1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Cảm hứng sử thi trong thơ hữu thỉnh

135 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp theo, những tác phẩm ra đời từ cảm hứng sử thi bao giờ cũng dựng lên chân dung những tập thể và cá nhân với tư cách là hiện thân cho vẻ đẹp và lợi ích của cả một cộng đồng, một dân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

CẢM HỨNG SỬ THI TRONG THƠ HỮU THỈNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

CẢM HỨNG SỬ THI TRONG THƠ HỮU THỈNH

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ YẾN PHƯƠNG

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy tôi, PGS.TS Phan Trọng Thưởng – người đã trực tiếp dạy bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá

trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô giáo ở Trường ĐHSP

Hà Nội 2, Viện Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội đã

giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Và xin được cảm ơn, chia sẻ niềm vui này với những người thương yêu

đã luôn bên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Hà Nội, tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lan Hương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phan Trọng Thưởng Trong khi nghiên cứu luận văn, tôi đã kế thừa thành quả khoa học của các nhà khoa

học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết ơn

Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu

của luận văn

Hà Nội, tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lan Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Những đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục của luận văn 9

NỘI DUNG 10

Chương 1 THƠ HỮU THỈNH TỪ GÓC NHÌN SỬ THI 10

1.1 Khái niệm sử thi và cảm hứng sử thi 10

1.1.1 Khái niệm sử thi 10

1.1.2 Cảm hứng sử thi 11

1.2 Cảm hứng sử thi trong thơ ca chống Mỹ 16

1.3 Các yếu tố tạo nên cảm hứng sử thi trong thơ Hữu Thỉnh 22

1.3.1 Xúc cảm về thời đại 22

1.3.2 Xúc cảm về Quê hương, Đất nước 26

1.3.3 Vốn sống chiến trường 28

Chương 2 CẢM HỨNG SỬ THI VÀ HÌNH TƯỢNG TRONG THƠ HỮU THỈNH 31

2.1 Những cảm hứng chủ đạo 31

2.1.1 Cảm hứng về chiến tranh và người lính 32

2.1.2 Cảm hứng về quê hương, Tổ quốc, nhân dân, thời đại 43

2.2 Những hình tượng tiêu biểu: 51

2.2.1 Hình tượng người lính: 51

Trang 6

2.2.2 Hình tượng người phụ nữ 71

2.2.3 Hình tượng đất nước, Tổ quốc 84

Chương 3 SỰ CHI PHỐI CỦA CẢM HỨNG SỬ THI ĐẾN CÁC PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 92

3.1 Ngôn ngữ 92

3.1.1 Ngôn ngữ khoa trương, bay bổng, ví von, ẩn dụ: 93

3.3.2 Sự sáng tạo và lạ hóa trong ngôn ngữ thơ: 95

3.2 Giọng điệu 99

3.2.1 Giọng triết lý, chính luận 100

3.2.2 Giọng trữ tình 102

3.2.3 Giọng ngậm ngùi, suy ngẫm 105

3.3 Thể thơ 108

3.3.1 Thơ tự do 108

3.2.2 Thơ bốn chữ và năm chữ 110

3.3.3 Thơ lục bát 112

3.3.4 Trường ca 113

KẾT LUẬN 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Hữu Thỉnh đến với thơ ca từ khi ông gia nhập quân đội nhân dân Việt Nam và trở thành người chiến sĩ, thi sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Trong suốt cuộc hành trình dài và rộng song song tay súng và tay bút ông đã trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại thời chống Mỹ Thơ Hữu Thỉnh trải dài theo con đường hành quân ra mặt trận, theo con đường huyền thoại Hồ Chí Minh, được sống, được chiến đấu và cầm bút trong những năm cam go, khốc liệt, bão lửa của chiến tranh, thơ Hữu Thỉnh đã chạm được vào luồng xiết của đời sống dân tộc Từ ồn ào, sôi động theo cuộc kháng chiến đến lặng lẽ, suy

tư, chiêm nghiệm bước vào thời kì hòa bình Suốt cuộc đời cầm bút, Hữu Thỉnh đã tạo dựng cho mình một giọng thơ riêng, một phong cách nghệ thuật độc đáo Trong chiến tranh, sử thi là cảm hứng chủ đạo của các tác phẩm văn học Thơ Hữu Thỉnh, thấm nhuần tính chất sử thi và cái cao cả, nằm trong giới hạn kiểu nhà thơ trữ tình công dân, thể hiện cái tôi sử thi của thơ ca cách mạng hiện đại, nhưng ở giai đoạn “đã đủ tầm vóc và tư thế để phát ngôn nhân danh thế hệ, nhân danh dân tộc, thời đại, thế kỷ” [52,270] Cũng chính vì vậy

mà việc tìm tòi nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh vẫn luôn là sự hấp dẫn với bao thế

hệ người đọc, người nghiên cứu văn học

1.2 Trên phương diện lí luận thì vấn đề nghiên cứu, khám phá thơ Hữu Thỉnh từ góc độ cảm hứng sử thi sẽ giúp chúng tôi có điều kiện để tìm hiểu soi chiếu thơ Hữu Thỉnh ở chiều sâu sáng tạo, để từ đó có thể khẳng định thêm các phương diện trong phong cách nghệ thuật cũng như các vấn đề về thi pháp

1.3 Trên phương diện lịch sử văn học, Hữu Thỉnh có một vị trí quan trọng trong nền thơ Việt Nam hiện đại thời chống Mỹ Thật khó có thể hình dung diện mạo văn hoc Việt Nam thời kì này nếu thiếu đi tiếng thơ dạt dào

Trang 8

của Hữu Thỉnh Khẳng định như vậy bởi Hữu Thỉnh đã mang đến thơ ca một

hệ thống thi pháp, một giọng điệu riêng, tạo ra một bước ngoặt ở chặng cuối của thơ ca chống Mỹ

1.4 Hữu Thỉnh còn là một trong những tác giả tiêu biểu của thơ ca chống Mỹ Ông cùng thời với Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ Thơ ông đã đi vào đời sống xã hội và được lựa chọn đưa vào giảng dạy trong nhà trường, đồng thời còn được nhiều nhạc sỹ phổ nhạc Nhiều bài thơ nổi tiếng sẽ còn ghi mãi dấu ấn của một thời không thể nào quên, nó có giá trị bồi đắp cho muôn thế hệ về lòng yêu nước, về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc, về lòng tự hào dân tộc

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đi đến lựa chọn đề tài: Cảm hứng

sử thi trong thơ Hữu Thỉnh Qua đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm

tiếng nói khẳng định những đóng góp quan trọng của Hữu Thỉnh đối với thơ ca chống Mỹ nói riêng và nền thơ Việt trong quá trình hiện đại hóa nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Năm 1963, Hữu Thỉnh tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, đó là một quyết định lớn đã chính thức gắn bó cuộc đời Hữu Thỉnh với thơ ca Bước vào cuộc chiến khi đó Hữu Thỉnh là một anh lính lái xe tăng hăng hái, nhiệt tình Ông không chỉ cầm vũ khí chống lại quân thù mà còn cầm bút để viết nên những vần thơ phản ánh sức mạnh , khí thế chiến đấu của toàn dân tộc Bản thân nhà thơ tâm sự: “Chúng tôi được quăng vào kháng chiến chống Mỹ và sống trong luồng xiết của nó” Hiện thực chiến trường trở thành một phần đời, một phần thơ ca của ông Hữu Thỉnh có cả một gia tài thơ là hiện thực khốc liệt của chiến tranh Kể từ đây, Hữu Thỉnh đi trên con đường sáng tác và đã gây được sự chú ý của nhiều cây bút, những nhà phê bình, nghiên cứu văn học

Trang 9

Có thể nói công trình nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh một cách có hệ thống

và công phu đầu tiên là chuyên luận Thi pháp thơ Hữu Thỉnh của Nguyễn Nguyên Tản [63,130] Chuyên luận gồm 4 chương, “chương thứ nhất nhằm giới thiệu khái quát về thơ Hữu Thỉnh, còn lại ba chương là để lần lượt giải quyết ba nhiệm vụ quan trọng Thứ nhất, tìm hiểu con người với tư cách là hạt nhân cốt lõi của thế giới nghệ thuật; Thứ hai, tìm hiểu về không gian, thời gian, những hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật; và cuối cùng là tìm hiểu những phương thức và phương tiện tổ chức thế giới nghệ thuật như kết cấu, ngôn ngữ” [63,130,179]

Tìm hiểu về giọng điệu thơ Hữu Thỉnh trong bài viết “Nhân đọc Từ chiến hào tới thành phố” [65,135], Đào Thái Tôn đã đưa ra những đánh giá

“sơ bộ” về thành công và hạn chế của tập thơ cùng tên của Hữu Thỉnh Tác giả của bài viết ngắn này đã có những nhận xét đáng chú ý về giọng điệu của thơ Hữu Thỉnh: “…tôi đã thấy ở anh cái gì riêng trong giọng thơ, trong cách biểu hiện Một trong những cái riêng đó là sự vận dụng nhuần nhị chất liệu văn học và cách nói của tục ngữ ca dao Việt Nam đồng bằng Bắc Bộ” [65,135] Ở một chỗ khác, Đào Thái Tôn đã có cái nhìn khá sâu sắc: “Nếu Thanh Thảo trong trường ca của mình cho bạn đọc một cách nói mới, thậm chí táo bạo trong thơ so với trước đó - một cách nói thông minh, sắc sảo làm người đọc có cảm giác rằng khi anh viết anh nghĩ rồi mới cảm thì Hữu Thỉnh dân dã đằm thắm mượt mà và thủ thỉ như quê mùa làm cho người đọc được cảm nhận ít khi phải qua khâu nghĩ ngợi Nếu Thanh Thảo hát bè cao thì Hữu Thỉnh hát bè trầm.” [65,135]

Nguyễn Trọng Tạo cũng đọc lại “Thư mùa đông” qua bài viết “Hữu Thỉnh, thành phố hồn quê” [64,131] Trong bài viết khá ngắn này, Nguyễn Trọng Tạo đã có những nhận xét đáng chú ý về phương diện giọng điệu Và ông bắt mạch được “giọng” của Hữu Thỉnh trong sự so sánh với Thanh Thảo:

Trang 10

“Nếu như hồn thơ Thanh Thảo là những tia chớp từ trên trời xuống thì hồn thơ Hữu Thỉnh là sự xum xuê của cây cối từ đất lên” [64,131] Và tác giả cũng cho rằng: “Chính cái giọng nhà quê ấy đã tạo nên thần sắc cho thơ Hữu Thỉnh” [64,131]

Nguyễn Đăng Điệp cũng đã trình bày những suy nghĩ của mình về

“Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ” [15,30] Trong bài viết này, tác giả

đã chỉ ra những thay đổi cơ bản về giọng điệu thơ Hữu Thỉnh trước và sau chiến tranh, cũng như đưa ra đánh giá của mình về giọng điệu thơ của tác giả

Sự thay đổi về giọng điệu của thơ Hữu Thỉnh những năm sau chiến tranh so với những năm chiến tranh đã được chỉ rõ: “Cái chất ru vỗ, ngọt ngào mang tính sử thi trong “Đường tới thành phố” và giai đoạn trước đó đã nhường chỗ cho chất giọng ưu tư, chua chát đau đời” [15,30] Sự chuyển biến này có thể nhìn nhận một cách rõ ràng qua các phương diện: tư duy thơ và cấu trúc của hình tượng cái tôi trữ tình Thứ nhất: sự thay đổi về tư duy thơ: “Nếu trước đây, điều quan tâm lớn nhất với Hữu Thỉnh nói riêng và các thi sĩ chống Mỹ nói chung là lời tâm niệm “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”, thì ở chặng sau, cái nhìn của nhà thơ mang tính hướng nội rất sâu Những mảnh vỡ tâm trạng, những lo âu khắc khoải, những bể dâu cuộc đời được nói đến một cách riết róng qua góc nhìn đời tư Không còn ở đây cái nhìn của chúng tôi

mà là cái nhìn của chính tôi” [15,30] Thứ hai: sự thay đổi về cấu trúc của hình tượng cái tôi trữ tình: “Đó là cái tôi đa diện mà mặt trội của nó là những suy tư về cõi người Đó không phải là cái tôi hiện lên trong quầng sáng sử thi

mà là hiện lên trong chính cuộc sống thô ráp thường ngày” [15,30] Về giọng điệu thơ Hữu Thỉnh, tác giả cho rằng: “Thơ Hữu Thỉnh không nghiêng về gam giọng sôi nổi, hào hùng mà nghiêng về trầm lắng” [15,30] Và trong cái trầm lắng đó, người ta bắt gặp: “Cảm xúc đau đớn, xót xa thường trực trong hồn thơ Hữu Thỉnh hiện ra như một ám ảnh, trở thành nhịp mạnh trong cấu

Trang 11

trúc giọng điệu thơ anh Tuy nhiên, chiều sâu và nét riêng trong cái nhìn nghệ thuật của Hữu Thỉnh chính là những suy tư không ngừng về nhân thế bằng chất giọng trầm lắng”

Nguyễn Văn Tùng tìm hiểu về phong cách nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh trong bài viết “Phong cách nghệ thuật của nhà văn là gì” cũng đã lưu ý một khía cạnh nổi bật trong phong cách nghệ thuật thơ của Hữu Thỉnh: “Phong cách nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh chủ yếu thể hiện ở phương diện ngôn ngữ” Trong đó, tác giả bài viết cho phép nhận định của mình dừng chân ở hai mặt đáng chú ý Thứ nhất: “ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh thẩm thấu được nhiều vẻ đẹp của ngôn ngữ dân gian” Thứ hai: tính triết luận của ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh:

“Tính triết luận sâu sắc cũng là một đặc điểm nổi bật trong phong cách ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh Vì thế nhà thơ đã dâng tặng bạn đọc những cảm xúc đặc biệt, những nhận thức mới mẻ về thế giới tâm hồn con người ẩn chứa bao điều bất ngờ thú vị”

Về mặt phong cách Lưu Khánh Thơ có lẽ là một trong những người đầu tiên tiếp xúc và khám phá thơ Hữu Thỉnh Trong bài viết “Hữu Thỉnh - một phong cách thơ sáng tạo” [72,156], Lưu Khánh Thơ đã có những phát hiện đáng lưu tâm về thơ và trường ca của Hữu Thỉnh Theo đó, những điểm mạnh và yếu trong phong cách thơ Hữu Thỉnh được tác giả bài viết chỉ ra:

“Một trong những điểm làm thơ Hữu Thỉnh thành công là sự vận dụng nhuần nhuyễn và biến đổi hợp lí, linh hoạt những câu ca dao, tục ngữ (…) Nét đặc trưng này cũng là một điểm mạnh và là yếu tố cơ bản hình thành cá tính thơ Hữu Thỉnh làm nên nét đặc sắc trong thơ anh (…) Vốn kiến thức phong phú này làm thơ Hữu Thỉnh thêm giàu có, tạo thuận lợi cho những tìm tòi sáng tạo của thơ anh Hữu Thỉnh tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc không những chỉ là ở cách nói, cách ví von, so sánh, mà còn ở tư duy, cách liên tưởng độc đáo ở một âm hưởng xa xôi khó nhận biết Phải chăng sự ảnh hưởng đó là

Trang 12

nguyên nhân khiến cho Hữu Thỉnh có được những câu thơ hay, mới lạ trong diễn đạt, bất ngờ trong cảm xúc?” [72,156]

Trần Mạnh Hảo đã đưa ra những biểu hiện về sở trường và phong cách thơ Hữu Thỉnh: “Đâu phải cứ viết nhiều là dễ lan man, còn cứ viết ngắn thì dễ hay cô đọng Hữu Thỉnh có khả năng làm ngược lại điều đó” [23,2];“…Chữ nghĩa của ông khá chừng mực Do đó thơ ông ở bề sâu về thực chất có thể thoát được “tản mạn, tràn lan”” [23,52]; “Hữu Thỉnh suy tưởng bằng lãng mạn, lấy mơ mộng mà nghĩ ngợi, lấy cái hư mà diễn đạt cái thực, lấy cái buâng quơ, thảng thốt mà rành mạch, mà bình tâm, lại biết lấy cái đau mà thưởng ngoạn cái vui và ngược lại”; “Thực ra Hữu Thỉnh là nhà thơ của niềm

cô đơn…Cái vui của Hữu Thỉnh cũng là là cái vui hụt, âm bản của nỗi buồn…Khi đụng tới nỗi buồn, nỗi đau, Hữu Thỉnh thường có được thơ hay” [23,52]

Lí Hoài Thu cũng góp thêm cách đánh giá, khám phá riêng của mình về thơ Hữu Thỉnh trong bài viết “Thơ Hữu Thỉnh, một hướng tìm tòi và sáng tạo

từ dân tộc đến hiện đại” [73,160] Tác giả đã có những đánh giá vô cùng quan trọng về một số thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của thơ Hữu Thỉnh Thứ nhất:

sự ảnh hưởng của văn học và văn hóa dân gian: “Dù viết về chiến tranh hay tình yêu, tâm trạng con người hay non sông, mây gió, thơ Hữu Thỉnh đều thấm đẫm sắc vị dân gian Điều đó thể hiện trong cả cảm xúc, suy nghĩ lẫn chất liệu sáng tạo” [73,160] Theo tác giả, thơ Hữu Thỉnh chủ yếu vận dụng

từ văn hóa và văn học dân gian ở các nguồn sau: cảm hứng dân ca, sử dụng lại nguyên mẫu những câu ca dao (theo hướng tương đồng tương tác hay tương phản, đối lập) Nhưng điều đó không hề tương đương với một sự biên soạn giản đơn mà chúng ta có thể bắt gặp trơng thơ Hữu Thỉnh: “Hữu Thỉnh vừa rất có ý thức trong việc đi sâu khai thác cái hay cái đẹp của dân gian, dân tộc, vừa biết dồn tâm lực, tài năng cho việc tìm kiếm, sáng tạo cái mới”

Trang 13

[73,160] Bởi lẽ, “với thơ ca dân gian, Hữu Thỉnh tiếp nhận tư tưởng nhân văn, niềm cảm thông với từng số phận con người, nhưng anh biết gạt bớt phần

kể lể, thở than và thay vào đấy sự đong đầy của tâm trạng” [73,160] Lí Hoài Thu cũng phát hiện một yếu tố rất đáng lưu tâm về phương diện nghệ thuật của thơ Hữu Thỉnh: “Một trong những tiềm năng của hồn thơ Hữu Thỉnh là sự nhạy cảm của trực giác” Người viết cho rằng : “Sự kết hợp giữa cái vô hình

và cái hữu hình, cái cụ thể và cái trừu tượng không còn là thao tác xa lạ đối với thơ hiện đại Điều quan trọng là anh phải tạo được cái riêng trên cơ sở của nguyên tắc chung ấy Hữu Thỉnh tỏ ra thuần thạo và có nhiều thành công trên phương diện này” [73,160].Và “đây chính là một đặc điểm thi pháp nổi trội, một ưu thế của thơ Hữu Thỉnh” Tóm lại, về đặc trưng nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, Lí Hoài Thu cho rằng: “Thơ anh có sự kết hợp giữa phẩm chất dân tộc

và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lí và xúc cảm tràn trào, giữa hiền hòa lắng đọng và mãnh liệt sục sôi” [73,160]

Đỗ Quang Vinh cũng có nhận xét tương tự với Lưu Khánh Thơ về phong cách phong cách nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh: “Vẫn là sự quan sát cực kỳ tinh tế như thường thấy trong hàng loạt các bài thơ đã góp phần làm nên chân dung thơ Hữu Thỉnh, để định hình một phong cách thơ dân tộc - hiện đại” [79,171] Trong bài viết “Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ” [79,30]

Qua việc khảo sát các bài viết, các công trình nghiên cứu về thơ Hữu Thỉnh , chúng tôi nhận thấy rằng các tác giả đã khai thác khá nhiều khía cạnh, vấn đề, có nhiều ý kiến khác nhau song hầu hết các tác giả đều thống nhất cho rằng Hữu Thỉnh là một hiện tượng độc đáo của thơ ca Việt Nam hiện đại Sự xuất hiện của Hữu Thỉnh trên thi đàn đã làm cho thi ca của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ thêm sôi nổi, cá tính Kế thừa những đóng góp, phát hiện của những người đi trước, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi tập

trung khai thác: Cảm hứng sử thi trong thơ Hữu Thỉnh với mong muốn tìm

Trang 14

tòi, phát hiện và góp thêm ý kiến khẳng định những đóng góp của Hữu Thỉnh trên phương diện cảm hứng nghệ thuật

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Hữu Thỉnh, trong đó tập trung chủ yếu vào các tác phẩm trường ca

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là thơ và trường ca Hữu Thỉnh, trong so sánh với những sáng tác của các tác giả khác

4 Mục đích nghiên cứu

Thông qua đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm ý kiến khẳng định

vị trí quan trọng và những đóng góp của Hữu Thỉnh trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung, nền thơ ca chống Mỹ nói riêng, để từ đó thấy rõ hơn vẻ đẹp của một phong cách thơ độc đáo, cũng như làm rõ hơn các khía cạnh của thi pháp trong thơ ông

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lí thuyết về cảm hứng thơ, luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn có thể đóng góp ở các phương diện:

Thứ nhất: Tiếp cận tác phẩm từ góc độ sử thi nhằm tìm hiểu và lý giải sâu hơn đặc điểm phong cách thơ Hữu Thỉnh

Trang 15

Thứ hai: Thông qua việc tiếp cận thơ Hữu Thỉnh, chỉ ra được những nét riêng độc đáo, những đóng góp về tư tưởng nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh Xác định vị trí của Hữu Thỉnh trong thơ chống Mỹ nói riêng cũng như thơ hiện đại Việt Nam nói chung

Thứ ba: Luận văn đi sâu vào một khía cạnh có ý nghĩa xã hội rộng lớn đó

là cảm hứng sử thi của thơ ca, là cuộc chiến tranh hào hùng của dân tộc, đề tài

sẽ tác động không nhỏ đến lòng tự hào của dân tộc

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1: Thơ Hữu Thỉnh từ góc nhìn sử thi

Chương 2: Cảm hứng sử thi và hình tượng trong thơ Hữu Thỉnh

Chương 3: Sự chi phối của cảm hứng sử thi đến các phương diện nghệ thuật

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1 THƠ HỮU THỈNH TỪ GÓC NHÌN SỬ THI 1.1 Khái niệm sử thi và cảm hứng sử thi

1.1.1 Khái niệm sử thi

Sử thi là thuật ngữ văn học bắt nguồn từ tiếng Hy lạp cổ (epos) vốn có hai nghĩa: Trong nghĩa rộng, nó là tự sự, một trong ba loại văn học: Tự sự, trữ tình, kịch; Còn nghĩa hẹp, nó là sử thi truyền miệng hoặc thành văn Hiện nay trong đời sống lý luận văn học tồn tại hai cách hiểu về sử thi:

Thứ nhất, một số ý kiến cho rằng: Sử thi là thể loại Văn học được nảy

sinh và phát triển từ rất sớm, ngay từ khi chế độ công hữu nguyên thủy tan rã, bắt đầu hình thành xã hội bộ tộc, bộ lạc tiền giai cấp Những tác phẩm sử thi

vĩ đại ra đời trong giai đoạn đó là sự nối tiếp thần thoại và là bước chuyển từ

thế giới các vị thần sang thế giới con người Nó chỉ tồn tại trong xã hội cổ

đại, kéo dài đến thời trung cổ và thực sự biến mất trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo Nói theo cách của Hêghen thì sử thi chỉ xuất hiện ở thời điểm gọi là

“Thế kỉ của những anh hùng” Có thể kể ra những tác phẩm sử thi tiêu biểu

như: Iliat, Ôđixe (Hy Lạp); Mahabharata, Ramayana (Ấn Độ); IliaMurômetx

(Nga); Nibêlnghen (Đức); Đăm San, Xing Nhã (Việt Nam)

Thứ hai, một số học giả khác - tiêu biểu là giáo sư G.N.Pospelop (Nga)

lại cho rằng: Sử thi là một loại hình thuộc thể tài lịch sử dân tộc tồn tại trong

suốt tiến trình văn học Trong giai đoạn phát triển ban đầu, xuất hiện các thể

tài lịch sử dân tộc miêu tả con người với quá trình tham gia tích cực vào các

sự kiện của đời sống xã hội; Đó là những anh hùng tiêu biểu cho sức mạnh và

vẻ đẹp của cả cộng đồng Thể tài này bộc lộ ở các tác phẩm xưa nhất thuộc

sáng tác nguyên hợp: : Iliat, Ôđixê, Mahabharata, Ramayana Trong

những giai đoạn phát triển xã hội muộn hơn, khi hình thành chế độ chính trị

Trang 17

của nhà nước quân chủ và trên cơ sở những hệ tư tưởng công dân tiến bộ, thể tài lịch sử dân tộc được triển khai ở nhiều bình diện mới và bộc lộ cả trong

những sáng tác thuộc phạm vi cá nhân Lúc này trong văn học các nước khác

nhau xuất hiện nhiều tác phẩm sử thi nối tiếp các sử thi cổ đại Những tác phẩm đó thuộc các thể loại khác nhau như tiểu thuyết, truyện vừa, truyện

ngắn, thơ, trường ca Ở Nga có tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình, Pie đệ

nhất (L Tônxxtôi), Thép đã tôi thế đấy (N Ôtxtrôpxki), Sông Đông êm đềm (Sôlôkhôp) có trường ca V.I Lê nin của Maiacôpxki Ở Việt Nam có tiểu

thuyết Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Cửa biển (Nguyên Hồng),

Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi) có thơ, trường ca của Tố Hữu, Thu Bồn, như:

Ta đi tới, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Việt Bắc, Bài ca chim Chơ rao, Vách

đá Hồ Chí Minh

Như vậy, sử thi là một loại hình thuộc thể tài lịch sử - dân tộc, tồn tại trong suốt tiến trình của lịch sử văn học nhân loại Cách hiểu này cho phép

các tác phẩm dù thuộc thể loại nào đi chăng nữa, nếu chúng mang nội dung

lịch sử dân tộc và hình thức biểu đạt tương ứng thì vẫn có thể coi là có tính chất sử thi Nói chính xác hơn, thì những đặc trưng cơ bản của sử thi cổ đại

dần dần được biến đổi, được các thể loại khác biến đổi và hấp thụ, để từ đó hình thành các thể loại mới như: Tiểu thuyết sử thi, truyện ngắn sử thi, thơ trữ tình sử thi, trường ca sử thi Với cách hình dung này có thể hiểu sử thi chính

là một văn mạch chảy từ cội nguồn quá khứ của dân tộc đến vĩnh viễn

1.1.2 Cảm hứng sử thi

Khi Mác nói: “Con người sáng tạo theo qui luật của cái đẹp" thì cái đẹp ở đây được hiểu theo nghĩa phổ quát mà ai cũng có khả năng tạo ra trong mọi hoạt động và hành vi của mình Từ cái đẹp đến nghệ thuật là cả một quá trình phát triển về tinh thần, tư tưởng và sự chuyển hóa chức năng trong hoạt động sáng tạo của con người Hơn nữa lao động nghệ thuật nói chung và sáng

Trang 18

tạo thơ văn nói riêng thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần theo phương thức cá nhân, đơn lẻ Sản phẩm của nó cũng mang tính cá thể chứ không phải là sản phẩm tập thể được làm ra hàng loạt như trong trong sản xuất vật chất Bởi vậy, sáng tạo nghệ thuật đòi hỏi phải có tài năng, kể cả thiên tài

Phương Lựu phân biệt: "Cảm hứng có thể có trong tất cả các ngành sản xuất khi mà con người lao động hoàn toàn tự nguyện theo những mục đích hoàn toàn phù hợp với lí tưởng và khả năng của mình Nhưng khác với thành phẩm của tất cả các ngành lao động khác, tác phẩm văn học nghệ thuật còn chứa đựng tình cảm chủ quan của chủ thể sáng tạo" [39, 209 -210] Nói ngắn gọn, cảm hứng trong các ngành lao động khác sẽ tan biến khi sản phẩm đã xong xuôi, còn trong sáng tạo nghệ thuật, cảm hứng vẫn được bảo lưu và chuyển hóa vào tác phẩm Có thể nói, nếu không có cảm hứng thì không thể

có văn chương theo nghĩa đích thực của nó Điều này cũng không có gì lạ, bởi chuyện văn chương là chuyện tình cảm (tình cảm nghệ thuật); nhà văn không thể sáng tác khi trong lòng họ đã nguội lạnh: "Sáng tác nghệ thuật không thể không có cảm hứng Viết văn là gan ruột, tâm huyết, chỉ bộc lộ những gì đã thực sự tràn đầy trong lòng, không thể cho ra những sản phẩm của một tâm hồn bằng lặng, vô vị, miễn cưỡng " [39,210] Tuy nhiên, không phải hễ có cảm hứng tuôn trào thì tất sẽ có nghệ thuật, điều này còn tùy thuộc vào năng lực chuyển hóa cảm hứng thành hình tượng của nhà văn nữa

Nhà thơ Xuân Diệu viết: "Khi tôi nói xúc cảm, tôi không chỉ nói rung động về tình cảm mà thôi, bởi vì người ta có thể rung động rất nhiều, thiết tha, chân thành đến ứa lệ, nhưng ra nước mắt chưa hẳn đã ra thơ Khi tôi nói xúc cảm là rung động về vần điệu, hình tượng, âm thanh, một hứng thú sáng tạo vậy" [9,123 -124] Có điều, không ai có thể phủ nhận được sự khởi phát ban đầu trong sáng tạo nghệ thuật vẫn là cảm hứng

Trang 19

Vậy cảm hứng là gì? Theo V.Biê-lin-xky, cảm hứng là: "Trạng thái

phấn chấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả", là "sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi lên bởi một

tư tưởng nào đó" và "cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư tưởng nào đó trở thành lòng say mê đối với tư tưởng đó, trở thành năng lượng và thành khát vọng nồng nhiệt" Từ điển Larousse (của Pháp) gọi cảm hứng là nhiệt tình sáng tạo (enthousiasme créateur) Từ điển Khang Hy (Trung Quốc) thì nói "hứng" là cảm xúc trước sự vật mà phát ra Sự thực thì cảm hứng chính

là thời điểm mà sức sống bên trong đã tích tụ, ấp ủ, lên men sáng tạo Đó là thời điểm mà ngọn lửa kỳ diệu của thơ ca bùng cháy khiến nghệ sĩ không thể không nói ra bằng lời

Cảm hứng sử thi trong thơ ca trước hết là tiếng nói của tình cảm: "Thơ

khởi phát từ lòng người ta" (Lê Quí Đôn), nó vốn dĩ đã mang yếu tố trữ tình Nhưng trong một thời điểm lịch sử hào hùng của dân tộc, khi cảm hứng sử thi trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của các nhà thơ thì yếu tố trữ tình tất sẽ kết hợp với cảm hứng sử thi, tạo thành cảm hứng trữ tình - sử thi Ở nước ta, loại cảm hứng này được coi như một đặc điểm thi pháp chung của thơ ca kháng chiến, nhất là trong kháng chiến chống Mỹ Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long khẳng định: "Thơ kháng chiến chống Mỹ thuộc loại hình thơ cách mạng Nó là sự tiếp nối liền mạch dòng thơ kháng chiến chống Pháp

và thơ trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng đã đưa loại hình thơ cách mạng đến một bước phát triển cao, mà đặc điểm nổi bật là sự kết hợp

sử thi với trữ tình, tạo thành khuynh hướng trữ tình - sử thi" [75,12] Khái niệm sử thi ở đây không đồng nhất với sử thi cổ đại, một thể loại tự sự khách quan, có dung lượng lớn, kể hết mọi biểu hiện phong phú của đời sống như một bách khoa toàn thư Khái niệm sử thi trong cảm hứng sử thi được hiểu là một khuynh hướng cảm hứng ưu tiên cho chủ đề dân tộc, cho khí thế sục sôi

Trang 20

của một thời kỷ vẻ vang của cách mạng; xây dựng những con người tiêu biểu cho ý chí, phẩm chất anh hùng mang tầm vóc lịch sử và thời đại; nó không chỉ thể hiện ở nội dung thể tài mà còn ở quan điểm tiếp cận của nhà thơ với mọi hiện tượng đời sống, là quan điểm cộng đồng Với khuynh hướng cảm hứng này, các nhà thơ chống Mỹ đã sáng tạo nên những hình tượng đẹp, có chiều sâu về đất nước, về Đảng, về lãnh tụ và các tầng lớp nhân dân: bộ đội, thanh niên xung phong, phụ nữ, phụ lão, thiếu nhi, xã viên, công nhân, cán bộ đủ các ngành nghề Hầu như tất cả các tầng lớp nhân dân đều có đại diện của mình trong bức tranh văn học Cảm hứng sử thi tôn trọng và đề cao nguyên lý văn học phản ánh hiện thực, nó miêu tả một cách toàn diện các mặt của đời sống như lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu, tinh thần đoàn kết cộng đồng, niềm lạc quan cách mạng, niềm tin vào lý tưởng cộng sản Phạm trù cái cao

cả thực sự trở thành phạm trù mỹ học cho các nhà thơ kháng chiến theo đuổi Nhờ vậy, thơ chống Mỹ cố âm hưởng hào sảng, khỏe khoắn, luôn đem lại niềm vui phơi phới, ấm áp cho người tiếp nhận Cảm hứng sử thi thường tạo

ra những tác phẩm có những đặc điểm chủ yếu sau đây;

Trước hết đó là những tác phẩm mang màu sắc hoành tráng, phản ánh hiện thực hào hùng của dân tộc cùng với những sự kiện lịch sử quan trọng có

ý nghĩa với toàn thể cộng đồng Nói như Hêghen: "Các sử thi thực sự độc đáo đến nay cung cấp cho chúng ta một bức tranh tinh thần dân tộc một bức tranh toàn vẹn về các giai đoạn, ở đấy có ý thức và phẩm chất của ý thức" Nhìn vào thơ ca chống Mỹ ta thấy chưa bao giờ trong thơ lại bùng cháy tinh thần quật khởi chống ngoại xâm như ở thời kỳ này Và cũng chưa bao giờ nghệ thuật tuyên truyền lại được đẩy đến đỉnh cao như thế; thơ thực sự trở

thành vũ khí xông trận: "Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên! Toàn

thắng ắt về ta", "Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào! / Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn." (Hồ Chí Minh)

Trang 21

Tiếp theo, những tác phẩm ra đời từ cảm hứng sử thi bao giờ cũng dựng lên chân dung những tập thể và cá nhân với tư cách là hiện thân cho vẻ đẹp và lợi ích của cả một cộng đồng, một dân tộc Đối tượng tìm tòi, phát hiện của thơ ca là những cái tiêu biểu cho cả một dân tộc hơn là cái riêng lẻ, khác biệt Tố Hữu gọi chị Lý là "Người con gái Việt Nam ", Lê Anh Xuân nhìn anh giải phóng quân từ "Dáng đứng Việt Nam", Dương Hương Ly viết về mẹ với những nét tượng trưng cho đất nước: "Đất quê ta mênh mông, lòng mẹ rộng

vô cùng"

Sau cùng, cảm hứng sử thi qui định ngôn từ trong tác phẩm phải là ngôn từ ngợi ca, giàu hình ảnh kỳ vĩ, giọng điệu phải hào hùng, sôi động;

cách xưng hô với nhân vật trữ tình phải thiết tha, trân trọng: "Hoan hô anh

giải phóng quân / Kính chào anh con người đẹp nhất", "Kính chào Người cất cánh bay cao /Như thiên thần bay giữa trời cao” (Tố Hữu)

Cảm hứng sử thi được coi là đặc trưng cơ bản của thể loại sử thi Khi nói đến sử thi, anh hùng ca các nhà nghiên cứu cho rằng sử thi là “thể loại tự

sự miêu tả các sự kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc và nhân dân”.Vì thế giọng văn của một tác phẩm sử thi cơ bản là giọng văn ngợi ca

Chúng ta có thể tìm thấy sự ngợi ca mang đậm cảm hứng sử thi trong nhiều tác phẩm hiện đại của thế giới và Việt Nam Trong những tác phẩm này

âm hưởng ngợi ca mang đậm chất sử thi được thể hiện rất rõ đặc biệt là ở văn học cách mạng, những tác phẩm viết về chiến tranh Trong thế giới thơ ca, sử thi là lĩnh vực khởi thủy, là bắt đầu

Vậy trước yêu cầu của lịch sử, sử thi là yếu tố chủ đạo trong nền văn học cách mạng, cảm hứng sử thi gắn với đời sống tinh thần xã hội, gắn với chất hào hùng của cuộc kháng chiến, như một môi trường dẫn truyền và cộng hưởng cảm xúc Cảm hứng sử thi là nền tảng của các tác phẩm về đề tài chiến tranh

Trang 22

1.2 Cảm hứng sử thi trong thơ ca chống Mỹ

Thơ ca chống Mỹ cứu nước có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Văn học thời kì này phát triển mạnh mẽ trên nhiều thể loại và đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình Trong sự phát triển đó, không thể không kể đến thơ chống Mỹ đặc biệt là thơ của các nhà thơ trẻ thời kì này bởi

họ đã mang đến một tiếng thơ trẻ trung mới lạ chưa từng có trước đó của văn học dân tộc Thật khó có thể hình dung một cách đầy đủ cho diện mạo văn học dân tộc nếu thiếu đi mảng thơ của các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ

Nhìn tổng thể, thơ chống Mỹ được hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ: Thế hệ nhà thơ xuất hiện từ trước cách mạng (Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…), thế hệ những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp (Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu…) và thế hệ những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ Mỗi thế hệ những nhà thơ nói trên đều có những đóng góp đáng ghi nhận đối với nền thơ chống Mỹ Bên cạnh đó, mỗi nhà thơ bằng phong cách riêng của mình đã đem đến một cách nhìn, cách cảm nhận riêng về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc, nói lên được một phần hiện thực lớn lao của đất nước Tuy vậy cách nhìn, cách cảm nhận về chiến tranh như thế vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nhận thức và tình cảm của người đọc Bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc vẫn còn khuyết đi một mảng quan trọng cần được bổ sung Người đọc khao khát sự xuất hiện của những người trực tiếp ngoài chiến trận nghĩa là những nhà thơ chiến sĩ, những con người vừa cầm súng vừa cầm bút viết về những trải nghiệm của chính bản thân nơi “đầu sóng ngọn gió” Hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó đã đưa tới sự hình thành, xuất hiện của một lớp nhà thơ trẻ như một sự đòi hỏi tất yếu của dân tộc và thời đại Đội ngũ những nhà thơ trẻ có mặt trên khắp các chiến trường, vừa cầm bút, vừa cầm súng họ đã mang đến nét tươi mới không dễ gì có được của thế hệ mình, làm cho thơ ca thêm

Trang 23

đậm đà tính cách Việt, tâm hồn Việt Bài ca ống cóng của Thanh Thảo vang lên như một lời tuyên ngôn của lớp trẻ khi bước vào trận”Bài ca của chúng

tôi/ Là bài ca ống cóng/ Hành trang quân giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời” Có lẽ chỉ có thế hệ này chứ không phải ai khác mới nói được một điều

tưởng như nghịch lý “Giữa chiến trường, tiếng bom nghe rất nhỏ” (Phạm

Tiến Duật) Nếu không nếm trải thực tế chiến trường thì khó có thể có được suy nghĩ như vậy Thế hệ nhà thơ chiến sĩ - nhà thơ trẻ xuất hiện từ đầu những năm 60, đặc biệt đông đảo trong thời kỳ chống Mỹ, đem lại cho thơ sức sáng tạo mới, trẻ trung, trong sáng, gợi cảm, mà trong đó không ít tài năng đã sớm được chú ý và khẳng định: Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm, Vương Trọng, Anh Ngọc, Thanh Thảo, Lê Anh Xuân Trong đội ngũ đông đảo hàng vạn thanh niên cầm súng đi vào các chiến trường miền Nam,

đã nảy nở nhiều tài năng thơ như một nhu cầu tự ý thức và tự biểu hiện của thế hệ trẻ Đội ngũ được bổ sung liên tục từ quần chúng yêu thơ Tình cảm lớn lao đã trở thành nguồn mạch dồi dào cho cảm hứng thơ ca Và như vậy, đất nước ta có hẳn một thế hệ nhà thơ chống Mỹ, bởi vì trước khi làm thơ, trong khi làm thơ những nhà thơ ấy đã là những người lính, hoặc tình nguyện sống như những người lính chống Mỹ Điều đáng quý hơn cả, thế hệ nhà thơ này đã nhận thức sâu sắc sứ mệnh lịch sử lớn lao của thế hệ mình, chọn một con đường đi cho mình trong nhịp sống cuồn cuộn của dân tộc thời đánh Mỹ Thế hệ này chứ không phải ai khác đã tự hiểu, tự nhận thức một cách đúng đắn con đường đi của mình Vừa cầm súng, vừa cầm bút họ đã viết về thế hệ

mình một cách trân trọng, tự hào: “Không có sách chúng tôi làm ra

sách/Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh) Sinh ra trong

lòng nôi cách mạng, được đào tạo trong mái trường XHCN, họ tha thiết tin yêu cách mạng và đang có mặt trên khắp các mặt trận sản xuất, chiến đấu

Trang 24

Với kiến thức học tập có hệ thống, lại có thêm hành trang của vốn thơ ca dân tộc trên con đường rộng và dài của của nền thơ cách mạng, họ đã tự bồi dưỡng cho bản thân về tư tưởng, tài năng, vốn sống để có thể đi xa trên con đường đó và thực sự trở thành nhà thơ cách mạng Tiếng thơ của họ trẻ trung

mà luôn trăn trở, nghĩ suy đầy trách nhiệm về Tổ quốc, về dân tộc Họ đã thật

sự vươn lên, khẳng định mình, vừa tiếp nối truyền thống các thế hệ trước, vừa

có những sáng tạo độc đáo làm nên những nét riêng biệt của thơ trẻ thời chống Mỹ

Trước yêu cầu của lịch sử, sử thi vẫn là yếu tố chủ đạo trong nền văn học cách mạng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, sử thi là đời sống tinh thần

xã hội vốn gắn với tính chất hào hùng của cuộc kháng chiến như “một môi

trường dẫn truyền và cộng hưởng cảm xúc” Sử thi là âm hưởng chủ đạo của

thơ chống Mỹ

Cảm hứng sử thi là nền tảng của các trường ca và nhiều bài thơ về đề tài chiến tranh chống Mỹ, nhưng những trải nghiệm cá nhân của mỗi người nghệ sỹ làm thơ đã làm cho sự khái quát lịch sử có được cái nhìn cụ thể, xác thực và thấm thía hơn Giọng điệu thơ vô cùng đa dạng, có khi trầm lắng, hướng vào suy tư, có khi cất lên ở âm vực cao đầy hào sảng hoặc bay bổng lãng mạn Sự khẳng định dân tộc, ngợi ca sức mạnh của nhân dân thường được thể hiện qua những mất mát, hy sinh, nỗi đau thầm lặng của vô vàn con người và bao nhiêu số phận Chân dung tinh thần của thế hệ trẻ đi qua cuộc chiến tranh được tô đậm ở sự lựa chọn dấn thân tự nguyện đầy tỉnh táo, niềm say mê, háo hức đầy chất lãng mạn khi bước vào cuộc chiến tranh:

Chúng tôi đi không tiếc cuộc đời mình Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc?

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc

(Những người đi tới biển - Thanh Thảo)

Trang 25

Tuổi trẻ biến trăm sông thành thác Dập tắt lửa chiến tranh bằng máu đời mình

(Thu Bồn)

Các nhà thơ nói về niềm tự hào và niềm vui chiến thắng, nhưng cũng nói nhiều hơn về những gian lao, sự chịu đựng và hy sinh của nhân dân, của đồng đội để hôm nay dân tộc đến được cái đích cuối cùng của cả một hành trình dài dặc Trong các trường ca, nổi bật lên là hình tượng nhân dân, vừa trong những hình ảnh khái quát, biểu tượng, vừa trong những chân dung cụ thể của nhiều con người Đó là người mẹ, người chị ở hậu phương, là người

lính lái xe tăng, xạ thủ trung liên, người lính đánh bộc phá trong Đường tới

- Dù chỉ gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn Anh ôm súng bò lên với trái tim tình nguyện

Nhân dân trong trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo là

những ông Chín, thím Ba, anh Út ở một vùng địa hình bám trụ, đó cũng còn

là nhân dân trong những biểu tượng cao cả, mang dáng vẻ kỳ vĩ của huyền thoại, nhưng lại hết sức giản dị, gần gũi:

- Khi các thần tiên đã an nghỉ cuối trời Nhân dân tôi khởi lên tự phù sa vất vả

Trang 26

- Mồ hôi vã một trời sao trên đất

- Và cứ thế, nhân dân thường ít nói Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời

Và cứ thế, nhân dân cao vòi vọi Hơn cả những ngôi sao cô độc giữa trời

Chân dung thế hệ trẻ đã được khắc họa rất sinh động trong thơ trẻ thời

kỳ kháng chiến chống Mỹ, giờ đây tiếp tục được miêu tả phong phú hơn, sâu hơn ở cả những chi tiết, sự việc cụ thể của những gian lao và hy sinh, và ở cả những suy tư trải nghiệm trong thế giới nội tâm tạo nên bức chân dung tinh thần của họ:

- Để lại trong rừng những gì quý nhất Mất mọi thứ để nhân dân không mất

(Phạm Tiến Duật - Đi trong rừng)

- Ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn sốt

Cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc Bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng Hớp nước cuối cùng giữa cơn sốt đầu tiên Ngày sinh nhật tuổi 25 mình được uống

(Thanh Thảo - Những người đi tới biển)

Cảm hứng sử thi cũng còn được tiếp tục khai thác trong những trường

ca về lịch sử (Những ngọn sóng mặt trời, Những nghĩa sĩ Cần Giuộc của Thanh Thảo), về đất nước trong cuộc hồi sinh và xây dựng hôm nay (Sức bền

của đất của Hữu Thỉnh, Trầm tích của Hoàng Trần Cương, Ba dan khát của

Thu Bồn)

Thơ là tiếng nói của lịch sử nên khi đất nước có giặc ngoại xâm thì lợi ích của dân tộc và nhân dân hòa làm một, sự nghiệp giải phóng dân tộc đồng

Trang 27

thời là sự nghiệp giải phóng con người Như một lẽ tự nhiên, văn học nói chung và thơ chống Mỹ nói riêng đã ưu tiên đặt vấn đề tự do độc lập lên trên hết, vì lợi ích của Tổ quốc Có thể thấy những dấu hiệu đổi mới này thể hiện trước hết ở lớp nhà thơ đứng ở mũi nhọn cuộc chiến đấu, đối mặt với gian lao thử thách, trực tiếp xáp mặt với kẻ thù Bên cạnh cái cao cả, anh hùng, vĩ đại được phóng chiếu hết chiều kích vốn là thế mạnh của sử thi, cảm hứng sử thi trong các tác phẩm cũng nhiều trăn trở, dằn vặt của con người trước sự chọn lựa: Sống - chết, được - mất, chiến thắng - hy sinh… Con người được nhìn nhận từ nhiều bình diện, thơ nói nhiều hơn nỗi đau của con người do chiến tranh, buồn vui một đời người trong cuộc sống, những nỗi niềm ẩn chứa bên trong chưa dễ tỏ bày Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ tác động mạnh vào cảm xúc nhà thơ Thơ chống Mỹ có dáng dấp một dàn đồng ca, một dàn hợp xướng lớn bởi nó được sinh thành trong một bối cảnh tinh thần đặc biệt

của “Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt” (Chế Lan Viên), và khi nhà thơ “tự hát” thì cũng ý thức được:

Nhưng giọng anh đơn lẻ Sánh sao bằng đồng ca

(Nhớ đồng ca, hát đồng ca-Phạm Tiến Duật)

Nhưng ngay trong dàn đồng ca ấy đã bắt đầu hé mở góc nhìn khác khá

đa dạng và nhiều chiều về cuộc sống qua các trường ca viết sau chiến tranh

Thu Bồn đóng góp Ba-dan khát (1977); Thanh Thảo cùngNhững người đi tới

biển (1977), Những ngọn sóng mặt trời, Đêm trên cát, Khối vuông ru-bích;

Trần Vũ Mai viết Ở làng Phước Hậu (1978), Hữu Thỉnh sáng tác Đường tới

thành phố (1979), Sức bền của đất, Trường ca biển; Nguyễn Đức Mậu chiêm

nghiệm về cống hiến, hy sinh của người lính trong Trường ca sư đoàn (1980), Trần Mạnh Hảo viết Mặt trời trong lòng đất, Đất nước hình tia chớp; Trần Đăng Khoa mang đến Khúc hát người anh hùng)

Trang 28

Cảm hứng sử thi tạo cho nhà thơ tâm thế trữ tình với tư cách phát ngôn cho cả dân tộc, đất nước, nhân dân Những năm thơ kháng chiến chống Mỹ là chặng đường ghi lại quá trình trưởng thành về ý thức của thế hệ trẻ đã đi qua suốt một cuộc chiến tranh dữ dội và quyết liệt Từ cái náo nức, say sưa với cảm hứng lãng mạn buổi ban đầu, đến sự trải nghiệm suy tư trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Thơ trẻ chống Mỹ đã đem đến nguồn cảm hứng sử thi lớn lao và kì vĩ

1.3 Các yếu tố tạo nên cảm hứng sử thi trong thơ Hữu Thỉnh

Nhiều nhà văn nổi tiếng trên thế giới đã từng tham gia trực tiếp vào các cuộc đấu tranh lịch sử dân tộc và các tác phẩm của họ đều mang hơi thở các cuộc chiến đấu như L.Tônxtôi một “tấm gương phản ánh cách mạng Nga” (cách gọi của Lênin) ở thế kỷ XIX Thời đại của L.Tônxtôi đó là một thời đại đầy sục sôi, đầy biến cố xã hội, giai đoạn khủng hoảng trầm trọng của chế độ nông nô, giai đoạn phát triển của bão táp chủ nghĩa tư bản, giai đoạn cách mạng tư sản nông dân, giai đoạn bước đầu của đấu tranh chính trị của giai cấp

Trang 29

vô sản thời đại lịch sử ấy trở thành nền tảng quan trọng để L.Tônxtôi cho ra

đời những tác phẩm Cuộc đột kích, cuộc gặp gỡ ở đơn vị, những người Côdăc, Anna Karênina, Phục sinh Nổi bật nhất là tác phẩm Chiến tranh

và hòa bình đã phản ánh tinh thần Cách mạng Nga dâng cao sau chiến thắng

Napôlêông, đã thể hiện một cách đầy đủ cảm hứng nghệ thuật của L.Tônxtôi

Cuộc cách mạng tháng Mười Nga không chỉ tạo ra những biến đổi lớn lao đối với lịch sử nước Nga nói riêng và thế giới nói chung mà còn tạo ra một động lực mạnh mẽ hình thành nên đội ngũ sáng tác mới của nước Nga Xô Viết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đánh giá, cuộc Cách mạng Tháng Mười giống như mặt trời chói lọi, chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu sa như thế Những tiền đề lịch

sử quan trọng ấy đã hình thành nên những tên tuổi nghệ thuật lớn như: M Gorki, V Maiakôpxki, M Sôlôkhôp, Pauxtôpxki, K Ximônốp nhìn chung tác phẩm của họ đều mang đậm cảm hứng thời đại, cùng thể hiện một thế giới tinh thần cảu người Xô Viết vô cùng phong phú và đa dạng

Ở Việt Nam, năm 1945, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, đã thổi một luồng gió mới đến tiến trình văn học dân tộc đang trên con đường định hình

và trưởng thành ở thế ký XX Sự xuất hiện của nhiều cây bút đã làm cho nền văn học bừng sáng mạnh mẽ ở nhiều phương diện khác nhau từ thể loại, đề tài, cảm hứng sáng tác những cây bút như Tố Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu sự hiện diện của họ đem đến cho văn học tiếng nói mới mẻ, với ý thức đi tìm tiếng nói nghệ thuật mới của thời đại

Bước sang giai đoạn lịch sử mới, thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, văn học tiếp tục ghi nhận, bổ sung một lực lượng sáng tác hùng hậu, mạnh mẽ Văn học có sự bao quát hiện thực đời sống, đặc biệt

là tái hiện lại cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Trong cuộc kháng chiến

Trang 30

chống thực dân Pháp, những cây bút như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu đã mang đến cho văn học những nguồn cảm hứng nghệ thuật mới mẻ thiết tha và trang nghiêm Ngay cả những cây bút văn xuôi như Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân sáng tác của họ cũng mang đậm cảm hứng sử thi và tinh thần lãng mạn Đến cuộc kháng chiến chống

Mỹ, nền văn học được dịp chứng kiến một cuộc “ra trận” của đông đảo những cây bút trẻ tài hoa, giàu nhiệt huyết Đó là những con người “Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa” Khác với nhà văn, nhà thơ thời kỳ trước, các cây bút trẻ giai đoạn này mang một tiếng nói mới, thể hiện những nguồn cảm hứng nghệ thuật dồi dào, vừa trong sáng, tươi trẻ, lại vừa khỏe khoắn đầy tự tin

Như vậy, rõ ràng, thời đại lịch sử vừa là điều kiện thai nghén những người nghệ sỹ, vừa là nhân tố góp phần hình thành những nguồn cảm hứng trong sáng tác của họ, cho nên ở mỗi thời đại khác nhau các cây bút lại thể hiện những nguồn cảm hứng đặc sắc của thời đại đó

Hữu Thỉnh sinh ra và lớn lên đúng vào lúc những năm tháng cam go nhất của lịch sử dân tộc Năm 1963 nhà thơ vào bộ đội Tăng thiết giáp và làm lính lái xe tăng Một năm sau đó, cuộc chiến tranh vệ quốc bước vào thời kỳ khốc liệt, dữ dội nhất, buộc chúng ta phải phát huy cao độ sức mạnh tinh thần của toàn dân tộc, để tiếp sức cho cuộc chiến đấu

Chính hiện thực đời sống chống Mỹ, với tất cả sự cam go, ác liệt của

nó, đã đặt ra cho văn học nhiệm vụ phải thể hiện một cách chân thực, đúng với tầm vóc lớn lao của nó Đó vừa là yêu cầu của lịch sử, vừa là đòi hỏi của thời đại Hơn bao giờ hết các nhà văn, nhà thơ đã xác định đây là thách thức cao nhất mà mỗi người nghệ sỹ chân chính cần phải vượt qua để làm tròn sứ mệnh cao cả trước nhân dân và Tổ quốc Thời kỳ này thơ được gọi là “binh chủng mũi nhọn” Sự nhanh nhạy và kịp thời của nền thơ ca hiện đại nóng bỏng tính thời sự, hừng hực tinh thần chiến đấu, đã nhanh chóng nhập cuộc

Trang 31

tham gia vào cuộc chiến đấu của toàn dân tộc Suốt một thời gian dài, các thế

hệ nhà thơ đã tiếp bước nhau dàn quân trên mọi mặt trận với cảm hứng chủ đạo là thể hiện khát vọng độc lập, tự do và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam trong thời đại chống Mỹ

Nhìn vào diện mạo chung thì thơ chống Mỹ được hình thành bởi hai thế

hệ cơ bản Thứ nhất là thế hệ nhà thơ xuất thân từ trước Cách mạng Thứ hai

là thế hệ nhà thơ trẻ sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa Hữu Thỉnh thuộc thế hệ thứ hai Là người được lớn lên sau Cách mạng, được trau dồi tri thức văn hóa trong nhà trường của chế độ mới, Hữu Thỉnh đã đi thẳng tới cuộc kháng chiến của dân tộc với ý chí, tinh thần sục sôi nhiệt huyết của tuổi trẻ Chính Hữu Thỉnh đã tự nhận con đường đời thơ của ông thực sự hình thành trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ Đối mặt với gian khổ và

cả sự hy sinh mất mát, khi đó Hữu Thỉnh tự nhận thấy con đường thơ không thể lý tưởng hóa cuộc chiến đấu Vì thế ông không chấp nhận thơ như một thứ dây trang kim, óng ánh nữa:

Thơ không phải thứ dây bìm trang trí Kéo nhòe đi những dễ cây tứa nhựa Bão động rừng sao thơ chỉ rung rinh?

(Đường tới thành phố)

Giai đoạn này, thơ Hữu Thỉnh cũng như nhiều nhà thơ khác, thiên về chất sâu lắng, tỉnh táo hơn là chất thi vị, hồn nhiên như trước đây Trong các sáng tác của mình, Hữu Thỉnh nói nhiều đến người mẹ, người lính Đó là những hình tượng thơ mang ý nghĩa khái quát và xu hướng chung của chặng cuối trong nền thơ trẻ Hơn nữa, vào những năm 1973, thì khuynh hướng muốn phản ánh những mảng hiện thực lớn của chiến tranh để tổng kết chặng đường đấu tranh vẻ vang của dân tộc đã thôi thúc các nhà thơ trẻ chống Mỹ viết thể loại trường ca Hữu Thỉnh đóng góp vào bản hòa ca hào hùng đó

Trang 32

trường ca Đường tới thành phố Sáng tác quan trọng này, khẳng định bản

lĩnh nghệ thuật của ông trên con đường thơ của mình và chính thức đóng đinh cái tên Hữu Thỉnh vào nền thơ ca Việt Nam hiện đại

Những năm tháng sau chiến tranh, cho dù sự ác liệt, dữ dội đã qua đi nhưng cảm hứng sử thi vẫn luôn là nguồn cảm hứng chính đối với Hữu Thỉnh Lúc này ông tiếp tục chặng hành trình mới đến với các tuyến đảo Đông Bắc Sống khá lâu ở Bạch Long Vĩ, rồi lại tham gia trận Biên Giới năm 1979 đã

tạo tiền đề để Hữu Thỉnh cho ra đời tập Trường ca Biển Biển trong thơ Hữu

Thỉnh gắn bó thật nhiều kỉ niệm, ở đó có tình yêu quê hương đất nước, tình anh em ruột thịt và tình yêu:

Đảo vắng cỏ non vẫn biết mùa xuân đến Khi trông bờ ngắm một lá thư thăm Biển xanh quá ước gì anh gói được Nhờ con tàu bè bạn đến tay em

1.3.2 Xúc cảm về Quê hương, Đất nước

Các nhà nghiên lý luận văn học cũng nhận thấy ngoài những ẩn ức tuổi thơ ảnh hưởng đáng kể đến người sáng tác, còn có một nhân tố nữa đó là “tính địa văn hóa” Trong dân gian từ xa xưa tồn tại quan niệm “địa linh nhân kiệt” Quê hương đã trao hồn gửi vía cho các thi nhân để họ tạo nên điệu hồn riêng của mình đây là một phương diện quan trọng, mà chúng ta không thể bỏ qua

Trang 33

Như chúng ta đã thấy mảnh đất Xứ Nghệ vốn nổi tiếng với các câu hát đò đưa, hát ví dặm, hát phường vải, hát ru, đã nuôi dưỡng tâm hồn và tài năng rất nhiều nhà văn, nhà thơ kiệt xuất như: Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu và chủ tịch Hồ Chí Minh sóng biển Quy Nhơn mãnh liệt, nồng nàn góp phần tạo nên một hồn thơ Xuân Diệu “thiết tha, rạo rực, băn khoăn” Huế ngọt ngào, Huế mộng, Huế mơ đem đến cho chúng ta một giọng điệu tâm tình, thương mến qua trang thơ Tố Hữu

Hữu Thỉnh cũng vậy, hình bóng quê hương in đậm trong tâm hồn nhà thơ! Nhà thơ Hữu Thỉnh quê gốc ở làng Phú Vinh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Đây là miền đất trung du lưu giữ và ngưng đọng nền văn hóa lâu đời như: văn hóa xứ Đoài với hát trống quân, hát Soong Cô của người dân tộc Sán Dìu Nơi đây còn là mảnh đất của nhiều lễ hội truyền thống độc đáo, phải nhắc đến lễ hội Chọi Trâu (Hải Lựu), Đúc Bụt (Đồng Tĩnh), Kéo Soong (Hương Canh) và rất nhiều làng nghề thủ công khác Hữu Thỉnh trong bài viết “Nghĩ về những tác phẩm đậm đà bản sắc dân tộc” đã tâm sự: “Quê tôi ở thôn Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Đó là một làng trung du ở dưới chân núi Tam Đảo Làng tôi ngày xưa nghèo lắm, vì miền đất thiếu nước và bạc màu Nơi đây lưu giữ nhiều phong tục cổ, tiếng cổ

và cả những di tích đền chùa Rất nhiều truyền thuyết dân gian sinh ra từ vùng đất cổ này Khi xưa khi chưa có mương tưới nước, người ta đào những cái chuôm để lấy nước mưa Thế mà ngay cả những ao chuôm ấy cũng được thần thánh hóa là bước chân Thánh Gióng Cái giếng giữa làng cũng chất chứa bao huyền thoại Làng tôi dựa lưng vào những đồi trung du lúp xúp kéo dài mãi tới chân núi Tam Đảo Còn phía trước là cánh đồng rộng mênh mông ” [68] Có thể thấy ngay từ nhỏ tâm hồn nhà thơ Hữu Thỉnh đã được nuôi dưỡng bằng những quan niệm đạo đức đậm đà vốn văn hóa dân gian truyền thống Các câu hát xoan, hát ghẹo, mà nhà thơ được nghe từ những người

Trang 34

thợ cấy, thợ cày hát đối nhau, trong các buổi đưa cơm cho mẹ ở ngoài đồng cũng trở thành vốn liếng hết sức quý giá với Hữu Thỉnh Sau này những câu hát dân ca nồng hậu tình người luôn biến hóa, ẩn mình vào những vân thơ bay bổng, sâu xa:

Ai đưa đò tình Dạt vào bến lở Còn lại mình anh Gom từng mảnh vỡ

vỡ chiếc đĩa liền bị thằng Tây bóp cổ đến gần nghẹt thở, có lần bị đánh nhừ tử chỉ vì giặt quần áo mạnh tay quá làm vỡ mất chiếc khuy cúc Có lẽ vậy mà cậu bé Hữu Thỉnh rất sớm nhận ra cảnh mất nước, chiến tranh khổ cực như thế nào, hiểu bằng xương, bằng thịt, bằng máu của bao người thân quê hương Những tháng ngày đó đã tôi luyện nơi Hữu Thỉnh một bản lĩnh, một sức chịu đựng, lòng căm thù giặc sâu sắc của những người con đất Việt khi đất nước có chiến tranh, tạo thành nguồn cảm hứng lớn trong thơ ca của ông, nguồn cảm hứng về quê hương, Tổ quốc, nguồn cảm hứng sử thi lớn lao trong mạch nguồn văn học

1.3.3 Vốn sống chiến trường

Kinh nghiệm sống, những gì mà nhà văn đã nhìn thấy và trải qua, những

sự kiện mà nhà văn đó tham dự, những con người, những số phận mà tâm lý và

Trang 35

hành động khiến cho nhà văn chú ý Tất cả những điều đó đều là cội nguồn cho những dự đồ sáng tạo và cho những khái quát của nhà văn, là cơ sở nảy sinh những tác phẩm nghệ thuật của người nghệ sĩ Với Hữu Thỉnh điều đó hoàn toàn đúng Năm 1963, khi Hữu Thỉnh 21 tuổi đã quyết định vào bộ đội và được học lái xe tăng Cuộc đời người lính tưởng ngắn ngủi, chóng vánh, ai ngờ Hữu Thỉnh đã gắn bó với cuộc đời người lính gần 27 năm Từ người lính, Hữu Thỉnh đã bước vào thi ca bằng sự trong trẻo và tràn đầy nhiệt huyết

Bàn chân người lính, nhà thơ Hữu Thỉnh đã trải qua: Chiến trường đường 9 Nam Lào, Khe Sanh, Quảng Trị, Tây Nguyên, chiến dịch Hồ Chí Minh với tư cách là phóng viên mặt trận Được sống, chiến đấu và cầm bút trong những năm tháng cam go, khốc liệt và bão lửa nhất của cuộc chiến tranh, thơ Hữu Thỉnh đã chạm được vào luồng xiết của dân tộc và số phận dân tộc đã được thể hiện một cách sống động qua hồn thơ nhạy cảm của người lính lái xe tăng này

Có một điều rất hiển nhiên là, cái có ảnh hưởng với sáng tạo nghệ thuật không phải là cái được nhìn thấy một cách đơn thuần, nó là cái được nhận thức một cách tích cực, cái đã trở thành một bộ phận cái tôi tinh thần của người nghệ sĩ hiện thực chiến trường với Hữu Thỉnh không chỉ là chứng kiến tận mắt mà còn là sự trải nghiệm sâu sắc và sống hết mình với cuộc sống

ấy Chính Hữu Thỉnh đã tâm sự, chúng tôi được “quăng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ và sống trong luồng xiết của nó” Theo cách nói của M.B.Khrapchenco, hiện thực chiến trường đã trở thành “một bộ phận của cái tôi”, một phần cuộc đời và thơ ca Hữu Thỉnh Cuộc đời người lính gian nan

và hiện thực cuộc chiến tranh khốc liệt tạo cho tác giả một vốn sống phong phú, sâu sắc Đây là sự tích lũy, là cơ sở cho sự ra đời và thành công của các

tác phẩm Sức bền của đất, Đường tới thành phố, Trường ca Biển và những

bài thơ khác về chiến tranh của Hữu Thỉnh

Trang 36

Sau chiến tranh chống Mỹ, Hữu Thỉnh vẫn tiếp tục chặng hành trình đến với các tuyến đảo Đông Bắc Nhà thơ đã sống khá lâu ở Bạch Long Vĩ,

rồi tham gia trận Biên Giới năm 1979 Đó là vốn sống để ông viết Trường ca Biển Để có trường ca này, để có thể ghi lại cuộc đời phong phú và dữ dội của

người lính trong chiến tranh, Hữu Thỉnh đã vận dụng hết nội lực, tự bồi dắp,

tự trăn trở, tự hoàn thiện khả năng cảm nhận và thể hiện chính mình

Phải chăng cuộc sống chiến trường của người lính, kinh nghiệm từng trải, sự trải nghiệm của người lính, đã tạo nên một trong nguồn cảm hứng sử thi đặc biệt của thơ Hữu Thỉnh Nó tạo nên chiều sâu của thơ ca như lời thổ lộ của Hữu Thỉnh “tôi rất tin thơ là kinh nghiệm sống”

Tiểu kết chương 1

Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Thơ Hữu Thỉnh thể hiện tư tưởng, tình cảm phong cách và tài năng nghệ thuật của nhà thơ Đọc thơ ông ta nhận ra những góc nhìn của thời đại dân tộc- góc nhìn sử thi luôn vận động phát triển không ngừng với những đề tài lớn, tình cảm lớn với quê hương, đất nước, gia đình, người thân; Về những năm tháng chiến tranh gian khổ mà anh dũng của đời lính, về tình yêu và những suy ngẫm, triết luận sâu sắc về cuộc đời Con đường thơ ông vận động và phát triển không ngừng gắn với những biến động to lớn của đất nước Đó là sự vận động phát triển của cái tôi chiến sỹ

- thi sĩ với tình cảm và lý tưởng cao đẹp mang màu sắc sử thi cao cả

Trang 37

Chương 2 CẢM HỨNG SỬ THI VÀ HÌNH TƯỢNG

TRONG THƠ HỮU THỈNH 2.1 Những cảm hứng chủ đạo

Theo “Từ điển thuât ngữ văn học” thì cảm hứng chủ đạo là”trạng thái

tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một

tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [58, 32]

Thuật ngữ cảm hứng chủ đạo lúc đầu chỉ yếu tố nhiệt tình say say sưa diễn thuyết, sau chỉ trạng thái mê đắm khi xuất hiện tứ thơ Về sau nữa lí luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở người nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả Cảm hứng chủ đạo luôn có sự thống nhất giữa đề tài và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm

Đối với với các nghệ sĩ chân chính thì cảm hứng chủ đạo là yếu tố cực kì

quan trọng Nhà văn, nhà lí luận phê bình Biêlinxki xem “cảm hứng chủ đạo

như là điều kiện không thể thiếu đối với sự ra đời của một tác phẩm đích thực” [51,38] Theo ông cảm hứng có tác dụng “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành” [58,32 ] Theo tác giả Nguyễn Bá Thành trong

cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam thì cảm hứng có ảnh hưởng sâu sắc đến

tư duy thơ Tác giả cho rằng: “Tư duy thơ là tư duy sáng tạo trong một trạng

thái đầy cảm hứng Cảm hứng không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy và được kết tinh thành hình tượng”

Tóm lại, cảm hứng chủ đạo là một yếu tố quan trong trong quá trình sáng tác Nó có ý nghĩa khởi xướng, thúc đẩy quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ,

Trang 38

nó biến những suy nghĩ, ý tưởng bên trong của người nghệ sĩ thành tác phẩm

và trở thành yếu tố nội tại của tác phẩm Tìm hiểu tư duy thơ của một nhà thơ không thể không chú ý đến cảm hứng chủ đạo trong những sáng tác của nhà thơ đó

Như vậy, cốt lõi của cảm hứng là tư tưởng, là quan niệm của nhà thơ về thế giới, về cuộc sống xung quanh Tuy nhiên, cảm hứng chủ đạo và tư tưởng của một nghệ sĩ không phải là những khái niệm chung chung, trừu tượng hay những cảm xúc vụn vặt mà hóa thân trong thế giới hình tượng nghệ thuật của nhà thơ Lớn lên trong chiếc nôi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, hiện thực ấy

đã thôi thúc nhà thơ Hữu Thỉnh lấy tâm hồn mình phản ánh lịch sử, nhìn vào tâm hồn mình để viết về cuộc sống con người, viết về quê hương, đất nước trong bão lửa chiến tranh Sau này khi đất nước hòa bình, với phẩm chất của một người lính luôn đi tiên phong trong mọi lĩnh vực, cảm hứng của thơ Hữu Thỉnh vẫn gắn với mọi biến động đổi thay của xã hội Dù đất nước ở thời chiến hay chặng lùi sau, âm hưởng sử thi luôn đậm đà trong thơ Hữu Thỉnh

2.1.1 Cảm hứng về chiến tranh và người lính

Đọc toàn bộ thơ Hữu Thỉnh, ta nhận thấy ông thật sự là một tài năng văn học Tài năng đó là kết quả của một quá trình “ nhập cuộc, dấn thân” ( Từ dùng của tác giả) sâu sắc vào đời sống Những tác phẩm thơ viết về chiến

tranh gồm các tập Tiếng hát trong rừng ( bài viết sớm nhất vào năm 1968, bài muộn nhất vào năm 1982), trường ca Sức bền của đất ( viết xong dịp tết 1975), trường ca Đường tới thành phố ( viết từ tháng 8/1977, hoàn thành

tháng 4/1978) Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng về Đất nước, Nhân dân, về cuộc chiến đấu chống kẻ thù Mỹ Ngụy Một đất nước, nhân dân với khát vọng

tự do, thống nhất, đoàn tụ và chính vì khát vọng cao đẹp ấy mà bất chấp bao

thử thách, hy sinh Tiếng hát trong rừng chủ yếu ghi lại cảm xúc của nhà thơ

khi ở tuyến đường Trường Sơn Những bài thơ ngắn trong tập thơ có ý nghĩa

Trang 39

như sự chuẩn bị, tạo đà cho cảm xúc dài hơi của trường ca Có thể coi Sức

bền của đất là bước trung chuyển từ những bài thơ ngắn sang trường ca dài

hơi và hoành tráng, bao quát một phạm vi đời sống và tâm hồn con người-

Trường ca Đường tới thành phố Trường ca Sức bền của đất có quy mô nhỏ (

( gồm 188 câu thơ) vơi ba ca khúc “ Mẹ chiến hào”, “ Đất đai truyền thuyết”,

“ Những đứa con và những bài hát mới” ghi lại tâm tình của người lính cách mạng đang chốt ở nơi tiền tiêu hàng ngày giáp mặt quân thù anh suy tư về nguồn gốc sức mạnh của bản thân và đồng đội- sức mạnh nhận từ lòng đất

Mẹ, từ đất đai, từ các thế hệ đi trước, từ nếp sống văn hóa dân tộc Đường tới

thành phố là cột mốc đánh dấu sự chín muồi trong ý thức về thể loại, tập

trung đầy đủ, hoàn thiện nhất những đòi hỏi mà thể loại trường ca cần phải

có Đây là trường ca dài nhất của Hữu Thỉnh, gồm 5 chương, dài 1539 câu thơ, là bản tổng kết chiến tranh bằng thơ ca, cho ta hình dung chặng cuối cùng

đi tới đích toàn thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ( Sau hiệp định Pa-ri 1/1973 đến 30/4/1975) Nó là bản “tổng phổ” của biết bao cảnh ngộ, cùng những hy sinh chịu đựng và suy tư trăn trở của nhân dân vĩ đại Tất cả mọi mảng khối của hiện thực rộng lớn đó không tồn tại trong trường ca này một cách rời rạc, chắp vá mà được liên kết gắn bó keo sơn bằng sợi dây cảm xúc và mạch suy nghĩ, liên tưởng của nhà thơ Biểu hiện trên bề mặt là chương này gọi chương kia, khúc này gọi khúc khác Tác giả như một người chỉ huy tài ba điều khiển một giàn nhạc giao hưởng thơ với nhiều giọng, nhiều bè mà vẫn mạch lạc, nhất quán, nhuần nhuyễn

Cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa là hiện thực khốc liệt, vừa là thế giới quan để người nghệ sỹ vận dụng tài năng của mình để tạo nên những tác phẩm có giá trị, phản ánh tầm vóc lớn lao của lịch sử dân tộc Chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ chống chủ nghĩa xã hội và phong trào giải phóng dân tộc

Trang 40

Chúng dùng bom đạn, tiền của hòng tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ… Đất nước ta trở thành nơi diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử to lớn

Với quyết tâm phi thường, cả dân tộc cùng ra trận Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện Người người cùng tham gia kháng chiến, phụ nữ “ba đảm đang”, thanh niên “ba sẵn sàng”, nông dân “tay cày, tay súng”, công nhân “tay búa, tay súng” “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”

Nằm trọn trong 30 năm kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm giành tự do, độc lập, văn học Việt Nam 1945-1975 là nền văn học: “phản ánh kháng chiến và phục vụ kháng chiến” [48,22] Đối tượng của nền văn học này là hiện thực đầy những biến cố trọng đại của hai cuộc chiến tranh vệ quốc oanh liệt và hào hùng Chủ thể của nền văn học ấy là cái ta cộng đồng, dân tộc, giai cấp chứ không phải là cái tôi cá nhân như ở giai đoạn văn học trước 1945

Viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nền văn học và của thi ca Cách mạng Đó không chỉ là đòi hỏi của thời đại mà còn là sự thôi thúc bên trong của chính các nhà thơ

Có thể nói, một trong những cảm hứng nổi bật nhất trong thơ Hữu Thỉnh là cảm hứng về cuộc chiến tranh và người lính cách mạng

Khi cuộc chiến tranh mở rộng khắp các chiến trường từ Bắc tới Nam,

từ vùng núi đến đồng bằng, cũng là lúc Hữu Thỉnh cùng nhiều nhà thơ trẻ khác ba lô nhập cuộc Những vần thơ của anh theo dấu chân người lính trẻ hành quân suốt chiều dài đất nước Cuộc kháng chiến chống Mỹ là một hiện thực hoành tráng khơi dậy ở Hữu Thỉnh những cảm hứng trực tiếp về cuộc chiến tranh gian khổ mà hào hùng, vĩ đại và qua đó phát hiện ra chính bản

Ngày đăng: 06/06/2017, 16:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtote (1964), Nghệ thuật thơ ca, NXB Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtote
Nhà XB: NXB Văn hóa nghệ thuật
Năm: 1964
2. Lại Nguyên Ân (1984), Văn Học và phê bình, Nhà xuất bản Thành phố mới, Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố mới
Năm: 1984
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
4. Bakhtin M. M (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cƣ dịch, Trường Viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin M. M
Năm: 1992
5. Bakhtin M. M (1992), Những vấn đề thi pháp Dostojevski, Trần Đình Sử dịch, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Dostojevski
Tác giả: Bakhtin M. M
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
6. Nguyễn Duy Bắc (1994), Cội nguồn truyền thống văn hóa dân tộc trong hình tƣợng anh hùng của thơ ca Việt Nam (1945 - 1975), Tạp chí Văn học số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn truyền thống văn hóa dân tộc trong hình tƣợng anh hùng của thơ ca Việt Nam (1945 - 1975)
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Năm: 1994
7. C. Mac, Ăng-ghen, V. Lê- nin (1977), Về văn học và nghệ thuật, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn học và nghệ thuật
Tác giả: C. Mac, Ăng-ghen, V. Lê- nin
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1977
8. Anh Chi (21/07/2010), Đường đời - đường thơ Hữu Thỉnh, Tạp chí Hồn Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường đời - đường thơ Hữu Thỉnh
9. Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1984
10. Phạm Tiến Duật (1983), Vầng trăng và vầng lửa, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vầng trăng và vầng lửa
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1983
11. Lê Thị Thanh Đạm (2009), Đặc điểm thẩm mỹ thơ Nguyễn Duy, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm thẩm mỹ thơ Nguyễn Duy
Tác giả: Lê Thị Thanh Đạm
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
12. Trần Đăng (24/4/2006), Hữu Thỉnh thương lượng với thơ, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh thương lượng với thơ
13. Hoàng Điệp (2008), Hữu Thỉnh với thể loại trường ca, Tạp chí văn học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh với thể loại trường ca
Tác giả: Hoàng Điệp
Năm: 2008
14. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
15. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2003
16. Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên (1968), Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại
Tác giả: Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1968
17. Hà Minh Đức (1984), Thơ ca chống Mỹ cứu nước, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1984
18. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
19. Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương (2001), Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
20. Gorki (1970), Bàn về văn học (tập 1), NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học (tập 1)
Tác giả: Gorki
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1970

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w