Những đặc điểm cơ bản của dòng họ Common Law Thứ nhất, Common Law là dòng họ pháp luật trong đó các hệ thống pháp luật trực thuộc ít, nhiều chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của Anh
Trang 1LUẬT SO SÁNH
Giảng viên: Nguyễn Văn Quân
ĐỀ TÀI: ÁN LỆ TRONG HỆ THỐNG
COMMON LAW
Nhóm thực hiện : Nhóm 2
Thành viên:
1 Đàm Thị Hương Quỳnh – Trưởng nhóm
2 Nguyễn Thu Trang
3 Trần Thị Thu Hoài
4 Trần Thị Linh Chi
I Khái quát về Common Law
Dòng họ pháp luật Common law là dòng họ pháp luật lớn và cơ bản trên thế giới, dòng họ này được nhắc đến với nhiều tên gọi khác nhau như “Anglo-Saxon”; có tài liệu
sử dụng là “ dòng họ pháp luật án lệ” hay đơn giản là “ hệ thống pháp luật Anh-Mỹ” Hệ thống pháp luật này có ảnh hưởng ở rất nhiều quốc gia lớn như Anh, Mỹ, Úc, Canada (trừ bang Quebec) Common Law là hệ thống pháp luật phát triển từ tập quán hay còn gọi là
hệ thống pháp luật coi trọng tiền lệ, có thể hiểu CommonLaw theo các nghĩa sau:
- Thứ nhất, đó là một hệ thống pháp luật lớn trên thế giới dựa trên truyền thống hệ thống pháp luật của Anh;
- Thứ hai, trên phương diện nguồn luật, án lệ (Case law) của Common Law được tạo ra bởi tòa án, phân biệt với đạo luật của Nghị viên;
- Thứ ba, trên phương diện hệ thống Tòa án, Tòa án và các án lệ của Common Law cũng khác biệt với Tòa án và các án lệ của Equity Law (luật công bằng)
1.1 Lịch sử hình thành
Trang 2Lịch sử hình thành và phát triển của common law phải được bắt đầu từ sự hình thành và phát triển của pháp luật Anh Tương tự như civil law, quá trình thuộc địa hoá chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự ảnh hưởng của pháp luật Anh ra ngoài phạm vi châu Âu
Hệ thống luật này bắt đầu hình thành từ năm 1066 khi người Normans xâm chiếm Anh quốc và Hoàng Đế William bắt đầu tập trung quyền lực vào tay triều đình mới Ông tuyên bố duy trì pháp luật anglo - saxon Đây là thời kỳ nước Anh chuyển sang chế độ phong kiến Chế độ phong kiến ở nước Anh mang tính tập quyền cao, khác với chế độ phong kiến phân quyền cát cứ ở châu Âu lục địa loại pháp luật này đối lập với tập quán địa phương, và nó được áp dụng chung cho toàn bộ nước Anh Common law do Toà án Hoàng gia tạo ra
Ban đầu, Toà án Hoàng gia chỉ can thiệp trong phạm vi rất hạn chế, sau này thẩm quyền được mở rộng Trong khi đó, luật địa phương vẫn được áp dụng ở mọi miền của nước Anh Tình trạng tổ chức toà án phân tán như vậy dẫn đến việc mỗi toà án áp dụng một kiểu luật Cuối cùng, ngày càng nhiều những vụ việc phức tạp mà toà án địa phương không giải quyết nổi được gửi lên Toà án Hoàng gia
Năm 1154, Vua Henry II đã tạo ra một hệ thống luật chung và sáng tạo ra một hệ thống tòa án thống nhất đầy quyền năng, ông đưa các thẩm phán từ tòa án Hoàng gia đi khắp nơi trong nước và sưu tầm, chọn lọc cách thức giải quyết các tranh chấp Sau đó những thẩm phán này sẽ trở về thành Luân đôn và thảo luận về những vụ tranh chấp đó với các thẩm phán khác Những phán quyết này sẽ được ghi lại và dần trở thành án lệ (precedent), hay theo Tiếng Latin là stare decisis Theo đó, khi xét xử thẩm phán sẽ chịu
sự ràng buộc bởi những phán quyết đã có từ trước đó Thuật ngữ “Common Law” bắt đầu xuất hiện từ thời điểm đó Như vậy trước khi Nghị viện ra đời trong lịch sử pháp luật của Anh, Common Law đã được áp dụng trên toàn bộ vương quốc trong vài thế kỉ
Đến thế kỷ thứ 15, khi đó xuất hiện một thực tiễn pháp lý là khi luật “Common Law” không đủ sức để giải quyết một vụ việc, và người đi kiện cho rằng cách giải quyết của Common Law là chưa thỏa đáng Thí dụ, trong một vụ kiện về đất đai, người đi kiện cho rằng khoản tiền bồi thường mà theo cách giải quyết của Common law là không đủ bồi thường cho hành vi mà người xâm phạm đã cướp không của họ, họ yêu cầu rằng người vi phạm này còn phải bị đuổi và phải trả lại phần đất lấn chiếm đó Chính điều này
là cơ sở để xuất hiện hệ thống mới là hệ thống pháp luật công bình (system of equity), đồng thời xuất hiện thiết chế Tòa công bình, do viên Tổng chưởng lý (Lord Chancellor) đứng đầu Về bản chất thì luật công bình vẫn chiếm ưu thế hơn so với luật Common Law trong trường hợp có sự xung đột Điều này đã được nêu trong Đạo luật hệ thống tư pháp (Judicature Acts) năm 1873 và 1875
Trang 31.2 Những đặc điểm cơ bản của dòng họ Common Law
Thứ nhất, Common Law là dòng họ pháp luật trong đó các hệ thống pháp luật trực
thuộc ít, nhiều chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của Anh và thừa nhận án lệ như nguồn luật chính thống, tứa là thừa nhận học thuyết tiền lệ pháp
Thứ hai, thẩm phán trong các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ common law đóng
vai trò quan trọng trong việc sáng tạo và phát triển các quy phạm pháp luật
Thứ ba, nhìn chung các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ common law không có
sự phân biệt giữa luật công và luật tư như trong dòng họ civil law, trừ hệ thống pháp luật Anh
Thứ tư, chế định pháp luật tiêu biểu của các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ
common law là chế định ủy thác – chế định đặc thù của hệ thống pháp luật Anh, ra đời trong hoàn cảnh lịch sử riêng có của nước Anh, sau đó lan ra các nước thuộc địa của Anh
Thứ năm, sau khi hình thành ở Anh quốc, common law đã lan sang khắp các châu
lục từ châu Phi, châu Mỹ đến châu Úc, châu Á và làm thành dòng họ common law, một trong hai dòng họ pháp luật lớn nhất thế giới
2 Khái quát về án lệ
2.1 Định nghĩa
Án lệ xuất hiện từ thời La Mã cổ đại, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, do đòi hỏi cần có sự điều chỉnh pháp luật cho phù hợp với những biến đổi ngày càng đa dạng, phong phú của xã hội lúc bấy giờ Án lệ thời đó là các sắc dụ, các phán quyết của các pháp quan (Edict magistratum), đặc biệt là của các quan toà Theo thời gian, án lệ dần dần được các quốc gia thừa nhận và sử dụng như một nguồn luật Ý tưởng của việc coi án
lệ là một nguồn luật cơ bản là ở chỗ: Các tranh chấp tương tự cần đạt đến các kết quả pháp lý tương tự
Theo quan điểm của các nhà luật học theo hệ luật Common law, thì án lệ được hiểu theo
hai nghĩa Theo nghĩa hẹp, án lệ bao gồm toàn bộ các quyết định, bản án được tuyên bố
bởi Tòa án và có giá trị như nguồn luật, đưa ra những nguyên tắc, nền tảng áp dụng cho các vụ việc xảy ra tương tự sau này, hay là cách thức sử dụng các nguyên tắc có sẵn như
là những căn cứ áp dụng để quyết định các vụ việc xảy ra trong tương lai
Còn theo nghĩa rộng, án lệ là nguyên tắc bắt buộc đòi hỏi Thẩm phán trong hệ thống các
cơ quan Toà án khi xét xử một vụ việc cụ thể cần phải căn cứ ngay vào các bản án, các
vụ việc trước đó, đặc biệt là các phán quyết của các Tòa cấp cao (Hight Court), Tòa phúc thẩm (Court of Appeal) và Tòa án tối cao (Supreme Court) hay là những nguyên
Trang 4tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp, hay là hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và hình thành thông qua các quyết định của Tòa án.
Với những nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (hệ thống pháp luật Dân sự -Civil Law), tiêu biểu một số nước như Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản,… Án lệ được xem như một cách giải thích pháp luật Những bản án này không được xem là luật, không mang tính ràng buộc pháp lý nhưng tòa cấp dưới phải tham khảo, nếu không nguy cơ bị tòa cấp trên sửa án rất cao
Theo từ điển Black’s Law thì án lệ được hiểu như sau: “1 Án lệ là việc làm luật của tòa
án khi công nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trình xét xử; 2 Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này ”
Như vậy, có thể định nghĩa khái quát về án lệ như sau, án lệ được hiểu là những
bản án đã tuyên hoặc sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như tiền lệ làm cơ sở để các thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự Những phán quyết, bản án này sau đó được ghi nhận trong các tập san án lệ, báo cáo tổng hợp án lệ, đó chính là một căn cứ quan trọng để phán quyết, bản án đó trở thành khuôn mẫu, trở thành
cơ sở để tòa sử dụng trong xét xử nhằm đưa ra phán quyết trong những vụ việc có tình tiết, vấn đề tương tự sau đó Cơ bản để một bản án, quyết định của Tòa án trở thành án lệ
là nó phải có tính khuôn mẫu, có khả năng áp dụng lại sau này để làm cơ sở cho việc xét
xử đối với những trường hợp chưa có pháp luật điều chỉnh hoặc có nhưng không phù hợp với thực tiễn Án lệ có vị trí rất quan trọng trong việc áp dụng pháp luật (tiêu biểu cho các
hệ thống pháp luật thuộc dòng họ này là các nước Anh, Mỹ, Canada, Úc, )
2.2 Đặc điểm của án lệ
Phải đáp ứng được điều kiện về nguyên tắc, đòi hỏi thực tiễn đời sống và pháp luật Án lệ khiến pháp luật gần gũi hơn với đời sống thực tế
Nguyên tắc stare decisis (tuân theo án lệ): tranh chấp tương tự cần đạt kết quả pháp lý tương tự Thẩm phán phải tuân thủ các phán quyết được tuyên trước đó, đặc biệt đối với các phán quyết của tòa án cấp cao hơn
Tồn tại lâu phù hợp với các vụ án cần xét xử Thẩm phán chính là người tìm ra và
áp dụng án lệ
Chỉ có những bản án có tính chất bắt buộc mới trở thành án lệ và có tính chất pháp
lý Các bản án còn lại chỉ có tính gợi ý, tham khảo
Trang 5II Án lệ trong hệ thống pháp luật Common Law
1 Nguyên tắc áp dụng án lệ
Án lệ phải tồn tại từ lâu và phù hợp với nội dung vụ việc đang xem xét Án lệ càng
tồn tại lâu càng chứng tỏ giá trị của mình, đó là những án lệ có khả năng thích ứng với sự thay đổi của các điều kiện, hoàn cảnh thực tế và đương nhiên là án lệ phải phù hợp với nội dung vụ việc đang xem xét thì mới đạt được hiệu quả trong việc xét xử Ví dụ như án lệ “Donoghue v Stevenson [1932]” có từ năm 1932 cho đến nay là 75 năm vẫn được áp dụng để xét xử và án lệ này sẽ còn tiếp tục được áp dụng
-Toà án cấp dưới có nghĩa vụ phải áp dụng án lệ của toà án cấp trên Nguyên tắc
này đặt ra nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa các cấp của toà án và thể hiện sự tôn trọng đối với phán quyết của toà án cấp trên
-Khi vấn đề cần giải quyết đã có luật thành văn thì luật thành văn có giá trị cao hơn án lệ, tuy nhiên trong trường hợp các quy định trong luật thành văn không rõ ràng thì án lệ được coi là một trong những cơ sở quan trọng để giải thích luật thành văn Có thể nói, đây là một biện pháp để hạn chế sự tuỳ tiện và lạm quyền
của thẩm phán trong quá trình xét xử Các thẩm phán không chỉ tìm hiểu án lệ khi xét xử mà còn phải biết tình huống đó đã có quy phạm pháp luật thành văn nào điều chỉnh chưa
-Toà án không áp dụng án lệ chỉ trong trường hợp chỉ ra được tình tiết khác biệt
cơ bản giữa án lệ và vụ án đang xét xử Như đã phân tích thì án lệ được sử dụng
để xét xử những vụ việc có tình tiết tương tự trong tương lai nên nếu có một sự khác biệt cơ bản giữa án lệ và vụ án đang xét xử thì đương nhiên toà án sẽ không
áp dụng án lệ đó nữa Tuy nhiên nguyên tắc này phụ thuộc khá nhiều vào ý chí chủ quan của thẩm phán bởi vì khái niệm tình tiết khác biệt cơ bản thì không một quy phạm nào có thể định nghĩa được chính xác Để coi một tình tiết khác nhau là cơ bản hay không còn phụ thuộc vào khả năng lập luận và thuyết phục của các luật sư tại phiên toà
-Nhiều khi án lệ được coi có giá trị như luật thành văn, đặc biệt là đối với những
vụ án liên quan đến giải thích hiến pháp Ví dụ như ở Hoa Kỳ không có văn bản
pháp luật nào quy định quyền nạo thai của phụ nữ nhưng án lệ của toà án tối cao khẳng định rằng việc cấm nạo thai là vi phạm quyền tự do cá nhân mà hiến pháp quy định, từ đó tất cả mọi người đều thừa nhận việc nạo thai là hợp pháp
Việc áp dụng án lệ phải bảo đảm được tính chắc chắn và sự ổn định của một hệ thống pháp luật Qua quá trình xét xử thì số lượng án lệ ngày càng tăng lên, sẽ có
rất nhiều án lệ mà nhiều khi các thẩm phán không thể biết hết được, điều này có
Trang 6thể dẫn đến những sự thiếu chính xác thậm chí mâu thuẫn trong xét xử Nếu hiện tượng này diễn ra nhiều lần sẽ làm cho hệ thống pháp luật mất đi tính ổn định và chắc chắn Vì vậy khi áp dụng án lệ đòi hỏi các thẩm phán phải thận trọng và suy xét kỹ lưỡng
Án lệ có thể bị phủ nhận bởi cơ quan lập pháp.Cơ quan lập pháp có thể thông qua
luật thành văn điều chỉnh mối quan hệ được giải quyết bởi án lệ, tuy nhiên ở những nước toà án có chức năng xem xét tính hợp hiến của luật pháp thì toà án có thể ra phán quyết về việc luật thành văn đó không phù hợp với hiến pháp
2 Cách áp dụng án lệ
Nếu coi án lệ là một loại nguồn pháp luật thì việc tòa án viện dẫn và áp dụng án lệ cũng có cách thức của nó Có thể nói rằng, so với việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật thì án lệ được tòa án viện dẫn và áp dụng theo cách thức riêng của nó Thậm chí cách thức viện dẫn, áp dụng án lệ trong lập luận của tòa án cũng khác nhau khi chúng ta so sánh giữa hệ thống thông luật và hệ thống dân luật thành văn
Việc áp dụng án lệ trong hệ thống Common Law được tuân thủ theo nguyên tắc gọi là “Stare decisis” (tạm dịch là nguyên tắc tuân theo án lệ) Nguyên tắc Stare decisis đòi hỏi các tòa án tuân theo án lệ và không làm xáo trộn đến các vấn đề pháp luật đã được giải quyết Để hiểu và áp dụng án lệ trong hệ thống thông luật đòi hỏi thẩm phán, luật sư phải thông thạo các yếu tố cấu thành án lệ Trong mỗi bản án tạo ra án lệ, thẩm phán phải tìm hiểu được câu hỏi về pháp luật trong vô số những tình huống về thực tiễn của vụ án Chính câu hỏi về pháp luật đã tạo ra các quy phạm, nguyên tắc pháp luật trong án lệ Đồng thời các thẩm phán phải tìm ra, viện dẫn chính xác lập luận của vụ án để tạo thành
án lệ Mỗi án lệ trong thông luật có sự phân biệt giữa phần được coi là lý do cho việc ra quyết định, trong đó bày tỏ những lập luận quan trọng của thẩm phán để đi đến quyết định
Như vậy, khi viện dẫn các án lệ đã có, thẩm phán, luật sư phải nhận diện và viện dẫn chính xác, logic phần được gọi là lý do cho việc ra quyết định để áp dụng án lệ sao cho thuyết phục đối với một vụ án cụ thể
3 Vai trò của án lệ
Việc sử dụng án lệ cho thấy đặc điểm tư duy pháp lý của dòng họ pháp luật Common Law: đó là lối suy nghĩ quy nạp, đi từ trường hợp cá biệt, cụ thể đến cái tổng quát, nguyên tắc Hệ quả tích cực của nó là làm một hệ thống Common Law mở, gần gũi với
Trang 7đời sống thực tế, tạo tính chủ đông sáng tạo và mềm dẻo, linh hoạt trong tư duy pháp luật, đồng thời hạn chế sự phát sinh của luật
thứ nhất, án lệ là cơ sở pháp lý, một loại nguồn pháp luật để áp dụng giải quyết
những vụ án, tranh chấp
thứ hai, án lệ được coi là cách thức kịp thời và linh hoạt nhất trong để khắc phục
các lỗ hổng về hệ thống pháp luật Việc thừa nhận án lệ, thừa nhận phán quyết của tòa án, coi như đó là một căn cứ để xét xử vụ việc có tình tiết tương tự đã giúp cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội mới được nhanh chóng và sát với thực tế hơn
thứ ba, án lệ là một công cụ thích hợp để giải thích pháp luật nhất là đối với các
nước thuộc hệ thống luật thành văn Khi ban hành một điều luật, cần có sự giải thích và đi vào thực tế, tuy nhiên nhiều trường hợp các điều luật chưa được giải thích cụ thể dẫn đến cách hiểu khác nhau dễn đến tranh cãi Án lệ là cách thức dễ hiểu và gần gũi để giải thích các điều luật
thứ tư, án lệ giúp tăng cường sự sáng tạo và khă năng lập luận của các thẩm phán,
cũng như những nhà hành nghề luật
thứ năm, án lệ có vai trò to lớn trong việc giáo dục pháp luật vì án lệ có thể được
coi như bài tập tình huống, phương pháp tiếp cận này giúp sinh viên có kiến thức tốt hơn và hiệu quả hơn , bên cạnh đó , việc đưa các án lệ vào nghiên cứu giảng dạy sẽ giúp rèn luyện tư suy pháp lý thông qua việc tìm hiểu phương pháp lập luận, hệ thống, liên hệ các vấn đề,…
Ở các quốc gia khác nhau, vị trí của án lệ cũng được coi trọng khác nhau ngay cả các quốc gia theo dòng họ Common Law Như ở Anh – quê hương của án lệ, tại đây án lệ rất được coi trọng và chiếm đa số trong hệ thống pháp luật Ở đây, các thẩm phán tuân thủ khắt khe nguyên tắc stare decisis và bám sát tiền lệ pháp trong hoạt động xét xử Còn
ở Mỹ, có án lệ là do trong lịch sử chịu sự đô hộ của Anh Cho nên, vị trí của án lệ ở quốc gia này không được coi trọng như ở Anh Ở đây, tiền lệ pháp được tất cả các tòa án trích dẫn rất thường xuyên nhưng trong các bản án cũng dành rất nhiều chỗ cho quan điểm của thẩm phán về chính sách chung, đặc biệt là những vụ việc tòa án coi là quan trọng Như vậy, so với thẩm phán Anh, thẩm phán Mỹ rõ ràng đã đề cập nhiều hơn tới hệ quả thực tiễn của một phán quyết xem nó có phù hợp với nhu cầu chính sách hay không hơn là sự kiên định, phù hợp với lập luận của thẩm phán trong án lệ trước đó
4 Án lệ tiêu biểu.
Án lệ Miranda
Trang 8Mở đầu : năm 1963, tại bang Phoenix, Bang Arizona, một thiếu nữ 18 tuổi (Lois Ann Jameson) bị một gã đàn ông bắt cóc lên xe hơi chở đi một nơi khác cưỡng hiếp và sau đó hắn lái xe quay lại chỗ cũ quẳng cô gái xuống đó Ngay sau đó, người nhà của cô gái đã báo cảnh sát Theo mô tả của nạn nhân về chiếc xe hơi và thủ phạm, cảnh sát đã tìm ra nghi phạm là Ernesto Miranda Miranda đã bị mời về đồn làm việc.
Sau cuộc thẩm vấn, Miranda bị xếp cùng 3 người đàn ông có ngoại hình tương đương khác để nhận diện, Do vụ cưỡng hiếp xảy ra trong đêm tối nên cô gái không thể khẳng định chính xác và chỉ nói Miranda giống như cái gã đêm đó
Sau đấy, 2 điều tra viên là Cooley và Young đưa Miranda vào một căn phòng thẩm vấn riêng Hai điều tra viên nói với Miranda rằng anh ta đã bị nhận diện (mà thật ra thì không hẳn như vậy, cô gái chỉ nói là Miranda “trông giống” thủ phạm thôi) Rồi họ đưa
cô gái vào phòng Nhìn thấy cô, Miranda có vẻ choáng váng Cô gái nghe Miranda trả lời thẩm vấn, về sau cô xác nhận với cảnh sát rằng giọng anh ta giống giọng kẻ đã cưỡng hiếp cô
hai điều tra viên hỏi rằng Miranda có chịu nhận tội không Vừa sợ, vừa hoang mang, mệt mỏi, Miranda chấp thuận.
chỉ sau hai tiếng đồng hồ “làm việc”, Miranda đã phải ký vào một văn bản nhận tội hiếp dâm, trong đó anh ta ghi rõ: “Dưới đây tôi xin thề rằng các lời khai của tôi là tự nguyện, do tôi tự quyết, không bị đe dọa, không bị bức cung, không được hứa hẹn miễn trách, và tôi hoàn toàn ý thức được về các quyền của mình, cũng như hiểu rằng mọi lời khai của tôi có thể được sử dụng để chống lại tôi”.
Ở đây, Miranda chưa từng được thông báo đầy đủ về các quyền mà anh ta có Cụ thể là, trước khi cảnh sát đưa cho anh ta tờ khai để anh ta tự viết những lời nhận tội của mình (như đã khai nhận), anh ta đã không hề được thông báo về quyền im lặng, cũng không được cho biết là mọi lời khai của anh ta trong quá trình thẩm vấn có thể được sử dụng làm bằng chứng chống lại anh ta Bản thân là người nghèo, Miranda không có tiền thuê luật sư, nên vào ngày 15/3/1963, tại phiên điều trần (hearing) đầu tiên trong đó bị cáo nhận thông báo về cáo buộc đối với mình, tòa đã chỉ định cho anh ta một vị luật sư già, Alvin Moore, 73 tuổi.
Tại phiên tòa, khi công tố viên đưa tờ khai nhận tội của Miranda ra làm bằng chứng, luật sư Alvin Moore lập luận: Vì Miranda không được cho biết về quyền của anh
ta, cho nên, bản nhận tội kia không hoàn toàn là tự nguyện Bởi vậy, nó mất hiệu lực.
Trang 9Lập luận của luật sư bị bác và Miranda bị kết án 20 năm tù vì tội bắt cóc, 30 năm tội tù
vì tội hiếp dâm Luật sư chống án lên Tòa Tối cao bang Arizona, vẫn với lập luận rằng Miranda không tự nguyện nhận tội, sử dụng lời khai của anh ta là sai Tòa tuyên y án.
Vụ việc tiếp tục được đưa lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ vào tháng 6/1965 Do luật sư Alvin Moore không đủ sức khỏe tham gia tiếp, một luật sư hình sự khác là John F Lynn và đồng sự John P Frank tình nguyện bào chữa cho Miranda theo đề nghị của tổ chức Liên đoàn Tự do Dân sự Hoa Kỳ (ACLU).
Tại Tòa án tối cao hoa kỳ, phe đa số (5/9 thẩm phán)đã ủng hộ luận điểm rằng cuộc thẩm vấn của 2 cảnh sát đối với Miranda trong lúc đang tam giữ anh ta, có tính chất cưỡng bức, ép cung , và tuyên bố biên bản nhận tội của anh ta trở thành vô giá trị
Sau phán quyết của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, Tòa án bang Arizona phải xử lại Miranda Bản nhận tội của Miranda không được đưa ra làm bằng chứng nữa Tuy thế cuối cùng anh ta vẫn bị kết tội như cũ và lĩnh án 20-30 năm tù cho hai tội bắt cóc và hiếp dâm, tổng hợp hình phạt là 30 năm tù.
(Năm 1972, Miranda được tha sớm Sau đó, anh ta còn nhiều lần phạm tội này tội khác Cuối cùng, vào ngày 31/1/1976, anh ta bị đâm chết trong một cuộc ẩu đả trong quán bar
ở Phoenix, Arizona.)
từ câu chuyện của Miranda, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ ra phán quyết rằng mọi bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự đều phải được thông báo về các quyền của mình, trong đó có quyền im lặng và quyền được có luật sư Thông báo đó được gọi bằng cái tên “thông báo Miranda”
5 So sánh hệ thống án lệ của dóng Common law và Civil Law ( thêm)
Hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law là hai hệ thống pháp luật lớn và điển hình trên thế giới Hai hệ thống này có những điểm đặc thù, tạo nên những "dòng họ" pháp luật, với những đặc trưng pháp lý riêng Mặc dù ngày nay pháp luật ở các nước thuộc hai
hệ thống này cũng có nhiều thay đổi theo hướng bổ khuyết những mặt hạn chế, tích hợp nhiều nội dung mới, nhưng về cơ bản sự thay đổi ấy vẫn không làm mất đi những đặc thù riêng, triết lý riêng, từng tạo nên "bản sắc" của hai hệ thống pháp luật này
Trang 10Các luật gia civil law rất quen thuộc với luật thành văn và pháp điển hoá Nhưng các luật gia common law lại không chấp nhận pháp điển hoá và cho rằng án lệ là nguồn cơ bản của pháp luật Trên thực tế, luật thành văn và án lệ không có cùng một vai trò trong common law và civil law Tuy nhiên, trước khi nói về sự khác nhau này, cần đề cập tới
sự khác nhau về cấu trúc của 2 truyền thống pháp luật Đây là sự khác nhau cơ bản nhất,
từ đó giải thích tại sao các luật gia Anh quan niệm về nguồn luật rất khác so với các luật gia civil law, tại sao pháp luật Anh không chấp nhận hoặc rất khó chấp nhận mô hình pháp điển hoá của civil law
Sự khác nhau nổi bật nhất về cấu trúc pháp luật là: người Anh không phân chia pháp luật thành luật công và luật tư, tiếp đó là luật dân sự, luật thương mại, luật hành chính, luật về an toàn xã hội, mà phân chia thành common law và equity Tiếp đó là các khái niệm mà các các luật gia sẽ hoàn toàn bị mất phương hướng khi cố gắng dịch nó ra tiếng của nước mình, như: trust, bailment, estoppel, consideration, trespass, Các khái niệm này không có trong tư duy pháp lý của các luật gia civil law Không thể dịch các thuật ngữ của pháp luật Anh, bởi vì các truyền thống pháp luật khác không có khái niệm tương đương Các thuật ngữ này cũng giống như các thuật ngữ về động vật và thực vật ở các vùng khí hậu khác nhau Nếu cố dịch, thì chúng ta sẽ chỉ bóp méo ý nghĩa của thuật ngữ Về mặt pháp lý, contract trong pháp luật Anh không phải là contrat trong pháp luật Pháp, equity không phải là équité, administrative law không phải là droit administratif, civil law không phải là droit civil, common law không phải là droit commun
Khi so sánh cấu trúc pháp luật, không chỉ sự phân loại pháp luật và các khái niệm pháp lý rất khác nhau, mà cả quy phạm pháp luật cũng khác nhau Quy phạm pháp luật sinh ra từ án lệ theo pháp luật Anh (Legal rule) không giống quy phạm pháp luật sinh ra
từ luật thành văn hoặc học thuyết theo luật Pháp (règles de droit) Legal rule không tổng quát bằng règles de droit Do đó, trong pháp luật Anh sẽ không có sự phân biệt giữa quy phạm mệnh lệnh và quy phạm bổ sung như trong pháp luật Pháp - vốn là sự phân biệt mang tính cơ bản Và trong pháp luật Anh cũng sẽ không có pháp điển hoá theo cách của người Pháp
Khác với dòng họ Common Law, dòng họ Civil Law do chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết phân chia quyền lực nên không thừa nhận vai trò lập pháp của các cơ quan xét xử Các luật gia lục địa châu Âu hầu như có quan điểm tương đối thống nhất rằng lập pháp là hoạt động của Nghị viện, Toà án là cơi quan áp dụng pháp luật để xét xử chứ không phải