Trong vài năm gần đây, việc GDKNS cho HS tiểu học cũng đã được các trường trong quận đưa vào giảng dạy bằng cách lồng ghép vào các môn học và tổ chức các HĐNGLL, văn nghệ, thể dục thể th
Trang 1.;
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học là kết quả nghiên cứu của
cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong công trình này là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được nghiên cứu trước đó Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Người cam đoan
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG NGA
QUẢN LÍ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thị Lan Anh
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến PGS.TS.Vũ Thị Lan Anh, người hướng dẫn khoa học, người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và chuyên viên Phòng Giáo dục & Đào tạo, cán bộ và giáo viên các trường tiểu học trên địa bàn quận Dương Kinh đã quan tâm, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khảo sát, cung cấp số liệu và tư vấn khoa học trong quá trình nghiên cứu của tôi
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, các bạn học viên lớp Quản lí Giáo dục K25, những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu đề tài này, mặc dù bản thân đã cố gắng rất nhiều nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy - cô giáo, các bạn đồng nghiệp để đề tài có thể áp dụng vào thực tế một cách khả thi
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Nga
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 6
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số vấn đề lí luận về quản lí và quản lí giáo dục 8
1.2.1 Quản lí 8
1.2.2 Quản lí giáo dục 12
1.3 Một số vấn đề lí luận về kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 13
1.3.1 Kĩ năng sống 13
1.3.2 Giáo dục kĩ năng sống 15
1.3.3 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới 16
1.3.4 Mục tiêu và ý nghĩa của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 19
1.3.5 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 20
1.3.6 Các con đường và hình thức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 22
1.4 Một số vấn đề lí luận về quản lí giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 26
1.4.1 Khái niệm quản lí giáo dục kĩ năng sống 26
1.4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 32
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2:THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNGVÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 38
2.1 Khái quát vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục của quận Dương Kinh, Hải Phòng 38
2.1.1 Vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội quận Dương Kinh 38
Trang 52.1.2 Vài nét về sự phát triển của giáo dục và đào tạo quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng 38 2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng và quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học ở các trường tiểu học quận Dương Kinh, Hải Phòng 39 2.2.1.Thực trạng hoạt động giáo dục kĩ năng sống ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng 41 2.2.2 Thực trạng quản lý giáo dục kĩ năng sống ở các trường tiểu học quận Dương Kinh, Hải Phòng 54 Tiểu kết chương 2 70 Chương 3:BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINHCÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN DƯƠNG KINH, HẢI
PHÒNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 72 3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 72 3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo quán triệt đầy đủ các quan điểm của Đảng và Nhà nước
về giáo dục 72 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện, khoa học 72 năng và có mối quan hệ với việc quản lý các mặt giáo dục khác trong nhà trường 72 3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, khả thi và hiệu quả 73 3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính kế thừa, phát huy được kinh nghiệm, tiềm năng của các lực lượng giáo dục 74 3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động GDKNS cho HS các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng 74 3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các lực lượng giáo dục; bồi dưỡng năng lực chuyên môn đội ngũ thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới 74 3.2.2 Biện pháp 2: Lập kế hoạch hoạt động phù hợp, đúng mục đích và nội dung giáo dục kĩ năng sống theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới 81 3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh với các hình thức đa dạng, phong phú, đúng mục đích và nội dung, tăng cường tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo 85
Trang 63.2.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo sát sao việc xác định và thực hiện mục tiêu giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới 89
3.2.5 Biện pháp 5: Đổi mới kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDKNS cho HS 91
3.2.7 Biện pháp 7: Tích cực huy động các nguồn lực đầu tư kinh phí cho hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 98
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 100
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề tài đề xuất 101
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm: 101
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm: 101
3.4.3.Các bước tiến hành khảo nghiệm: 101
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 102
Tiểu kết chương 3 105
KÊT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHẦN PHỤ LỤC 113
Trang 7DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng HS, lớp học của các trường tiểu học quận Dương Kinh, năm học
2016 - 2017 39
Bảng 2.2 Nhận thức về tầm quan trọng của GDKNS cho HS 41
Bảng 2.3 Nhận thức về vị trí của hoạt động GDKNS cho HS 42
Bảng 2.4 Nhận thức về mục tiêu của GDKNS cho HS: 43
Bảng 2.5 Mức độ thực hiện và mức độ đạt được các nội dung GDKNS cho HS 44
Bảng 2.6: Mức độ thực hiện và mức độ đạt được của các hình thức 48
GDKNS cho HS : 48
Bảng 2.7 Mức độ tham gia của các lực lượng GDKNS cho HS 51
Bảng 2.8 Huy động và sử dụng các nguồn lực nào phục vụ GDKNS cho HS 52
Bảng 2.9 Nhận thức về vai trò của hiệu trưởng đối với việc quản lý GD KNS cho HS ở các trường tiểu học 54
Bảng 2.10: Mức độ thực hiện và mức độ đạt được của công tác lập kế hoạch triển khai GDKNS cho HS 55
Bảng 2.11: Mức độ thực hiện và mức độ đạt được của công tác triển khai tổ chức GDKNS cho HS 59
Bảng 2.12: Mức độ thực hiện và mức độ đạt được của công tác chỉ đạo triển khai GDKNS cho HS 62
Bảng 2.13: Mức độ thực hiện và mức độ đạt được của công tác kiểm tra đánh giá GDKNS cho HS 65
Bảng 2.14 Công tác quản lý các nguồn lực phục vụ GDKNS cho HS 68
Bảng 2.15: Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến công tác quản lý GDKNS cho HS ở các tiểu học quận Dương Kinh, Hải Phòng 69
Bảng 3.1 Ý kiến đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lí GDKNS cho HS 102
Bảng 3.2 Tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 103
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT CỤM TỪ VIẾT ĐẦY ĐỦ
BGH : Ban giám hiệu CBQL : Cán bộ quản lí CMHS : Cha mẹ học sinh CSVC : Cơ sở vật chất GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo GDKNS : Giáo dục kĩ năng sống
1
HĐGD : Hoạt động giáo dục HĐNGLL : Hoạt động ngoài giờ lên lớp
KNS : Kĩ năng sống LLGD : Lực lượng giáo dục LLXH : Lực lượng xã hội QLGD : Quản lí giáo dục TNST : Trải nghiệm sáng tạo TNTP HCM Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh UNESCO : Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hóa
của Liên hợp quốc UNICEF : Quĩ Nhi đồng Liên hợp quốc WHO : Tổ chức Y tế thế giới
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 KNS là cây cầu giúp con người biến tri thức thành hành động, sống an toàn, khỏe mạnh, thành công và hiệu quả Để giúp cho HS phát triển toàn diện và hình thành nhân cách, bên cạnh việc truyền thụ, trang bị những kiến thức về khoa học cơ bản của hoạt động học thì cần phải trang bị cho HS những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, hình thành cho HS về ý thức, về niềm tin, về thái độ ứng xử đúng đắn trong quan hệ giao tiếp hàng ngày, về hành vi, kỹ năng hoạt động cơ sở Đặc biệt, đối với cấp tiểu học là cấp học nền tảng, đặc điểm tâm lí lứa tuổi HS tiểu học ngây thơ, trong sáng dễ bị tác động bởi môi trường bên ngoài xã hội, cái tốt thì ảnh hưởng khó nhưng cái xấu thì dễ bị lây lan, tiêm nhiễm Như vậy việc trang bị cho
HS nói chung và HS tiểu học nói riêng những KNS cơ bản thực sự là một đòi hỏi không thể có gì thay thế được Trong môi trường giáo dục nhà trường, các em có điều kiện để khẳng định sở trường, năng lực và phát triển năng khiếu; rèn luyện kỹ năng ứng xử, giao tiếp, biết xử lí tình huống trong cuộc sống; giúp các em trở thành những con người chủ động trong cuộc sống sau này và quan trọng hơn là khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo Với ý nghĩa quan trọng đó, việc GDKNS cũng chính là nhiệm vụ cần thiết, trực tiếp của các nhà trường tiểu học
1.2 Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế cũng như đáp ứng nhu cầu của người học, Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông Nghị quyết số 29/NQ- TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề GDKNS cho HS nói chung và HS tiểu học qua việc xác định đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học gắn với bốn trụ cột trong giáo dục của thế kỷ XXI là: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống Nghị quyết về đổi mới giáo dục sau đó đã được hiện thực hóa qua việc Quốc hội ra nghị quyết về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê duyện đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông và giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng và công bố dự thảo CTGDPT mới Trong dự thảo CTGDPT
Trang 10mới nêu rõ, mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển hài hoà về thể
chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề
nghiệp và học tập suốt đời Như vậy, có thể thấy bên cạnh việc hoàn chỉnh tri thức, phát triển những kĩ năng giúp học sinh phát triển tự tin trong cuộc sống nói chung
và GDKNS nói riêng cho học sinh đã được chú trọng khi xây dựng CTGDPT mới
Trên thực tế, nội dung GDKNS trong những năm qua đã được các nhà trường phổ thông nói chung và các nhà trường tiểu học nói riêng triển khai thực hiện Tuy nhiên, hoạt động GDKNS cho HS tiểu học ở nhiều trường vẫn còn nhiều bất cập GDKNS vẫn chưa được đưa vào chương trình như một môn học chính khóa, việc thực hiện chỉ mới ở hình thức thông qua việc giảng dạy tích hợp vào các môn học, hiệu quả của việc giảng dạy lồng ghép chưa cao Công tác quản lí, tổ chức triển khai hoạt động GDKNS ở rất nhiều trường còn mang tính hình thức Các chính sách khuyến khích việc tổ chức hoạt động GDKNS cho HS chưa có Những điều trên đã dẫn tới kết quả hoạt động GDKNS chưa cao
1.3 Quận Dương Kinh là một đơn vị mới được thành lập theo Nghị định số 145/2007/NĐ-CP ngày 20/9/2007 của Chính phủ trên cơ sơ điều chỉnh địa giới hành chính 6 xã phía bắc của huyện Kiến Thuỵ Trong những năm gần đây, Dương Kinh
có tốc độ kinh tế phát triển nhanh theo hướng đô thị, công nghiệp, dịch vụ, bên cạnh những yếu tố tích cực của sự phát triển đó là sự kéo theo của tỷ lệ thanh thiếu niên mắc các tệ nạn gia tăng, đạo đức của một số lượng không nhỏ HS đang có chiều hướng đi xuống, hiện tượng HS mắc các tệ nạn xã hội và thiếu KNS đang có chiều hướng ngày càng gia tăng Trong vài năm gần đây, việc GDKNS cho HS tiểu học cũng đã được các trường trong quận đưa vào giảng dạy bằng cách lồng ghép vào các môn học và tổ chức các HĐNGLL, văn nghệ, thể dục thể thao, tham gia các hoạt động xã hội,v.v nhưng vẫn còn nặng hình thức, hiệu quả giáo dục chưa cao, những thay đổi chưa đáng kể
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung, định hướng đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015 cùng với việc triển khai đánh giá HS tiểu học theo thông tư 30/2014/TT - BGD&ĐT ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học và thông tư 22/2016/TT- BGD&ĐT sửa đổi một số điều quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư 22/2016/GBD&ĐT và những thay đổi
Trang 11của kinh tế, xã hội địa phương, GDKNS cho HS và quản lí GDKNS đang là yêu cầu bức thiết hiện nay của các nhà trường tiểu học ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Xuất phát từ những lí do trên, đề tài: “Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng theo định hướng Chương trình giáo dục phổ thông mới” đã được lựa chọn làm luận văn tốt
nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý GDKNS ở các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, đề xuất các biện pháp quản lý GDKNS cho HS theo định hướng CTGPT mới nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho các em
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDKNS cho HS các trường tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý GDKNS cho HS các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động GDKNS cho HS các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải
Phòng theo định hướng CTGPT mới
- Chủ thể thực hiện các biện pháp quản lí GDKNS cho HS là hiệu trưởng các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
4.2 Giới hạn về đối tượng khảo sát
- CBQL giáo dục tiểu học (cán bộ Phòng GD&DDT và CBQL các trường tiểu học): 16
- GV trường tiểu học: 132
5 Giả thuyết khoa học
Trang 12Thực tế hoạt động quản lý GDKNS cho HS ở các trường tiểu học quận
Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã bắt đầu được quan tâm và đạt được kết quả
nhất định Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay nói chung, định hướng CTGDPT mới nói riêng thì còn bộc lộ những bất cập Nếu
đề xuất và áp dụng đồng bộ, hợp lí các biện pháp quản lí GDKNS cho HS sẽ nâng cao được hiệu quả của hoạt động này, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho các em
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý GDKNS cho HS tiểu học
- Khảo sát, đánh giá thực trạng GDKNS và quản lý GDKNS các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý GDKNS ở các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng theo định hướng CTGDPT mới
- Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Nghiên cứu các tài liệu, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ năm học về vấn đề hoạt động GDKNS và quản lí hoạt động GDKNS cho HS tiểu học làm tư liệu xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đề tài sử dụng phiếu hỏi để điều tra
thực trạng hoạt động GDKNS và quản lí hoạt động GDKNS cho HS ở các trường tiểu học thuộc quận Dương Kinh, TP Hải Phòng
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu một số khách
thể để thu thập thêm những thông tin về quản lý hoạt động GDKNS cho HS tiểu học của quận Dương Kinh, TP Hải Phòng
- Phương pháp quan sát: Đề tài tiến hành dự một số buổi học (chính khóa,
ngoại khóa) có liên quan đến hoạt động GDKNS cho HS tiểu học của quận Dương Kinh, TP Hải Phòng nhằm trực tiếp tìm hiểu thông tin về đối tượng nghiên cứu
Trang 13- Phương pháp khảo nghiệm: Đề tài tiến hành xin ý kiến chuyên gia về tính
cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý GDKNS ở các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng theo định hướng CTGPT mới mà đề tài đã đề xuất
7.3 Phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích kết quả nghiên cứu thực tiễn của đề tài
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý GDKNS cho HS ở các trường tiểu học
Chương 2: Thực trạng quản lý GDKNS cho HS ở các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý GDKNS cho HS ở các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của
UNICEF (1996) “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS thanh thiếu
niên bên trong và ngoài nhà trường” do các chuyên gia Australia tập huấn Ngành
Giáo dục và Đào tạo và Hội chữ thập đỏ Việt Nam là những đơn vị đầu tiên tham gia chương trình này [2]
Theo Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO: 1993), các KNS được học tốt nhất thông qua phương pháp học tập tích cực, lấy người học làm trung tâm Việc hình thành các KNS phụ thuộc vào quá trình học tập cùng với người khác thông qua hoạt động nhóm như quan sát, luyện tập hoạt động cặp đôi, động não, sắm vai, tranh luận, thảo luận [38]
Đã có một số công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến vấn đề KNS nói chung và KNS trong nhà trường nói riêng
Một trong những người đầu tiên và là người có những nghiên cứu mang tính
hệ thống về KNS và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo [3; 4]; tác giả Nguyễn Thành Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và GDKNS ở Việt Nam Nghiên cứu của tác giả đã chỉ rõ: Chương trình, tài liệu GDKNS được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức,
Trong cuốn “Giáo trình chuyên đề GDKNS'" Nguyễn Thanh Bình đã khẳng
định những yêu cầu cụ thể đối với việc đổi mới nội dung chương trình và phương
pháp dạy học Tác giả cho rằng: Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là
hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của HS là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực [4]
Trang 15Các tác giả biên soạn bộ sách GDKNS trong các môn học ở tiểu học - Tài liệu dành cho GV đã phân tích tầm quan trọng của việc GDKNS cho HS trong các trường phổ thông KNS là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh, KNS thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội và cho rằng GDKNS là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ, GDKNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và cách tiếp cận phương pháp GDKNS cho HS [10]
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng thì HS phải tham gia chủ động vào các hoạt động GDKNS mới làm thay đổi hành vi của các em Tài liệu cũng đưa ra các phương pháp giáo dục giá trị sống, KNS và cách thức tổ chức hoạt động GDKNS cho HS tiểu học [24]
Ngô Thị Tuyên trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho HS tiểu học” đã chỉ ra
rằng KNS là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường Tác giả đưa ra khái niệm về kỹ năng sống, phân loại KNS, xác định vị trí vai trò của KNS trong giáo dục nhà trường, phương pháp GDKNS và trình bày phương pháp xây dựng một chương trinh học tập, nguyên tắc chọn nội dung, hướng dẫn GV phương pháp giáo dục cho trẻ bằng việc làm để có được sản phẩm là KNS[34] Các tác giả đều cho rằng thiếu KNS con người sẽ thiếu nền tảng giá trị sống
Ngoài những nghiên cứu về giáo dục trong nhà trường, đã có những tài liệu, nghiên cứu cung cấp các KNS, tự GDKNS cho thanh thiếu niên thông qua các câu chuyện, tình huống cho các nhiều đối tượng, đa dạng về chủ đề Tác giả Bạch Băng-
NXB Kim Đồng năm 2011 với “Tuyển tập những câu chuyện vàng về khả năng tự bảo
vệ mình “[1], tác giả Nguyễn Thị Oanh với “KNS cho tuổi vị thành niên” [27], tác giả
Phạm Văn Nhân - năm1999 với “Cẩm nang sống tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh
thiếu niên” của [26]; tác giả Trần Thời“Kỹ năng thanh niên tình nguyện” [33] đều theo
hướng xác định những kĩ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia cách thức để hình thành những kĩ năng này
Vấn đề GDKNS cho HS nói chung và HS tiểu học nói riêng đã được quan tâm nghiên cứu, tập trung nhiều vào các nghiên cứu lí luận Đến nay, cũng đã có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục nghiên cứu về
Trang 16đề tài quản lí hoạt động GDKNS cho HS trong các nhà trường trong đó có tập trung
vào quản lí hoạt động GDKNS cho HS tiểu học như luận án tiến sĩ với đề tài:
“quản lí hoạt động GDKNS cho HS tiểu học thành phố Hà Nội” của tác giả Hoàng
Thúy Nga - năm 2016 Đề tài nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu một số lĩnh vực nội
dung và phương pháp GDKNS cho HS tiểu học, phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề GDKNS, một số đề tài đề xuất các biện pháp GDKNS cho
HS và biện pháp quản lí GDKNS cho HS [25]
Các nghiên cứu về quản lí hoạt động GDKNS nói chung, quản lí hoạt động GDKNS cho HS nói riêng chủ yếu phục vụ cho việc hoạch định chính sách về GDKNS Vì thế, những kết quả nghiên cứu này được thể hiện qua nội dung của những chính sách cụ thể có liên quan đến GDKNS cho các đối tượng, trong đó có đối tượng là HS tiểu học Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu về đề tài quản
lý GDKNS cho HS các trường tiểu học học trên địa bàn quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng và đặc biệt là nghiên cứu về thực trạng, đề xuất biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động GDKNS cho HS các trường tiểu học trong quận để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và theo định hướng CTGDP mới nói riêng trong bối cảnh chung của xã hội hiện nay và tình hình kinh tế, xã hội riêng của địa bàn quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Phân tích trên cho thấy, đề tài được triển khai có thể làm phong phú thêm hướng nghiên cứu này
1.2 Một số vấn đề lí luận về quản lí và quản lí giáo dục
1.2.1 Quản lí
* Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất – xã hội để đạt được mục đích đã định
Theo cách tiếp cận như vậy, nội hàm khái niệm quản lý thường bao gồm các nội dung sau:
Trang 17- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất
là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo
ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý
- Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động
- Chủ thể phải thực hành việc tác động
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người; còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội)
Nhìn nhận nội hàm khái niệm quản lí như trên dưới các góc nhìn khác nhau,
đã có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là
hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lí) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [16]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến [31]
Tác giả Trần Kiểm : Quản lý là những tác động hoạch của chủ thể quản lý
trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực ( nhân lực, vật lực, tài lực ) trong và ngoài tổ chức ( chủ yếu là nội lực ) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [22]
Các định nghĩa của các tác giả dù đứng ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều
có điểm chung là: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý
đến các đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
Như vậy, quản lý bao gồm hai yếu tố cơ bản là: chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có thể là một cá nhân, một tổ chức, một tập thể Giữa chủ thể quản lý và đối tượng quan lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng qua lại với nhau, tương tác nhau thông qua những công cụ, phương pháp
để cùng hướng tới đạt mục tiêu quản lý
* Chức năng của quản lý:
Trang 18Chức năng của quản lý là xác định khối lượng công việc cơ bản và trình tự các công việc của quá trình quản lý, mỗi chức năng có nhiều nhiệm vụ cụ thể, là các quá trình liên tục của của các bước công việc tất yếu phải thực hiện
Chức năng của quản lý là một hệ thống nhất các hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nẩy sinh từ sự phân công chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu Có nhiều quan niệm khác nhau về chức năng quản lý, nhưng cơ bản thì quản lý gồm 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo - chỉ đạo, kiểm tra - đánh giá
- Chức năng lập kế hoạch: Trong tất cả các chức năng quản lý, chức năng
lập kế hoạch đóng vai trò là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng quản lý khác, đây được coi là chức năng hạt nhân, quan trọng của quá trình quản lý
Lập kế hoạch là phải đặt ra mục tiêu, bước đi và các biện pháp cụ thể để đạt mục tiêu Muốn có được bản kế hoạch phù hợp, khoa học và mang tính khả thi phải thực hiện tốt chức năng dự báo Khi dự báo phải biết rõ thực lực của mình, đó là việc xác định nhu cầu và các mục tiêu mà nhà trường cần đạt tới trên cơ cở phân tích sư phạm và căn cứ hướng dẫn của cấp trên về chỉ thị và nhiệm vụ năm học mới
để suy ra định hướng cơ bản trong năm học tiếp theo của nhà trường, lựa chọn những hướng ưu tiên, dự kiến những mục tiêu cần đạt được và các tiêu chuẩn đánh giá Có như vậy bản kế hoạch đề ra mới có thể áp dụng được vào thực tiễn quản lý
và đem lại kết quả khả thi
- Chức năng tổ chức: Khi bàn đến vấn đề này, Barmard cho rằng: “chức
năng quản lý như là hệ thống các hoạt động hay tác động có ý thức của hai hay nhiều người”
Tổ chức giữ vai trò to lớn trong quản lý vì:
+ Tổ chức giúp cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có hiệu quả
+ Tổ chức dựa trên khối lượng công việc quản lý mà xác định biên chế, sắp xếp con người
Trang 19+ Tổ chức tạo điều kiện cho hoạt động tự giác sáng tạo của các thành viên trong
tổ chức, tạo nên sự phối hợp, ăn khớp nhịp nhàng trong cơ quan quản lý và đối tượng quản lý Từ đó, dễ dàng trong việc kiểm tra, đánh giá các hoạt động quản lý
Như vậy, thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống các hoạt động nhịp nhàng như một thể thống nhất Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho những tiềm năng, cho các động lực khác, tổ chức không tốt sẽ triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi thành viên, mỗi bộ phận, đảm bảo mối quan hệ liên kết giữa cá nhân, các thành viên, các
bộ phận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ - yếu tố đảm bảo thành công trong quản
lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
- Chức năng lãnh đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý
đến hành vi, thái độ con người (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu đề ra Quá trình đó thể hiện ở sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong
tổ chức nhằm góp phần hiện thực hóa các mục tiêu đề ra Bản chất của chức năng lãnh đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người khơi dậy động lực, tiềm năng của nhân số con người trong hệ thống quản lý thực hiện mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối liên hệ đó để họ tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc
Chức năng này có tính chất tác nghiệp điều chỉnh, điều hành hoạt động của
hệ thống nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã định, để biến mục tiêu trong dự kiến thành kết quả hiện thực
Điều khiển bộ máy thực chất là điều khiển con người, điều khiển phải căn cứ vào
kế hoạch Để điều khiển được con người thì phải có quyền lực, phải có sự phân công rạch ròi (danh có chính, ngôn mới thuận), không những vậy phải có các công cụ khác (lợi ích về vật chất và tinh thần) Để có chỉ đạo điều hành có hiệu quả chủ thể ngoài việc khuyến khích vật chất phải biết khuyến khích động viên tinh thần đối tượng…
- Chức năng kiểm tra: Là thu thập những thông tin ngược từ phía bộ máy
Tức là nắm tình hình từ dưới bộ máy lên để biết được:
Trang 20+ Thực trạng bộ máy: Bộ máy đang hoạt động như thế nào để có kế hoạch điều chỉnh nhằm đạt được tới mục tiêu đã định
+ Thực trạng các quyết định quản lý: Việc thực hiện quyết định đến đâu, ở mức độ nào để kịp thời điều chỉnh và sửa chữa
Tóm lại, quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định
1.2.2 Quản lí giáo dục
* Khái niệm giáo dục
Tác giả Nguyễn Lân, trong tác phẩm “Từ điển Từ và ngữ Hán Việt” (1989)
đã nêu: Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ
chức nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết
để họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội [25]
Đề cập đến giáo dục đào tạo, Nghị quyết TW2 Khóa 8 của Đảng ta đã chỉ ra: giáo dục ngày nay không phải chỉ là tích tụ trí thức mà còn thức tỉnh tiềm năm sáng
tạo to lớn trong mỗi con người Nhà trường phải đào tạo ra những con người có đủ
tri thức và kỹ xảo, năng lực và phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của người công dân tham gia vào cuộc sống lao động xã hội, tham gia vào cuộc cách mạng trí tuệ, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; nhà trường phải đào tạo những con người học được cách chung sống, hợp tác với nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề chung của dân tộc, của quốc gia, của toàn cầu và của thời đại [17]
- Khái niệm Quản lý giáo dục
Với tư cách là hệ lớn, phức tạp, hệ thống giáo dục cần có sự quản lý một cách khoa học, vì vậy quản lý và giáo dục luôn tồn tại song hành với nhau
Theo tác giả Trần Kiểm quản lý giáo dục có hai cấp độ: cấp vĩ mô (quản lý
hệ thống giáo dục) và cấp vi mô (quản lý nhà trường)
- Cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội (tính trội của hệ thống) sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
Trang 21nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động [22]
- Cấp vi mô: quản lí giáo dục đồng nghĩa với khái niệm quản lí nhà trường:
quản lí giáo dục (ở cấp vi mô) được hiểu là hệ thống các tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội bên trong và ngoài trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [22]
Như vậy, quản lí giáo dục dù ở cấp vĩ mô hay cấp vi mô cũng đều có những nét bản chất tương đồng với nhau Chúng chỉ khác nhau về phạm vi của đối tượng quản lí
Trong khuôn khổ luận văn, đề tài sử dụng khái niệm quản lí giáo dục là quản
lí giáo dục ở cấp vi mô – quản lí nhà trường
1.3 Một số vấn đề lí luận về kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
1.3.1 Kĩ năng sống
Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kĩ năng sống:
* Định nghĩa của các cơ quan, tổ chức trên thế giới:
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): KNS là khả năng để có hành vi thích
ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày, là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh [3]
- Tổ chức UNICEF cho rằng: KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình
thành hành vi mới của mỗi cá nhân Muốn vậy, cá nhân cần có sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng Theo quan niệm này, KNS là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng tìm kiếm cách phòng tránh và ứng xử với các tình huống [38]
- Tổ chức UNESCO quan niệm: KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:
Trang 22học để biết, học làm người, học để sống với người khác, học để làm KNS là năng
lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia thuận lợi vào cuộc sống hàng ngày Đó là những kĩ năng như: kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức; kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm… Đó là khả năng cá nhân làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp cá nhân đó có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày [37]
* Định nghĩa của các nhà khoa học:
- Tác giả Nguyễn Thanh Bình: KNS là năng lực, khả năng tâm lý - xã hội
của con người có thể ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quyết các tình huống một cách tích cực và giao tiếp có hiệu quả [2]
- Theo Mạc Văn Trang: KNS là năng lực biểu hiện những giá trị sống trong
hoạt động và giao tiếp hàng ngày KNS giúp người ta học tập, làm việc hiệu quả hơn, giao tiếp với mọi người thân thiện, vui vẻ, hợp tác, thành công hơn; biết tự điều chỉnh bản thân làm việc tốt, tránh việc xấu [25]
Từ những góc nhìn và định nghĩa như trên, có thể thấy:
- KNS là kĩ năng, năng lực của mỗi cá nhân được hình thành thông qua
những trải nghiệm của cá nhân đó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển
- KNS là khả năng của mỗi cá nhân thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình Tuy nhiên, kĩ năng nói chung và KNS nói riêng không hình thành và tồn tại một cách độc lập mà trong mối tương tác mật thiết
và có sự cân bằng với kiến thức và thái độ
- KNS là kĩ năng, năng lực của mỗi cá nhân được hình thành thông qua
những trải nghiệm của cá nhân đó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, nó giúp
cho con người có cách ứng xử tích cực và có hiệu quả đáp ứng mọi biến đổi của đời sống xã hội, sống mạnh khỏe hơn, an toàn hơn
Tóm lại, KNS giúp cho con người có thể làm chủ bản thân, có khả năng ứng
xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước
Trang 23các tình huống của cuộc sống KNS bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người KNS có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc tự rèn luyện của con người Giáo dục, rèn luyện có chủ đích là con đường ngắn nhất để hình thành KNS cho HS
1.3.2 Giáo dục kĩ năng sống
Từ cách tiếp cận như đã đề cập ở trên, có thể thấy KNS cho HS tiểu học bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người nói chung và HS tiểu học nói riêng Khi đã có KNS cơ bản cần thiết, nhất là năng lực hành động, năng lực thực tiễn các em sẽ bình tĩnh, chủ động, sáng tạo, tích cực hơn khi tham gia các hoạt động trong học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày của cuộc sống
GDKNS chính là quá trình hình thành, rèn luyện và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người xung quanh
trong cộng đồng xã hội và ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới giáo dục đào tạo, GDKNS chính là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại do yêu cầu chuẩn xã hội hiện đại đặt ra, có liên quan đến việc làm, sức khỏe, đến vấn đề xung đột và bạo lực của cá nhân, của cộng đồng và xã hội Vì vậy, có thể thấy
GDKNS cho HS là quá trình hình thành, rèn luyện hoặc thay đổi các hành vi của các em theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học, dựa trên cơ sở giúp HS có tri thức, giá trị, thái độ, kỹ năng phù hợp đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống hiện đại
Như vậy, GDKNS không phải là nói cho trẻ biết thể nào là đúng, thế nào là sai mà là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau ứng phó với các tình huống trong thực tế cuộc sống GDKNS phải hết sức gần gũi với cuộc sống và ngay trong cuộc sống GDKNS nhấn mạnh đến việc trẻ phải ý thức
về giá trị bản thân hay quý trọng bản thân, đó chính là nền tảng cho sự phát triển một nhân cách lành mạnh và sự tự tin GDKNS là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế hoạch, được tổ chức thực hiện nhằm rèn luyện cho HS những KNS cơ bản, kỹ năng
Trang 24thực tiễn về khoa học, kỹ thuật, lao động, văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí,… Các
em được rèn luyện thể chất, bồi dưỡng tình cảm lành mạnh đối với các mối quan hệ bạn bè, cha mẹ thầy cô và đặc biệt nắm bắt được các KNS xử lý các tình huống trong cuộc sống và trong các mối quan hệ xã hội khác
1.3.3 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
1.3.3.1 Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo và định hướng thay đổi
chương trình giáo dục phổ thông
Đứng trước cơ hội và thách thức mới của thời đại, giáo dục và đào tạo Việt
Nam cần phải “đổi mới căn bản, toàn diện” Nghị quyết số 29 - Nghị quyết TW 8
khóa XI đã chỉ rõ về quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với giáo dục và đào tạo trong
giai đoạn hiện nay: Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Với mục tiêu cụ thể: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện
và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời [18]
Đại hội Đảng XII tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu“ đổi mới căn bản và toàn
diện Giáo dục và Đào tạo”, cụ thể là: chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học
đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành [19]
Thực hiện Nghị quyết số 29 - Nghị quyết TW 8 khóa XI, Quốc hội đã ban
hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo
Trang 25dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Mục tiêu
đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: Đổi mới chương
trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện
về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh [32]
Quyết định số 404/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ đã phê duyện đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, trong đó chỉ rõ mục tiêu:
Chương trình mới, sách giáo khoa mới được xây dựng theo hướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả về phẩm chất và năng lực; chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, nhân cách, lối sống; phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu và định hướng nghề nghiệp cho mỗi học sinh; tăng
cường năng lực ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng sống, làm việc trong điều kiện
hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng, phát huy thành quả khoa học công nghệ thế giới, nhất là công nghệ giáo dục và công nghệ thông tin [14]
Bộ giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo CTGPT mới để lấy ý kiến đóng góp lần thứ 2, theo Dự thảo, mục tiêu chung của CTGDPT mới có điểm kế thừa mục tiêu chung của CTGDPT truyền thống, thể hiện ở định hướng: Tiếp tục mục tiêu giáo dục phát triển con người toàn diện “đức, trí, thể, mỹ”, hài hòa về thể chất và tinh
thần… CTGDPT mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, đó là là cách tiếp cận nêu rõ học sinh sẽ làm được gì và làm như thế nào, nhấn mạnh yêu cầu phát triển
năng lực, phẩm chất, chú ý phát huy tiềm năng vốn có của mỗi HS, chú ý phát triển
cả con người xã hội và con người cá nhân Đó chính là đổi mới căn bản trong CTGDPT mới Sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận này sẽ chi phối và bắt buộc tất cả các khâu của quá trình dạy học thay đổi: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, cách kiểm tra, đánh giá, thi cử; cách thức quản lý và thực hiện… nhằm tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lượng giáo dục
Trang 26Cũng theo Dự thảo, mục tiêu chương trình giáo dục tiểu học mới giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa
về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá
trị gia đình, quê hương, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt Mục tiêu trên đã thể hiện chương trình giáo dục tiểu học mới chú
trọng tới việc tăng cường GDKNS cho HS [13]
1.3.3.2 Vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Trong nhà trường nói chung và nhà trường tiểu học nói riêng, hoạt động giáo
dục được phân chia thành hai bộ phận chủ yếu: Các hoạt động giáo dục lồng ghép
trong hệ thống các môn học và các lĩnh vực học tập khác như giờ học ngoại khoá; các hoạt động giáo dục ngoài các môn học và lĩnh vực học tập Các hoạt động giáo dục chính trong nhà trường bao gồm: hoạt động giáo dục thể chất, hoạt động giáo dục trí tuệ, hoạt động giáo dục đạo đức, hoạt động giáo dục thẩm mỹ, [17]
Khi xã hội ngày càng phát triển, cùng với việc đặt ra yêu cầu phải đổi mới trong giáo dục đào tạo đã ngày càng làm xuất hiện thêm những hoạt động giáo dục mới trong nhà trường tiểu học, chẳng hạn: GD môi trường, GD giới tính và đặc biệt
là GDKNS GDKNS có tầm quan trọng trong việc hình thành nên nhân cách của mỗi người
Nhận thức vai trò của GDKNS đối với HS tiểu học, từ năm học 2008-2009:
Bộ GD&ĐT ban hành Chỉ thị số 40/2008/CT-BGD&ĐT ngày 22/7/2008 về việc
phát động phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong
các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 với một trong 5 nội dung cần thực hiện
là rèn luyện KNS cho HS, cụ thể: Rèn luyện KN ứng xử hợp lí với các tình huống
trong cuộc sống, thói quen và KN làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, KN phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện KN ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội [7]
Trang 27Bắt đầu từ năm học 2010-2011, Bộ GD&ĐT đã đưa nội dung GDKNS lồng ghép vào một số môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở bậc tiểu học Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi nhiều mục tiêu, trong đó có mục tiêu GDKNS Theo đó, các nội dung GDKNS được triển khai theo các cấp học và được chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động GDKNS của nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ
Tuy nhiên, tư tưởng là vậy nhưng cho đến nay, trong chương trình phổ thông hiện hành, nhận thức về KNS, cũng như việc thể chế hóa GDKNS trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam chưa thật cụ thể, đặc biệt về hướng dẫn tổ chức hoạt động GDKNS cho HS ở các cấp, bậc học còn hạn chế Thông báo 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, đã nêu
một trong những hạn chế của giáo dục phổ thông như sau: “Giáo dục phổ thông
mới chỉ quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người”,
KNS và “dạy nghề” cho thanh thiếu niên” [6]
Tóm lại: Theo định hướng CTGDPT mới đòi hỏi các nhà trường phải chủ
động xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp hình thức tổ chức GDKNS cho HS theo quan điểm, mục tiêu, định hướng đổi mới của CTGDPT mới
và vận dụng vào thực tế giảng dạy chương trình hiện hành nhằm nâng cao chất lượng GDKNS cho HS và hướng tới khi chương trình mới chính thức được áp dụng thì việc GDKNS cũng được triển khai đồng bộ
1.3.4 Mục tiêu và ý nghĩa của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
GDKNS cho HS tiểu học nhằm các mục tiêu sau:
- Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp Trên
cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt
Trang 28động hàng ngày
- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
GDKNS cho HS tiểu học có ý nghĩa:
- Giúp các em có kỹ năng tự bảo vệ mình trước những vấn đề của xã hội có nguy cơ ảnh hưởng dến cuộc sống an toàn và khỏe mạnh của các em Giúp các em phòng ngừa được những hành vi có hại cho sự phát triển của bản thân
- Giúp các em làm chủ được bản thân, có khả năng thích ứng, biết cách ứng phó những tình huống khó khăn trong cuộc sống hằng ngày
- Giúp các em rèn luyện lối sống có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình và cộng đồng
- Mở ra cho các em cơ hội, hướng suy nghĩ, hướng đi tích cực và tự tin cũng như giúp các em biết lựa chọn và quyết định đúng đắn
Đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu giáo dục của Việt Nam là: chuyển
mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học Học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn Giáo dục
hướng đến hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học, trong đó quan trọng là hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng cho các em, vì vậy GDKNS còn có ý nghĩa nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông [18]
1.3.5 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
HS tiểu học có độ tuổi từ 6 tuổi đến 11 tuổi Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là chiếm lĩnh các tri thức khoa học Qua việc chiếm lĩnh những tri thức khoa học, trẻ hình thành kĩ năng làm việc trí óc Hoạt động chủ đạo trong giai đoạn này là tri thức khoa học, có tri thức khoa học, có kĩ năng làm việc trí óc, trẻ sẽ có cơ sở nền tảng để phát triển các KNS Đặc điểm nhân cách của HS tiểu học nổi bật ở những nét như: khả năng nhận thức phát triển nhanh chóng nhờ hoạt động học tập; đời sống cảm xúc, tình cảm chiếm ưu thế hơn và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động, nhận thức của trẻ; tính hồn nhiên, vui tươi hướng về những cảm xúc tích cực; hay bắt chước những người gần gũi, có uy tín với trẻ; hành vi ý chí chưa cao, bản
Trang 29tính hiếu động, khó kiềm chế, kém tự chủ nên dễ phạm lỗi, nhất là đối với các yêu cầu có tính nghiêm ngặt, đòi hỏi sự tập trung cao độ, gây căng thẳng
Tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, đã có nhiều cách xác định nội dung GDKNS cho HS tiểu học, ví dụ: kỹ năng nhận thức, kỹ năng đương đầu với cảm
xúc, kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác (theo UNESCO); kỹ năng nhận biết
và sống với chính mình, kỹ năng nhận biết và sống với người khác, kỹ năng ra quyết định (theo UNICEF)
Chương trình giáo dục tiểu học hiện hành chưa đưa ra chương trình khung và quy định các tiết dạy chuyên biệt về GDKNS cho HS tiểu học, nội dung GDKNS cho
HS được tích hợp trong một số môn học và các hoạt động giáo dục có tiềm năng
Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành tài liệu giáo dục KNS trong các môn học ở tiểu học - tài liệu dành cho giáo viên, trong đó nêu ra 21 KNS cần thiết để giáo viên tiểu học lựa chọn và tổ chức giáo dục cho HS trong các môn học hoặc các hoạt động giáo dục Tuy nhiên tài liệu cũng lưu ý giáo viên cần vận dụng linh hoạt các nội dung GDKNS tùy theo từng lứa tuổi, môn học, hoạt động giáo dục và điều kiện cụ
thể [theo 10]
Với bối cảnh như trên; dựa vào đặc điểm HS tiểu học; căn cứ vào các KNS cần giáo dục cho HS của UNESCO, căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng cần giáo dục cho HS tiểu học, có thể đưa ra các KNS cần giáo dục cho HS tiểu học bao gồm
6 nhóm kỹ năng như sau:
- Nhóm kỹ năng nhận thức: nhận thức bản thân, xây dựng kế hoạch, kỹ năng học và tự học, tư duy tích cực và tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề…
- Nhóm kỹ năng xã hội: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình và nói được trước đám đông, kỹ năng diễn đạt cảm xúc và phản hồi…
- Nhóm kỹ năng quản lí bản thân: kỹ năng làm chủ, quản lí thời gian, giải trí lành mạnh…
- Nhóm kỹ năng giao tiếp: xác định đối tượng giao tiếp, xác định nội dung và hình thức giao tiếp…
Trang 30- Nhóm kỹ năng phòng chống bạo lực, bảo vệ bản thân: phòng chống xâm hại thân thể, phòng chống bạo lực học đường, phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống tai nạn thương tích…
- Nhóm kỹ năng hợp tác: kỹ năng quan sát, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo…
1.3.6 Các con đường và hình thức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Có nhiều con đường để GDKNS cho HS Ở trường tiểu học, có ba con đường cơ bản đó là:
Thứ nhất, tích hợp GDKNS thông qua hoạt động giáo dục trong khuôn khổ
hệ thống các môn học và lĩnh vực học tập ở trường tiểu học Con đường này được thực hiện bởi hoạt động dạy và học trong các môn học bắt buộc và tự chọn, đặc biệt
là các môn học có tiềm năng như: Đạo đức, Tự nhiên - Xã hội, Khoa học, Lịch sử - Địa lí, Tiếng Việt
Môn Tiếng Việt là một trong những môn học chiếm nhiều thời lượng nhất ở
bậc tiểu học và cũng có khả năng GDKNS cao nhất Hầu hết các bài học đều có thể tích hợp GDKNS cho HS ở những mức độ nhất định Các bài học trong các phân môn đều có thể GDKNS cho HS KNS đặc thù, thể hiện ưu thế có thể hình thành và
rèn luyện qua môn Tiếng Việt là kỹ năng giao tiếp
Trong môn Thủ công lớp 1,2,3; Kỹ thuật lớp 4,5, nội dung tích hợp GDKNS cho HS được thể hiện nổi trội là giáo dục kỹ năng tư duy sáng tạo Đối với môn
Thủ công để giáo dục kỹ năng tư duy sáng tạo cho HS thì những bài dạy thủ công của người GV cũng cần mang tính sáng tạo GV hướng dẫn học sinh thực hành, trải nghiệm để trang trí cho những sản phẩm tạo ra thêm sinh động, tạo dấu ấn của từng
cá nhân trên mỗi sản phẩm thủ công GV nên tạo tâm lý thoải mái trong những tiết học thủ công để HS có thể tự do sáng tạo, không áp đặt suy nghĩ của GV vào HS, gợi ý cho HS sáng tạo, thực hành, qua các khau làm việc đó, HS được rèn KNS
Môn kỹ thuật lớp 4,5 giáo dục cho HS những kĩ năng tự phục vụ như kĩ năng nấu
ăn, khâu vá, lắp ghép, lắp mô hình mạng điện…
Trang 31Mục tiêu GDKNS cho HS qua môn Đạo đức là: Bước đầu HS biết sống và
ứng xử phù hợp với các chuẩn mực, biến nhận thức thành hành vi chuẩn mực thể hiện thông qua KNS; bước đầu trang bị cho HS các KNS cần thiết, phù hợp với lứa tuổi; hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực; phát hiện khả năng tư duy và sáng tạo của HS; rèn cho HS biết cách tự phục vụ bản thân và vệ sinh cá nhân, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường; rèn cho HS biết cách giao tiếp và ứng xử phù hợp và linh hoạt trong cuộc sống hàng ngày Mục tiêu của môn học như vậy đã thể hiện
rõ khả năng tích hợp để GDKNS cho HS tiểu học
- Một số trường tiểu học dã triển khai môn học Giáo dục lối sống (từ lớp 1-
lớp 5) theo chương trình Công nghệ giáo dục, môn học vừa kế thừa nội dung chương trình môn giáo dục đạo đức của chương trình hiện hành, vừa phát triển, bổ sung, thiết
kế lại theo yêu cầu mới Với môn Giáo dục lối sống sẽ tích hợp nhiều nội dung GDKNS, tức là HS sẽ được tiếp cận các nội dung GDKNS mang tính chính quy, hệ thống hơn và đay cũng là môn học tiếp cận theo định hướng của CTGDPT mới
- Môn Tự nhiên và xã hội ở các lớp 1,2,3, khoa học lớp 4,5 là môn học giúp
HS có một số kiến thức cơ bản ban đầu về con người và sức khoẻ, về một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên - xã hội Môn học chú trọng đến việc hình thành
và phát triển các kỹ năng trong học tập như: quan sát, nêu nhận xét, thắc mắc, đặt câu hỏi và diễn đạt hiểu biết của bản thân về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong
tự nhiên và trong xã hội Đặc biệt môn học giúp HS xây dựng các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng; yêu gia đình, quê hương, trường học và có thái độ thân thiện với thiên nhiên Cùng với kiến thức cơ bản về con người, về Tự nhiên- xã hội, việc GDKNS cho HS qua môn Tự nhiên và xã hội sẽ góp phần không chỉ khắc sâu thêm các kiến thức của môn học mà còn hình thành thái độ và hành vi tích cực, phù hợp, cần thiết giúp HS có thể ứng xử có hiệu quả các tình huống thực tế trong cuộc sống
- Theo định hướng xây dựng CTGDPT mới, môn học kế thừa chương trình môn Tìm hiểu Tự nhiên và Xã hội, khoa học, lịch sử, địa lí trong CT hiện hành, vừa
Trang 32bổ sung và phát triển theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh Cuộc
sống quanh ta (từ lớp 1- lớp 3) Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội ( cho lớp 4,5)
Với cấu trúc nội dung tích hợp chủ yếu các lĩnh vực kiến thức về khoa học, Lịch sử, Địa lý, đồng thời lồng ghép, tích hợp kiến thức ở mức độ đơn giản về kinh tế, văn hoá, khoa học, tôn giáo, sẽ là cơ hội để lồng ghép, GDKNS cho học sinh thiết thực và hiện quả hơn
- Thứ hai, tích hợp GDKNS thông qua hoạt động giáo dục ngoài hệ thống
các môn học và lĩnh vực học tập ở trường tiểu học Đây là những hoạt động giáo dục được tích hợp mục tiêu GDKNS hoặc hoạt động giáo dục đặc thù được tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu GDKNS Chẳng hạn, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động câu lạc bộ, các tiết sinh hoạt, hoạt động tập thể khác của HS tiểu học.v.v
Thực hành GDKNS qua các trò chơi, qua các chuyến dã ngoại quan sát thực
tế để trẻ được trải nghiệm và hình thành kỹ năng một cách tự nhiên, không gò ép Học bằng trò chơi sẽ giúp trẻ thoải mái và tiếp nhận một cách tự nhiên không khiên cưỡng Trong các hình thức tổ chức GDKNS cho HS tiểu học nêu trên thì hình thức lồng ghép GDKNS vào các hoạt động ngoại khóa, hoạt đông giáo dục ngoài giờ lên lớp của nhà trường là đạt hiệu quả cao nhất, vì nó thu hút sự hào hứng tham gia của
HS, đồng thời thông qua các hoạt động HS sẽ có nhiều cơ hội để trải nghiệm; cũng như tương tác với những người xung quanh
Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường Tiểu học
là điều kiện tốt nhất giúp HS tích luỹ và rèn KNScó hiệu quả Thông qua các HĐNGLL các em được hợp tác, trải nghiệm các kỹ năng sống Vậy GV cần thiết kế
và tổ chức thực hiện các HĐNGLL sao cho HS có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân,
tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác
Theo định hướng CTGDPT mới, Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục
mới, được phát triển từ các hoạt động tập thể, HĐNGLL, ngoại khoá của chương trình hiện hành Đối với cấp tiểu học, hoạt động TNST được thiết kế thành các
Trang 33chuyên đề tự chọn còn gọi là tự chọn trong môn học nhằm giúp học sinh phát triển các năng lực, kỹ năng, niềm tin, đạo đức… nhờ vận dụng những tri thức, kiến thức,
kỹ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo thông qua các hình thức và phương pháp chủ yếu như: thực địa, tham quan, câu lạc bộ, hoạt động xã hội tình nguyện, diễn đàn, giao lưu, hội thảo, trò chơi, cắm trại, thực hành lao động Hoạt động TNST thực hiện
mục tiêu hình thành các phẩm chất, thói quen, kỹ năng sống, thông qua sinh hoạt
tập thể, các dự án học tập, các hoạt động xã hội, thiện nguyện, hoạt động lao động, các loại hình câu lạc bộ khác nhau Bằng hoạt động TNST của bản thân, mỗi học sinh vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình, qua đó biết cách tích cực hoá bản thân, khám phá, điều chỉnh bản thân, cách tổ chức hoạt động, tổ chức cuộc sống và làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm
- Hoạt động TNST hướng đến hệ thống giá trị, chuẩn mực về đạo đức, văn hoá, thẩm mĩ Loại tri thức này có tính linh hoạt,“mềm dẻo”, chủ yếu dựa theo nhu cầu xã hội, nguyện vọng và hứng thú của học sinh Hoạt động TNST nhằm tích lũy kinh nghiệm quan hệ, hoạt động, ứng xử, giải quyết vấn đề… để thích ứng với sự đa dạng của cuộc sống luôn vận động Hoạt động TNST có chức năng chủ yếu là thực
hiện các nhiệm vụ giáo dục đạo đức, giá trị, niềm tin, lý tưởng, thẩm mĩ, sức khoẻ,
thái độ lao động, nguyên tắc hành vi, lối sống và kỹ năng sống
Thứ ba, thông qua con đường tự giáo dục Thông qua hoạt động học tập và
giáo dục HS phải tiến hành hoạt động tự giáo dục các KNS để biến quá trình giáo dục thành kĩ năng của bản thân
Ở mỗi con đường GDKNS cho HS tiểu học, có nhiều phương thức, hình thức GDKNS cho HS Những phương thức, hình thức cơ bản để GDKNS cho HS tiểu học gồm:
- Hình thức GDKNS HS thông qua việc tổ chức tốt các hoạt động giáo dục trên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Hình thức này giúp cho HS có được những tri thức, những kĩ năng cơ bản: hệ thống tri thức về các chuẩn mực đạo đức, những kĩ năng cơ bản được HS tiếp thu thông qua việc học tập tất cả các môn
Trang 34học trong nhà trường, thông qua nội dung các môn học và các yêu cầu về tổ chức hoạt động học tập của HS Cùng với hoạt động học tập các môn học, các hoạt động khác như lao động sản xuất, công tác xã hội, sinh hoạt Sao nhi đồng, sinh hoạt Đội trong và ngoài nhà trường đều cung cấp cho HS các biểu tượng và khái niệm
về các quy tắc và các nguyên tắc đạo đức hình thành KNS cho HS
- Hình thức hình thành những kinh nghiệm thực tiễn trong HS về các quan
hệ xã hội, xây dựng vững chắc các hành vi và thói quen đạo đức, KNS cho HS Trong GDKNS, việc tập dượt và rèn luyện các hành vi đạo đức, việc tích luỹ những kinh nghiệm thực hành các quan hệ đạo đức, việc hình thành, phát triển và củng cố những thói quen đạo đức có tầm quan trọng đặc biệt
1.4 Một số vấn đề lí luận về quản lí giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
1.4.1 Khái niệm quản lí giáo dục kĩ năng sống
Căn cứ vào các khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài luận văn như quản lí, quản lí giáo dục, KNS, GDKNS cho HS tiểu học đã trình bày ở trên, luận văn trình
bày khái niệm công cụ quản lý GDKNS cho HS tiểu học như sau: Quản lí GDKNS
trong nhà trường là một hệ thống các tác động sư phạm hợp lí và hướng đích của chủ thể quản lí đến tập thể HS, GV, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi hoạt động GDKNS của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện KNS cho HS đã đề ra
Như vậy, nội hàm khái niệm quản lí GDKNS cho HS ở trường tiểu học có thể được làm rõ ở các ý sau:
- Quản lí GDKNS là hoạt động của CBQL nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã
hội để nâng cao GDKNS trong nhà trường
- Quản lí GDKNS chính là những công việc của nhà trường mà người CBQL trường học thực hiện các chức năng quản lí để tổ chức, thực hiện hoạt động GDKNS Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của
Trang 35chủ thể quản lí tác động tới các hoạt động GDKNS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình GDKNS cho HS
Luận văn đã xác định các nội dung quản lý GDKNS cho HS ở trường tiểu
học gồm các nội dung sau đây:
a Quản lí lập kế hoạch GDKNS cho HS ở trường tiểu học
Lập kế hoạch là một chức năng của quản lý Lập kế hoạch là quá trình xác lập được mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó Chức năng kế hoạch không chỉ dừng ở việc xác định mục tiêu, xây dựng các loại kế hoạch mà phải bao gồm cả quá trình triển khai thực hiện và điều chỉnh
kế hoạch
* Tùy từng nội dung, Hiệu trưởng sẽ lập kế hoạch khác nhau:
- Lập kế hoạch GDKNS cho HS theo năm học, tháng, tuần, cho toàn trường
và cho từng khối lớp một cách chặt chẽ để đảm bảo tính hệ thống và hoàn chỉnh của
kế hoạch năm học, kế hoạch từng kỳ học của nhà trường
- Xác định rõ các nội dung cần giáo dục và quyết định chọn hình thức giáo dục nào để có thể lồng ghép mục tiêu GDKNS cho HS trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của nhà trường
- Lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động GDKNS cho đội ngũ cán bộ, GV tham gia
- Lập kế hoạch phân công nhiệm vụ cụ thể và phối hợp với các lực lượng về GDKNS cho HS
- Lập kế hoạch sử dụng kinh phí, đầu tư mua sắm CSVC tổ chức GDKNS cho HS
- Lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động GDKNS cho HS
* Bản kế hoạch cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nội dung GDKNS được đề cập đến trong bản kế hoạch phải thể hiện “Tính vừa sức” đối với các em; hình thức tổ chức cần khoa học, gọn nhẹ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý “Học mà chơi, chơi mà học” của các em HS
Trang 36- Có sự tham gia của các chuyên gia của nhiều lĩnh vực khác nhau Từ đó đảm bảo chất lượng và tính khả thi của kế hoạch, đồng thời tạo ra sự cam kết của các bên liên quan trong việc tổ chức thực hiện khi kế hoạch được phê duyệt
- Tính khả thi và hiệu quả của kế hoạch trong thực tiễn: kế hoạch phải thể
hiện rõ các điều kiện về nguồn lực (tài lực, vật lực, nhân lực và nguồn lực thông
tin), xác định rõ ràng của các tổ chức có liên quan trong công tác quản lý cũng như
triển khai thực hiện kế hoạch
- Tính hệ thống: sử dụng các kĩ thuật và phương pháp hiện đại như phương pháp SWOT, phương pháp đường Găng…
- Tính pháp lý: kế hoạch cần được trình lên các cấp có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt và chính thức ban hành để nâng cao hiệu lực của công tác quản lý
b Quản lý tổ chức thực hiện GDKNS cho HS ở trường tiểu học
Chức năng tổ chức là quá trình tiếp nhận, phân phối, sắp xếp nguồn nhân lực
và các nguồn lực khác theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt nhất mục tiêu đã đề ra, đưa tổ chức phát triển
Nội dung tổ chức thực hiện GDKNS:
* Tổ chức bộ máy quản lý
- Thành lập Ban chỉ đạo GDKNS cho HS
- Quy định chức năng, nhiệm vụ cho từng thành viên trong Ban chỉ đạo
- Xây dựng quy chế phối hợp trong GDKNS
- Ban hành văn bản hướng dẫn về GDKNS cho HS
* Tổ chức thực hiện nội dung giáo dục
- Xác định rõ nội dung KNS cần giáo dục cho HS
- Xác định các hình thức giáo dục phù hợp với từng KNS
- Lồng ghép tích hợp các KNS vào từng môn học cụ thể
Như vậy, căn cứ vào nội dung và yêu cầu GDKNS cho HS, các trường tiểu học có thể lựa chọn những hình thức và phương pháp GDKNS phù hợp với điều kiện thực tế của trường mình
Trang 37Từ đó có thể tổ chức các hoạt động giáo dục sao cho hiệu quả nhất và tiết kiệm nhất, phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của trường mình
Hiệu trưởng nhà trường căn cứ kế hoạch năm học và từng học kỳ để có sự phân công phụ trách các nội dung sao cho hợp lý để việc gì trong quá trình GDKNS cũng có người phụ trách và việc gì cũng được giám sát thực hiện chặt chẽ Căn cứ vào sự lựa chọn các hình thức và phương pháp GDKNS cho HS ở các khối lớp, hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện các nội dung GDKNS theo kế hoạch, theo sự phân công đã được tiến hành trước đó
c Quản lý chỉ đạo triển khai GDKNS cho HS tiểu học
Chỉ đạo thực hiện GDKNS là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi thái
độ của những người khác nhau nhằm làm cho các cá nhân, các bộ phận thực hiện tốt các phần việc được phân công, đạt được các mục tiêu đề ra với chất lượng cao nhất
có thể
Xét theo các hình thức tổ chức hoạt động GDKNS, có các nội dung chỉ đạo:
- Chỉ đạo GDKNS thông qua các môn học trên lớp
- Chỉ đạo GDKNS thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Chỉ đạo GDKNS thông qua các hoạt động Đội, sinh hoạt tập thể
- Chỉ đạo GDKNS thông qua hoạt động TNST và tham quan dã ngoại
- Chỉ đạo GDKNS thông qua hoạt động lao động
- Phối hợp các lực lượng tham gia GDKNS
Xét theo chức năng, có thể xác định các nội dung chỉ đạo là:
- Chỉ đạo huy động các nguồn lực tham gia hoạt động GDKNS cho HS tiểu học
- Chỉ đạo động viên khuyến khích cán bộ, GV tham gia hoạt động GDKNS cho HS tiểu học có hiệu quả
- Chỉ đạo các nguồn lực hỗ trợ hoạt động GDKNS cho HS tiểu học
- Chỉ đạo chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, CSVC, kinh phí cho hoạt động GDKNS cho HS tiểu học
d, Quản lí kiểm tra, đánh giá GDKNS cho HS ở các trường tiểu học
Trang 38Quản lí kiểm tra, đánh giá là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức đã đề ra Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những sai phạm
và điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đã đặt ra và góp phần đưa toàn bộ hệ thống quản lý lên một trình độ cao hơn
Việc kiểm tra được tiến hành thường xuyên, liên tục để có sự điều chỉnh kịp thời các nội dung và hình thức, phương pháp GDKNS cho có hiệu quả nhất Đây là công việc thường xuyên của hiệu trưởng trong công tác quản lý nhà trường trong đó
có quản lý GDKNS cho HS Do vậy, hiệu trưởng cần:
- Xây dựng chuẩn:
+ Xây dựng hệ thống chuẩn thực hiện trên cơ sở các chỉ tiêu được xác định trong kế hoạch Các chuẩn thực hiện bao gồm chuẩn về quy trình, các hoạt động và chuẩn về các sản phẩm của hệ thống qua các mục tiêu của hệ thống
+ Kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện và kết quả đạt được trên cơ
- Xây dựng nội dung kiểm tra:
+ Kiểm tra thường xuyên việc thực hiện kế hoạch hoạt động GDKNS cho HS của các lực lượng giáo dục trong nhà trường
+ Kiểm tra đột xuất việc thực hiện kế hoạch hoạt động GDKNS cho HS của các lực lượng giáo dục trong nhà trường
+ Kiểm tra đánh giá kết quả GDKNS thông qua kết quả rèn luyện của HS + Kiểm tra việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong hoạt động GDKNS cho HS
+ Kiểm tra việc sử dụng các trang thiết bị, kinh phí phục vụ cho hoạt động
GDKNS cho HS
Trang 39- Tổ chức, bố trí, phân công lực lượng kiểm tra: Lực lượng kiểm tra chủ yếu
là các thành viên trong Ban chỉ đạo GDKNS cho HS
-Dự kiến phương pháp kiểm tra:
+ Kiểm tra qua hồ sơ sổ sách
+ Trao đổi, tìm hiểu
+ Nghe báo cáo
+ Trực tiếp dự một vài hoạt động cụ thể
Qua kiểm tra cần có biện pháp xử lý, cải thiện mọi điều kiện để nâng cao chất lượng GDKNS cho học sinh tiểu học
- Thực hiện công tác kiểm tra:
+ Kiểm tra nội dung GDKNS cho HS như đã đề ra theo kế hoạch
+ Kiểm tra kết quả nội dung GDKNS cho HS về nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức
e Quản lý các nguồn lực phục vụ hoạt động GDKNS cho HS tiểu học
Các nguồn lực phục vụ hoạt động giáo dục nói chung, hoạt động GDKNS trong trường tiểu học nói riêng bao gồm cả con người, kinh phí, thời gian và các điều kiện về vật lực
Hiệu trưởng lên kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức và các kỹ năng tổ chức hoạt động GDKNS cho đội ngũ GV
Hiệu trưởng dành kinh phí, thời gian cho việc tổ chức các hoạt động GDKNS cho HS một cách thỏa đáng
Hiệu trưởng lên kế hoạch mua sắm, sử dụng, bảo quản các phương tiện phục
vụ tổ chức hoạt động GDKNS (hệ thống trang âm, máy vi tính, ti vi, bàn ghế, tài liệu ) để nâng cao chất lượng giáo dục và đảm bảo tránh lãng phí Các phương tiện giáo dục phải đảm bảo các yêu cầu về thẩm mĩ, độ bền, độ an toàn và vệ sinh và được sử dụng một cách tối đa, thường xuyên Việc bố trí các khu vui chơi, sân bãi tập luyện phải hợp lý, thuận tiện
Hiệu trưởng lên kế hoạch huy động các lực lượng xã hội tham gia GDKNS cho HS
Trang 40Nhà trường có trách nhiệm làm cho mọi người hiểu được tầm quan trọng của trang thiết bị giáo dục đối với các hoạt động GDKNS cho HS và huy động được sự ủng hộ của các LLGD
1.4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
kế hoạch này mới đem lại hiệu quả như mong muốn
* Văn hóa, môi trường giáo dục và điều kiện CSVC nhà trường: Đối với
HS, văn hóa tạo nên giá trị đạo đức, có vai trò điều chỉnh hành vi, thích nghi với xã hội Khi được GD trong môi trường giáo dục lành mạnh, HS không những hình thành hành vi chuẩn mực mà quan trọng hơn là có niềm tin vào những điều tốt đẹp, từ đó hình thành những giá trị đạo đức căn bản là: trung thực, lễ độ, yêu thương con người, sống có trách nhiệm với bản thân và xã hội Với HS tiểu học, cần phải có môi trường sư phạm thân thiện, môi trường học tập cần phải lành mạnh, đủ điều kiện CSVC, cảnh quan nhà trường “Xanh - Sạch - Đẹp” để đảm bảo an ninh, an toàn cho HS và đủ điều kiện tổ chức các hoạt động giáo dục
* Môi trường giáo dục gia đình: Gia đình là cơ sở đầu tiên, có vị trí quan
trọng và ý nghĩa lớn đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người Vì vậy, mỗi người luôn hướng về gia đình để tìm sự bao bọc, chia sẻ Trong gia đình, cha mẹ là những người đầu tiên dạy dỗ, truyền đạt cho con cái những