1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài đô thị trong thơ mới

120 334 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử vấn đề Đề tài đô thị trong sáng tác của các nhà Thơ mới là vấn đề đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên các nhà nghiên cứu này mới chỉ quan tâm đến một vài khía cạnh

Trang 1

-

NGÔ THỊ THANH HƯƠNG

ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG THƠ MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

-

NGÔ THỊ THANH HƯƠNG

ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG THƠ MỚI

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

: TS Lê Trà My

HÀ NỘI, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới sự hướng dẫn của TS Lê Trà My khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn đã chỉ bảo tận tình để có được những kết quả trong luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, các thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ viên chức của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã quan tâm, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban lãnh đạo Sở Giáo dục – Đào tạo Hà Nội, Ban Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên Sóc Sơn, các thầy cô đồng nghiệp và cán bộ giáo viên của Trung tân Giáo dục thường xuyên Sóc Sơn đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập nghiên cứu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Toàn bộ luận văn là chính xác và trung thực

Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2013

NGÔ THỊ THANH HƯƠNG

Trang 5

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU …1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2

3 MỤC ĐÍCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

5 DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP MỚI 6

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 7

PHẦN NỘI DUNG 8

Chương 1: KHÁI NIỆM ĐỀ TÀI - ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG HỆ THỐNG CÁC ĐỀ TÀI THƠ MỚI……… ………8

1.1 Khái niệm đề tài 8

1.2 Đề tài đô thị trong hệ thống các đề tài của Thơ mới 11

1.2.1 Sự mở rộng đề tài của Thơ mới 11

1.2.2 Bối cảnh xã hội và sự suất hiện của đề tài Đô thị trong Thơ mới 25

Chương 2 KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ……….……… 34

2.1 Cảnh quan đô thị - những biểu tượng đô thị 35

2.1.1 Đường phố 35

2.1.2 Nhà ga, bến tàu 38

2.1.3 Quán trọ, căn gác 42

2.2 Đô thị và quan niệm về không gian 46

2.2.1 Không gian phồn hoa đô hội 46

2.2.2 Không gian lưu lạc, tha hương .50

2.2.3 Không gian cạm bẫy 57

Chương 3 CON NGƯỜI ĐÔ THỊ TRONG THƠ MỚI 60

Trang 6

3.1.2 Học sinh, sinh viên .64

3.1.3 Ca nữ, kỹ nữ 71

3.1.4 Thi sĩ phiêu lãng .82

3.2 Cảm thức về kiếp người của con người đô thị 86

3.2.1 Kiếp nghèo 87

3.2.2 Kiếp người vô định, lỡ dở, không tương lai 91

3.2.3 Kiếp người bon chen tha hóa, gỉ mòn 96

3.2.4 Kiếp người cô đơn lạc loài giữa chốn phồn hoa 100

PHẦN KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU KHAM KHẢO 110

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giai đoạn đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam có những chuyển mình dữ dội Từ khi tiếp xúc với phương Tây, xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, tạo ra sự thay đổi tận gốc rễ trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội văn hoá Như một quy luật tất yếu, những thay đổi về kinh tế, chính trị - xã hội dù theo chiều hướng nào đều kéo theo sự thay đổi về văn hoá tư tưởng Nền văn hoá

đó qua sự tiếp thu vừa có tính tích cực vừa có tính tiêu cực, đã nhanh chóng làm rạn nứt, đứt gẫy những nền tảng văn hoá cổ truyền phương Đông

Xã hội Việt Nam xuất hiện một số đô thị, được coi là mảnh đất của văn minh, mảnh đất ấy xuất hiện thêm một số tầng lớp thị dân mới Đô thị trở thành môi trường hấp dẫn, chinh phục những cái tôi vốn khao khát công danh, mong muốn được thể hiện tài năng, khẳng định chính mình Đô thị trở thành một đề tài mới trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong đó có Thơ mới

Có thể nói, không có yếu tố ngoại nhập, không có giao lưu văn hoá sẽ không

có Thơ mới Những tác động đó đã góp phần hình thành nên phong trào Thơ mới Trải qua những bước thăng trầm biến động nhưng sự tồn tại của Thơ mới đã cho thấy sức mạnh của nó với nền văn hoá dân tộc Cho đến nay, có thể khẳng định rằng, Thơ mới là sản phẩm của quá trình đô thị hoá, gắn với ý thức thị dân Nhưng,

từ trước đến nay khi xem xét về phong trào thơ ca này, các nhà nghiên cứu chủ yếu thiên về mảng thơ viết về làng quê, thiên nhiên, tình yêu đôi lứa Quả thật, đó là mảng đề tài lớn trong Thơ mới, nhưng bên cạnh đó Thơ mới còn đề cập đến đề tài

đô thị Qua đề tài đô thị có thể nhận thấy, sự vận động của thơ Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa, sự thay đổi, mở rộng phạm vi của thơ cũng như sự chuyển biến trong tâm thức sáng tạo và điệu hồn của một lớp thi sĩ mới

Chọn đề tài: “Đề tài đô thị trong Thơ mới” chúng tôi mong muốn làm sáng tỏ

hơn phương diện đề tài đô thị trong Thơ mới, từ đó hiểu thêm những đóng góp của các nhà Thơ mới với nền văn học dân tộc

Trang 8

Mặt khác, chương trình giảng dạy ở các cấp trong nhà trường hiện nay, Thơ mới chiếm một vị trí khá quan trọng Tiếp cận vấn đề này, giáo viên và học sinh sẽ nắm được những biểu hiện của cái tôi trữ tình Thơ mới, giúp cho quá trình dạy học

và chiếm lĩnh tác phẩm văn chương diễn ra thuận lợi hơn

2 Lịch sử vấn đề

Đề tài đô thị trong sáng tác của các nhà Thơ mới là vấn đề đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên các nhà nghiên cứu này mới chỉ quan tâm đến một vài khía cạnh về đô thị của một tác giả cụ thể nào đó mà chưa có công trình nghiên cứu nào về đề tài đô thị trong Thơ mới một cách có hệ thống Qua khảo sát của người viết, đề tài đô thị trong Thơ mới được quan tâm ở một số phương diện sau:

Vũ Đình Liên, Đỗ Đức Hiểu, Lê Trí Viễn (Lược thảo lịch sử văn học Việt

Nam) [1957] cho rằng: Đô thị trong cảm thức của Thế Lữ là “một xã hội đầy ghanh

tị, gian trá, chuộng cái áo khoác bên ngoài, lấy cái nhân tạo thay thế thiên tạo một cách sống sượng, tâm hồn bị đầy đoạ, thể xác trĩu nặng đang giãy giũa, lồng thét như cố vẫy vùng khỏi ngục tù vật chất để hoà hợp với thiên nhiên” Như vậy, cùng chung cảm nhận với các nhà nghiên cứu trong “Việt Nam thi nhân tiền chiến”, tác

giả bài viết này cũng nhận ra mặt trái của chốn thị thành trên mỗi trang thơ

Đỗ Lai Thuý trong Mắt thơ (2000) nghiên cứu khá tỉ mỉ về vấn đề cảm quan

đô thị nhận thấy: “sự nội tâm hoá, đặc điểm của con người cá nhân đô thị, bắt đầu xuất hiện khi nó chuyển từ trạng thái không nơi trú ẩn trong không gian địa lý, không gian xã hội (cô độc) sang tình trạng không gian trú ẩn trong không gian tinh thần (cô đơn)” Đánh giá vấn đề một cách toàn diện sâu sắc, tác giả bài viết rất tinh

tế khi nhận ra tính hai mặt của đô thị trong cảm quan của cái tôi Thế Lữ: “Tuy mới tiếp xúc với thành phố và thành phố Việt Nam cũng chưa phải là những thành phố công nghiệp hoàn chỉnh, nhưng Thế Lữ, với trực giác của một nhà thơ đã nắm bắt ngay được tính nước đôi của thành phố ( ) Một mặt, “dân chủ đường phố” giải phóng con người khỏi ràng buộc những cộng đồng cổ truyền, tạo điều kiện hình thành cá nhân, cá thể, mặt khác, thành phố vô danh hoá con người, xoá nhoà cá

Trang 9

tính bởi những thoáng chốc và bèo bọt của nó”[70.99] Ở một vài khía cạnh khác,

Đỗ Lai Thúy đã đề cập đến cuộc sống đô thị bắt đầu thâm nhập vào nếp cảm, nếp

nghĩ, lối sống và đi vào thơ của các nhà Thơ mới Ông khẳng định: Chính sự tiếp sức với văn hóa phương Tây đã bắt đầu hình thành ở Việt Nam một nền văn hóa đô thị, bên cạnh nền văn hóa nông thô cổ truyền Thơ mới là tiếng nói của tầng lớp tri thức đô thị mới xuất hiện [70;122] Song, với công trình nghiên cứu này, nhà phê

bình Đỗ Lai Thúy đã quan tâm xem xét một số biểu tượng nghệ thuật mang đặc trưng riêng của mỗi nhà thơ Chủ đích của cuốn sách là làm nổi bật phong cách của

một số nhà thơ chứ không phải đề cập đến đề tài đô thị trong thơ

Trong Thơ mới những bước thăng trầm (1989), Lê Đình Kỵ đã dựng lại quá

trình sinh thành, phát triển và “những bước thăng trầm” đồng thời cũng chỉ ra những đóng góp của Thơ mới đối với thơ ca dân tộc Song, công trình này cũng chưa nói đến đề tài đô thị trong phong trào Thơ mới

Trong cuốn Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào

Thơ mới) (1993) do Hà Huy Cận và Hà Minh Đức chủ biên, đã có một số bài viết

đã động đến ít nhiều văn hóa đô thị hay tính chất đô thị trong Thơ mới Trong bài

“Cái mới của Thơ mới từ xung khắc đến hòa giải với truyền thống”, Trần Đình Hượu đã phân tích sự đổi thay về đời sống xã hội kéo theo sự thay đổi trong tâm lý,

văn hóa của con người Ông nhận định: Đến khi khắp thành phố đã phát triển, các tầng lớp thị dân bộc lộ rõ cách sống khác biệt và nhất là khi những học sinh, sinh viên Tây học đã đông đảo và với sự hiểu biết đáng kể về văn hóa châu Âu thì chính

họ mới nói lên sự khác biệt về tâm hồn và cách biểu đạt về tâm hồn [6;59] Trong

bài viết vừa nêu, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đã nhắc đến mối xung đột giữa nông thôn với đô thị, sự ra đời và chiếm lĩnh đời sống của tầng lớp thị dân, nhưng

đó mới chỉ là những nhận định để làm sáng tỏ mối quan hệ từ xung khắc đến hòa giải giữa thơ cũ và Thơ mới, mà chưa đi sâu làm rõ đề tài đô thị trong phong trào thơ ca này

Trong Đường về chân quê (1995), Đỗ Lai Thuý nhận thấy cuộc sống đô thị

trong thơ Nguyễn Bính là chốn “phồn hoa lạnh lùng, đầy lo âu và bất trắc”

Nguyễn Bính cảm nhận thấy mình không hoà nhập nổi, càng làm đậm thêm nỗi

Trang 10

“sầu đô thị” của thi nhân Trên cơ sở đó, tác giả đã khẳng định: “khuôn mặt thị thành hiện lên trong thơ Nguyễn Bính mang tính chất lưỡng giá ( ) Cuộc sống thị dân hiện đại tuy lạ lẫm với người nhà quê ít nhiều được giáo dục như Nguyễn Bính, nhưng ánh sáng và cả bóng tối nữa, không phải là không hấp dẫn hồn thơ trẻ Tuy nhiên, Nguyễn Bính không phải là người đáo bỉ ngạn Ông chỉ là kẻ quá giang, người lái đò qua lại giữa hai bờ nông thôn và thành thị, Đông và Tây trên khúc sông buổi giao thời Thơ Nguyễn Bính là con sóng vỗ về cả hai phía Tiếng dội của

nó vọng từ bờ nọ sang bờ kia, tạo nên âm hưởng kỳ lạ da diết ”[70;46]

Giáo sư Hà Minh Đức trong bài viết Nguyễn Bính, thi sĩ của đồng quê (1995)

chủ yếu nhắc đến môi trường đô thị trên bước đường phiêu bạt giang hồ để thấy

“Nguyễn Bính theo tiếng gọi cuộc đời mà ra đi đến chốn gọi kinh kỳ lạ nhưng vẫn mang theo hình ảnh của quê hương” Trong bài viết của mình, giáo sư Hà Minh

Đức nhận thấy, khác những trang thơ viết về nông thôn, Nguyễn Bính ít phát hiện

ra cái đẹp của môi trường thành thị, những kỷ niệm về chốn phồn hoa thường là những kỷ niệm buồn

Tác giả Lê Bảo khi nói đến Nỗi lận đận, đau đời trong thơ Nguyễn Bính (Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Vũ Đình Liên - Nhà văn và tác phẩm) (1995) cũng ít

nhiều đề cập đến thành thị và nỗi niềm tha hương của nhà thơ Lê Bảo cho rằng,

“cả cuộc đời yêu đương của Ngyễn Bính chỉ là sự “lỡ bước sang ngang”, bởi cái “tạng chân quê” của Nguyễn Bính không thể ăn nhập được với “dáng thị thành”[5;15]

Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng trong Việt Nam thi nhân tiền chiến

(1996) đã chỉ ra mặt trái của đời sống đô thị trong cảm quan của cái tôi của Thế Lữ Theo nhà nghiên cứu, mảnh đất để nhà thơ này thi thố và thể hiện tài năng Thế

nhưng, vừa chân ướt chân ráo đến kinh thành, Thế Lữ đã ngày càng va chạm phải thực tế chua chát, những ganh đua, giành giật bỉ ổi theo vật chât Tác giả cho rằng,

cái xã hội nhân tạo này không phải là bến đỗ cho những tâm hồn yêu chuộng thiên nhiên như nhà thơ Bởi thế, nhà thơ đã: bị vật chất phù hoa quyến rũ phải li dị với nàng thơ rồi bị tình phụ và bao trò dối trá, gian ngoan đầy rẫy trong xã hội đã đúc kết nên giọng oán hờn trong thơ Thế Lữ

Trang 11

Trong Tiểu luận Về phong trào Thơ mới, in lại trong Một thời đại trong thi ca

(2002) của Hà Minh Đức đã có chỗ nhận định: Thơ mới nằm trong tư tưởng của hệ giai cấp tư sản, nhưng thực chất là sự biểu hiện trực tiếp tư tưởng và tình cảm của các tầng lớp tiểu tư sản thành thị [8;14] Song, tiểu luận đã bỏ lửng vấn đề này mà chỉ đi sâu

nghiên cứu những đóng góp của Thơ mới ở nhiều mảng: Tình yêu quê hương đất nước,

tình yêu thiên nhiên, giá trị nhân bản và thơ tình trong Thơ mới

Nếu Đỗ Lai Thuý, Hà Minh Đức, Lê Bảo tìm hiểu những vần thơ viết về đô

thị để thấy cái cô đơn, lạc lõng của thi nhân thì Chu Văn Sơn trong Ba đỉnh cao

Thơ mới (2003) cũng nhắc đến một bi kịch lỡ dở của Nguyễn Bính là rời quê lên

chốn thị thành Từ đó tác giả khẳng định “cái tôi ” Nguyễn Bính là “cái tôi lỡ dở” của thời đại ấy, cái tôi “từ bỏ quê để luôn khác khoải nhớ quê, tìm vào đô thị để chán chường đô thị, tìm kiếm công danh chỉ gặp dở dang, theo đuổi tình duyên chỉ gặp lỡ làng ( ) Nguyễn Bính là con đẻ của cuộc hôn nhân đầy lỡ dở giữa nền văn minh đô thị hiện đại với văn minh thôn dã cổ truyền”[55;26]

Qua một số bài viết của các nhà nghiên cứu ta thấy, ít nhiều các tác giả đã đề cập đến vài khía cạnh nhỏ của đề tài về đô thị qua sáng tác của các nhà Thơ mới Hình tượng đô thị trong sáng tác của các nhà thi sĩ thường mang ra đối sánh với nông thôn với ý nghĩa: một bên là chốn phồn hoa đô hội đầy cạm bẫy, một bên là

nơi “gìn vàng giữ ngọc” cho vẻ đẹp chất phác hiền lành Các tác giả khi khai thác,

phân tích Thơ mới đều thống nhất khẳng định mặt trái của đô thị trong cảm xúc của mỗi thi sĩ

Như vậy, trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi đã chọn lọc một số chuyên luận, bài viết có liên quan đến đề tài đô thị trong sáng tác của các nhà Thơ mới Đây chưa phải là tất cả, song thiết nghĩ những chuyên luận, bài viết này quả thực có giá trị, là những gợi ý quý báu, làm cơ sở để chúng tôi tiếp tục làm sáng tỏ đề tài đô thị trong sáng tác của các nhà Thơ mới

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu tỉ mỉ, toàn diện, có hệ thống về đề tài này

Trang 12

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là chỉ ra những phương diện, khía cạnh của

đề tài đô thị trong Thơ mới, trong đó tập trung đi sâu vào không gian đô thị và con người đô thị, hai yếu tố cơ bản nhất làm nên bức tranh đô thi trong Thơ mới

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: các tác phẩm của phong trào Thơ mới

có đề cập tới đề tài đô thị Tác phẩm khảo sát chủ yếu nằm trong các cuốn: Thơ

mới 32 – 45 tác giả và tác phẩm

Trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi có đối sánh với một số hiện tượng Thơ khác xuất hiện trước Thơ mới (tạm gọi là thơ cũ) để làm rõ vấn đề nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu, căn cứ vào nội dung, yêu cầu của đề tài chúng tôi đã

sử dụng các phương pháp sau:

4 1 Phương pháp hệ thống: Xem xét những sáng tác của những nhà Thơ

mới trong hệ thống các đề tài Đặc biệt chú ý đến đề tài Đô thị trong các sáng tác của các tác giả giai đoạn này Trong quá trình nghiên cứu luận văn phương pháp hệ thống giúp làm sáng tỏ đề tài Đô thị so với hệ thống đề tài trong Thơ mới

4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Giúp tìm hiểu đối tượng ở mọi khía

cạnh của mọi vấn đề

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh với hệ thống đề tài của Văn

học Trung đại, thấy được điểm đóng góp mới về đề tài của Thơ mới

4.4 Phương pháp tiếp cận thi pháp: Làm sáng tỏ phương diện không gian

con người và cảm thức trước đời sống

5 Dự kiến đóng góp mới

Luận văn là một công trình nghiên cứu có hệ thống về Đề tài đô thị trong

Thơ mới Từ đó lý giải được sâu hơn từ ngọn nguồn văn hoá những cảm xúc, tâm

trạng của một lớp người cũng như cái riêng của mỗi cá nhân thi sĩ trong phong trào Thơ mới

Trang 13

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái niệm đề tài - đề tài đô thị trong hệ thống đề tài Thơ mới Chương 2: Không gian đô thị trong Thơ mới

Chương 3: Con người đô thị đô thị trong Thơ mới

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI NIỆM ĐỀ TÀI – ĐỀ TÀI ĐÔ THỊ TRONG HỆ THỐNG CÁC

ĐỀ TÀI THƠ MỚI

1.1 Khái niệm đề tài

Mọi sáng tác Văn học đều bắt nguồn từ sự lựa chọn phạm vi hiện thực của nhà văn, đề tài là thuật ngữ gắn liền với nội dung tác phẩm, là một vấn đề có ý nghĩa nền móng để làm nên tác phẩm văn học Khái niệm đề tài được đề cập đến

trong nhiều sách lí luận văn học Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán,

Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) thì: “Đề tài là khái niệm chỉ các loại hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học

Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [31;110] Cũng theo cuốn từ điển này thì, “Cần phân biệt đề tài với tư cách là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm với đối tượng nhận thức, chất liệu đời sống hay nguyên mẫu thực tế của sáng tác văn học Lẫn lộn hai mặt này sẽ dẫn tới tình trạng biến việc phân tích đối tượng được miêu tả, đối tượng nhận thức miêu tả của sáng tác văn học là cái còn nằm ngoài tác phẩm, đối diện với tác phẩm Đề tài của tác phẩm là một phương diện trong nội dung của nó, là đối tượng đã được nhận thức, lựa chọn gắn liền với dụng ý, thế giới quan, lập trường, tư tưởng, quan điểm thẩm mĩ của

nhà văn” [31; 111,112] Cuốn sách Lí luận văn học (Nxb Giáo dục, 2004) do tác

giả Phương Lựu chủ biên đã đưa ra khái niệm: “Đề tài là khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học(…) tác phẩm văn học bao giờ cũng xuyên qua một phạm vi miêu tả trực tiếp trong tác phẩm để khái quát lên một phạm vi hiện thực đời sống nhất định, có ý nghĩa sâu rộng hơn” [53;259]

Cùng với khái niệm trên, sách Lí luận văn học (Tập 2, Nxb Đại học sư phạm, 2008) do

tác giả Trần Đình Sử chủ biên cũng cho rằng: “Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện tượng đời sống được miêu tả Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài” [63;194] Dòng văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945, sở

Trang 15

dĩ đạt được nhiều thành tựu suất sắc bởi sự đóng góp quan trọng của các nhà văn trong quá trình khám phá đề tài, chẳng hạn: thành công của Ngô Tất Tố trong tiểu

thuyết Tắt đèn, là nhà văn đã dựng lên được bức tranh hiện thực về nông thôn Việt

Nam trong nạn sưu thuế trước cách mạng Ấn tượng của Nam Cao đối với bạn đọc

trước cách mạng tháng Tám là hình ảnh người tri thức trong các tác phẩm: Sống

mòn, Giăng sáng, Đời thừa, … Ở Thơ mới cũng vậy, sở dĩ phong trào Thơ mới

được đánh giá là “một thời đại phong phú” “chưa bao giờ có!” Hoài Thanh đã nhận xét về phong trào Thơ mới “trăm hoa đua nở ” của vườn thơ khi đó “chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ mở rộng như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” Có thể nói, phạm vi hiện

thực mà người nghệ sỹ tâm huyết nhất trong sáng tác của mình đó là những yếu tố

mở đường cho thành công sáng tạo Không lựa chọn được phạm vi hiện thực, người nghệ sỹ không thể thực hiện được thành công quá trình sáng tạo

Đề tài làm cho hiện tượng đời sống trong tác phẩm không còn giữ nguyên trạng ban đầu như hiện thực khách quan đang tồn tại nữa mà trở thành tượng trưng,

kí hiệu, trở thành hình tượng; là cuộc sống hiện hình trong nghệ thuật Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào chúng ta cũng thấy những cảnh, những người, câu chuyện cụ thể, sinh động được miêu tả trực tiếp trong tác phẩm Tính chất phạm vi miêu tả trực tiếp trong các tác phẩm có thể hết sức phong phú đa dạng; chuyện con người, con thú, cây cỏ, chim muông, đồ vật, thần tiên ma quái, chuyện quá khứ và tương lai… Nhưng, mục đích của văn học không bao giờ chỉ là giới thiệu hiện tượng cụ thể, cá biệt của đời sống hay của tưởng tượng mà gợi ra những giá trị thẩm mĩ, tư tưởng của con người bằng hình tượng Từ những truyện thần thoại xa xưa như thần thoại Hy Lạp, Ấn Độ, truyền thuyết về họ Hồng Bàng,

về Hùng Vương đến những chuyện cổ tích những tác phẩm truyền kỳ, những tiểu thuyết thời Trung đại cho đến các tác phẩm Cận đại, Hiện đại, tác phẩm bao giờ

cũng “xuyên qua một phạm vi miêu tả trực tiếp các hiện tượng đời sống trong tác phẩm để khái quát lên một phạm vi hiện thực nhất định, có ý nghĩa khái quát sâu

Trang 16

rộng hơn” Với phong trào Thơ mới, đóng góp nổi bật của các nhà thơ là những

trang viết về làng quê của các tác giả tiêu biểu như Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính Ta bắt gặp trong thơ họ thế giới nhân vật phong phú và đa dạng, đó

là những người dân quê giản dị hồn nhiên, những người hàng xóm, những người

mẹ người chị, người lái đò, cô hái mơ…Bên cạnh việc vẽ lên bức tranh cuộc sống nơi làng quê ta còn thấy những trang viết về đời sống đô thị đang phát triển mạnh theo hướng “Âu hóa” Ở đây, độc giả thấy hiện lên cuộc sống của những người thi

sỹ, phiêu lãng, lạc lõng chốn kinh thành, là những công chức, học sinh, sinh viên mang khát vọng công danh, còn là cuộc sống của những ca nữ, kĩ nữ, vũ nữ thị dân mang trong mình biết bao tâm sự., những mảnh đời ngang trái, những số phận trớ trêu Không chỉ có người đô thị mà ta còn thấy không gian đô thị hiện lên ngột ngạt, là sự bon chen, ồn ào, xô bồ nhưng cũng đầy thê lương, hiu hắt, đìu hiu

Từ thực tiễn văn học, các nhà nghiên cứu đã cho hay: “Nếu chưa nhận ra đề tài thì chưa bước và tiếp nhận hình tượng” [53;259] Từ hiện tượng nghệ thuật sinh

động nhận ra loại con người và hình thái cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm không phải là đơn giản, song có thể nhận ra được nó ta mới có thể tiếp nhận được hình tượng

Phạm vi đề tài được xác định rộng hẹp khác nhau ở biên độ của nó Đó có thể

là một “giới hạn bề ngoài” hoặc “phương diện bên trong của đề tài” Các hiện

tượng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại theo mối liên hệ bề ngoài hoặc theo mối quan hệ bên trong giữa chúng

Theo giới hạn bề ngoài của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm

có thể xác định các đề tài văn học như: Đề tài thiên nhiên (Tràng Giang của Huy Cận); đề tài loài vật (Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài); đề tài cải cách rộng đất (Mười năm của Tô Hoài); đề tài sản xuất (Cái sân gạch của Đào Vũ); đề tài chiến đấu (Xung kích của Nguyễn Đình Thi); đề tài kháng chiến chống Mĩ (Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu); đề tài bộ đội Trường Sơn (Trường Sơn đông, Trường Sơn tây của Phạm Tiến Duật)… Ở đây, các phạm trù xã hội, lịch sử giữ vai trò quan trọng, vì thế người ta có thể xác định các đề tài như: Đề tài nông thôn ,

Trang 17

thành thị, công dân, nông dân, bộ đội, tiểu tư sản, trí thức, lịch sử, cuộc sống hiện đại nông thôn trong thơ Nguyễn Bính

Cũng có thể xác định, đề tài văn học theo giới hạn bên trong của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm Đó là cuộc sống nào, con người nào được miêu

tả trong tác phẩm Nhiều khi đề tài gắn liền với một hiện tượng xã hội, lịch sử xuất hiện và trở thành phổ biến trong đời sống tinh thần của một thời hay một giới nào

đó ví dụ như: Đề tài người chinh phụ (Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn; Đoàn Thị Điểm), người cung nữ (Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều), đề tài con người tài hoa (Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân), đề tài những con người trung nghĩa… Ở giới hạn bên trong của đề tài, bản chất xã hội của cuộc sống, của tính cách và số phận con người giữ vai trò quan trọng Không có phạm vi hiện thực dài rộng khác nhau đó không thể có những kết quả sáng tác phong phú và đa dạng trong các tác phẩm của người nghệ sỹ Song, phạm vi hiện thực còn quan hệ mật thiết với thời gian và không gian trong tác phẩm Đi sâu vào phạm vi hiện thực trong sáng tác của nhà Thơ mới, ta thấy các nhà thơ thường có sự phối hợp linh hoạt cả thế giới bên trong và thế giới bên ngoài của đề tài để sáng tạo lên thế giới nghệ thuật Vậy nên, đề tài là phạm vi hiện thực được người nghệ sỹ phản ánh trong tác phẩm, là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm, thể hiện thế giới quan của nhà văn, là đối tượng đã được nhận thức, kết quả của sự lựa chọn và tư duy của nhà văn Đó là sự khái quát phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống được phản ánh trong tác phẩm, phản ánh tài năng, vốn sống, tâm huyết của người cầm bút trong cuộc đời nghệ thuật

1.2 Đề tài đô thị trong hệ thống các đề tài của Thơ mới

1.2.1 Sự mở rộng đề tài của Thơ mới

Khi xác định đề tài ta cũng có thể xác định, đề tài văn học theo giới hạn bên trong của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm Đó là cuộc sống nào, con người nào được miêu tả trong tác phẩm Nhiều khi đề tài gắn liền với một hiện tượng xã hội, lịch sử xuất hiện và trở thành phổ biến trong đời sống tinh thần của một thời hay một giới nào đó ví dụ như: Đề tài người chinh phụ (Chinh phụ ngâm

Trang 18

của Đặng Trần Côn; Đoàn Thị Điểm), người cung nữ (Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều), đề tài con người tài hoa (Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân),

đề tài những con người trung nghĩa… Ở giới hạn bên trong của đề tài, bản chất xã hội của cuộc sống, của tính cách và số phận con người giữ vai trò quan trọng Không có phạm vi hiện thực dài rộng khác nhau đó không thể có những kết quả sáng tác phong phú và đa dạng trong các tác phẩm của người nghệ sỹ Song, phạm

vi hiện thực còn quan hệ mật thiết với thời gian và không gian trong tác phẩm Đi sâu vào phạm vi hiện thực trong sáng tác của nhà Thơ mới, ta thấy các nhà thơ thời

kỳ này đã có sự mở rộng đề tài so với hệ thống đề tài của thơ ca Trung đại

Đối sánh với thơ ca Trung đại ta thấy, phát triển và tồn tại trong suốt X thế kỷ , thơ ca phản ánh một hệ thống đề tài phong phú, đa dạng Thơ ca trung đại là một bộ phận nằm trong hệ thống của Văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX Đây cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ của thơ ca Người ta chia thơ Trung đại thành hai mảng đề tài lớn là mảng đề tài viết về thiên nhiên và đề tài viết về con người

Đề tài được nói đến nhiều nhất trong thơ ca Trung đại là đề tài viết về thiên nhiên, mảng đề tài này chiếm dung lượng đáng kể trong thơ thời kỳ này Ta nhận thấy, thiên nhiên trong thơ Trung đại rất phong phú, đa dạng có khi là thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng Một dòng sông Bạch Đằng:

Sóc phong xuy hải khí lăng lăng;

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc;

Qua trầm kích chiết ngạn tầng tầng

(Biển rung gió bấc thế bừng bừng Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng Kình ngạc băm vằm non mấy khúc Giáo gươm chìm gãy bao tầng)

(Bạch Đằng hải khẩu - Nguyễn Trãi)

Cũng có khi thiên nhiên là bức tranh xinh xắn, bức tranh lụa mượt mà, những bức kí họa thiên nhiên, mộc mạc trong thơ Bà huyện Thanh Quan:

Trang 19

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

(Qua Đèo Ngang - Bà huyện Thanh Quan)

Làm nên vẻ đẹp riêng của thơ ca Trung đại làm mảng đề tài viết về thiên nhiên bình dị, đa dạng, phong phú Điều đáng nói là thiên nhiên được vào trong thơ không chỉ là đối tượng phản ánh mà còn là đối tượng thẩm mỹ Nhà thơ phát hiện

ra vẻ đẹp “chất thơ” trong cảnh vật:

Một cày một cuốc thú nhà quê

Áng cúc lan chen vãi đậu kê

Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng

Chè tiên nước ghín nguyệt đeo về

(Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi)

Như vậy, đề tài về thiên nhiên của một số nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bình Khiêm, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến… chúng ta có thể thấy, thiên nhiên trở thành một đề tài lớn góp phần tạo nên đặc sắc của thơ ca Trung đại

Bên cạnh đề tài viết về thiên nhiên, đề tài viết về con người cũng chiếm một phần không nhỏ Con người trong văn học Trung đại không phải là con người cá nhân, mà con người ở đây là con người mang tính chất lý tưởng, biểu trưng cho lý tưởng thời đại Có thể nói, con người được phản ánh trong thơ ca Trung đại là hình ảnh những con người mang lý tưởng “ái ưu”, là lý thưởng “trung hiếu” và đặc biệt

là phẩm chất kẻ sỹ, quân tử, là chí làm trai…

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu

(Tỏ lòng - Phạm Ngũ Lão)

Là nỗi niềm da diết dày vò trong thơ Ức Trai:

Quân thân chưa báo lòng canh cánh

Tình phụ cơm trời, áo cha

(Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi)

Trang 20

Ở đây, lý tưởng trở thành nỗi trăn trở, dày vò, thôi thúc, lý tưởng được khái quát thành tâm trạng Thơ ca Trung đại phản ánh được nỗi niềm tâm trạng ấy một

cách phong phú, đa dạng: “Bui một tấm lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng” trong thơ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Ái ưu vằng vặc trăng

in nước” Đó là tấm lòng trọn đời cho dân tộc, đất nước

Trong đề tài về con người không chỉ phản ánh lý tưởng của con người “trung quân”, “ái quốc” mà còn phản ánh phẩm chất của con người quân tử Văn học cổ Trung Quốc và Việt Nam lấy những hình ảnh của tùng, cúc, trúc, mai, chim phượng hoàng…làm biểu tượng để nói về phẩm chất của người quân tử có chí hướng cao cả, cốt cách thanh cao, qua việc khẳng định những đặc tính tốt đẹp của cây trúc:

Lòng không chẳng vả phô niềm tục

Khi cứng hằng thìn một tiết thanh

Khan chi thế gọi là quân tử

Sương tuyết nào hề bén mình

(Hồng Đức quốc âm thi tập – Lê Thánh Tông)

Hay, trong bài “Tùng” của Nguyễn Trãi cũng nhấn mạnh tất cả những phẩm chất quý báu để nhằm một mục đích cao đẹp: “Dành còn để trợ dân này” Phẩm

chất của người quân tử phải gồm đủ cả hai phương diện, nhân cách và tài năng, trong đó nhân cách được đặt lên hàng đầu Trong xã hội phong kiến là người tốt, người có ích trước hết phải sống trong sạch, thanh cao, không bị cám dỗ bởi danh lợi, tiền bạc Và, điều quan tâm lớn nhất là lo tu dưỡng nhân cách chứ chưa phải là

rèn luyện tài năng Giỏi đến như Trạng Trình mà khi viết trong thơ vẫn cứ “học ít hòa đức lại thêm bất tài”

Bên cạch những tác giả luôn ý thức được về phẩm chất thì có không ít nhà thơ

cũng ý thức được về tài năng của mình Nữ sĩ Xuân Hương viết: Khéo khéo đi đâu

lũ ngẩn ngơ/Lại đây cho chị dạy làm thơ (Mắng học trò dốt) Khi thì nữ sĩ khẳng định:

Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hừng há bấy nhiêu

(Đề đền Sầm Nghi Đống - Hồ Xuân Hương)

Trang 21

Nguyễn Khuyến, Tú Xương cũng là nhà thơ ý thức sâu sắc về tài năng Cụ Tam nguyên Yên Đổ tài cao, học rộng đỗ đầu cả thi thương thi Hội, thi Đình, có đủ tư cách để khẳng định tài năng của bản thân một cách đầy tự tin:

Ông trời có lẽ cho ta nhỉ

Có ý sinh ta phải có ta

(Về nghỉ ở nhà - Nguyễn Khuyến)

Đến như Tú Xương bao lần “Học đã sôi kinh nhưng chửa chín” vẫn “tự đắc”

rất hào phóng khi nói về tài của mình:

Kìa thơ tri kỉ đàn anh nhất

c

:

Trang 22

Trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm người đọc cũng thấy hiện lên bóng dáng của cuộc sống kim tiền chi phối mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người.Ở đó đã manh nha đề tài về cuộc sống đô thị.Đến

, ta v

:

hàng Song,,

, n

,

,

…– xã hộ thị dân trước sự đô thị hóa của lối sống du nhập

từ phương Tây:

Trang 23

Nói về đề tài thiên nhiên trong Thơ mới, là mảng đề tài đầy hấp dẫn đối với các nhà Thơ mới Vì thiên nhiên phóng khoáng, thi vị vừa là nơi dịu tâm hồn lãng mạn, mệt mỏi với nhịp điệu ồn ào của thị thành nên khao khát một khoảng trời rộng rãi và cái yên tĩnh vĩnh hằng, vừa vì thiên nhiên cũng là nơi mang đậm màu sắc, hương vị của quê hương đất nước, thường mang mác cái gì như là linh hồn của dân tộc, nên có sức cuốn hút sâu sa đối với cái tô Thơ mới Các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn mặc Tử và nhiều nhà thơ khác… đều có những bài, thuộc số hay nhất của mỗi người, dành viết về thiên nhiên Việt Nam

Trang 24

Miêu tả thiên nhiên, ca ngợi núi sông hùng vĩ, thể hiện các đề tài “phong, hoa, tuyết, nguyệt” là di sản của thơ phương Đông Còn hình ảnh thiên nhiên trong Thơ Mới đã góp phần tạo nên một thời đại trong thi ca Bởi lòng yêu đời, ham sống, yêu người cá nhân – tập thể phổ vào trong đó Tìm hiểu vẻ đẹp thiên nhiên trong Thơ mới là tìm hiểu vẻ đẹp có tính thời đại có một không hai này

Trước hết phải nói rằng viết về thiên nhiên, các nhà Thơ mới đã gửi vào đó cái tôi cá nhân mang nỗi buồn của thế hệ sống dưới thời thuộc Pháp Bất mãn với xã hội , các nhà Thơ mới đến với thiên nhiên và họ tìm thấy ở đó người bạn tâm tình đáng tin cậy Với Huy Cận, cảnh sông nước chiều tà gợi sự cô đơn, trống vắng trước thiên nhiên, con người trong thơ ông luôn cảm thấy lẻ loi:

Sóng gợn trang giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả,

Củi một cành khô lạc mấy dòng

(Tràng giang)

Xuân Diệu cũng buồn, có khi còn đượm màu tử khí, tang thương:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

(Đây mùa thu tới)

Tuy nhiên, khi viết về thiên nhiên, cố nhân thường chú ý ở một số đề tài: tùng, trúc, cúc, mai Thơ mới không tập trung vào miêu tả thiên nhiên theo mộ số

đề tài nhất định, tuy thế, không phải là không có đề tài chung Hầu như các thi sĩ lãng mạn đều có thơ viết về trăng Trăng vẫn là người bạn thanh cao, gần gũi, dễ sẻ chia tâm sự, trăng còn là khách thể chứng kiến bao tình cảm của thi nhân Trăng trong Thơ mới là một thế giới nghệ thuật huyền diệu, tinh tế và đa dạng đến lạ Tản Đà đến với trăng để thoát tục, chạy trốn cuộc đời mà ông thấy chán ngán:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi Trần thế em nay chán nửa rồi Cung quế đã ai ngồi đấy chửa Cành đa xin chị nhắc lên chơi

(Muốn làm thằng Cuội)

Trang 25

Tiếp nối Tản Đà, Hàn Mặc Tử lại cháy bỏng với Những mối tình khuấy mãi không thành khối, cảm xúc ấy ông không chỉ dành cho tình yêu mà ông còn dành cho cả tạo vật, thiên nhiên:

Trăng nằm sõng xoài trên cành liễu Đợi gió đông về để lẻ loi

(Bẽn lẽn)

Tiếng thu đã nhiều lần rạo rực, băn khoăn, mơ màng trong thơ Lưu Trọng Lư:

E không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức

….Em không nghe mùa thu

Lá thu rơi xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng rơi

(Tiếng thu)

Song song với việc mở rộng thế giới nội tâm của con người, thế giới tự nhiên trong Thơ mới cũng được mở rộng Đó là nét đẹp mới của thiên nhiên lãng mạn Lớp thi sĩ Tây học đến với thiên nhiên để hưởng thụ, chiêm ngưỡng, để thoát ra khỏi nỗi đau đời mà họ đang phải chịu đựng Vì vậy mà thiên nhiên đẹp, thơ mộng

và lung linh, huyền ảo:

Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng

… Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu Mây hồn dừng lại sau đèo

Mình cây nắng nhuộm bóng chiều không đi

(Tiếng sáo thiên thai – Thế Lữ)

Các nhà Thơ mới, khi viết về thiên nhiên không chỉ tìm tòi, sáng tạo những

cái mới mà họ còn quay về với thiên nhiên truyền thống Qua hình ảnh thiên nhiên, các thi nhân ca ngợi vẻ đẹp của giang sơn Tổ quốc, nói được nỗi đau con người thiếu quê hương ngay trên mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình

Vẻ đẹp thiên nhiên trong Thơ mới không dừng lại ở cảnh đẹp , những sắc

Trang 26

màu dân tộc Nói đến Thơ mới là nói đến dự cách tân thơ Chính sự tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới đã đem lại cho thiên nhiên Thơ mới vẻ đẹp đặc sắc chưa từng

có ở cổ nhân “Tràng giang” sử dụng khá nhiều thi liệu thơ xưa, cảnh “nước trời một sắc” trong “Tràng giang” tiếp nối sông nước Đường thi, Tống phú, dựa vào những thi liệu cũ Huy Cận đã tạo nên một tứ Thơ mới:

Lòng quê dờn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

(Tràng giang)

Thiên nhiên trong thơ xưa thường là tín hiệu thẩm mĩ báo mùa (Sen tàn cúc lại nở hoa) phổ quát hơn, thiên nhiên trở thành một thứ ngôn ngữ nghệ thuật để nhà thơ phô diễn nội tâm Vẻ đẹp thiên nhiên trong Thơ mới hiện diện với mọi dáng hình mà thơ trung đại chưa hề biết đến Gương mặt của 1 khách thể (phân biệt với chủ thể) Nếu không nhìn thiên nhiên như một sinh thể có hồn, tồn tại độc lập,

Xuân Diệu không thể nhìn thấy: Không gian như có dây tơ/Bước đi sẽ đứt động

hờ sẽ tiêu

Sự khác nhau giữa thiên nhiên trong thơ trung đại là sự khác nhau giữa 2 nguyên tắc thẩm mĩ – Thơ mới lấy vẻ đẹp con người làm chuẩn mực để thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên; còn cổ thi thì ngực lại

Thật không ngờ sự bừng tỉnh của cái tôi cá nhân , sự ý thức sâu sắc vẻ khách thể đã đem đến cho thiên nhiên những cẻ đẹp tân kì đến vậy Nhớ lại thời xa xưa, khi con người chưa ý thức đầy đủ về bản thân mình, còn đồng nhất mình với thiên nhiên, coi con người chỉ là một mảnh vỡ của tự nhiên, người yêu thơ sẽ càng trân trọng vẻ đẹp đáng yêu, đáng nhớ của các vần thơ thiên nhiên trong phong trào Thơ

mới Vẻ đẹp ấy đã bao lần “sử nhân sầu” khiến cho thi nhân đi từ ngỡ ngàng này

đến ngỡ ngàng khác

Nếu Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư phân biệt được những âm sắc riêng của bản nhạc đệm thiên nhiên, thì tính khách thể của thiên nhiên trong thơ Chế Lan Viên vẫn thể hiện ở vẻ đẹp tự thân, không phụ thuộc vào tâm trạng con người Nắng mai tươi vui, xuân về rộn rã, nhưng lòng người vẫn tối tăm, day dứt:

Trang 27

Xuân về trong nắng sớm

Mà lòng ta nóng, lạnh giá băng thôi

Những dẫn chứng trên cho thấy thiên nhiên Thơ mới đã đổi khác, thiên nhiên

và con người không còn là một thể cộng sinh, nó đã được ý thức như một khách thể Cố nhân chưa phân biệt được chủ thể và khách thể, vì thế họ không vẽ cảnh

thiên nhiên mà chỉ vẽ lòng mình (người buồn cảnh có vui đâu bao giờ) Họ thiếu

khả năng định giá tinh tế về đối tượng Vì thế thiên nhiên trong thơ cổ có tính chất tĩnh vật và dáng vẻ ngàn năm không thay đổi Thiên nhiên trong Thơ mới đã có vẻ

đẹp khác Với tinh thần thức nhọn giác quan , thi nhân có cơ hội quan sát, ngắm

nhìn, đánh giá thiên nhiên và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó Thơ mới đem lại cho

thiên nhiên cách miêu tả mới: tả chân sự vật bằng trực cảm, bằng hợp giác giác

quan thứ sáu của các nhà thơ, thiên nhiên cũng được sống lên từ cõi ấy Hoài Thanh

và một số thi nhân khác đã khẳng định lối tả chân chưa hề có trong thơ cổ điển Thơ mới thường nhân vật hóa thiên nhiên, đem đến cho nó những tâm tư, tình cảm rất người Thiên nhiên được các thi nhân nhìn nhận và miêu tả từ nhiều phía, phía nào cũng táo bạo

Viết về thiên nhiên, các thi nhân thường thể hiện quan hệ giữa chủ thể sáng tạo với cảnh vật Quan hệ ấy thật phong phú đa dạng, nó có thể là quan hệ tương đồng – đối lập Vẻ đẹp thiên nhiên trong Thơ mới thường gắn liền với tình yêu

và thú đau thương Con mắt tình yêu đã giúp cho thiên nhiên được lạ hóa trở thành

một thế giới khách thể Khi con người đã nhận rõ mình, có ý thức về bản thể thì đồng thời cũng có cái nhìn mới về thiên nhiên và các đối tượng thẩm mĩ khác nữa Thiên nhiên Thơ mới không thiếu vẻ đẹp huyền thoại lấp lánh giá trị nhân văn, nhân loại cao cả Nó không chỉ là bức tranh xuân, thu khi đất nước chuyển mùa mà còn được nâng niu, trân trọng như là vẻ dẹp của di sản tinh thần do cha ông truyền lại cho con cháu Vẻ đẹp thiên nhiên trong Thơ mới là vẻ đẹp của tâm hồn thi nhân, tâm hồn Việt Mỗi bức tranh thiên nhiên đẹp trong Thơ mới là một chứng tích của lòng yêu nước thầm kín và mãnh liệt của các thi nhân

Thiên nhiên trongThơ mớilà một thế giới có không gian, thời gian, cấu trúc riêng Đó là một biểu hiện sinh động và đầy hấp dẫn của một cái tôi trữ tình mới

Trang 28

chưa từng có trong văn chương trung đại Đó là vẻ đẹp không chỉ vang bóng một thời mà còn tồn tại mãi mãi trong thế giới văn chương, trong tâm linh con người cũng như trong lòng thời gian không ngừng xoay chuyển

Thiên nhiên trong Thơ mới là vậy, còn hình ảnh của con người trong Thơ mới thì sao? Chúng ta thấy con người Việt Nam vốn là những con người bình dị, đôn hậu, dịu dàng rất đáng trọng Các nhà thơ của phong trào Thơ mới hầu hết đều miêu tả con người với những phẩm chất đó Nếu như thơ ca cổ lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp, thì các nhà Thơ mới lại lấy chuẩn mực từ con người Con người trong Thơ mới hiện ra rất rõ nét, chân thật, không bị che lấp bởi cảnh vật thiên nhiên như thơ xưa

Sự ra đời của một lớp nhà Thơ mới và ảnh hưởng của làn gió phương Tây đặt ra nhu cầu bức thiết phải thay đổi thơ ca, thay đổi phương tiện trực tiếp biểu hiện tư tưởng tình cảm trong thơ Thi sĩ hồ hởi đón nhận làn gió mới ấy như một

sự tự giải thoát Lần đàu tiên, ý thức cá nhân, những quan điểm, khuynh hướng thẩm mỹ, xúc cảm cá nhân đi vào thơ ca với tư cách là nhân tố trung tâm Nghệ sĩ mạnh dạn bày tỏ hình ảnh của chính mình, khẳng định vai trò cá nhân của con người coi những vấn đề của cá nhân là một trong những đề tài, đối tượng thẩm mỹ của quá trình sáng tạo thơ ca Cái tôi mà họ trình ra lúc này là cái tôi đầy bản thể, cái tôi tự tin vào mình, cái tôi đại diện cho tiếng lòng của con người, thể hiện cá tính sáng tạo của nhà thơ với tư cách nghệ sĩ Thơ mới là tiếng lòng của một tâm hồn rộng mở với thế giới, một tâm hồn được cởi bỏ mọi ràng buộc, do đó yếu tố chi phối sự vận động của thơ là mạch cảm xúc, là đời sống nội tâm của nhân vật trữ tình

Xuất phát từ những nguyên nhân có tính lịch sử, văn hóa và xã hội (một thời đại đau khổ của dân tộc, một giai đoạn tan vỡ của các hệ giá trị, một thế hệ thanh niên đang tìm kiếm lý tưởng Bi kịch “thiếu một niềm tin đầy đủ” mà nỗi buồn trở thành tâm trạng phổ biến bao trùm lên toàn bộ Thơ mới Do đó, con người được nói đến trong Thơ mới là con người mang nỗi buồn sầu cổ Sắc thái của nỗi buồn cũng được biểu hiện đa dang phong phú, có khi buồn cái vô cớ, dịu nhẹ như trong

thơ Xuân Diêu: Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều/Lòng không sao cả hiu hiu khẽ

buồn (Chiều); có cái buồn thê thiết, ảo não, cái buồn trở thành một nỗi ám ảnh,

Trang 29

thấm đẫm trong thế giới quan, một thứ “sầu vạn kỷ” thuộc về bản chất của thân

phận con người, Huy Cận cảm nhận cái buồn: Sóng gợn tràng giang buồn điệp

điệp (Tràng giang); có cái buồn tuyệt vọng như trong thơ Hàn Mặc Tử, và cũng có

khi cái buồn của con người nhuốm màu bi quan, bế tác, ra rời, suy sụp, nhuốm màu sắc sa đọa như trong thơ của Vũ Hoàng Chương:

Chưa cuối xứ mê ly, chưa cùng trời phóng đãng Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men

Say đi em, say đi em Say cho lả lơi ánh đèn Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt…

(Quên)

Bên cạnh nỗi buồn, con người còn cảm thấy cô độc, lạc loài, bé nhỏ, bất bằng lòng, thậm chí đến mức đối lập ngay ngắt giữa con người với thế giới hiện tại Trong Thơ mới, hiện thực hiện lên trong mắt họ là sự tầm thường, giả dối, là đau

khổ: Trời hỡi trời, hôm nay ta chán hết/Những sắc màu hình ảnh của trần gian

(Chế Lan Viên), hay Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu/Tới hay lui cũng từng

ấy mặt người (Huy Cân)…, chính vì vậy, cảm giác cô đơn trở thành cảm giác ám ảnh trong Thơ mới

Tuy nhiên, thế giới con người của Thơ mới không chỉ có những con người buồn sầu, cô độc, lẻ loi, chán trường mà con người trong Thơ mới còn mang đầy khát

phúc hiện tại:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn:

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều;

Và non nước, và cây và cỏ rạng…

(Vội vàng – Xuân Diệu)

Trang 30

Con người ở đây là chủ thể của thiên nhiên, bộc lộ khát khao mãnh liệt, rất bỏng muốn ôm trùm sự sống Qua đoạn thơ, chúng ta thấy hiện lên hình ảnh nhà thơ rạo rực, hăm hở trong sự khát thèm vô tận trước cuộc sống căng tràn, muốn hưởng thụ bằng tất cả các giác quan của mình để thoả lòng mong ước Hay trong một bài thơ khác, con người tựa như lại dừng ở góc độ chiêm nghiệm:

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói, Tựa của nhìn xa nghĩ ngợi gì

(Đây mùa thu tới)

Con người trong thơ Xuân Diệu thể hiện rất rõ sự thay đổi quan điểm thẩm

mĩ của nhà thơ, ông đã đưa con người vào bức tranh thiên nhiên để tôn thêm vẻ đẹp của quê hương đất nước Còn trong thơ Hàn Mặc Tử, con người Việt Nam được hiện ra qua vẻ đẹp của cô gái xứ Huế thanh thoát, dịu dàng, mà cũng đầy mơ mộng:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

(Đây thôn Vĩ Dạ)

Người Việt Nam là vậy, e ấp, kín đáo, dịu dàng hầu như đã trở thành bản chất, không phơi bày ra bên ngoài một cách lộ liễu Chính vì thế cho đến khi miêu tả con người, các nhà thơ thường khai thác vẻ đẹp ở góc độ tâm hồn Và những sáng tác viết về đề tài đó đã trở thành tiêu biểu trong phong trào Thơ mới này Chúng ta càng cảm phục biết bao tấm lòng của nhà thơ đã cho chúng ta một cái nhìn mới về quê hương và con người đất Việt

Như vây, hệ thống đề tài của Thơ mới cũng phong phú và đa dạng Do đặc điểm của tình hình xã hội lúc bấy giờ, văn học nói chung, thơ ca nói riêng đã xuất hiện nhiều khuynh hướng, phản ánh được nhiều mặt của đời sống xã hội Mảng đề tài viết về con người rộng rãi hơn, bởi các thi sĩ Thơ mới có cái nhìn nhiều chiều hơn về cuộc sống Đó là cái tĩnh lặng của cuộc sống nông thôn, là sự ồn ào, náo nhiệt, hối hả của cuộc sống thị thành… Tất cả đều được các thi sĩ Thơ mới đưa vào thơ, và trở thành các mảng đề tài quen thuộc trong Thơ mới

Trang 31

Qua khảo sát đề tài của thơ ca Trung đại, ta thấy bao trùm là hai mảng đề tài lớn là thiên nhiên và con người Song, người ta thấy, thơ ca cuối thế kỷ XIX đã manh nha có sự xuất hiện của đô thị Và, đô thị cũng chưa thực sự trở thành một đề tài, song đây chính là tiền đề cho sự xuất hiện đề tài đô thị trong Thơ mới

1.2.2 Bối cảnh xã hội và sự xuất hiện của đề tài đô thị trong Thơ mới

Bất kì một trào lưu văn học nào ra đời cũng dựa trên cở sở xã hội, lịch sử của

nó, Thơ mới cũng không phải trường hợp ngoại lệ Thơ mới là một hiện tượng văn học có tính lịch sử, là một phong trào, một cuộc vận động đổi mới về văn chương

có phần lí thuyết và thực hành, có người khởi xướng về quan niệm và sáng tác thực hành về quan điểm đó Việc xuất hiện các đô thị lớn, nếp sống đô thị đã trở thành phạm vi hiện thực phản ánh các đề tài về đô thị

Đô thị (thành thị, thành phố) là trung tâm kinh tế chính tri, kinh tế, khoa học, văn hóa của mỗi quốc gia, vùng miền, thường là khu vực hành chính tập trung các

cơ sở hạ tầng, kinh tế văn hóa, sản xuất, buôn bán, dịch vụ…của đông đảo cư dân, nơi gần gũi với các trục đường giao thông, các đại lộ Trong xã hội Việt Nam, các

đô thị đã được thành lập từ xưa, chủ yếu do nhu cầu lập Kinh đô hay buôn bán…dần dần hình thành đô thị do nhà nước quản lý với các chức năng gốc là hành chính, kinh tế trong đó chức năng hành chính là cơ bản Tuy nhiên, về cơ bản bộ mặt xã hội Việt Nam cho đến hết thế kỷ XVII vẫn là một xã hội nông thôn làng xã trong đó kinh tế nông nghiệp kết hợp với nền thủ công, gia đình buôn bán nhỏ Đến thế kỷ XVII – XVIII, khoảng thời Lê, Trịnh một loạt các nhân tố đã tác động vào đời sống kinh tế đô thị Nền kinh tế hàng hóa được đẩy mạnh qua các làng nghề thủ công nghiệp và mạng lưới chợ phố hình thành Đặc biệt việc mở rộng tiếp xúc và trao đổi giao lưu buôn bán vơi phương Tây đã kích thích tạo nên sự phồn vinh của một loạt các đô thị ở đàng Ngoài như Thăng Long, Kẻ Chợ , Phố Hiến, Vị Hoàng, Phú Xuân…Hội An ở Đàng trong

Thời cận đại, các đô thị tiêu biểu là Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Nam Định, Hải Phòng, Đà Nẵng…cũng được phát triển và nhắc nhiều đến trong văn học

Trang 32

Thời hiện đại, bên cạnh các thành phố tiếp tục phát triển và mở rộng như Hà Nội, Huế, Sài Gòn thì một loạt các đô thị đóng vai trò là các thàh phố loại 2, 3 và các xã, thị trấn, thị tứ dần hình thành và phát triển trên khắp đất nước

Trong nghiên cứu về xã hội Việt Nam trước đây, đời sống đô thị cũng đã được đề cập tới Song, các đô thị truyền thống Việt Nam là sự kết hợp hài hòa của hai bộ phận có liên quan hữu cơ với nhau: Phần “đô”- chính trị quan lại bên trên và phần “thị”, kinh tế dân gian bên dưới Theo Trần Đình Hượu thì văn hóa Việt Nam

là văn hóa nông nghiệp định cư không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị, với mô hình xã hội “ nước là một thực thể siêu làng” Đây là một đặc trưng cơ bản của diện mạo văn hóa cổ truyền Việt Nam, đô thị không phải

là trung tâm kinh tế chính trị, văn hóa như đô thị hiện đại Đô thị cổ truyền chỉ là trung tâm chính trị, đời sống vật chất của người Việt Nam chủ yếu dựa vào tự cung,

tự cấp sản phẩm nông nghiệp trồng trọt chứ ít thông thương buôn bán Đô thị trong

xã hội cổ truyền chỉ tồn tại trong phạm vi nhỏ, hẹp, yếu ớt và luôn “bị nông thôn bao vây và xâm thực” Chính vì vậy, trong văn học Trung đại khi nhắc đến cuộc sống đô thị thường chỉ thấy thấp thoáng những hình ảnh như kinh đô, kinh kỳ:

Lí Trần thiên tử phồn hoa địa

Lưu tại hồ đầu nhất dạng thu

(Vũ Tông Phan) Hay, đó là sự phảng phất bóng dáng của kinh thành một thời xưa cũ:

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

(Thăng Long thành hoài cổ - Bà huyện Thanh Quan)

Đô thị trong văn học xưa hiện lên chủ yếu với những hình ảnh kinh đô như Thăng Long, Tràng An, những khu phố gắn với làng nghề truyền thống:

Chiều chiều ra đứng cổng chùa Trông lên Hà Nội thấy vua đúc tiền Hoặc:

Phồn hoa thứ nhất Long thành Phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ

Trang 33

Cũng có khi cuộc sống phồn hoa đô thị xuất hiện qua cuộc sống ở những đô

thị nhỏ như Phố Hiến nhưng không kém phần tấp nập “Đồn rằng Phố Hiến vui hơn kinh kì” Ngay trong tiềm thức dân gian cũng ấn chứa niềm tự hào được là người

của “chốn kinh kì”:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An Song, chung cực lại đô thị dù sớm xuất hiện trong xã hội Việt Nam nhưng tính chất và quy mô nhỏ, lẻ lại bị lấn át bởi cuộc sống nông thôn làng, xã nên đề tài đô thị trong văn học xưa nếu có xuất hiện cũng chỉ thấp thoáng Nhưng đến đầu thế kỷ

XX, khi xã hội đã có những biến động dữ dội đủ sức làm nên một cuộc thay đổi lớn trong kết cấu hạ tầng xã hội và trong đời sống tinh thần của con người thì cuộc sống đô thị đã hình thành và phát triển với quy mô lớn chi phối đời sống về nhiều lĩnh vực, đặc biệt là với những nhà thơ, những người có điều kiện để tiếp thu nhanh nhất hệ tư tưởng và lối sống đô thị hiện đại du nhập từ phương Tây

Thơ mới ra đời khi xã hội Việt Nam đã có những bước chuyển mình quan trọng Bước vào thập niên 30, công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp được mở ra với quy mô rộng lớn hơn, chúng bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa

về kinh tế và chính trị Xã hội Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc, bên cạnh các giai cấp cũ, các giai cấp tầng lớp mới ra đời, tầng lớp tiểu tư sản, tư sản thành thị phát triển đông đảo cả về số lượng và chất lượng Cùng với sự mở rộng quy mô của bộ máy thực dân, một thế hệ thanh niên tri thức đào tạo từ nhà trường Pháp - Việt được trang bị vốn Pháp ngữ khá dồi dào, họ am hiểu văn hóa phương Tây, đặc biệt

là văn chương lãng mạn Pháp Họ bừng tỉnh ý thức cá nhân, yêu cầu giải phóng cá nhân và phát triển cá nhân khỏi khuôn khổ ý thức, lễ giáo phong kiến Nếu văn chương lãng mạn Pháp giúp họ phát hiện cái tôi cá nhân chủ nghĩa với ý nghĩa tuyệt đối thì trong hoàn cảnh văn hóa xã hội Việt Nam những năm đầu 30, văn chương lãng mạn đã giúp họ thể hiện nó

Năm 1930, Đảng Cộng Sản Đông Dương ra đời lãnh đạo nhân dân đấu tranh, đánh dấu một sự phát triển mới của phong trào yêu nước, yêu cầu giải phóng dân tộc được đặt ra cấp bách Nó đánh thức ý thức quốc gia, ý thức dân tộc trong mỗi

Trang 34

người dân Việt Nam Cũng đầu những năm 30, cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp diễn ra với quy mô dã man chưa từng thấy, thêm vào đó, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống kinh tế xã hội các nước tư bản Là thuộc địa của thực dân Pháp, Việt Nam cũng chịu chung số phận cay đắng

đó Chính điều ấy đã tạo ra sự hoang mang, thất vọng, lạc hướng trong mọi tầng lớp thanh niên Họ muốn thoát li thực tế đen tối, xa lánh đời sống chính trị mà họ cảm thấy “ồn ào mà vô hiệu” bằng cách tìm đến con đường văn chương lãng mạn, với

mục đích như Lưu Trọng Lư viết trong Người Sơn Nhân: “Người thanh niên Việt

Nam ngày nay chỉ ao ước có một điều mà tha thiết hơn trăm nghìn điều khác là được một nhà thi nhân hiểu mình và an ủi mình, một bậc thiên tài lỗi lạc đi vào tâm hồn của mình đến những chỗ cùng sâu, mà vạch những cái tín nhiệm rồi đưa phổ vào những âm điệu du dương để được nhẹ nhàng thư thả…” [51;38] Và Thơ mới

ra đời đã đáp ứng yêu cầu cấp bách, khẩn thiết của tầng lớp thanh niên tri thức Không chỉ là hệ quả của sự thay đổi trong đời sống văn hóa xã hội, các sự kiện lịch sử, sự xuất hiện của Thơ mới cùng với những quan niệm thơ ca của nó còn là kết quả tất yếu của sự xung đột giữa hai luồng tư tưởng mới - cũ

Cùng với chính sách khai thác thuộc địa không ngừng được đẩy mạnh của thực dân Pháp, sự ra đời của một bộ phận tầng lớp mới kéo theo những thay đổi xáo trộn trong đời sống tư tưởng ảnh hưởng từ phương Tây, những hệ giá trị tư tưởng bền vững cuối thế kỷ XIX đã trở thành đối tượng mỉa mai cay đắng trong

thơ Nếp sống Tây hóa “ở nhà Tây, đội mũ Tây, đi giày Tây” thịnh hành trong các

đô thị Những đổi thay trong ý nghĩ và cảm xúc ảnh hưởng từ văn học phương Tây, đặc biệt là văn học lãng mạn Pháp tràn tới, đã dần đem đến cho thanh niên tri thức tiểu tư sản thành thị những năm 30 của thế kỷ này những tình cảm mới, những rung động mới Họ yêu đương mơ mộng, vui buồn khác các nhà thơ xưa Trong văn học giới tri thức trẻ nhanh chóng tiếp thu văn hóa Pháp và nhận ra vần luật, niêm luật của Nho gia trở nên quá gò bó trong việc thể hiện tiếng thơ của lòng mình Họ mong muốn có một tiếng Thơ mới ra đời, đáp ứng được đòi hỏi thể hiện nỗi khát khao của lòng mình Tiếng thơ ấy phải dễ hiểu, dễ cảm, dễ đi vào lòng người mà không chịu sự câu thúc của những quy định chặt chẽ của Đường thi Từ khát khao

Trang 35

ấy người nghệ sỹ ấp ủ trong mình một tư tưởng mới; một quan niệm mới về thơ ca

Có thể nói, những đổi mới trong sinh hoạt tư tưởng và tiếp xúc với văn học lãng mạn Pháp đã đem đến cho người thanh niên tiểu tư sản thành thị những tình cảm mới, những rung động mới Có thể nói, sự xuất hiện các đô thị lớn, sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đã làm xuất hiện đề tài đô thị trong Thơ mới

Trong văn học từ cổ chí kim, phương Đông đến phương Tây các nhà văn lấy một số hình ảnh để phản ảnh cuộc sống của con người Trong thơ trữ tình dân gian Nga ta thấy một số hình ảnh có tính tượng trưng Chẳng hạn, hình ảnh chim ưng tượng trưng cho sức mạnh và lòng dũng cảm, chim họa mi tượng trưng cho hạnh phúc, tình yêu, niềm vui Trong thơ cổ Trung Quốc cánh chim là tượng trưng về cái

vô tận, cành liễu là tượng trưng của người thiếu nữ với vẻ đẹp mềm mại, yếu đuối, cánh chim đại bàng tượng trưng cho chí lớn, sự trung hoành của đấng nam nhi, hay mây trắng giữa bầu không tượng trưng mang ý vị triết học về thần thái và dáng dấp của một tâm hồn phiêu diêu, nhàn tản, đi một mình bên trên cuộc đời

Với người Việt Nam, ngay từ xa xưa, trong văn học dân gian người lao động bình dân đã tìm đến những hình ảnh, hình tượng để kí thác nỗi niềm Chẳng hạn hình ảnh chiếc khăn chiếc áo trong ca dao là tượng trưng cho tình cảm kín đáo của con người ảo, là vật gần gũi với con người, là phương tiện để thể hiện tình yêu, tình cảm Hay hình ảnh con cò cái bống cũng mang trong mình những ý nghĩa sâu sắc

về cuộc sống, nó là hình ảnh của chính những người nông dân cần cù tần tảo lam lũ với ruộng đồng…Đến văn học Trung đại nhất là sự chi phối của khuôn khổ thi luật, các nhà thơ tìm đến một số hình ảnh để kí thác nỗi lòng Vì thế, rải rác trong văn học thời kì này ta thấy những hình ảnh cây tùng, trúc, mai là khí tiết của người quân tử, hay hình ảnh tráng sỹ mài gươm dưới bóng nguyệt với hàm nghĩa ngậm ngùi, xót xa khi chí lớn không thành Cũng có khi là hình ảnh của những con cuốc cuốc và tiếng kêu khắc khoải, da diết để tượng trưng cho những ám ảnh về nỗi đau mất nước của các Nho gia…

Kế thừa và tiếp nối truyền thống văn thơ Trung đại, các nhà Thơ mới đã xây dựng một hệ thống hình tượng phong phú, đa dạng giàu màu vẻ mang đậm tính cá nhân Đặc biệt những nhà Thơ mới xây dựng những hình tượng mới gắn với nhịp

Trang 36

sống đô thị, với nhịp sống ồn ào, tấp nập, hối hả hay ảo não thê lương…của cuộc sống mới nơi đây

Như đã trình bày ở trên, để thể hiện đề tài một cách phong phú, sinh động và

đa dạng, người nghệ sỹ đã xây dựng hệ thống các hình tượng Các nhà Thơ mới cũng vậy họ xây dựng được những hình tượng trở đi, trở lại trong sáng tác của mình để người đọc tiếp nhận nó Muốn tiếp nhận được thế giới tinh thần của nhà văn, thời đại và đi đến chiều sâu tư tưởng thì buộc phải giải mã những thông tin mà nhà văn đã nén đọng trong hình tượng Vì thế ở đây diễn ra một cuộc giao tiếp giữa tác giả và bạn đọc, thậm chí giữa các thế hệ bạn đọc trong hành trình giải mã hình tượng Dù nó diễn ra theo hướng nào thì hình tượng cũng đóng vai trò trung tâm và quan trọng Nó tạo ra sự lưu thông sâu sắc với môi trường xã hội, nó kéo con người lại gần nhau hơn Chẳng hạn hình ảnh chiếc áo trong ca dao người Việt đã trở thành một hình tượng ứ tràn ý nghĩa xung quanh hạt nhân cốt lõi là mẫu gốc của con người Nó là ranh giới mong manh để đi đến khám phá vẻ đẹp trần thế và đức hạnh của con người, nó biểu hiện sự khao khát gần gũi qua các sắc độ tình cảm như nhớ nhung, buồn bã hờn giận, trách móc, đợi chờ, khắc khoải mong ngóng Nó cũng được hiểu là một vật làm tin để người ta trao gửi ước hẹn Chiếc áo trong ca dao còn có khả năng hé lộ về người mặc áo, về giai cấp, vẻ đẹp nữ tính, khả năng khép mình, giữ gìn cũng như khả năng chịu đựng cam chịu lam lũ làm tròn bổn phận Đến Thơ mới các nhà thơ cũng tạo dựng được hình tượng không gian đô thị Có thể nói, dấu ấn cuộc sống đô thị thể hiện trước qua không gian Bởi lẽ, mỗi người nghệ

sỹ khi muốn tạo dựng nên một thế giới nghệ thuật đặc sắc thì điều quan tâm trước hết là phải xây dựng được một không gian nghệ thuật giàu ý nghĩa nhằm bộc lộ tốt nhất dụng ý nghệ thuât

Đời sống đô thị giải phóng con người trước hết ở không gian Nếu con người làng xã xưa bị cột chặt vào mảnh đất mà họ sinh sống đến mức không ít người cả đời không ra khỏi lũy tre làng, và khi nói đến không gian người ta thường nói đến cây đa, bến nước, con đò như những hằng số về làng quê bình yên muôn thủa Nếu trong văn học Trung đại, ta thường thấy xuất hiện không gian vũ trụ rộng lớn gắn với màu sắc tôn giáo triết học và linh thiêng thì nay ở Thơ mới trong cái

Trang 37

nhìn đô thị, không gian đã vỡ vụn ra thành những mảnh nhỏ đó là những con đường những khúc sông, những quán trọ, những hộp đêm, những kỉ niệm gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của tầng lớp thị dân vói những cái tôi cá thể Không gian đô thị này thể hiện với hàng loạt hình tượng như thành phố, ánh đèn, đường phố, nhà ga, bến tàu, công viên… đã trở thành đề tài xuất hiện dày đặc trong các thi phẩm Thơ mới Vì vậy, có thể nhận thấy trong sáng tác của các thi nhân đề tài đô thị hiện lên

rõ ràng, đậm nét trên từng trang viết

Văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 -

1945 đã mau lẹ hoàn tất quá trình hiện đại hóa từ quan điểm nghệ thật đến vấn đề cách tân thể loại Sự ra đời của Thơ mới đã đem đến cho văn học thời kì này diện mạo của một nền văn học mới Một trong những thành tựu đặc sắc của thơ ca thời

kì này là sự phong phú về đề tài Đây là giai đoạn các nhà thơ đã tiến hành công

cuộc cách mạng đề tài Trong đó, đô thị là mảng hiện thực luôn đem đến nhiều cảm

hứng cho các nhà văn và để lại nhiều tác phẩm có giá trị Trong số các nhà Thơ mới, có thể nói đến Thế Lữ là người có nhiều gắn bó với chốn thị thành Theo cách

nói của Đỗ Lai Thúy thì Thế Lữ là con đẻ của đường phố, thơ ông là tiếng nói của

đô thị [70;38] Ông đã từng hăm hở ra đi mang theo một hoài bão, một niềm tin

mãnh liệt vào tương lai:

Bỗng một hôm từ phương ngoài xa cách Cơn gió phồn hoa thổi qua đời tịch mịch

Đem tới cho lòng ham muốn tung hoành Giữa vinh hoa lồng lộng của văn minh

(Trả lời – Thế Lữ)

Không chỉ Thế Lữ mà ngay cả Nguyễn Bính, người thôn dân được coi là thi sỹ của hồn quê đất Việt cũng không cưỡng nổi sức hút của đô thành Trong cuộc đời phong trần của mình ông đã không ít lần từ biệt chốn bờ lau gốc chuối để dấn bước vào chốn phồn hoa:

Bỏ vườn cam, bỏ mái gianh Tôi đi dan díu với kinh thành

(Hoa với rượu – Nguyễn Bính)

Trang 38

Sức hấp dẫn của chốn phồn hoa là một ma lực khó cưỡng Có lúc, nó đủ sức

để đánh bật những ràng buộc, níu giữ của truyền thống xưa đã ăn sâu vào tiềm thức của một con người được coi là “con nhà nho cũ gắn với thôn quê” như Nguyễn

Bính Một thôn dân đặc sệt như ông lúc trước đây đã từng: ngày thì theo đòi búi tó

củ hành như cậu mình – một nho sỹ thôn Vân, Đêm thì đắm chìm trong những hội chèo thôn Đoài, làng Đặng [59;136] Vậy mà không ít lần dấn bước vào phồn

hoa đô hội

Phồn hoa rộn rã áo xiêm, Muôn bao hình ảnh có tìm như không

(Mười hai bến nước – Nguyễn Bính)

Cùng viết về đề tài thành thị, bên cạnh những đặc điểm chung, mỗi nhà thơ lại tạo nên một bức tranh về đô thị theo cảm nhận riêng của mình Trong đó có bức tranh đô thị rực rỡ ánh đèn, là tiếng gọi của công danh, vinh hoa, nhưng cũng là nơi bon chen lừa lọc, sự tha hóa, ngột ngạt, nỗi “ sầu đô thị” Không chỉ có bức tranh

về không gian đô thị mà còn hiện lên con người đô thị là những công chức, học sinh, sinh viên, những con người mang khát vọng công danh, là những thi sỹ phiêu lãng, lạc lõng chốn kinh thành mà hiện lên đậm đặc là người ca nữ, kĩ nữ, vũ nữ, thị dân với mỗi số phận nghiệt ngã, với nỗi cô đơn và khát khao tự do Hà Minh Đức

trong bài viết Nguyễn Bính thi sỹ của đồng quê đã đề cập đến môi trường đô thị

trên bước đường lưu lạc giang hồ của thi sỹ chân quê này Ông cho rằng, trên bước đường phiêu bạt giang hồ Nguyễn Bính đã theo tiếng gọi của cuộc đời mà đi đến chốn kinh kì xa lạ nhưng vẫn mang theo hình ảnh quê hương [26;38] Trong tương

quan so sánh, tác giả nhận thấy, Nguyễn Bính ít phát hiện ra cái đẹp của môi trường thành thị mà chủ yếu tìm thấy vẻ đẹp trong các tác phẩm viết về thôn quê Với ông, những kỉ niệm về chốn phồn hoa thường là những kỉ niệm buồn Tâm hồn Nguyễn Bính dường như “không thể nhập cuộc mà chỉ đi men theo bên ngoài cuộc sống thành thị và tác giả thực sự cảm thấy cô đơn… thực sự không tìm thấy sự giao cảm

ở môi trường thành thị và một chỗ đứng trong cuộc đời”

Có thể thấy, Thơ mới đã góp một phần không nhỏ trong việc phản ánh sâu rộng cuộc sống ở thành thị và bao chứa nhiều đề tài khác nhau trong đó đề tài về đô

Trang 39

thị là mảng đề tài được nhà thơ chú ý đến Từ hiện thực cuộc sống, các nhà thơ sáng tạo nên những bức tranh nghệ thuật về đô thị đầy sức sống Việc đi sâu, khám phá bức tranh đô thị trên bình diện rộng với những vấn đề ngoại cảnh, nội tâm, các cây bút đã có cách nhìn mới về con người và xã hội mang chiều sâu tư tưởng và nghệ thuật Trong các bức tranh hiện thực sinh động về đô thị, mỗi nhà thơ lại lựa chọn từng điểm nhìn để sáng tạo Do vậy, cùng viết về đô thị, mỗi nhà thơ đã tạo cho mình một bức tranh riêng Không có ý thức cách tân về nghệ thuật thì sẽ không

có một mùa thơ nở rộ mà tác giả cuốn “Thi nhân Việt Nam” đã nhận xét đó là cảnh

“trăm hoa đua nở” của vườn thơ khi đó

Trang 40

Chương 2 KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ

Thực ra, trong xã hội Việt Nam xưa nay đã xuất hiện hơi hướng cuộc sống đô thành nhưng chủ yếu là chất kinh kì, gắn với kinh thành - thủ phủ của đất nước về chính trị nên chưa mang tính chất hiện đại của những đô thị mới, những đô thị gắn với hoạt động buôn bán sầm uất của các phố chợ Song, đến phong trào Thơ mới với

sự biến động dữ dội của xã hội về mọi mặt, từ phương thức sản xuất đến lối tư duy, văn hóa và phong tục…, có thể thấy, trong Thơ mới đô thị đã xuất hiện với mật độ lớn (có khi xuất hiện trực tiếp, có khi tồn tại dưới nhiều dạng biến thể) tạo thành đề tài mới mẻ bên cạnh những mảng đề tài quen thuộc của thơ ca truyền thống

Hình ảnh đô thị xuất hiện dày đặc trong Thơ mới dưới nhiều hình thức khác nhau như vậy, tạo nên những cái nhìn đa chiều về nhiều phương diện của cuộc sống

xã hội, con người trong một thời kỳ lịch sử Hình ảnh các đô thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Hải Phòng được xuất hiện nhiều trong các sáng tác Thơ mới

Nói đến hình ảnh đô thị, người ta thường liên tưởng tới cảnh quan phố xá, những hình ảnh tiêu biểu gắn liền với sinh hoạt của phố phường, đó có khi là một góc phố, một nhà ga, một quán trọ hay một tiếng còi tàu… Tất cả những hình ảnh

ấy đi vào thơ thật tự nhiên và sinh động như cái vốn có của nó

Những hình ảnh của cảnh quan đô thị, của phố xá không chỉ là nhưỡng hình ảnh thực mà trở thành những tín hiệu thẩm mỹ mang sức nặng tâm trạng của con người Vì vậy, ở chương này, chúng tôi xem xét cảnh quan đô thị vừa như một

Ngày đăng: 23/11/2016, 20:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
[2]. Hà Minh Đức (1997), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[3]. Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương (2001) (Tuyển chọn và giới thiệu) Nguyễn Bính - Về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính - Về tác giả và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[4].Lê Bảo (tuyển chọn và giới thiệu)(2001). Xuân Diệu tác gia văn học trong nhà trường. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu tác gia văn học trong nhà trường
Tác giả: Lê Bảo (tuyển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
[5]. Lê Bảo (Tuyển chọn và biên soạn). Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Vũ Đình Liên – Nhà văn và tác phẩm. Nxb Giáo dục, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Vũ Đình Liên – Nhà văn và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[6]. Trần Hoà Bình, Lê Dy,Văn Giá (2002). Bình văn. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình văn
Tác giả: Trần Hoà Bình, Lê Dy,Văn Giá
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
[7]. Huy Cận, Hà Minh Đức (Chủ biên)(1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào Thơ mới),Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[8]. Tuyển tập Thơ Huy Cận (1986)(2 tập). Nxb Văn học.1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Huy Cận
Tác giả: Tuyển tập Thơ Huy Cận
Nhà XB: Nxb Văn học.1986
Năm: 1986
[9]. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ.Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
[10]. Đỗ Hữu Châu- Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học và các sự kiện văn học,Tạp chí Ngôn ngữ, số 2,1990,tr.8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học và các sự kiện văn học
[11]. Nguyễn Huệ Chi (1983),Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam thời kỳ cổ cận đại, Nxb Tác Phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam thời kỳ cổ cận đại
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Tác Phẩm mới
Năm: 1983
[12].Xuân Diệu (1991), Bàn về thơ, Báo văn nghệ (1618), tr 5 [13]. Xuân Diệu (1994), Công việc làm thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thơ
Tác giả: Xuân Diệu (1991), Bàn về thơ, Báo văn nghệ (1618), tr 5 [13]. Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
[14]. Lê Tiến Dũng (2005), Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2005
[15]. Phan Huy Dũng- Lê Huy Bắc(2008), Thơ mới trong nhà trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phan Huy Dũng- Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[16]. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[17]. Phan Cự Đệ - Trần Đình Hƣợu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoàng Khung - Lê Trí Dũng - Hà Văn Đức(2002),Văn học Việt Nam (1900-1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam
Tác giả: Phan Cự Đệ - Trần Đình Hƣợu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoàng Khung - Lê Trí Dũng - Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
[18]. Phan Cự Đệ (1982) Phong trào Thơ mới Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ mới
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[19]. Phan Cự Đệ (2006) Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945 (Trích trong Phan Cự Đệ tuyển tập-tập 3). Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932-1945
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[20]. Phan Cự Đệ (biên soạn)(2007). Về một cuộc cáh mạng trong thi ca. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một cuộc cáh mạng trong thi ca
Tác giả: Phan Cự Đệ (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[22]. Nguyễn Đăng Điệp (2005), (Tuyển chọn và giới thiệu). Trần Đình Sử tuyển tập (2 tập). Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Sử tuyển tập
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w