày
Trang 34Mục tiêu của GDKNS cho học sinh THPT không dừng lại ở việc làm thay đổi nhận thức cho học sinh bằng cách cung cấp thông tin, tri thức mà tập trung vào mục tiêu xây dựng hoặc làm thay đổi hành vi của học sinh theo hướng tích cực, mang tính chất xây dựng đối với các vấn đề đặt ra trong cuộc sống GDKNS giúp học sinh THPT hiểu được những tác động mà hành vi và thái động của mình có thể gây ra, có thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, đối với các vấn đề của cuộc sống
1.3.2 Nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT
Nội dung hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT là những KNS cốt lõi cần hình thành và phát triển cho các em Nội dung của giáo dục KNS rất đa dạng và phong phú, nhưng trong giới hạn nghiên cứu có thể đề xuất một số kỹ năng cốt lõi, cơ bản nhất đối với lứa tuổi học sinh THPT như sau:
- Kỹ năng giao tiếp: Là khả năng tạo dựng mối quan hệ và khả năng ứng xử của con người trong mối quan hệ với người khác đạt được kết quả cao nhất theo mục tiêu đã xác định
- Kỹ năng tự nhận thức: Là khả năng con người có thể ý thức rõ ràng về cảm xúc, tính cách quan điểm, giá trị và động cơ, hiểu biết và chấp nhận những tố chất vốn có để phát huy điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu nhằm cải thiện mối quan hệ của mình với mọi người
- Kỹ năng xác định giá trị: Là khả năng xác định những đức tính, niềm tin thái độ, chính kiến nào của mình cho là quan trọng và giúp ta hành động theo phương hướng đó Xác định giá trị ảnh hưởng đến ra quyết định và hành động của con người
- Kỹ năng ra quyết định: Là một loạt các kết luận và hoạt động của bản than để đưa ra một quyết định đảm bảo đưa ra một kết quả nào đó theo mong muốn của bản than
- Kỹ năng hợp tác: Là khả năng học tập, làm việc, giúp đỡ và hổ trợ lẫn
Trang 35nhau trong một tập thể, các thành viên cùng thực hiện tốt những nhiệm vụ đề
ra và hướng đến mục tiêu chung, tạo nên sức mạnh và động lực làm việc cho từng cá nhân
- Kỹ năng thể hiện sự thông cảm: Là khả năng có thể hình dung và đặc mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ
- Kỹ năng ứng phó với tình huống căng thẳng: Là khả năng kiềm chế xúc cảm và tự giải thoát trạng thái căng thẳng; giúp học sinh nhận biết được một số tình huống căng thẳng, nhận biết được một số biểu hiện của căng thẳng và tác động của nó đến cuộc sống
- Kỹ năng đặt mục tiêu: Là khả năng biết đề ra mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như việc lập kế hoạch cho việc thực hiện mục tiêu đó
1.3.3 Phương pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT
Có nhiều phương pháp để giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động NGLL trong giới hạn của đề tài nêu một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Là tổ chức cho người học một mẫu chuyện, mô tả một tình huống có thật trong cuộc sống hằng ngày
- Phương pháp thảo luận nhóm: Là tổ chức cho học sinh tham gia thảo luận, bàn bạc trong từng nhóm
- Phương pháp trò chơi: Là cách thức tổ chức cho người học tiến hành một trò chơi nào đó để tìm hiểu một vấn đề nào đó hoặc bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làm phù hợp trong một tình huống cụ thể
- Phương pháp đóng vai: Là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, làm thử một tình huống giả định nào đó Đây là phương pháp nhằm giúp người học có được suy nghĩ kỹ về một vấn đề bằng cách tập trung vào một cách ứng xử cụ thể mà học sinh quan sát được
Trang 361.3.4 Nguyên tắc tổ chức giáo dục KNS cho học sinh THPT
- Nguyên tắc tương tác: Hoạt động giáo dục KNS không thể được hình thành thông qua việc nghe giảng và nghiên cứu tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với môi trường xung quanh Các KNS được nêu ở trên chỉ có thể hình thành khi học sinh tương tác với bạn bè và những người xung quanh thông qua hoạt động học tập và các hoạt động đoàn thể trong nhà trường Vì vậy việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường là yếu tố quan trọng để giáo dục KNS đạt hiệu quả
- Nguyên tắc trải nghiệm: KNS được hình thành khi học sinh tham gia các hoạt động trãi nghiệm qua các tình huống cụ thể Học sinh chỉ có kỹ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không phải nói về việc đó Kinh nghiệm có được khi học sinh sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với thực tế
- Nguyên tắc tiến trình: KNS khó có thể hình thành trong " một ngày, hai ngày" mà đòi hỏi phải có quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi
- Nguyên tắc thay đổi hành vi: Mục đích của hoạt động giáo dục KNS
là giúp học sinh thay đổi hành vi theo hướng tích cực, định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình
- Nguyên tắc thời gian - môi trường giáo dục: Hoạt động giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi và thực hiện càng sớm càng tốt đối với học sinh Môi trường giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình và ngoài cộng đồng nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các tình huống cụ thể trong cuộc sống hằng ngày
1.3.5 Các lực lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT
Lãnh đạo nhà trường tổ chức, xây dựng các lực lượng trong và ngoài nhà trường để tham gia vào các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động GDNGLL, có rất nhiều hoạt động để giáo dục KNS cho học
Trang 37sinh THPT hiện nay Một đặc điểm rất quan trọng của công tác giáo dục học sinh là công tác đó phải thiết thực, cụ thể, thường xuyên Các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục KNS cho học sinh như:
- Đội ngũ giáo viên bộ môn trong việc tích hợp giáo dục KNS vào môn học
- Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động giáo dục KNS
- Tổ chức đoàn thể và đoàn thanh niên trong nhà trường
- Lực lượng gia đình phụ huynh học sinh và môi trường xã hội
1.3.6 Các điều kiện giáo dục KNS cho học sinh THPT
Để hoạt động giáo dục KNS cho học sinh đạt hiệu quả thì các điều kiện
hỗ trợ như điều kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện cần thiết để học sinh
và gia đình thực hiện những yêu cầu, những thao tác, kỹ năng, hành vi do nhà trường đề ra cho các em
Các điều kiện hỗ trợ là một phần quan trọng của việc quản lý hoạt động, đó là tạo những điều kiện, phương tiện cần thiết để các lực lượng thực hiện tốt các yêu cầu do nhà quản lý đề ra
Muốn xây dựng môi trường giáo dục tốt để giáo dục học sinh thì một trong các yếu tố góp phần hết quan trọng trong việc giáo dục học sinh như Môi trường cảnh quan sư phạm của nhà trường phải mang tính giáo dục cao, bên cạnh đó người quản lý cần tạo ra bầu không khí giáo dục thân thiện, nề nếp, nghiêm túc, các thành viên trong hội đồng sư phạm nhà trường phải có mối quan hệ hòa nhã, tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau tiến
bộ, cán bộ giáo viên, công nhân viên cần gần gũi, giúp đỡ, thương mến học sinh Học sinh với học sinh thì phải tôn trọng, đoàn kết lẫn nhau Với bầu không khí sư phạm như tốt sẽ có tác dụng rất tích cực đến việc hình thành các
kỹ năng cần thiết trong học tập, sinh hoạt, tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục kỹ năng sống cho các em, tạo được các mối quan
Trang 38hệ, giao tiếp, ứng xử văn hóa, từ đó hình thành nên phẩm chất, đạo đức tốt cho các em
1.4 Quản lý GD KNS thông qua HĐGD NGLL cho học sinh THPT
Nội dung QLGD KNS thông qua HĐGD NGLL:
1.4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THPT
Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động GDNGLL là giúp các em có khả năng làm chủ bản than, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống xẩy ra trong cuộc sống hang ngày; Hình thành những hành vi, thói quen, cách ứng xử lành mạnh, rèn luyện lối sống có trách nhiệm với bản thân
và gia đình
Quản lý mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh là hướng tới quản lý các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục NGLL, đồng thời tạo sự thống nhất cao trong việc tăng cường hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT nhằm trang bị cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; Giúp học sinh có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử, ứng phó phù hợp, tích cực trước các tình huống xẩy ra, biết điều chỉnh hành vi của bản thân; Giải quyết tốt các vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về những hành vi của bản thân
Quản lý mục tiêu hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động GDNGLL còn tạo ra sự thân thiện, hợp tác, cách giao tiếp ứng xử trong giờ học giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh qua đó: động viên, tạo cơ hội cho mọi đối tượng học sinh cùng tham gia
1.4.2 Quản lý về nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT
Nội dung hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT là những KNS cốt lõi cần hình thành và phát triển cho các em Nội dung của giáo dục KNS rất đa dạng và phong phú, nhưng trong giới hạn nghiên cứu có thể đề xuất
Trang 39một số kỹ năng cốt lõi, cơ bản nhất đối với lứa tuổi học sinh THPT như sau:
- Kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng tự nhận thức
- Kỹ năng xác định giá trị
- Kỹ năng ra quyết định
- Kỹ năng hợp tác
- Kỹ năng thể hiện sự thông cảm
- Kỹ năng ứng phó với tình huống căng thẳng
- Kỹ năng đặt mục tiêu
1.4.3 Quản lý phương pháp giáo dục KNS cho học sinh THPT
Có nhiều phương pháp để giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động NGLL trong giới hạn của đề tài nêu một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Là tổ chức cho người học một mẫu chuyện, mô tả một tình huống có thật trong cuộc sống hằng ngày
- Phương pháp thảo luận nhóm: Là tổ chức cho học sinh tham gia thảo luận, bàn bạc trong từng nhóm
- Phương pháp trò chơi: Là cách thức tổ chức cho người học tiến hành một trò chơi nào đó để tìm hiểu một vấn đề nào đó hoặc bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làm phù hợp trong một tình huống cụ thể
- Phương pháp đóng vai: Là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, làm thử một tình huống giả định nào đó Đây là phương pháp nhằm giúp người học có được suy nghĩ kỹ về một vấn đề bằng cách tập trung vào một cách ứng xử cụ thể mà học sinh quan sát được
1.4.4 Quản lý hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh THPT
- Hiệu trưởng thành lập Ban chỉ đạo hoạt động GDKNS thông qua HĐGD NGLL, bao gồm: Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn, TPT Đội, đại diện GVCN, đứng đầu các tổ chức đoàn thể
Trang 40- Thành lập tổ tư vấn GDKNS thông qua HĐGD NGLL
- Hiệu trưởng phải sắp xếp, phân phối nguồn nhân lực, tổ chức lao động khoa học, hợp lý để thực hiện GDKNS thông qua HĐGD NGLL
- Xác định cơ chế hoạt động và phối hợp các lực lượng liên quan thực hiện quản lý GDKNS thông qua HĐGD NGLL
- Huy động vật lực, tài lực phục vụ cho hoạt động GDKNS thông qua HĐGD NGLL
1.4.5 Quản lý các lực lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT
- Hiệu trưởng chỉ đạo các thành viên trong Ban Chỉ đạo hoạt động GDKNS thông qua HĐGD NGLL thực hiện các nhiệm vụ:
+ Quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ GV
+ Quản lý việc xây dựng chương trình, kế hoạch, thiết kế nội dung, cách thức thực hiện các hoạt động GDKNS thông qua HĐGDNGLL
+ Quản lý việc tổ chức thực hiện các hoạt động GDKNS thông qua HĐGDNGLL qui mô nhà trường, lớp theo các chủ điểm, kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm
+ Quản lý công tác phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia GDKNS thông qua HĐGD NGLL
+ Quản lý công tác chỉ đạo xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa trò và trò, thày và trò, thày với thày ; đồng thời quản lý quá trình xây dựng và phát triển môi trường sư phạm thân thiện từ lớp học thân thiện - trường học thân thiện và công đồng thân thiện
- Thường xuyên đôn đốc, động viên và khích lệ lực lượng tham gia quản lý GDKNS ho HS thông qua HĐGD NGLL; giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các lực lượng, kịp thời điều chỉnh, sửa chữa những sai lệch trong thực hiện nhiệm vụ
- Thúc đẩy các hoạt động phát triển bằng việc tạo điều kiện về CSVC,