1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU

62 803 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu được sử dụng như một biện pháp nghệ thuật và trở thành ngôn ngữ nghệ thuật.. Cho nên nghiên cứu việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

PHẠM THỊ THUỲ DƯƠNG KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU Chuyên ngành: Lý luận Ngôn ngữ Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS – TS PHẠM VĂN HẢO Thái Nguyên - 2008 MỤC LỤC CHÚ THÍCH: ……… 3

PHẦN MỞ ĐẦU……… 4

1 Lí do chọn đề tài………4

2 Lịch sử vấn đề………5

3 Đối tượng ngiên cứu……… 6

4 Mục đích nghiên cứu……….7

5 Phương pháp nghiên cứu………7

6 Ý thực tiễn và ý nghĩa khoa học………8

7 Bố cục luận văn……….8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN …9 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp thơ Tố Hữu……….………… 9

1.1.1.Vài nét về cuộc đời Tố Hữu 9

1.1.2 Khái quát về sự nghiệp thơ Tố Hữu……….…… 10

1.2 Khái quát về phương ngữ tiếng Việt……….13

1.2.1 Khái niệm phương ngữ……… ……… 13

1.2.2 Đặc điểm phương ngữ tiếng Việt……… ………14

1.2.2.1 Đặc điểm về ngữ âm……… ………14

1.2.2.2 Đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa……… ……… 15

1.2.2.3 Đặc điểm về ngữ pháp……… ……….18

1.3 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật……… 20

1.3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật……….20

1.3.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật……… 21

1.3.2.1 Tính hình tượng……… 21

1.3.2.2 Tính truyền cảm……….23

1.3.2.3 Tính cá thể hoá……… 24

CHƯƠNG 2: VIỆC DÙNG TỪ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU… 27 2.1 Khái niệm từ ngữ địa phương ……….27

Trang 2

2.2 Thống kê phân tích các từ ngữ địa phương được sử dụng trong thơ Tố Hữu……… ………28

2.2.1 Bảng thống kê chung…….………28

2.2.2 Từ ngữ địa phương trong từng tập thơ… ……….29

2.2.3 Khảo sát phân tích……… ……… 30

2.2.3.1 Số lượng, tần số xuất hiện của các từ ngữ địa phương ….… 30

2.2.3.2 Từ ngữ địa phương sử dụng theo vùng…… ……… 34

2.2.3.3 Phân nhóm từ ngữ địa phương theo từ loại……….….…… 35

2.2.3.4 Đề tài, thời gian, không gian với vấn đề sử dụng từ ngữ địa phương……… …… 46

2.2.3.5 Các lớp từ……….……… 49

2.3 Tiểu kết……….………57

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TỐ HỮU TRONG VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG……… 58

3.1 Quan điểm về thơ và ngôn ngữ thơ của Tố Hữu……….… 58

3.2 Về cách dùng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu……….66

3.2.1 Ba nguyên tắc sử dụng từ ngữ địa phương ……….… 66

3.2.1.1 Tố Hữu dùng từ ngữ địa phương khi viết về địa phương … 66

3.2.1.2 Sử dụng từ ngữ địa phương khi tác giả là người ở địa phương ……….……71

3.2.1.3 Từ ngữ địa phương với yêu cầu của ngôn ngữ nghệ thuật 72

3.2.2 Lựa chọn từ ngữ “đắc địa”……….………74

3.3 Hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu.…76 3.4 So sánh với ngôn ngữ thơ Xuân Diệu, Huy Cận……… 87

3.5 Tiểu kết……….89

KẾT LUẬN……….…….90

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ……… 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 93

PHỤ LỤC………96

CHÚ THÍCH

d : danh từ

đ : động từ

t : tính từ

đt : đại từ

nv : từ nghi vấn

ct : từ cảm thán

tr : trạng thái

B : Phương ngữ Bắc

T : Phương ngữ Trung

N : Phương ngữ Nam

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tố Hữu là một cây đại thụ trong nền văn học Việt Nam hiện đại Thơ Tố

Hữu gắn liền với các chặng đường cách mạng của dân tộc và lắng sâu trong

lòng quần chúng nhân dân suốt thời gian qua Đúng như Phong Lan và Mai

Hương nhận xét “Trên bầu trời của văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn

được coi là ngôi sao sáng, là người mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu cho thơ ca

cách mạng Sáu mươi năm gắn bó với hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ

ca, ông thực sự tạo nên được niềm yêu mến, nỗi đam mê bền chắc trong nhiều

độc giả Ông là người đem đến cho công chúng và rồi cũng nhận lại từ họ sự

đồng điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu, đang là niềm mơ ước của mọi sự

nghiệp thơ ca, kể cả những nhà thơ lớn cùng thời với ông” [33, tr.20] Bởi

vậy, thơ Tố Hữu luôn thu hút được sự quan tâm của giới phê bình, nghiên cứu

văn học và là đối tượng giảng dạy trong nhà trường phổ thông

Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị Mọi sự kiện, vấn đề lớn của đời

sống cách mạng, lí tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái

tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật

thực sự Tố Hữu là nhà thơ của lẽ sống lớn, của những tình cảm lớn, niềm vui

lớn của cách mạng và con người cách mạng Đặc biệt ở những bước ngoặt

trong đời sống cách mạng của dân tộc, hồn thơ Tố Hữu thường vang ứng nhạy

bén và dạt dào cảm hứng, kết tinh trong những bài thơ đặc sắc, được sự đồng

cảm và hưởng ứng rộng rãi của đông đảo công chúng Xuân Diệu có lần

khẳng định: Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ

tình

Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểu

hiện Hiện thực đời sống cách mạng, những tình cảm chính trị, đạo lí cách

mạng qua sự cảm nhận và thể hiện của Tố Hữu đã gắn bó, hoà nhập với truyền thống tinh thần tình cảm và đạo lí của dân tộc, làm phong phú thêm cho truyền thống ấy Trong thơ ông có thể bắt gặp một cách phổ biến những lối so sánh, các phép chuyển nghĩa và cách diễn đạt trong thơ ca dân gian đã trở nên quen thuộc với tâm hồn người Việt Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu là ở sự phong phú về nhạc điệu, phong phú về vần, những phối

âm trầm bổng nhịp nhàng nên dễ ngâm dễ thuộc và đặc biệt là ngôn ngữ thơ rất sinh động, sáng tạo Một trong những yếu tố làm nên nét riêng đó của thơ

Tố Hữu là nhà thơ đã đưa lớp từ ngữ địa phương vào trong thơ và sử dụng chúng có hiệu quả cao Có thể nói từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu được

sử dụng như một biện pháp nghệ thuật và trở thành ngôn ngữ nghệ thuật Điều này không phải nhà thơ nào cũng làm được Cho nên nghiên cứu việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu sẽ góp phần hiểu rõ về quan điểm nghệ thuật và phong cách sáng tác của nhà thơ, giúp ta thấy được quy luật tương tác giữa từ địa phương và từ toàn dân, cũng như giá trị của từ địa

phương đối với việc biểu hiện tư tưởng tình cảm của nhà thơ

Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống cách dùng từ địa phương trong các sáng tác văn chương nói chung vẫn chưa được chú ý đúng

mức Chính vì vậy mà người viết lựa chọn đề tài “Khảo sát việc sử dụng từ

ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu”

có giá trị đặc sắc về nghệ thuật trên các phương diện về phong cách và ngôn

Trang 4

ngữ thơ Chính vì thế, cho đến nay đã có rất nhiều công trình biên khảo

chuyên sâu về thơ ông Trong đó nổi bật nhất là ba công trình: Thơ Tố Hữu

của Lê Đình Kị (1979), Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói

đồng chí của Nguyễn Văn Hạnh (1985), và Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần

Đình Sử (1987)

Nghiên cứu về thơ Tố Hữu từ phương diện ngôn ngữ đã có các công

trình của tác giả như: “ Về cách dùng từ chỉ mầu sắc trong thơ Tố Hữu” của

Lê Anh Hiền (Tạp chí Ngôn ngữ số 4- 1976 ), “Tính dân tộc hiện đại của

ngôn từ thơ Tố Hữu” của Trần Đình Sử (Báo Văn nghệ số 36 – 1985), “ Nhạc

điệu thơ Tố Hữu” của Nguyễn Trung Thu (Tạp chí văn học số 6 – 1968) và

nhiều công trình khác Đặc biệt, những nghiên cứu về việc sử dụng từ địa

phương trong thơ ông thì chưa có nhiều tác giả quan tâm Có thể kể: “Hiệu

quả của việc dùng từ địa phương trong văn chương” của Phạm Văn Hảo (Tạp

chí Ngôn ngữ và đời sống số 3- 1998), “ Từ địa phương trong thơ Tố Hữu”

của Hoàng Thanh Vân (Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Sư Phạm Thái

Nguyên – 2000), “Bước đầu khảo sát vốn từ địa phương trong thơ Tố Hữu”

của Hoàng Thị Hằng (Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn- 2006)… Trong những người có nhận xét về từ ngữ địa phương,

đáng chú ý hơn cả là ý kiến của Phó giáo sư Phạm Văn Hảo nhân đọc thơ Tố

Hữu : “Nhiều khi từ ngữ địa phương được dùng không nhằm thể hiện không

khí hay “phong vị quê hương” mà vì mục đích khai thác cái phong phú trong

ý nghĩa của chúng … Có thể dùng các từ địa phương cho các sáng tác bình

thường bất kì…”[19, tr 6]

Như vậy, có thể nói rằng việc nghiên cứu sự sử dụng từ địa phương trong

thơ Tố Hữu là một vấn đề rất thú vị, hấp dẫn và có phần mới mẻ Người viết

luận văn này với hi vọng nghiên cứu việc sử dụng từ địa phương trong thơ

ông một cách hệ thống có thể thể bổ sung hiệu quả và thiết thực vào công việc

nghiên cứu phong cách nghệ thuật thơ của Tố Hữu

3 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng luận văn nghiên cứu là việc sử dụng lớp từ địa phương

trong thơ Tố Hữu qua tư liệu nghiên cứu được thống kê trong các tập thơ Từ

ấy, Việt Bắc, Gío lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta và lời

phát biểu trực tiếp hay gián tiếp của Tố Hữu về quan điểm nghệ thuật trong quá trình sáng tác thơ ca

4 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài “Khảo sát việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố

Hữu” luận văn hướng vào những mục đích cụ thể sau:

- Bằng việc thống kê các từ địa phương được sử dụng trong thơ Tố Hữu, người viết khái quát bức tranh về từ địa phương được sử dụng trong thơ

Tố Hữu về các vùng miền, về các lớp từ Trên cơ sở đó, tác giả luận văn phân tích, nhận xét, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng từ địa phương trong thơ Tố Hữu

- Người viết bước đầu tìm hiểu quan điểm nghệ thuật của Tố Hữu trong việc sử dụng ngôn ngữ nói chung và việc sử dụng từ ngữ địa phương cụ thể của ông nói riêng Điều này có ích cho việc thưởng thức, nghiên cứu, giảng dạy thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận văn này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp khảo sát thống kê: Dựa vào các tập thơ để khảo sát các từ ngữ địa phương sau đó đưa ra bảng thông kê các từ địa phương được sử dụng theo một số tiêu chí cần thiết

- Phương pháp so sánh đối chiếu: Để thấy được hiệu quả của việc dùng từ địa phương trong thơ Tố Hữu, chúng ta so sánh ngôn ngữ thơ của ông với một số nhà thơ cùng thời theo chủ đề, đề tài như Xuân Diệu, Huy Cận

- Phương pháp phân tích văn bản nghệ thuật được đặc biệt chú ý để tìm hiểu nội dung các văn bản và hiệu quả sử dụng các từ ngữ địa phương

Trang 5

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: nghiên cứu ngôn ngữ thơ trong

mối quan hệ đa chiều với ngữ cảnh môi trường giao tiếp, tác giả, độc giả

Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số phương pháp, thủ pháp bổ

trợ khác nữa khi cần thiết như phương pháp khái quát tổng hợp, mô hình

hoá…

6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa lí luận:

Người viết thực hiện đề tài này đề cập đến một lớp từ được sử dụng

trong ngôn ngữ nghệ thuật, qua đó góp phần tìm hiểu phong cách nghệ thuật

ngôn ngữ thơ nói chung và phong cách nghệ thuật ngôn ngữ của từng tác giả

nói riêng

Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài làm sáng rõ về ngôn ngữ nghệ thuật thơ Tố Hữu: đó là sử

dụng ngôn ngữ đời thường, sử dụng lời nói, lời đối thoại hàng ngày vào trong

ngôn ngữ nghệ thuật một cách khéo léo vừa phải, hợp lí sẽ mang hiệu quả

nghệ thuật cao Qua việc tìm hiểu đó thấy được quan điểm nghệ thuật sử dụng

ngôn ngữ của ông trong thơ

Đề tài nghiên cứu này sẽ có đóng góp nhất định trong việc giảng

dạy tác phẩm văn học trong nhà trường nhất là ở bậc phổ thông

7 Bố cục luận văn

- Phần Mở đầu

- Phần Nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan

Chương 2: Việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu

Chương 3: Quan điểm nghệ thuật của Tố Hữu trong việc sử dụng từ

ngữ địa phương

- Phần Kết luận

- Phần Thư mục tham khảo

- Phần Phụ lục

Trang 6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN

1.1 Cuộc đời và sự nghiệp thơ Tố Hữu

1.1.1 Vài nét về cuộc đời Tố Hữu

Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4-10-1920, quê

ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Ông thân sinh là một nhà nho nghèo, tuy không đỗ đạt và phải chật vật để

kiếm sống bằng nhiều nghề nhưng lại ham thơ và thích sưu tầm ca dao tục

ngữ Từ thuở nhỏ, Tố Hữu đã được cha dạy làm thơ theo những lối cổ Bà mẹ

Tố Hữu là con một nhà nho, thuộc nhiều ca dao, dân ca xứ Huế và rất giầu

tình thương con, Tố Hữu mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi và một năm sau lại xa gia

đình vào học trường Quốc học Huế

Quê hương cũng góp phần quan trọng vào sự hình thành hồn thơ Tố

Hữu Tuy là một vùng đất nghèo nhưng phong cảnh thiên nhiên, núi sông lại

rất nên thơ, xứ Huế còn nổi tiếng là vùng văn hoá phong phú, độc đáo, đậm

bản sắc dân tộc bao gồm cả văn hoá cung đình và văn hoá dân gian mà nổi

tiếng nhất là những điệu ca, hò như nam ai, nam bình, mái nhì, mái đẩy…

Bước vào tuổi thanh niên đúng vào những năm phong trào Mặt trận Dân

chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo đang dấy lên sôi nổi trong cả nước, mà Huế

là một trong những trung tâm sôi động nhất, tuổi trẻ của Tố Hữu đã có sự gặp

gỡ may mắn và đẹp đẽ với lí tưởng cách mạng Được lôi cuốn vào phong trào

đấu tranh, Tố Hữu đã trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đoàn thanh niên

Dân chủ ở Huế Năm 1938, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông

Dương và từ đó ông hoàn toàn tự nguyện hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp

cách mạng Đầu năm 1939, thực dân Pháp trở lại đàn áp phong trào cách

mạng ở Đông Dương Cuối tháng tư năm ấy Tố Hữu bị bắt, giam tại nhà lao

Thừa Thiên, rồi lần lượt bị giam giữ trong nhiều nhà tù ở các tỉnh miền Trung

và Tây Nguyên Tháng 3- 1942, Tố Hữu đã vượt ngục Đắc Lay (Kon Tum), vượt hàng trăm cây số đường rừng, thoát khỏi sự vây lùng của kẻ thù, tìm ra Thanh Hoá, bắt liên lạc với tổ chức cách mạng và tiếp tục hoạt động Cách mạng tháng Tám năm 1945, Tố Hữu là Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa ở Huế, lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phố quê hương, nơi đầu não của chính quyền phong kiến

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu được điều động ra Thanh Hoá một thời gian, rồi lên Việt Bắc công tác ở cơ quan Trung ương Đảng, đặc trách về văn hoá, văn nghệ Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,

đế quốc Mĩ và cho đến năm 1986, Tố Hữu liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước (từng là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng)

Tố Hữu mất tại Hà Nội ngày 9-12-2002 sau một thời gian lâm bệnh nặng

Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chặt chẽ,

sự nghiệp thơ gắn liền vời sự nghiệp cách mạng, trở thành một bộ phận của sự nghiệp cách mạng

1.1.2 Khái quát về sự nghiệp thơ của Tố Hữu

Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nên văn nghệ cách mạng Việt Nam Các chặng đường thơ của Tố Hữu luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc, đồng thời cũng là những chặng đường vận động

trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của chính nhà thơ

Tập thơ Từ ấy (1937- 1946) là chặng đường đầu tiên của đời thơ Tố Hữu,

đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ

của Đảng Tập thơ chia làm 3 phần Máu lửa gồm những bài sáng tác trong

thời kì Mặt trận Dân chủ Nhà thơ cảm thống sâu sắc với cuộc sống cơ cực của những người nghèo khổ trong xã hội( lão đầy tớ, chị vú em, cô gái giang

Trang 7

hồ, những em bé mồ côi, đi ở, hát dạo,…), đồng thời khơi dậy ở họ ý chí đấu

tranh và niềm tin vào tương lai Xiềng xích gồm những bài sáng tác trong

những nhà lao lớn ở Trung Bộ và Tây Nguyên Đó là tâm tư của người trẻ

tuổi tha thiết yêu đời và khát khao tự do, là ý chí kiên cường của người chiến

sĩ quyết tâm tiếp tục cuộc chiến đấu ngay trong nhà tù Giải phóng gồm

những bài sáng tác từ khi Tố Hữu vượt ngục đến những ngày đầu giải phóng

vĩ đại của toàn dân tộc Nhà thơ nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi của cách mạng ,

nền độc lập, tự do của Tổ quốc, khẳng địng niềm tin tưởng vững chắc của

nhân dân vào chế độ mới

Tập thơ Việt Bắc (1946- 1954) là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc

kháng chiến chống Pháp và những con người kháng chiến Họ là những người

lao động rất bình thường và cũng rất anh hùng Với tấm lòng yêu nước thắm

thiết và cảm phục sâu xa, Tố Hữu đã miêu tả và ca ngợi anh vệ quốc quân, bà

mẹ nông dân, chị phụ nữ, em liên lạc,…Nhà thơ ca ngợi Đảng và Bác Hồ đã

khơi nguồn và phát huy sức mạnh của quân dân ta để đánh thắng kẻ thù

Nhiều tình cảm lớn được thể hiện sâu đậm: tình quân dân “cá nước”, tiền

tuyến với hậu phương, miền xuôi với miền ngược, cán bộ với quần chúng,

nhân dân với lãnh tụ, tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, tình cảm quốc tế vô

sản,… Tập thơ kết thúc bằng những bài hùng ca vang dội phản ánh khí thế

chiến thắng hào hùng, biết bao tình cảm bồi hồi, xúc động của dân tộc trong

những giờ phút lịch sử

Bước vào giai đoạn cách mạng mới, tập thơ Gío lộng( 1955-1961) dạt

dào bao nguồn cảm hứng lớn lao Nhà thơ hướng về quá khứ để thấm thía

những nỗi đau khổ của cha ông, công lao của những thế hệ đi trước mở

đường, từ đó ghi sâu ân tình của cách mạng Qua sự cảm nhận của Tố Hữu,

cuộc sống mới trên miền Bắc thực sự là một ngày hội lớn, nhìn vào đâu cũng

thấy tràn đầy sức sống và niềm vui Đất nước đau nỗi đau chia cắt, thơ Tố

Hữu là tình cảm thiết tha sâu nặng với miền Nam ruột thịt Đó là nỗi nhớ

thương quê hương da diết, tiếng thét căm hận ngút trời, lời ngợi ca những con người kiên trung, bất khuất, niềm tin không gì lay chuyển được vào ngày mai thắng lợi thống nhất non sông

Hai tập thơ Ra trận (1962- 1971), Máu và hoa ( 1972- 1977) âm vang

khí thế quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và niềm vui toàn

thắng Ra trận là bản anh hùng ca về “Miền Nam trong lửa đạn sáng ngời”

với bao hình ảnh tiêu biểu cho dũng khí kiên cường của dân tộc: anh giả phóng quân “con người đẹp nhất”, người thợ điện “dáng hiên ngang vẫn ngẩng cao đầu”, những “em thơ cũng ngẩng cao đầu”, bà mẹ “Một tay lái chiếc đò ngang”, anh công nhân “ lấp hố bom mà dựng lò cao”, cô dân quân

“vai súng tay cày”,… Máu và hoa ghi lại một chặng đường cách mạng đầy

gian khổ, hi sinh, khẳng định niềm tin sâu sắc vào sức mạnh tiềm tàng của xứ

sở quê hương, cũng như của mỗi con người Việt Nam mới, biểu hiện niềm tự hào và niềm vui phơi phới khi “toàn thắng về ta”

Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999) là hai tập thơ đánh dấu bước

chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu Dòng chảy sôi động của cuộc sống đời thường với bao vui buồn, được mất, sướng khổ, mừng lo khơi gợi trong tâm hồn nhà thơ nhiều cảm xúc suy tư Tố Hữu tìm đến những chiêm nghiệm mang tình phổ quát về cuộc đời và con người Vượt lên bao biến động thăng trầm, thơ Tố Hữu vẫn kiên định niềm tin vào lí tưởng và con đường cách

mạng, tin vào chữ nhân luôn toả sáng ở mỗi người

Như vậy, thơ Tố Hữu là một thành công xuất sắc của thơ cách mạng,

và kế tục một truyền thống tốt đẹp của thơ ca Việt Nam qua nhiều thời đại Con đường thơ của Tố Hữu là con đường tìm sự kết hợp hài hoà hai yếu tố, hai cội nguồn là cách mạng và dân tộc trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca Sức hút của thơ Tố Hữu với những thế hệ bạn đọc trong suốt thời gian qua chủ yếu ở niềm say mê lí tưởng và tính dân tộc đậm đà trong cả nội dung và hình thức của thơ ông Chính vì thế, Tố Hữu đã vinh dự được nhận các giải thưởng: Giải Nhất Giải thưởng văn học của Hội Văn nghệ Việt Nam (1954-

Trang 8

1955) cho tập thơ Việt Bắc, Giải thưởng Văn học ASEAN – 1996 cho tập thơ

Một tiếng đờn và Giải thưởng HỒ CHÍ MINH về văn học và nghệ thuật

(1996) Tố Hữu xứng đáng được coi là con chim đầu đàn vạch hướng cho cả

nền thơ cách mạng Việt Nam

1.2 Khái quát về phương ngữ tiếng Việt

Để thực hiện đề tài này người viết thấy cần thiết phải xác định rõ một số

khái niệm liên quan sẽ được sử dụng Trên cơ sở trình bày các ý kiến của các

tác giả đi trước, người viết đi đến lựa chọn những quan niệm làm cơ sở cho

việc thực hiện đề tài này

1.2.1 Khái niệm phương ngữ

Phương ngữ (dialect) là một khái niệm phức tạp của ngôn ngữ học Thuật

ngữ này tồn tại song song với một số từ khác ít mang tính thuật ngữ hơn như:

phương ngôn, tiếng địa phương, giọng địa phương… Trong luận văn này,

người viết dùng thuật ngữ phương ngữ

Theo tác giả Hoàng Thị Châu phương ngữ là “Biến dạng của một ngôn

ngữ được sử dụng với tư cách là phương tiện giao tiếp của những người gắn

bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về mặt lãnh thổ, về

hoàn cảnh xã hội, về nghề nghiệp, còn gọi là tiếng địa phương”[6, tr 24]

Phương ngữ được chia ra phương ngữ lành thổ và phương ngữ xã hội

Phương ngữ lãnh thổ là phương ngữ phổ biến ở một vùng lãnh thổ nhất định

Nó luôn là một bộ phận của một chỉnh thể của một ngôn ngữ nào đó Phương

ngữ lãnh thổ có những khác biệt trong âm thanh, từ ngữ, ngữ pháp Những

khác biệt này trong trường hợp tiếng Việt là không lớn, vì vậy những người

nói những phương ngữ khác nhau của một ngôn ngữ vẫn hiểu được nhau

Phương ngữ xã hội thường được hiểu là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất

định Trong tiếng Việt, loại phương ngữ này bao giờ cũng có từ xã hội, làm

định ngữ, và do bộ môn Ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu

Như vậy, phương ngữ là một thuật ngữ của ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân và là biến thể của ngôn ngữ này ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác [ 5, tr 29]

Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn diễn ra trên hai mặt cấu trúc và chức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngông ngữ, sự phát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ âm, từ vựng- ngữ nghĩa, ngữ pháp Phương ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi ấy Chính vì vậy, phương ngữ khác với ngôn ngữ toàn dân ở một vài khía cạnh nào đó, nhưng về căn bản cái mã chung- hệ thống cấu trúc ngữ pháp, từ vựng,

âm vị giữa phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân là khá tương đồng Tóm lại nói tới phương ngữ là nói tới một hiện tượng phức tạp của một ngôn ngữ không chỉ về mặt hệ thống cấu trúc, cũng như phương tiện thể hiện mà bản thân nó cũng là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ xã hội và lịch sử trong và ngoài ngôn ngữ

1.2.2 Đặc điểm phương ngữ tiếng Việt

Phương ngữ tiếng Việt được chia thành nhiều vùng khác nhau Có nhiều

ý kiến về số vùng phương ngữ tiếng Việt Theo Hoàng Thị Châu và nhiều người khác, tiếng Việt có ba phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Có thể nêu sơ lược để ta hình dung chung về đặc điểm của các phương ngữ tiếng Việt như sau:

1.2.2.1 Đặc điểm về ngữ âm

Nếu ta lấy hệ thống âm vị tiếng Việt được phản ánh qua chính tả làm chuẩn để khảo sát sự khác nhau của ba phương ngữ nói trên, thì có thể nêu những đặc trưng ngữ âm chủ yếu như sau:

* Đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Bắc:

- Hệ thống thanh điệu: có 6 thanh, đối lập từng đôi về âm vực và âm điệu

Trang 9

- Hệ thống phụ âm đầu: có 20 âm vị không có ngững phụ âm ghi trong

chính tả là s, r, gi, tr, tức là không phân biệt s/ x, r/ d / gi, tr/ ch Lẫn lộn l / n

(vùng châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình)

- Hệ thống âm cuối: có đủ các âm cuối ghi trong chính tả Có 3 cặp âm

cuối ở thế phân bố bổ túc là:

[-nh, -ch] đứng sau nguyên âm dòng trước [i,ê,e]

[-ng,-k] đứng sau nguyên âm dòng giữa [ ư, ơ, â, a, ă]

[-ngm…,-kp…] đứng sau nguyên âm dòng sau tròn môi [u, ô, o]

* Đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung:

- Hệ thống thanh điệu có 5 thanh, khác với hệ thống thanh điệu phương

ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng

- Hệ thống phụ âm đầu: có 23 phụ âm đầu, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ

âm uốn lưỡi [s, z, t] (chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr) Trong nhiều thổ ngữ có

hai phụ âm bật hơi [ph, kh] thay cho 2 phụ âm xát [f, x] trong phương ngữ

Bắc

- Trong hệ thông âm cuối, đôi phụ âm [-ng,-k] có thể kết hợp được với

các nguyên âm trước,giữa và sau Tuy vậy trong những từ chính trị- xã hội

mới xuất hiện gần đây, vẫn có các cặp âm cuối [-nh,-ch] và [-ngm…,-kp…]

* Đặc điểm ngữ âm phương ngữ Nam:

- Hệ thống thanh điệu: có 5 thanh, thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một

Xét về mặt điệu tính, thì đây là một hệ thống thanh điệu khác với phương ngữ

Bắc và phương ngữ Trung

- Hệ thống phụ âm đầu : có 23 phụ âm, có các phụ âm uốn lưỡi như

phương ngữ Trung [s,z,t] chữ viết ghi là s,r, tr Ở Nam Bộ r có thể phát âm

rung lưỡi [r] So với các phương ngữ khác, thì phương ngữ Nam thiếu phụ âm

[v ], nhưng lại có thêm [w] bù lại, không có âm [z] được thay thế bằng âm [j]

- Âm đệm [-u-] không gặp trong phương ngữ Nam

- Mất đi rất nhiều vần so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung Thiếu đôi âm cuối [-nh,-ch]

- Đôi âm cuối [-ng…, -k…] trở thành những âm vị độc lập

1.2.2.2 Đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa:

Để thấy được đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt ta phải phân biệt hai lĩnh vực khác nhau là sự phát triển lịch sử ngữ âm của tiếng Việt và nguồn gốc khác nhau của chúng Nhữmg từ khác nhau do biến đổi ngữ âm tạo nên những từ khác âm bộ phận Các từ này chỉ khác nhau chỉ một hai bộ phận, có thể ở phụ âm đầu, ở nguyên âm, ở phụ âm cuối hay ở thanh điệu Bởi vì một

từ biến đổi về ngữ âm không phải biến đổi tất cả các bộ phận cùng một lúc mà phần lớn mà biến đổi một trong những bộ phận này thôi, trong khi các bộ phận kia vẫn còn nguyên, cho nên đây là cơ sở để khẳng định rằng, các bộ phận này là âm vị, rằng âm tiết có thể phân đoạn được Tuỳ theo bộ phận khác

âm, ta có thể chia ra những từ khác phụ âm đầu, những từ khác nguyên âm và

những từ khác phụ âm cuối, thanh điệu,…

a, Đặc điểm về từ vựng:

* Những từ cùng gốc:

- Từ thể hiện quá trình xát hoá: Biến thể cổ b, đ ở phương ngữ Trung tương ứng với v, z ở phương ngữ Bắc Ví dụ :

Bui/ vui, bá/ vá, ban/ vai, bo/ vo, bưa/ vừa…

đa/ da, đưới/ dưới, đao/ dao, đốc/ dốc…

- Từ thể hiện quá trình xát hoá và hữu thanh hoá Biến thể cổ ở phương ngữ Trung tương ứng với biến thể mới ow phương ngữ Bắc Ví dụ:

ph, th, kh/ v,z (d), G(g) : ăn phúng/ ăn vụng, phở đất/ vỡ đất, phổ tay/ vỗ tay…; nhà thốt/ nhà dột, mưa thâm/ mưa dầm, thu/ dấu…; khải/ gãi, khở/ gỡ, khỏ/ gõ, khót/gọt…

ch, k,/j(gi),G(g) : chi/ gì, chừ/giờ; cấu/ gạo, cỏ cú/cỏ gấu, trốc cúi/ đầu gối…

Trang 10

- Hiện tượng hữu thanh hoá thường xảy ra cùng với việc hạ thấp thanh

điệu: thanh không thành thanh huyền, thanh sắc thành thanh nặng, thanh hỏi

thành thanh ngã Phụ âm vô thanh đi với thanh cao ở phương ngữ Trung còn

phụ âm hữu thanh đi với thanh trầm gặp ở phương ngữ Bắc:

Sắc/ nặng: ăn phúng/ ăn vụng, nhà thốt/ nhà dột…

Không/ huyền: ca/ gà, chi/ gì, mưa thâm/ mưa dầm, …

Hỏi/ ngã: phở/ vỡ, phổ/ vỗ, khở/gỡ…

- Những từ có phụ âm đầu khác với ngôn ngữ văn học có thể tìm thấy

trong phương ngữ Bắc nhưng không nhiều hiện tượng như phương ngữ

Trung: dăn deo/ nhăn nheo, duộm/ nhuộm, dức đầu/ nhức đầu, con nhộng/

con dộng…

- Những từ khác nguyên âm thể hiện quá trình biến đổi từ nguyên âm

đơn sang nguyên âm đôi theo hai khuynh hướng:

+ Nguyên âm đôi mở dần trong phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam:

e/ei, a/ ươ, o/ uo : méng/ miếng, mẹng/ miệng, lả/ lửa, nác/ nước, mạn/ mượn,

lái/lưới, ló/lúa, nót/nuốt, lòn/luồn, mói/ muối…

+ Nguyên âm đôi mở dần trong các phương ngữ khác: i/ iê, u/ôu: con

chí/ con chấy, ni/nầy, mi/ mầy, nu/nâu, bu/bâu, tru/ trâu, trú/ trấu …

- Những từ khác phụ âm cuối biểu hiện ở một số thổ ngữ Thanh Hoá:

phụ âm cuối -n biến đổi thành –j : cằn cấn/ cày cấy, kha cắn/ gà gáy…; cái

vắn/ cái váy, ban/ vai, con mõn/ con muỗi, cái chũn/ cái chổi…

* Từ khác gốc (không có quan hệ ngữ âm): Có những phương ngữ có hai

hay nhiều từ khác hẳn nhau nhưng lại đồng nghĩa, thí dụ trái và quả, bông và

hoa Những từ này là do xuất phát từ những nguồn gốc khác nhau Có thể

thấy, các từ này tập trung chủ yếu vào một từ loại là danh từ

VD: Thuyền ở phương ngữ Bắc Lúc đầu người Việt nói nôốc

(Khơme) Từ thuyền là gốc Hán -Việt Từ nôốc phổ biến ở phương ngữ Trung

( chủ yếu là vùng Bắc Trung Bộ từ Nghệ An đến hết Thừa Thiên Huế ) Một vài sự so sánh khác:

PNB PNT PNN quả dứa trấy thơm trái gai quả roi trấy đào trái mận bát đọi chén thuyền nôốc ghe

cá quả cá tràu cá lóc

b, Đặc điểm về ngữ nghĩa:

Xét về mặt ngữ nghĩa thì phương ngữ Bắc có ưu điểm là ngôn ngữ đã được thừa hưởng truyền thống văn học viết Ngôn ngữ văn học Việt Nam được xây dựng trên nền tảng phương ngữ Bắc Kết quả là nó có được một vốn

từ vựng phong phú hơn các khu vực khác, ở chỗ tương ứng với một từ ở phương ngữ Trung và phương ngữ Nam để chỉ một trạng thái hay một tính chất, một cảm xúc thì có cả một loạt từ Phương ngữ Nam là phương ngữ mới

và những người sử dụng có nguồn gốc khác nhau ( Hoa, Khơ me) PNN PNB

lạnh lạnh, rét, giá, buốt

ốm gầy, còm, còi, cọc thương yêu, mến thương

Từ chỉ đơn vị (chỉ loại) trong phương ngữ Nam dùng rất khái quát Ở Bắc Bộ người ta nói: miếng cơm, ngụm nước, mẩu giấy, thì ở Nam bộ dùng chung một từ “miếng”.Sự khái quát hoá về nghĩa trong phương ngữ Nam được đền bù lại bằng hàng loạt phó từ và trạng từ để tăng cường sự thể hiện mức độ cho tính từ và động từ Ngôn ngữ văn chương cần sự phân biệt tế nhị

về sắc thái từng nghĩa một, do đó dù là người địa phương nào, nói như thế nào trong sinh hoạt hàng ngày, nhưng đã cầm bút viết, là viết trước hết bằng từ

Trang 11

vựng của ngôn ngữ văn học rồi sau đó mới thêm những từ địa phương để tô

điểm cho ngôn ngữ nghệ thuật của mình

1.2.2.3 Đặc điểm về ngữ pháp

Trong tiếng Việt về mặt ngữ pháp hầu như rất ít sự khác biệt Có chăng

những sự khác biệt ấy, thường nằm ở cấp độ từ và cũng chỉ ở một số từ loại,

như đại từ, tiểu từ tình thái,… Sau đây là một vài nét khu biệt điển hình trong

tôi tui tui

tao tau tao, qua

chúng tôi bầy tui tụi tui

* Đại từ hoá danh từ:

Thêm dấu hỏi (thanh hỏi) để biến danh từ thành đại từ là một phương

ngữ thức ngữ pháp sử dụng rộng rãi trong PNN Ngoài đại từ nhân xưng như

trên đã dẫn ra: ổng, bả, cổ chỉ, ảnh,…còn hình thành những đại từ chỉ không

gian: trỏng(trong ấy), ngoải (ngoài ấy), đại từ chỉ thời gian: hổm (hôm ấy), nẳm (năm ấy)…Các biến đổi này thấy ở Thanh Hoá, và chủ yếu là từ Nam Trung Bộ trở vào phương ngữ Nam

Những từ có tần số xuất hiện cao như ấy, với lại cũng được rút ngắn

trong PNB, nhưng không tạo thành một phương thức ngữ pháp nêu trên: “ ấy” thành “ý”, “với” thành “mí”, “ chứ lại” thành “chứ lị”

Tóm lại, từ ngữ địa phương tiếng Việt luôn vận động và phát triển, đa dạng và phong phú Trong sáng tác văn học, việc sử dụng vốn từ địa phương thì dễ gặp ở nhiều tác phẩm, cả văn xuôi và thơ vì mỗi tác giả đều sinh ra và lớn lên ở một vùng đất nhất định Tuy vậy từ ngữ địa phương khi đưa vào tác phẩm văn học cần phải chọn lọc vì nếu không nó sẽ gây sự khó hiểu đối với độc giả không thuộc vùng đất ấy

Nhà thơ Tố Hữu sinh ra ở Thừa Thiên Huế là một nhà thơ rất nhạy cảm với các từ địa phương nên trong sáng tác của mình tác giả đã đưa từ ngữ địa phương vào trong tác phẩm mà không gây phản cảm cho người đọc Mà ngược lại, từ địa phương được Tố Hữu dụng mang hiệu quả nghệ thuật rất cao Điều này hẳn có những lý do nhất định mang tính nguyên tắc, điều mà chúng ta sẽ có dịp xem xét ở các chương sau

1.3 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật

Nói đến ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ văn học) trước hết là nói đến ngôn ngữ gợi hình, gợi thanh, nói chung là khơi gợi được những cảm giác (gợi cảm) nơi người đọc được dùng trong văn bản nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật còn được sử dụng trong lời nói nói hàng ngày và

cả trong văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác

Ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật được phân chia thành ba loại:

Trang 12

- Ngôn ngữ tự sự trong truyện, tiểu thuyết, bút kí, kí sự, phóng

Mỗi loại trên đây lại có thể chia thành nhiều thể Trong các thể loại này,

các phương tiện diễn đạt có tính nghệ thuật đan xen lẫn nhau để người đọc

thẩm bình, thưởng thức, giao cảm: hoặc là cái hay của âm điệu, hoặc vẻ đẹp

chân thực sinh động của tình huống giao tiếp, hoặc những cảm xúc chân thành

gợi ra những nỗi niềm vui, buồn, yêu, thương trong cuộc sống

Như thế, ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ thực hiện chức năng thông tin

mà điều quan trọng là nó thực hiện chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp và

khơi gợi, nuôi dưỡng cảm xúc nơi người nghe người đọc

Ngôn ngữ nghệ thuật tuy lấy ngôn ngữ tự nhiên hằng ngày làm chất liệu

nhưng khác với ngôn ngữ hàng ngày ở sự gọt giũa, chọn lọc điển hình với

chức năng thẩm mĩ Phẩm chất thẩm mĩ mà nó có được là do lựa chọn, xếp

đặt, trau chuốt, tinh luyện trong những điều kiện sử dụng nhất định theo các

mục đích thẩm mĩ khác nhau

Tóm lại, ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác

phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thoả mãn nhu

cầu thẩm mĩ của con người Đây là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn,

tinh luyện, điển hình từ ngôn ngữ thông thường và chức năng của nó đạt được

giá trị nghệ thuật- thẩm mĩ

1.3.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Một số tác giả Việt Nam đã đề cập nhiều “đặc điểm tu từ” của phong

cách ngôn ngữ nghệ thuật [Cù Đình Tú- 1993, Đinh Trọng Lạc- 2000, Hữu

Đạt- 2002] Ta có thể khái quát các đặc điểm đó trong ba đặc trưng cơ bản của

phong cách ngôn ngữ này là: tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hoá Ba đặc trưng này làm thành các tiêu chí cùng với tiêu chí chức năng thẩm mĩ xác định một phong cách độc lập: phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.3.2.1 Tính hình tượng:

Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật

Ví dụ trong bài ca dao:

“ Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

nội dung tư tưởng, tình cảm, cảm xúc về cái đẹp không phải được biểu hiện trực tiếp qua từ ngữ và câu văn thông thường mà qua các hình tượng cụ thể(

lá xanh, bông trắng, nhị vàng), và qua cả các lớp lang trong ngoài để gợi

tả,…Hơn nữa, bao trùm lên tất cả là hình tượng sen như là một tín hiệu thẩm

mĩ về phẩm chất thanh cao, đẹp đẽ trong tự nhiên và cả trong xã hội loài

người

Để tạo ra hình tượng ngôn ngữ, người viết thường dùng rất nhiều phép tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, nói giảm nói tránh….Những phép tu từ này được dùng sáng tạo, hoặc đơn lẻ hoặc phối hợp với nhau Sau đây là một

số ví dụ (chúng tôi nhấn mạnh những câu có sử dụng phép tu từ ):

- So sánh:

Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp, Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp

Cao như núi, dài như sông

Chí ta lớn như biển Đông trước mặt!

( Tố Hữu, Ta đi tới )

Trang 13

- Ẩn dụ:

“ Nhưng cũng có những cây vượt lên được đầu người, cành lá sum sê

như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ Đạn đại bác không giết nổi

chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường

tráng Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã… Cứ thế hai ba

năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”

(Nguyễn Trung Thành, Rừng xà nu)

- Hoán dụ:

Ta đã lớn lên rồi trong khói lửa

Chúng nó chẳng còn mong được nữa

Chặn bàn chân một dân tộc anh hùng

Những bàn chân từ than bụi, lầy bùn

Đã bước dưới mặt trời cách mạng

( Tố Hữu, Ta đi tới )

Ngoài ra còn có sự đóng góp của nhiều yếu tố ngôn ngữ khác, như yếu

tố ngữ âm cũng góp phần tạo nên hình tượng Hình tượng âm thanh trong thơ

và văn xuôi góp phần gợi hình, gợi cảm rất hiệu quả

Như một kết quả tất yếu của tính hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật có

tính đa nghĩa Từ ngữ, câu văn, hình ảnh hoặc toàn bộ văn bản nghệ thuật có

khả năng gợi ra nhiều nét nghĩa, nhiều tầng nghĩa khác nhau Một từ sáng đặt

đúng chỗ trong câu thơ “ Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” ( Khương Hữu

Dụng) vừa có khả năng tạo nên một hình ảnh cụ thể, rõ nét, vừa gợi nhiều liên

tưởng, từ đó hàm chứa những ý sâu xa Hình tượng “ bánh trôi nước” trong

bài thơ cùng tên của Hồ Xuân Hương không chỉ miêu tả về một món ăn dân

tộc, mà còn ngụ ý nói đến thân phận của người phụ nữ trong xã hội lúc đó,

đồng thời khẳng định vẻ đẹp bên ngoài và phẩm chất bên trong của họ Tính

đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật cũng quan hệ mật thiết với tính hàm súc:

lời ít mà ý tình thì sâu xa, rộng lớn Người viết chỉ dùng một vài câu( thậm

chí thay đổi một vài từ) mà có thể gợi ra những hình tượng khác nhau: hình tượng bánh trôi nước, hình tượng người phụ nữ với những phẩm chất tốt đẹp trong cảnh “ bảy nổi ba chìm”

Như vậy, tính hình tượng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là khái niệm chỉ ra cách diễn đạt cụ thể, hàm súc và gợi cảm trong một ngữ cảnh cụ thể

Năng lực gợi cảm xúc của ngôn ngữ nghệ thuật có được là nhờ sự lựa chọn ngôn ngữ để miêu tả, bình giá đối tượng khách quan (truyện và kịch) và thể hiện tâm trạng chủ quan (thơ trữ tình) Ngôn ngữ thơ thường giầu hình ảnh, nhưng có khi không có hình ảnh mà vẫn có sức hấp dẫn lạ thường, do sự cảm thông sâu sắc với số phận, hoàn cảnh của con người Ví dụ đây là một tiếng thốt, một lời than thở, nhưng có sức lay động lòng người:

Đau đớn thay phận đàn bà ! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

( Nguyễn Du, Truyện Kiều)

1.3.2.3 Tính cá thể hoá:

Ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt chung của cộng đồng nhưng khi được các nhà văn nhà thơ sử dụng thì ở mỗi người lại có khả năng thể hiện một giọng riêng, một phong cách riêng, không dễ bắt chước, pha trộn Chẳng hạn,

Trang 14

giọng thơ Tố Hữu không giống với giọng thơ Chế Lan Viên, giọng thơ Xuân

Diệu không giống với giọng thơ Huy Cận… Sự khác nhau về ngôn ngữ là ở

cách dùng từ, đặt câu và ở cách sử dụng hình ảnh, bắt nguồn từ cá tính sáng

tạo của người viết Chính những biện pháp sử lí ngôn ngữ đã tạo ra giọng điệu

riêng, phong cách nghệ thuật riêng của từng nhà văn nhà thơ trong sáng tạo

nghệ thuật Mỗi tác phẩm văn chương đích thực đều có tính cá thể hoá Điều

đó đã làm nên phong cách riêng của tác giả

Ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ nhà văn nói riêng phải vừa

giống mọi người vừa khác mọi người Có giống mọi người tức có thuận theo

chuẩn mực thì mọi người mới hiểu, có khác mọi người tức có lối nói riêng thì

mới thành ra văn để mọi người thích đọc Sự giống ngôn ngữ mọi người là cái

thuộc về điều kiện nền tảng, sự khác ngôn ngữ mọi người là cái thuộc về điều

kiện bắt buộc Đây chính là một trong những yếu tố quan yếu, là dấu hiệu để

xác định phong cách tác giả Nó là dấu hiệu chứ không là phong cách tác giả

bởi vì không phải hễ cứ có sự khác ngôn ngữ mọi người là có phong cách tác

giả Sự khác ngôn ngữ mọi người này phải như thế nào thì lúc đó mới tạo

thành phong cách tác giả Trong phong cách ngôn ngữ văn chương ta vẫn thấy

hiện tượng chỉ có tác giả mà không có phong cách tác giả Sê- khôp nói rất có

lí rằng: Nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó sẽ không

bao giờ là nhà văn cả Cái mà Sê- khôp gọi là “lối nói riêng” chính là phong

cách tác giả

Muốn hiểu khái niệm phong cách tác giả chúng ta phải căn cứ vào hai

dấu hiệu cơ bản sau đây:

- Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương

tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả

- Sự đi chệch chuẩn mực của tác giả

Mỗi nhà văn đều có những sở trường ngôn ngữ của mình Cái sở trường

ngôn ngữ này khi thành thục được thán phục và không ai theo được thì thành

biệt tài ngôn ngữ Chẳng hạn Nguyễn Du là một biệt tài ngôn ngữ Sở trường ngôn ngữ của một nhà văn dẫn đến khuynh hướng ưa thích lựa chọn, sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nhất định , khiến cho ngôn ngữ nhà văn khác với mọi người Nguyễn Công Hoan “ham” dùng “mê”dùng khẩu ngữ Những phương tiện khẩu ngữ mà ông dùng trong truyện ngắn làm cho những cái ông kể, ông tả hệt như ngoài đời, khiến cho độc giả tấm tắc, thích thú, thán phục Nguyễn Tuân có thói quen không bằng lòng với những từ cũ, những lối diễn đạt cũ vì không biểu hiện được ý ông muốn nói Ông luôn tìm lối diễn đạt mới, “lạ tai”, “khác người” để có thể nói thật trúng cái suy nghĩ, cái cách thức đặt vấn đề, cái nhìn nhận của mình Như vậy, phong cách tác giả của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trước hết ở khuynh hướng ưa thích và sở trường

sử dụng phương tiện ngôn ngữ

Dấu hiệu cơ bản thứ hai để xác định phong cách tác giả của ngôn ngữ nghệ thuật là chệch chuẩn mực Khuynh hướng ưa thích là cái thuộc về bên ngoài, bộc lộ ra bên ngoài còn sở trường ngôn ngữ của các nhà văn là cái ẩn tàng ở bên trong Sở trường ngôn ngữ của nhà văn không chỉ bộc lộ ở khuynh hướng ưa thích sử dụng những cái đã có của xã hội mà còn thể hiện ở việc tạo

ra những cái xã hội chưa có, cần có Nói khác đi, sở trường ngôn ngữ dẫn đến sáng tạo ngôn ngữ Trong sự đối chiếu với chuẩn mực thì sáng tạo ngôn ngữ

có nghĩa là tạo ra những cái đi chệch chuẩn mực ngôn ngữ Chệch chuẩn mực

- chứ không phải chống chuẩn mực- cũng là một cái “lỗi”, nhưng là cái “lỗi muốn có” cái “ lỗi nên có” ở các nhà văn để tạo nên phong cách tác giả Đã là nhà văn, không ai không đi chệch chuẩn mực, không ai không nuôi dưỡng ý định chệch chuẩn mực Có thể nói thế giới ngôn ngữ nghệ thuật là thế giới của ngôn ngữ toàn dân đồng thời cũng là thế giới của những người ưa thích cái sự tưởng như ngược đời, đi chệch khỏi lối nói chung, lối nói thường thấy, thường nghe, vốn dễ dẫn tới sự mờ nhạt nhàm chán

Trang 15

Do vậy, khi sáng tác những tác phẩm thơ, Tố Hữu đã sử dụng tài tình

khéo léo từ ngữ địa phương và từ ngữ địa phương đã trở thành ngôn ngữ nghệ

thuật trong thơ ông Đó là một đặc điểm riêng của thơ Tố Hữu mà không phải

nhà thơ nào cũng có được Vậy nét đặc sắc đó được thể hiện như thế nào thì ta

cần nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể về nhiều mặt (dùng từ địa phương nào, ở

vùng nào, trong những điều kiện cụ thể ra sao…), qua từng bài thơ, tập thơ,

chặng đường thơ của ông Và từ đó có thể thấy được quan điểm của nhà thơ

khi sử dụng lớp từ ngữ địa phương vào trong thơ

CHƯƠNG 2

VIỆC DÙNG TỪ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU 2.1 Khái niệm từ ngữ địa phương

Trong sự nghiệp sáng tác thơ ca phục vụ cách mạng của mình, Tố

Hữu sáng tác khá nhiều thơ Tập thơ mới nhất, cũng là khá đầy đủ, là tập “ Tố Hữu thơ” do Nhà xuất bản Văn học ấn hành, in năm 2005, do GS Hà Minh Đức viết Lời giới thiệu Có 285 bài thơ được giới thiệu ở đây, và chúng tôi sẽ khảo sát cách dùng từ ngữ địa phương trong thơ ông qua những bài thơ trong tập này

Để có cơ sở làm việc, thiết nghĩ, chúng ta cần làm rõ khái niệm cơ bản là

từ ngữ địa phương, điều mà ở đâu đó chúng tôi đã có đề cập Về định nghĩa từ

ngữ địa phương, chúng ta có thể tham khảo ở nhiều sách vở, bài báo, từ điển

khác nhau Ở khái niệm này có hai yếu tố cần chú ý là từ và ngữ Nếu ngữ là

sự kết hợp các từ, được dùng cố định, nguyên khối trong sử dụng, chủ yếu là

thành ngữ, quán ngữ, thì từ là các đơn vị hiển nhiên có nghĩa nhất định, có

phạm vi sử dụng nhất định, được xã hội chấp nhận Vốn từ vựng của một ngôn ngữ gồm có từ và ngữ, gồm nhiều lớp lang, trong đó có lớp từ ngữ địa phương Định nghĩa mà chúng tôi chọn để dựa vào đó làm việc là của GS.TS

Nguyễn Thiện Giáp: “ Từ địa phương là từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật,v.v…”[16, tr.292-293] Đây là định nghĩa tuy chưa nói rõ

được tính chất biến thể của vốn từ vựng địa phương, nhưng nêu được sắc thái

sử dụng trong phong cách của chúng

Trang 16

2.2 Thống kê phân tích các từ ngữ địa phương được sử dụng trong thơ

Tố Hữu

Theo kết quả khảo sát, qua 7 tập thơ in chung trong cuốn thơ Tố

Hữu,người viết có nhận xét cụ thể sau:

Thơ Tố Hữu được chọn và giới thiệu, như đã nêu, tất cả là 285 bài thơ in

trong tập: Từ Ấy(1937-1946), Việt Bắc(1946-1954), Gió lộng( 1955-1961), Ra

trận (1962-1971), Máu và hoa(1972-1977), Một tiếng đờn(1979-1982), Ta

với ta(1993-2002) Tác giả đã đã sử dụng tất cả là 267 từ địa phương (có số

lần sử dụng 650 từ) Như vậy trung bình mỗi trang là 0,9 từ địa phương Từ

địa phương sử dụng trong thơ Tố Hữu khá nhiều Dưới đây là kết quả thống

kê chung:

STT Các tập thơ Số lượt

sử dụng

Tỉ lệ phần trăm

Tổng sốtrang

rất đa dạng, phong phú và hợp lý tuỳ thuộc vào đề tài, thời gian, hoàn cảnh

sáng tác, ngữ cảnh

2.2.2 Từ ngữ địa phương trong từng tập thơ

Căn cứ vào số liệu thống kê và việc sử dụng từ địa phương trong thơ Tố Hữu ta có thể đưa ra những nhận xét theo từng tập, cũng là từng giai đoạn thơ ông

Ở tập thơ Từ ấy Tố Hữu đã sử dụng số lượng từ địa phương khá lớn (305

từ) chiếm tỷ lệ 46,3 % số lượng từ địa phương được ông sử dụng Sở dĩ có

hiện tượng như vậy là vì Từ ấy cái thời điểm của một tâm hồn thơ tìm được lí

tưởng, đã đưa dòng thơ đi về phía cuộc đời, gắn bó với những người anh em lao khổ và tiếp nhận được sinh lực mới không bao giờ vơi cạn Thơ ông ngay

từ dòng đầu đã hoà nhập được với cuộc đời chung, bởi lời thơ của ông mộc mạc, giản dị, gần gũi như chính đời sống vậy Và chính sự góp mặt của từ địa phương đã làm nên điều đó

Việt Bắc lại là một sự hoà hợp mới Đời sống dân tộc trong những năm

tháng chiến tranh, núi rừng và quê hương kháng chiến đòi hỏi một tiếng nói nghệ thuật thích hợp Thơ ông trở về với cách nói gần gũi, chân tình thắm thiết của thơ ca truyền thống Tố Hữu sử dụng thành công hình thức thơ dân tộc Thể thơ lục bát được Tố Hữu nâng cao với giọng điệu thơ đằm thắm, thiết tha mang hồn quê hương, đất nước trong “Bầm ơi” của Việt Bắc Và sau này với “Tiếng hát sang xuân”, “Bài ca quê hương”, nhất là “Nước non ngàn dặm”, Tố Hữu trở thành một trong số ít những người làm thơ lục bát hay nhất

ở giai đoạn sau cách mạng So với tập thơ đầu tay thì tập “Việt Bắc” sử dụng

từ địa phương ít hơn nhưng có hiệu quả nghệ thuật cao

Bầm ơi có rét không bầm Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn

Chỉ với một từ “Bầm” thôi nhưng ẩn đằng sau nó là biết bao tình cảm

gần gũi thân thiết đối với mẹ Hơn nữa, ở đây tác giả còn hiệp vần giữa từ địa

Trang 17

phương với vần của từ văn hoá tạo nên âm hưởng trầm lắng của câu thơ và

của bài thơ

Đến Gío lộng hình thức nghệ thuật lại được mở rộng, phóng khoáng với

thơ tự do, phù hợp với cái bát ngát, tươi đẹp của Tổ quốc trong một thời kì

mới; có chất căm giận sôi sục của “Thù muôn đời muôn kiếp không tan”, có

điệu mượt mà của “Em ơi… Ba Lan”… và nhịp ngắt linh hoạt với “Tiếng chôỉ

tre” Nên ở tập thơ này tác giả sử dụng từ địa phương ít (32 từ )

Bước vào chặng đường cuối của cuộc đời thơ, Tố Hữu vẫn có những hứa

hẹn riêng ở cái duyên đằm thắm và tấm lòng nhân hậu trong thơ Đã qua

những thăng trầm, trải nghiệm trước cuộc đời, như một lẽ thường, nhà thơ

muốn chiêm nghiệm về cuộc sống, về lẽ đời hướng tới những quy luật phổ

quát và kiếm tìm những giá trị bền vững, giọng thơ vì thế thường trầm lắng,

thấm đượm chất suy tư Cho nên, càng về sau Tố Hữu càng ít đưa từ địa

phương vào trong thơ

Như vậy, trong mỗi tập thơ Tố Hữu sử dụng từ ngữ địa phương với mức

độ khác nhau Tác giả sử dụng có sự chọn lọc và có dụng ý nghệ thuật Từ

ngữ địa phương được nhà thơ sử dụng tuỳ thuộc vào đề tài , thời gian, không

gian, hoàn cảnh trong từng giai đoạn thơ Chính vì thế nó phát huy được “hiệu

quả kép” (giá trị miêu tả phản ánh trung tính và giá trị tu từ nâng hiệu quả

nghệ thuật câu, dòng, đoạn thơ) của từ Tố Hữu là nhà thơ thời sự nhất nhưng

lại sáng tạo được nhiều giá trị bền vững với thời gian; nhà thơ luôn hoà nhập

với cuộc đời chung, lại khẳng định được bản sắc riêng độc đáo Và trong đó

có sự đóng góp không nhỏ của việc sử dụng thành công từ ngữ địa phương

trong thơ

2.2.3.1 Số lượng, tần số xuất hiện của các từ ngữ địa phương

Từ kết quả khảo sát chung chúng ta có thể đi đến những phân tích cụ thể

sau:

Nhìn vào bảng thống kê chung ta thấy vốn từ địa phương xuất hiện trong thơ Tố Hữu khá đều đặn: 0,9từ/trang Trong đó có một số tập có số

lượng từ khá nhiều: tập Từ ấy (2,06 từ/trang), tập Việt Bắc (1,41 từ/trang), tập

Ra trận (0,79 từ/trang) Điều này có thể giải thích là do hoàn cảnh lịch sử của

cuộc chiến tranh, thơ Tố Hữu cũng nhằm mục đích tuyên truyền vận động nhân dân Mặt khác do nhà thơ đi hoạt động và sống trong những vùng địa phương khác nhau nên sử dụng vốn từ địa phương là điều dễ hiểu

Các tập sau thì sử dụng từ địa phương hạn chế hơn Có thể là do điều kiện sống của tác giả cũng như chủ đề thơ có sự thay đổi Nếu như các tập trước chủ đề thơ chủ yếu hướng về con người trong chiến tranh, về cuộc chiến đấu để bảo vệ đất nước thì các tập sau hướng về công cuộc xây dựng đất nước

là chủ yếu, những suy tư hồi tưởng của nhà thơ về mình về cuộc chiến tranh

về các chiến sỹ… Cho nên việc sử dụng các từ địa phương vào thơ là có hạn chế và chọn lọc

Tố Hữu là một người Huế, vì vậy mà thơ ông chiếm nhiều âm hưởng của đất Huế: chất dân ca ca dao xứ Huế, sự lắng đọng của những câu hò xứ Huế,… vì vậy là thơ Tố Hữu mang đậm phong vị dân ca Mặt khác Tố Hữu là nhà thơ trữ tình – chính trị vì vậy việc sáng tác thơ không chỉ nhằm mục đích nghệ thuật mà trước hết nhằm mục đích tuyên truyền vận động cách mạng Việc sử dụng từ ngữ địa phương không nằm ngoài ý nghĩa đó

Tố Hữu sử dụng nhiều từ ngữ địa phương trong thơ, tuy nhiên để biết được chính xác từ địa phương nào xuất hiện nhiều nhất và bao nhiêu lần thì phải đi vào thống kê cụ thể hơn Thông qua bảng khảo sát chúng tôi thống kê được số lần xuất hiện ít nhất của từ địa phương là 1 lần, từ có số lần xuất hiện nhiều nhất là 34 lần trên tổng số 285 bài thơ Sau đây là danh sách của 20 đơn

vị các số lần xuất hiện từ 4 lần trở lên (theo thứ tự từ cao đến thấp):

STT Từ ngữ địa phương Từ toàn dân Số lần xuất hiện

Trang 18

Bảng 2: Các từ ngữ địa phương có tần suất sử dụng cao nhất

Dựa trên 285 bài thơ trong các tập thơ người viết lựa chọn trong bảng

khảo sát của mình, thấp nhất là 5 lần (từ “mé”) và cao nhất là 34 lần (từ

“chi”) Đây là một thống kê số lượng thuần tuý, trong đó có từ được dùng

nhiều lần, nhưng chỉ ở một bài thơ (bầm, mé) và chúng được dùng trong giới

hạn địa lí hẹp, có từ được dùng với tần số cũng không nhiều, nhưng có diện

phổ biến rộng, nên dễ hiểu với mọi người, được dùng trong nhiều bài (dơ, bể,

vô,…) Đến đây ta thấy rằng, Tố Hữu chủ yếu sử dụng từ địa phương thuộc

các từ loại như: đại từ nghi vấn, đại từ xưng gọi, danh từ xưng gọi…vào trong

thơ Cho nên sự xuất hiện với tần số cao nằm ở các biến thể ngữ âm mang tính khẩu ngữ: chi – gì, ngàn – nghìn, vô - vào, gài – cài trong đó “chi” có tần

xuất cao “Chi” là đại từ nghi vấn dùng với nhiều kiểu kết hợp khác nhau: cơ chi, kể chi, chi, phải chi, chi rứa… Dưới đây là một vài ví dụ minh hoạ:

Ví dụ 1:

1 Nhớ làm sao bao nhiêu đèo suối

Kể làm chi, mấy tuổi đường đời

về các đại từ bay, má, bầm, mi là các từ xưng gọi cũng được dùng chủ yếu

qua khẩu ngữ Các đại từ này dùng với một tần số lớn như vậy là có mục đích

sử dụng Với một văn bản viết về đề tài chiến tranh thì dùng từ “bay” nhiều

khi để nhấn mạnh ngôi thứ hai số nhiều có nghĩa là bọn mày, đối phương

đứng ở bên kia trận tuyến, “bay” là ngôi thứ hai số nhiều có nghĩa là “bọn mày” để nói lên một thái độ coi thường với kể ngang hàng hoặc sự kinh miệt

của tác giả đối với đối tượng giao tiếp Còn khi viết về người mẹ thì nhà thơ dùng hàng loạt các từ xưng gọi để gọi tên các bà mẹ khác nhau Vì vậy từ chỉ

“mẹ” xuất hiện với một tần xuất lớn: 63 lần

Trang 19

Tố Hữu đã dành những tình cảm đặc biệt cho những người mẹ Việt

Nam Mỗi bà mẹ của từng địa phương đều được tác giả sử dụng một từ địa

phương phù hợp và mang giá trị nghệ thuật cao Qua đó hiện lên hình ảnh

những người mẹ Việt Nam vừa rất thân thương, gắn bó lại vừa là tượng trưng

cho bà mẹ Tổ quốc, trong đau thương vẫn kiên cường và nhân ái

2.2.3.2 Từ ngữ địa phương sử dụng theo vùng

Theo kết quả thống kê và khảo sát của chúng tôi thì số lượng từ địa

phương trong thơ Tố Hữu có cả ở ba vùng phương ngữ là Bắc bộ, Trung bộ,

Nam bộ Một số từ ngữ còn tìm thấy ở khu vực nhỏ hơn, như tỉnh hoặc liên

tỉnh Một số từ chúng tôi tra trong Từ điển tiếng Việt [39] là từ địa phương

nhưng khi tìm trong Từ điển đối chiếu phương ngữ [48] thì không tìm thấy,

chúng tôi coi là các từ chưa rõ gốc phương ngữ, vì vậy chúng tôi cho vào một

bảng khác Dưới đây là kết quả khảo sát

4 Trung – Nam 205 Chi, rứa…

5 Nam 176 Má nhậu, lày sình…

6 Chưa rõ 85 Lánh, mối, dợi…

Ghi chú: ở cột (2) ghi là Bắc – Trung có nghĩa là chúng dùng ở cả

tiếng Bắc và Trung Trung và Nam cũng xin hiểu như vậy

Bảng 3: Bảng thống kê theo vùng

Má- mẹ 31 lần Bầm - mẹ 27 lần

Bộ trong thơ không nhiều

2.2.3.3 Phân nhóm từ ngữ địa phương theo từ loại

Có nhiều quan niệm khác nhau về từ loại Nhìn chung các quan niệm đều thống nhất từ loại ở đặc điểm: có cùng bản chất ngữ pháp và được phân chia dựa vào ý nghĩa, khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu Quan

điểm của các tác giả Nguyễn Văn Tu: “Từ loại là một phạm trù ngữ pháp khá quan trọng theo tiêu chuẩn ngữ pháp, các từ đều được sắp xếp thành từng loại gọi là từ loại” [47, tr 383]

Quan điểm của Đinh Văn Đức: “Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định trong câu Khả năng kết hợp được hiểu theo nghĩa rộng là quan hệ giữa từ và từ trong ngữ lưu” [47, tr 385]

Dựa vào đặc điểm chung về từ loại mà người ta thống nhất có các loại thực từ (danh từ, động từ, tính từ, phó từ) và các từ loại hư từ (tiểu từ, giới từ, liên từ) Tuy nhiên trong bảng thống kê mà chúng tôi khảo sát và phân loại chủ yếu là các thực từ (danh từ, động từ, tính từ)

Dưới đây là bảng khảo sát của chúng tôi

Trang 20

STT Từ ngữ địa phương Từ toàn dân Ví dụ

1 bể biển Anh là muôn trùng sóng bể

2 bạc tiền nói

chung Bạc xuân trong rắc trắngmái hành lang

3 bái bụi Truông dài, bái rộng, đồng khuya

4 bộng gốc cây đại thụ Đâu biết những đêm hè một mình ta bộng si già ẩn náu

5 bưng biền vùng đất trũng Lặn lội bưng biền

6 bông hoa Bông đầy, hạt mẩy

8 beo con báo Mặc chúng nó, lũ sói beo bầm gan tím

mật

9 cồn đồi Em thì mưa nắng mãi cồn chăn trâu

10 cồn cát Chim kêu cành cụt chang chang nắng cồn

11 chí chấy Mà đến loài chấy giận cũng không tha

12 heo lợn Ngoài cửa ô rác bẩn như chuồng heo

13 cươi sân Chúng đứng đùa nghịch hét lớn vang cươi

14 chột nưa cọng khoai nưa Năm bảy cái chột nưa

15 con nhồng con yểng Có con nhồng đâu đó hót trên cao

16 đờn đàn đằm thắm bên em, một tiếng đàn

17 gianh tranh Ngày mỗi ngày từng miếng đất cổ

gianh

18 ghe thuyền Sông rạch Mỏ Cày xím xít thuyền ghe

19 hường hồng Buổi mai hường mới trắng tinh

20 hài giày Em mặc áo hoa em đi hài ám

21 giăng trăng Ngoài sông giăng, trăng sáng biết bao nhiêu

22 kiểng kẻng Kiểng tù khua gắt gỏng

23 lầy sình bùn lầy Đồng chua ruộng trũng lầy sình

24 lối xóm hàng xóm Tưởng tụi bay quên lối xóm không về

25 lon ống bơ Một quan gạo sáu lon thôi

26 lạc nhạc Nghe lạc ngựa dừng chân bên giếng lạnh

27 liếp luống Cột sơn đã đuổi liếp tre gầy

28 mền chăn Mền không mà chiếu cũng không

29 mả mộ Một huyệt mả chôn loài mi tất cả

30 ná nỏ Một cây ná một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ

31 nhành cành Xuân bước nhẹ trên nhành non lá mới

32 ổ tổ Anh lại thấy ổ nhà tranh rách rưới

33 ống dòm ống nhòm Rút ống dòm mà ngước mắt nheo

34 ruồng luỹ tre đâu ruồng tre mát thở yên vui

35 thăng đấu Giặc còn vơ vét hết nồi đến thăng

36 trái quả Mua trái chín cũng là mùa lá rụng

37 truông bãi Truông dài, bãi rộng, đồng khuya

38 tô bát Và rót một tô đầy ngọt chát

39 tơi một loại áo mưa Người ban già lại nức nở trong tơi

40 từng tầng đôi con diều sáo nhộn nhào tầng không

41 vồng luống Vun xới vồng khoai, khóm lúa này

42 xai thành tàu Một lối đi vừa rộng giữa bờ vai

Trang 21

STT Từ ngữ địa phương Từ ngữ toàn dân

1 áo quần lam áo quần xanh

2 bạc tiền nói chung

2 chim cà lơi một loại chim

3 con nhồng con yểng

4 con chuồn cá chuồn

5 con trích cá trích Bảng 4.2: Danh từ chỉ động vật

c, Danh từ chỉ sông nước

STT Từ ngữ địa phương Từ toàn dân

45 từ (xem thêm phần phụ lục 2)

- Xét về mặt sử dụng danh từ được chia thành nhiều nhóm khác nhau Chẳng hạn như: danh từ chỉ đồ vật, danh từ chỉ sông nước, danh từ chỉ con vật, danh từ chỉ thiên nhiên Ngoài ra còn có danh từ chỉ người, nhưng số

lượng ít nên chúng tôi không phân thành nhóm riêng Ví dụ như: lối xóm (hàng xóm láng giềng)

- Xét về mặt cấu tạo thì các từ hầu hết đều là từ đơn (cươi, kiểng, nhành, tơi,…), một số từ cấu tạo hình thức ghép (lối xóm, ống dòm,…)

Trang 22

- Xét về mặt ngữ âm ta thấy các từ địa phương cũng được cấu tạo biến

âm từ ngôn ngữ toàn dân: Biến phụ âm đầu (gianh/tranh, giăng/trăng), phần

vần (hường/hồng, liếc/luống)

- Việc sử dụng các danh từ khác nhau để gọi tên các sự vật Điều đó

cho thấy vốn từ ngữ của nhà thơ rất phong phú Nguyên nhân có thể do Tố

Hữu sống và hoạt động ở nhiều vùng khác nhau, vì vậy mà tiếp xúc với nhiều

sự vật khác nhau Qua đó chúng ta cũng được biết thêm về vốn từ ngữ phong

phú của tiếng Việt

- Đó là những từ cơ bản, gần gũi với nhà thơ, nên gặp hoàn cảnh tương

ứng là các từ như tự bật ra tự nhiên, như một thói quen trong tiếng thốt, trong

lời miêu tả

2, Động từ

Động từ là một loại từ cơ bản của hệ thống từ loại Có nhiều quan niệm

khác nhau về động từ

Theo Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”: “Động từ là từ

loại nói chung dùng để chỉ hành động” [47, tr 96] Đinh Văn Đức cho rằng:

“Cùng với danh từ, động từ là một trong hai loại từ cơ bản (…) động từ thì

gắn với các khái niệm thuộc phạm trù vận động” [47,tr.96]

Nhìn chung các tác giả đều thống nhất ở đặc điểm là các từ ấy chỉ hành

động, hoạt động Chúng tôi cũng theo một hướng nhìn như vậy để phân chia

từ loại cho hành động

Qua bảng khảo sát chung, chúng tôi đã thống kê được bảng từ loại động

từ Cũng như bảng từ loại danh từ, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một số từ mang

tính chất minh hoạ

STT Từ ngữ địa phương

Từ ngữ toàn dân

Ví dụ

1 bu bâu Ghèn nhầy nhụa, ruồi bu trên môi tím

2 coi xem Đó anh coi… giống bò này Hà Lan, Thuỵ sỹ

3 cổi cởi Rồi một hôm nào cổi áo xanh

4 chuồi luồn Tôi chẳng nói, chuồi tay qua cửa sổ

5 dòm nhìn Dòm qua qua lỗ cửa âm thầm

6 gởi gửi Mênh mông nhớ bạn, gởi tình trăm phương

7 giong giăng Cồn Hến buồm giong ngược bến tuần

8 gài cài Chết dưới chân bay vạn bẫy gài

9 hè hợp sức Mà muỗi rệp cũng hè nhau đốt cắn

10 găng gắng Phải găng lên, mỗi đứa chúng mình ơi

11 khơi khêu Dẫu không hơi sức khơi dòng thẳng

12 la gọi Bỡ ngỡ rồi la “cha! Cha ơi”

13 lùa dồn Lùa bung vác đất đắp dày đường cao

14 lãnh lĩnh Mỗi người đi khi lãnh vè vào toa

15 len chen Trăng khuya len xuống rừng già

16 mối nối Thì mau lên, siết chặt mối ngàn dây

17 mê mơ Hỡi nàng công chúa nằm mê

18 ngó nhìn Má già đứng đâyngó vào thằng tây

19 năn nì năn nỉ Cái bụng cứ năn nì

20 nhả thả Đâu đó cồn thơm đất nhả mùi

21 nhẩy nhảy Giật thanh đao, khẩu súng nhẩy ra ngoài

22 nói giùm nói giúp hộ Và con sẽ nói giùm với mẹ

23 nhậu uống

rượu Hàng quán lai rai nhậu rượu tây

24 nhủ bảo Mỗi đêm, nhìn lại nhủ mình

25 ruổi đuổi Hãy cho hồn ta ruổi ruổi theo

Trang 23

26 ruồng càn quét Giặc đi ruồng bố suốt đêm ngày

27 rành rõ Thật giả không rành, bụng cứ lo

28 rảo bước đi Người đi qua rảo gót lặng thinh

29 ráng gắng, cố Nhưng phải ráng cầm hơi

30 rạp cúi Phải rạp đầu trong máu bụi tro tàn

31 riết xiết Riết chặt những bầu tim

32 trông mong Có hay cây quế đợi trông tháng ngày

33 triển lên Triển gân lên, rung chuyển cả dây xiềng

34 trương giương Lão trương hai bàn tay

35 vô vào Chân muốn vô song lại ngừng

Bảng 5: Bảng động từ Qua bảng khảo sát động từ chúng ta có nhận xét:

Động từ chiếm số lượng ít hơn so với danh từ Các động từ này đều nằm

ở cả ba vùng phương ngữ Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ (xem thêm phần phụ

lục) Có ít từ gặp trong văn viết, có lẽ chỉ được dùng ở một vùng hẹp: triển,

trương (từ 33,34 trong bảng 5)

- Xét về cấu tạo, các động từ được cấu tạo là từ đơn tiết (bu, nhòm, triển,

vô, …) Tuy nhiên vẫn có số lượng nhỏ từ đa tiết (nằn nì, nói giùm, ruổi

ruổi,…)

- Xét về mặt ngữ âm, một số động từ có cấu tạo biến âm từ từ toàn dân:

các từ vừa có cấu tạo biến âm theo phần vần (mê/mơ, mối/nối,…) và có biến

âm phụ âm đầu (trương/giương, riết/xiết,…)

- Xét về phương ngữ động từ chủ yếu gặp ở phương ngữ Trung, số ít ở

phương ngữ Nam

3 Tính từ

Tính từ là một loại từ cơ bản trong hệ thống thực từ Cùng với danh từ và

động từ thì tính từ chiếm số lượng lớn trong hệ thống từ địa phương

Theo quan niệm cuả tác giả Đinh Văn Đức thì “Tính từ là từ loại có vị trí quan trọng trong các thực từ, sau danh từ và động từ Tính từ có một số lượng lớn và như lệ thường, được coi là từ loại có ý nghĩa chỉ tính chất, rộng hơn, là chỉ các đặc trưng nói chung” [47, tr.302].Theo quan niệm của tác giả Trương Dĩnh: “Tính từ là từ để chỉ đặc điểm bề ngoài hoặc chỉ đặc điểm phẩm chất có thể trực tiếp làm vị ngữ và có thể kết hợp với các từ chỉ mức độ như: rất, hơi,

… ở trước nó” [ 47, tr 301]

Nhìn chung tính từ có đặc đặc điểm chung là chỉ tính chất của sự vật rộng hơn là chỉ các đặc trưng nói chung Qua khảo sát chúng tôi đã đưa ra một bảng các tính từ Mặc dù không nhiều như danh từ và động từ nhưng lượng từ chỉ tính chất vẫn bổ sung cho vốn từ địa phương trong thơ Tố Hữu một số lượng phong phú

Dưới đây là bảng thống kê của chúng tôi

STT

Từ ngữ địa phương

Từ toàn

1 bợn bẩn Lòng không bơn chút bùn dơ

2 báu quí Với tất cả bao nhiêu tình ngọc báu

3 bao đồng lan man Suy nghĩ chuyện bao đồng

4 chóng nhanh Ngày đi chóng bởi không chờ, tháng chậm

5 dầy dành Dầy chai lấm mỡ

6 dịu huyền Dịu hiền Ôi những sắc diụ huyền gây phấn khởi

7 dơ bẩn Rũ bùn dơ, mặt đất sẽ thanh tân

8 đói lả đói kiệt

sức Cháu thơ đói lả ôm bà

9 đỏ chạch cực đỏ Chao hui quạnh trên vùng khô đỏ chạch

10 đoạ đầy đoạ đày Mà khốn khổ vẫn đoạ đầy xác héo

Trang 24

12 lạt nhạt Đời lát mùi và đau đớn bất công

14 lưng lẽo vơi Tôi chất cả vào rương còn lưng lẽo

15 lạt lẽo nhẽo nhạt Ôi lạt lẽo là những ngày lạnh lẽo

17 nhám ráp Ngón tay gân guốc nhám chai da

18 ngái xa Đi mô cho ngái cho xa

19 rần rần rầm rập Rất vô tư hát nhảy rần rần

21 rởm dởm Văn chương bút bẩn, bao hàng rởm

23 sây sai Đang hút mật của đời sây hoa trái

24 se sẽ khe khẽ Tôi nhổm dậy, tới gần se sẽ đáp

25 thiệt thật Gặp anh, mừng thiệt là mừng

26 tươm bươm Và anh hàng ngày quần áo rách tươm

27 ỏ rõ Tỏ mờ nghe gió hú luông quanh

28 rỗ rộp Gót rỗ hằng quen dẫm bước gai

Bảng 6: Bảng tính từ Qua bảng khảo sát tính từ trên chúng ta có những nhận xét cụ thể sau:

- Xét về mặt số lượng thì tính từ có số lượng ít hơn so với danh từ và

động từ Tuy nhiên nó cũng là loại từ có số lượng khá lớn bổ sung vào vốn từ

địa phương trong thơ Tố Hữu

- Xét về mặt cấu tạo, các tính từ hầu hết có cấu tạo là đơn tiết (bợn,

tươm, rỗ, tỏ,…) Tuy nhiên một số từ song tiết vẫn chiếm số lượng lớn(le te,

nhún nhẩy, mệt lử,…) Đặc biệt là có một số từ cấu tạo hình thức láy, và chủ

yếu là từ láy phụ âm đầu (lưng lẻo, nhún nhẩy, rần rật), có từ được cấu tạo là

láy vần (le te, se sẽ), duy chỉ có trường hợp “rần rần” là láy hoàn toàn Trong

thơ từ láy có giá trị phản ánh về âm, nghĩa rất đắc dụng

- Xét về cấu tạo ngữ âm, một số tính từ địa phương cũng được cấu tạo

biến âm về mặt ngữ âm từ ngôn ngữ toàn dân: Biến âm phụ âm đầu (nhạt

nhẽo/lạt lẽo, se sẽ|khe khẽ, tươm/bươm, …), biến âm phần vần (thối/thúi,

nhún nhẩy/nhún nhảy, thiệt/thật,…), biến âm phần thanh điệu (tỏ/rõ…) Trong

đó biến âm phần vần là chủ yếu

- Xét về miền sử dụng: Tính từ Trung và Nam được sử dụng chủ yếu còn tính từ Bắc được sử dụng ít hơn

Với một số lượng tính từ khiêm tốn nhưng chúng cũng đủ để tác giả nêu đặc trưng riêng về cách thể hiện lời nói của người địa phương, chẳng hạn như:

“Ôi lạt lẽo là những ngày lạnh lẽo”, “Áo quần dơ, cắp chiếc nón le te” thì tạo

nên nét đặc trưng riêng của từng vùng

4, Đại từ

Trong hệ thống từ loại thì đại từ cũng là một trong những loại từ cơ bản trong hệ thống thực từ Có nhiều quan niệm khác nhau về đại từ, nhưng có thể hiểu “Đại từ là những từ để trỏ sự vật, để xưng hô, để thay thế cho danh từ, động từ, số từ và cụm từ trong câu” [47 tr.87]

Theo truyền thống ngữ pháp tiếng Việt, ta có nhiều nhóm đại từ: địa từ nhân xưng, đại từ chỉ định, đại từ nghi vấn.Bảng dưới đây người viết thống kê đại từ nhân xưng

Qua việc khảo sát chúng tôi đưa ra bảng đại từ như sau:

Đại từ nghi vấn Đại từ nhân xưng Đại từ chỉ định

Từ địa phương

Từ toàn dân

Từ địa phương

Từ toàn dân

Từ địa phương

Từ toàn dân

Mô Đâu Bay Chúng mày

Bầm mẹ choa tôi

Mi mày

Trang 25

me mẹ Thày Thầy tui Tôi Bảng 7 : Bảng đại từ nhân xưng Như vậy, đại từ trong thơ Tố Hữu chủ yếu là đại từ nhân xưng được

dùng để xưng hô Ngoài ra còn sử dụng đại từ chỉ định “rày” (chỉ thời gian

gần với thời gian hiện tại), đại từ nghi vấn (chi, mô) Trong các đại từ xưng

gọi ta gặp các từ địa phương gọi các bà mẹ được sử dụng nhiều

Nhìn chung, qua bảng khảo sát từ địa phương trong thơ Tố Hữu thì thực

từ là chủ yếu trong đó có danh từ, động từ, tính từ và đại từ chiếm số lượng

không nhỏ Các đại từ nghi vấn, đại từ xưng gọi, đại từ chỉ định được sử dụng

linh hoạt Chúng đều là các từ khẩu ngữ có tần số sử dụng cao Các loại từ

khác ít được dùng hơn Riêng danh từ chỉ sản vật địa phương thì được chú ý

khai thác

2.2.3.4 Đề tài, thời gian, không gian với vấn đề sử dụng từ ngữ địa

phương

Đề tài, không gian và thời gian trong thơ Tố Hữu gắn bó khăng khít với

nhau, chi phối lẫn nhau Thơ Tố Hữu phản ánh chân thực cuộc đấu tranh cách

mạng của dân tộc ta Cho nên có nhiều đề tài khác nhau, gắn với không gian

và thời gian không giống nhau Với bảy tập thơ sáng tác liên tục từ 1937 đến

năm 2001, Tố Hữu, thông qua cảm xúc của mình, đã giúp cho độc giả hình

dung những bước chuyển mình lớn lao của dân tộc Mỗi tập thơ mang một đề

tài, một nội dung, trong một hoàn cảnh riêng Con đường thơ của Tố Hữu có

thể chia thành bốn chặng:

Giai đoạn mở đầu là thời kì trước cách mạng với tập thơ “ Từ ấy”.“Từ

Ấy” (1937-1946) là tập thơ đầu tay của tác giả, phản ánh thời kỳ lịch sử sôi

động của phong trào cách mạng giành độc lập dân tộc Đây cũng là tiếng reo

nồng nhiệt của một thanh niên bắt gặp lí tưởng cộng sản, cảm nhận thấy tâm

hồn của mình được “mặt trời chân lý chói qua tim” và từ đó tự “buộc lòng với mọi người, để tình trang trải khắp trăm nơi” Và vì vậy, qua những bài thơ

trong “Từ ấy” chúng ta gặp đề tài viết cụ thể về những con người lao khổ thuộc các tầng lớp khác nhau: em bé mồ côi, cô gái giang hồ, chị đi ở và bản thân tác giả phải chịu tù đày, phải đấu tranh với kẻ thù với sự cám dỗ vật chất tầm thường ở con người mình,… Do vậy ngôn ngữ thơ Tố Hữu, trong đó ta gặp nhiều từ địa phương phản ánh khắc hoạ một cách sinh động nhưng chi tiết của bức tranh cuộc sống hiện thực của lớp người cần lao khi đó

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Tố Hữu sáng tác tập thơ

“Việt Bắc”(1946-1954) “Việt Bắc” là bản anh hùng ca ca ngợi cuộc kháng

chiến thần thánh của dân tộc Thiên nhiên và con người thuộc đủ các vùng miền khác nhau hiện lên trong Việt Bắc với nét chân thực, cụ thể nhờ những giá trị tích cực của từ địa phương

Sang đến những năm hoà bình lập lại ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ở miền Nam, rồi lan toả ra cả nước Tố Hữu có ba tập thơ

Gío lộng, Ra trận và Máu và hoa “Gió lộng” (1955-1961) cho chúng ta thấy

hiện thực đất nước và tâm hồn tác giả trong những năm tháng Tổ quốc ta bị

chia cắt, “nửa công trường, nửa chiến trường xôn xao”

“Ra trận” (1962- 1971)và “Máu và hoa” (1972- 1977) là giai đoạn đầu

xây dựng CNXH ở miền Bắc, giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh thống nhất Tổ

quốc Đây là tiếng thơ ca ngợi cuộc chiến đấu trong đó “Tất cả nhân dân đều

là dũng sĩ ”, từ đỉnh cao của nền văn minh tích tụ từ hàng thế kỉ, chiến đấu

chống lại kẻ thù độc ác nhất trong lịch sử loài người

“Một tiếng đờn”(1979-1992) ngân vang một âm hưởng mới, lòng người

lắng xuống với những suy nghĩ về nhân tình, về trách nhiệm của mỗi con

Trang 26

người trong công cuộc xây dựng xã hội văn minh hiện đại Đề tài thơ có sự

thay đổi

“Ta với ta” (1993-2001) là tập thơ thâu nhận và chứng kiến một thế kỉ

nhiều biến động Đó là tập thơ mang nặng tình đời, tình cảm với đất nước với

nhân dân và tràn ngập niềm vui Tập thơ biểu thị sự thấu hiểu tình đời, lẽ đời

của một tâm hồn thơ đẹp, giầu nhân bản, đề tài có khác các giai đoạn trước

Như vậy, sự gắn bó sâu sắc giữa cái riêng và cuộc đời chung là đặc

điểm xuyên suốt trong thơ Tố Hữu Cái tôi của tác giả bộc lộ rõ hơn cả ở tập

thơ đầu tay Từ ấy và tập thơ ở chặng đường cuối Một tiếng đờn Từ ấy có lòng

cảm thương da diết của người thanh niên với những người nghèo khổ, có tâm

trạng xót xa cho quê hương tươi đẹp còn chìm trong đau thương của cuộc đời

cũ Nổi lên hơn cả là tuổi trẻ hiến dâng, sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách và

đấu tranh cho lí tưởng cách mạng Người thanh niên trí thức, khi tâm hồn

bừng sáng lý tưởng cách mạng, đã nhìn cuộc đời từ nhiều phía, trong tầm xa

và chiều sâu, trong quan hệ giữa cái riêng và cái chung, dân tộc và thời đại, sự

sống và cái chết, hạnh phúc và hi sinh… Từ ấy mang theo cái không gian,

thời gian, cái hơi thở và máu thịt của cuộc đời chung, nhưng trước hết là của

tác giả: sôi nổi, trẻ trung Từ ấy có phần là tiếng hát, có phần là nỗi niềm tâm

sự và có cả tiếng nói quyết tâm của ý chí trên con đường đấu tranh Cái tôi

của một người cộng sản trẻ tuổi ghi dấu ấn đậm nét

Nửa thế kỉ sau, cái tôi của tác giả lại có dịp bộc lộ trong một tập thơ tâm

tình: Một tiếng đờn Sự sôi nổi, trẻ trung đã bớt đi thay vào là những chiêm

nghiệm và suy nghĩ sâu sắc trước cuộc đời Mọi suy nghĩ về cuộc đời trong

chặng đường cuối thường mang tâm trạng buồn rất khác với các giai đoạn

đầu Tố Hữu cùng không ở ngoài quy luật của thơ ca cổ kim Nhưng chỗ khác

là tác giả vẫn giữ vững niềm tin vào lẽ sáng của con đường đi mà suốt cuộc

tác giả đã gắn bó Qua tập thơ này, chúng ta bắt gặp tâm tình riêng tuy mang

dấu ấn của thời gian nhưng vẫn còn sự trẻ trung trước cuộc đời và thiên nhiên tạo vật Rất khó phân biệt ở Tố Hữu giữa cái chung và cái riêng Phần riêng tư không nhiều nhưng vẫn đậm nét, có bản sắc và gây ấn tượng Cái chung được miêu tả như có tiếng reo vui của tấm lòng tác giả trước niềm vui lớn của dân tộc, và nỗi đau riêng trước những tổn thất đau khổ của cuộc đời Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mĩ, hai bản anh hùng ca của dân tộc đã được Tố Hữu miêu tả với biết bao cảm xúc trân trọng, cảm phục Quần chúng nghèo khổ,những cuộc đời lam lũ trước đây đi theo Đảng đã vụt trỗi dậy thành những nhân vật anh hùng làm nên bao kì tích suốt trong nửa thế kỉ đấu tranh Tố Hữu là nhà thơ nói được sâu sắc niềm vui, nỗi buồn của dân tộc qua những chạng đường dài lịch sử

Thật vậy, đọc thơ ông, ta thấy hình ảnh đất nước, thiên nhiên, con người Việt Nam hiện lên sinh động qua mỗi thời kỳ, qua mỗi khung cảnh thực của cuộc sống thể hiện qua đề tài thơ, với không khí sôi nổi riêng biệt của từng thời kì, nhưng ta vẫn thấy một điều bất biến trong ông: một tâm hồn nhiệt tình sôi nổi của một thanh niên yêu nước, một chiến sỹ cách mạng trước hiện thực hào hùng của một dân tộc làm nên những thắng lợi vang dội của thời đại ngày nay Góp phần khắc hoạ bức tranh lịch sử vừa khái quát vừa cụ thể sinh động

ấy, chúng ta thấy có các từ địa phương được nhà thơ sử dụng một cách có ý thức và trao cho chúng những chức năng nghệ thuật nhất định

2.2.3.5 Các lớp từ

1, Lớp từ khẩu ngữ

Khẩu ngữ bao giờ cũng là lớp từ chiếm vị trí quan trọng trong mọi phương ngữ Từ được dùng trong khẩu ngữ là biến thể phong cách của ngôn ngữ đặc trưng cho dạng nói Với một phong cách thơ điệu nói thì việc đưa lớp

từ khẩu ngữ vào trong thơ là hết sức cần thiết Tất nhiên khi nó đã sử dụng hợp lý thì tự nó sẽ bộc lộ sắc thái vùng miền

Trang 27

Ví dụ tiếng Huế( phương ngữ Trung) thể hiện rõ âm sắc quê hương ông

trong các vần thơ sau:

Có con chim nhảy nhót hót chơi

Ha! Nó hót cái gì vui vui nghe thiệt ngộ!

Gió gió ơi! Hãy làm giông làm tố

Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi

(Huế Tháng Tám) Tuổi mười bốn những ước ao

Buổi đầu cầm súng biết bao là mừng…

Mẹ ơi, súng đẹp quá chừng!

Con đi đánh giặc mẹ đừng lo chi

Mẹ cười: Thiệt giống cha mi

Chẳng ăn chi cả cứ đi đánh hoài!

(Chuyện Em) Qua khảo sát chúng tôi đã thống kê được các từ mang tính khẩu ngữ

dưới đây:

STT Từ ngữ địa

phương

Từ ngữ toàn dân STT

Từ ngữ địa phương

Từ ngữ toàn dân

1 bên ni bên này 37 loài bay bọn bay

2 bé nhỏ 38 le te tả tơi, rách rới

3 bữa ni hôm nay 39 má mẹ

4 bữa mô bữa nào 40 mi mày

6 bây chừ bây giờ 42 mò nào, đâu

7 bay mày 43 mé phía bên

10 báu quý 46 nhấp nhánh lấp lánh

11 bu bâu 47 năn nỉ năn nỉ

12 chốc lát sau 48 nầy này

13 chúng bay chúng mày 49 nhả thả

15 chầu lần, dịp 51 nói giùm nói giúp

20 chi rứa gì thế 56 ối ứ đọng

22 chóng nhanh 58 Rành Rõ

23 choa chúng tôi 59 Rần rần Rầm rập

24 có hề chi không can gì 60 rởm rởm

26 đanh đinh 62 rứa thế

27 đói lả đói kiệt sức 63 tui tôi

28 đỏ chạch cực đỏ 64 tụi bay bọn bay

29 đi rỏn đi tuần 65 thiệt thật

30 đôi hôm vài hôn 66 thày bố

31 đôi kẻ vài người 67 trông Mong

32 gianh tranh 68 tha kéo

33 kiểng kẻng 69 van Kêu, xin

34 kể chi kể gì 70 vần công đổi công

35 khỏi lo không cần 71 xà linh xà lim

Trang 28

36 lối xóm hàng xóm

Bảng 8: Bảng từ khẩu ngữ Lớp từ khẩu ngữ là lớp từ dễ biểu hiện sắc thái địa phương nhất Bởi vì

đây là lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân địa phương và nếu sử dụng

một cách tự nhiên hợp lí vừa phải thì chúng sẽ đưa ta về với các vùng đất của

quê hương Vì vậy mà đưa các từ khẩu ngữ vào trong tác phẩm văn học sẽ

biểu hiện được sắc thái vùng, miền một cách rõ nét

2, Lớp từ xưng gọi

Theo quan niệm của Lê Thanh Kim (2002) “Từ xưng hô bao gồm những

từ dùng để xưng (tự xưng) hoặc để hô (gọi) một người nào đó ở một ngôi tiếp

nhất định” [30] Đây có thể coi là các đại từ như đã xem xét trên nhưng cũng

có thể coi là một lớp từ riêng, với cách sử dụng rất phong phú trong tiếng

Việt, cả ở các phương ngữ

STT Từ ngữ địa phương Từ ngữ toàn dân Thí dụ

1 ả chị Vợ ta chết? Nhưng sống muôn em ả

2 bay bọn mày Bay coi Tây – Nhật là cha

Sướng chi bay hại nước nhà, bà con

3 tụi bay bọn mày Má hét lớn tụi bay đồ chó

Cướp nước tao cắt cổ dân tao

4 Choa Bọ tôi, chúng

tôi

Chém cha ba đứa đánh phu

Choa đói choa rét, bay thù gì choa

5 má mẹ Có ai biết trong tro còn lửa

Một má già lần nữa không đi

6 mi mày Thấy chưa mi cả Trung Hoa đoàn kết

Đã xô nhào mộng ác của mi

7 me mẹ Ồ lạ chửa đứa xinh trong mủn mĩn

Cười trong chăn và nũng nụi nhìn me

8 Người hàng xứ Người tù Người hàng xứ về lao đi lải rải

Áo quần lam rách rới dáng bơ phờ

Thương các cậu các dì chụi khảo tra

không nói Đào hầm nuôi các bộ tháng năm trường

10 bầm mẹ Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

Bầm quí con, bầm quí anh em

11 ba bố Những mẹ đưa con

Ba bận lên đường

12 mụ bà Coi chừng sóng lớn gió to

Màn xanh đây mụ, đắp cho kín mình

13 O Cô O du kích nhỏ giương cao súng

Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu

14 Bà bủ Bà cụ Bà bủ nằm ổ chuối khô

Nửa đêm thức giấc bà lo trơi bời

15 Mống nào đứa nào

Phên lan gió lọt lạnh lùng

Ngọn lửa bập bùng mé khóc rưng

rưng

17 hĩm Bố đi đâu, hĩm, mẹ đâu nao?

18 Thày Thầy(bố) Mai sau con lớn hơn thày

19 Tui Tôi Tui già rồi, có chết khỏ lo

Bảng 9: Lớp từ xưng gọi Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng lớp từ xưng gọi là chiếm số lượng khá nhiều trong hệ thống đại từ Tuy nhiên chúng tôi vẫn tách riêng nhóm từ này

để nhận xét bởi chúng tôi thấy lớp từ này có một vị trí quan trọng trong hệ thống từ địa phương mà nhà thơ đã sử dụng

Dựa vào bảng khảo sát ta thấy các từ xưng gọi sử dụng có số lượng

không nhiều, nhưng có tần số sử dụng cao như: má (mẹ), bay (mày), chúng

Trang 29

bay (chúng mày, mi, mày) Trong số đó, cũng có những từ ít sử dụng, chỉ

dùng một lần duy nhất như: hĩm, mụ Số còn lại, ta có gặp nhiều hơn Dựa vào

bảng lớp từ xưng gọi chúng tôi có những nhận xét sau:

a Đối với các nhóm từ chỉ mẹ: Bà bầm, mẹ, bà bủ, bà mé, má

Từ địa phương chỉ mẹ khá phong phú đặc sắc, có cả ba vùng phương

ngữ: phương ngữ Bắc (bà bầm, bà bủ, bà mé), phương ngữ Trung (me),

phương ngữ Nam (má) Riêng ở phương ngữ Bắc, còn có một số từ chỉ người

mẹ nữa, nhưng ta chưa có dịp thấy chúng trong thơ Tố Hữu: ( cậu/ mợ) Qua

đó thấy được sự thân thiết gắn bó của nhà thơ với những với những vùng đất

khác nhau và dành tình cảm đặc biệt cho mẹ

b Đối với các từ có cách mở rộng từ cách xưng hô trong quan hệ thân

tộc ra ngoài xã hội, hàm ý tỏ thân mật: từ O(cô) và từ dì (em mẹ, cô) Cách

gọi này làm cho từ trở thành mở rộng nghĩa, trong từ điển gọi là từ đa nghĩa

c Trong các đại từ xưng gọi thì phần lớn tác giả sử dụng nhóm từ

phương ngữ Trung: hĩm, ả, choa, tui, bay, mụ, o

d Nhìn vào 19 đơn vị từ xưng gọi mà nhà thơ Tố Hữu đã sử dụng, có thể

phân chia như sau:

d.1 Các từ xưng hô trong gia đình

Trong gia tộc, xưng hô thể hệ sự tôn ti về mặt huyết thống, thái độ ứng

xử giữa người với người có quan hệ trực tiếp huyết thống trực tiếp và gián

tiếp Nhìn chung, nguyên tắc xưng hô trong gia tộc người Việt là chặt chẽ

nghiêm khắc và ổn định Trong phạm vi này, các từ xưng hô có nguồn gốc là

danh từ thân tộc được dùng là từ xưng hô nhiều hơn cả [30,Tr68]

Từ quan niệm đó chúng tôi có nhận xét như sau:

O, dì, ả,me – ngôi thứ ba số ít Ngoài ra cách xưng gọi là cơ bản còn

mang tính đặc trưng giới tính hĩm (nói về gia đình có đứa con gái đầu lòng:

mẹ hĩm, bố hĩm),mang đắc trưng phương ngữ Trung Bộ

Ba, má đặc trưng phương ngữ Nam Bộ (ngôi thứ ba, số ít)

Bầm, mé, bà bủ – ngôi thứ ba, mang đặc trưng phương ngữ Bắc

Nhìn vào hệ thống từ xưng gọi trong gia đình, chúng tôi nhận thấy các từ xưng gọi này hầu hết là để gọi tên những người phụ nữ trong gia đình

d.2 Các từ xưng gọi ngoài xã hội

Trong giao tiếp xã hội, xưng hô đóng vai trò rất quan trọng Xưng hô phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó người xưng sử dụng từ nào là phụ thuộc vào vị thế của mình và đối tượng để lựa chọn từ và cách xưng phù hợp Trong các phương ngữ trên, có một nét đặc trưng chung: dùng các từ chỉ quan hệ thân tộc là lời xưng gọi

Tiểu nhóm đại từ nhân xưng:

Số ít: tui (ngôi thứ nhất)

Số nhiều: choa (tôi, chúng tôi), tụi tui, bon tui (ngôi thứ nhất) Cũng

có khi dùng với nghĩa số ít

Số ít: mi (ngôi thứ hai)

Số nhiều: bay, tui bay (bọn mày – ngôi thứ hai) Nhìn vào nhóm đại từ nhân xưng này, ta thấy từ “choa” là đai từ lưỡng

số ngôi thứ nhất, Choa có nghĩa là “tôi, chúng tôi”

Nhà thơ Tố Hữu đã xử dụng các từ xưng gọi chủ yếu của phương ngữ Trung với những nét đặc trưng riêng Các từ ấy biểu hiện vừa dân dã, chân chất thân thiện Nghe vừa giản dị và mộc mạc như chính cuộc sống của cuộc đời thường

3, Lớp từ chỉ sản vật địa phương

Việt Nam là vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nhiệt đới gió mùa, quanh năm cây cối tươi tốt ra hoa kết trái Ở Việt Nam có nhiều sản vật khác nhau, nhiều mầu sắc, hương vị khác nhau của cỏ cây hoa lá Nhà thơ Tố Hữu là một người từng trải, đi bôn ba khắc mọi miền đất nước và có những thời gian dài sống hoạt động ở nhiều vùng đất khác nhau như: Thanh Hoá, Quảng Bình,

Trang 30

Tây Nguyên, Đồng Tháp Mười, Việt Bắc, Tây Bắc… Cho nên ta không lạ khi

tìm thấy trong thơ ông một loạt các sản vật địa phương Ví dụ:

STT Từ ngữ địa phương Ví dụ hoặc chú thích

1 bắp Ngô, bắp vàng vàng hạt đầy sân nắng vàng

2 cây đào Cây mận ở miền Nam, cây roi ở miền Bắc

3 cây chuối mật Chuối tây

4 xoài cát Xoài quả to hơi tròn, thịt thơm ngon

12 sầu riêng Một loại trái cây ở Nam Bộ

13 lá buông Một loại lá phơi khô ngả màu trắng

14 lá trung quân Lá dùng lợp nhà đột không cháy

15 bằng lăng Cây săng lẻ

16 con chuồn Cá chuồn

17 con trích Cá trích

18 lòn bon

Trái đặc sản vùng núi Hiên, Giàng, cong gọi là “nan trân” (giống bòn bon) cây ăn quả, lá kép lẻ, quả tròn thành chùm, có 5 múi, có 5 vách ngăn cùi ngọt

19 chột nưa Cọng khoai nưa, một loại khoai họ khoai sọ trồng can ở miền Trung

Bảng 10: Lớp từ chỉ sản vật địa phương

Ngoài bảng trên thì có nhiều từ địa phương chỉ các sản vật, cây trái hoa quả: chôm chôm, tràm, đước,… hiện nay các từ này trở nên quen thuộc với nhân dân cả nước và một số từ trong chúng đã nhanh chóng trở thành từ ngữ

toàn dân: đước, sầu riêng, chôm chôm…

4, Lớp từ chỉ thời gian

Nhóm từ chỉ thời gian cũng mang các đặc điểm riêng của từng vùng phương ngữ Mặc dù số lượng không nhiều nhưng đây cũng là lớp từ biểu hiện lối nói địa phương rất rõ, mà khi đọc lên nói lên chúng ta biết người đó ở miền nào

STT Từ ngữ địa

1 Bữa ni Hôm nay

2 Bữa mô Bữa nào

3 Bữa qua Hôm qua

2.3 Tiểu kết:

Như vậy, qua kết quả khảo sát và phân tích ở trên, người viết rút ra những

nhận xét cơ bản sau:

Trang 31

1 Trong bảy tập thơ, Tố Hữu dùng 650 lượt từ ngữ địa phương Các từ

này chủ yếu gặp ở ba tập: Từ ấy, Việt Bắc, Ra trận Các tập còn lại có số

lượng từ ít hơn

2.Từ địa phương tập trung nhiều nhất ở hai vùng phương ngữ là Trung

Bộ và Nam Bộ Điều này dễ hiểu bởi Tố Hữu là người Huế, và đề tài thơ về

con người ở các vùng đất này trở đi trở lại trong thơ ông

3 Trong những từ địa phương mà Tố Hữu sử dụng, có những từ có tần

số xuất hiện nhiều như: chi (34 lần), bay (32 lần)…các từ này chủ yếu là đại

từ xưng gọi thuộc lớp từ khẩu ngữ Có từ địa phương khác xuất hiện ít, đặc

biệt có từ chỉ xuất hiện một lần duy nhất.( o, hĩm, bầm…)

4 Khi sử dụng từ địa phương Tố Hữu sử dụng nhiều từ loại khác nhau

rất phong phú và đa dạng: danh từ, động từ, tính từ,đại từ Trong đó danh từ

còn chia làm nhiều nhóm nhỏ khác nhau: danh từ chỉ đồ vật, danh từ chỉ con

vật, danh từ chỉ sông nước, danh từ chỉ thiên nhiên

5 Người viết nghiên cứu một số lớp từ được sử dụng trong thơ Tố Hữu

như lớp từ khẩu ngữ, lớp từ xưng gọi, lớp từ chỉ thời gian, lớp từ chỉ sản vật

địa phương Những lớp từ này phản ánh tinh tế, rõ ràng lối nói của nhân dân

từng vùng, đặc biệt là trong thơ có lời đối thoại, miêu tả

6 Nhìn chung trong từng tập thơ, từng giai đoạn từ địa phương được tác

giả sử dụng với mức độ khác nhau.Tố Hữu dùng nó có sự lựa chọn để phù

hợp với hoàn cảnh, không gian, đối tượng và mục đích sáng tác trong mỗi tác

phẩm Do vậy, từ địa phương trong thơ Tố Hữu có hiệu quả nghệ thuật

CHƯƠNG 3:

QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TỐ HỮU

TRONG VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG

3.1 Quan điểm về thơ và và ngôn ngữ thơ của Tố Hữu

Tố Hữu có quan điểm nghệ thuật khá rõ ràng và nhất quán trong sự

nghiệp sáng tác thơ ca Qua những ý kiến Tố Hữu phát biểu về thơ ca, từ

những câu chuyện về thơ, những lời tâm sự làm thơ của ông, cũng như từ cách ông đánh giá về thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Phan Bội Châu…và từ thực tiễn sáng tác tác phong phú của nhà thơ, chúng ta có thể nhận thức được

một cách rõ ràng quan điểm của Tố Hữu về thơ

Từ khi được "Mặt trời chân lý chói qua tim" Tố Hữu đã có quan niệm khá chính xác về thơ Đứng trên cương vị của người chiến sĩ cách mạng, ông luôn yêu cầu thơ trước hết phải là thơ có tác dụng đóng góp cho việc cải tạo

xã hội, chứ không phải mang một mục đích tự thân Tố Hữu nói với các thi sĩ,

để tự nhắn nhủ mình và cũng là để phê phán quan điểm nghệ thuật yếu đuối tiêu cực, u buồn của cả một thế hệ đương thời

Thi sĩ hỡi, đi tìm chi vơ vẩn Trong hồn già đã chết những yêu mơ

…Hãy cắt đứt những dây đàn ca hát Những sắc tàn vị nhạt của ngày qua Nâng đón lấy màu xanh hương bát ngát Của ngày mai muôn thuở với muôn hoa

(Tháp đổ) Theo Tố Hữu thơ phải được bắt dễ sâu xa từ trong đời sống của quần chúng cần lao:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

(Từ ấy) Phải thực sự sống trong sự đùm bọc của quần chúng “Tháng ngày chát

cổ cơm khoai sắn - Rách rưới lều che tạm gió sương" phải thực sự là "con của vạn nhà" là "em của vạn kiếp phôi pha" là "anh của vạn đàn em nhỏ" thì người làm thơ mới mong muốn nói được điều gì có ý nghĩa Khi Tố Hữu chọn chỗ đứng của mình ở phía những con người thuộc giai cấp cần lao: những

Ngày đăng: 04/08/2016, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.1. Bảng thống kê chung - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
2.2.1. Bảng thống kê chung (Trang 16)
Bảng 2: Các từ ngữ địa phương có tần suất sử dụng cao nhất - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 2 Các từ ngữ địa phương có tần suất sử dụng cao nhất (Trang 18)
Bảng 3: Bảng thống kê theo vùng - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 3 Bảng thống kê theo vùng (Trang 19)
Bảng khác. Dưới đây là kết quả khảo sát. - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng kh ác. Dưới đây là kết quả khảo sát (Trang 19)
Bảng 4: Bảng danh từ - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 4 Bảng danh từ (Trang 20)
Bảng 4.1: Bảng danh từ chỉ đồ vật - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 4.1 Bảng danh từ chỉ đồ vật (Trang 21)
Bảng 5: Bảng động từ  Qua bảng khảo sát động từ chúng ta có nhận xét: - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 5 Bảng động từ Qua bảng khảo sát động từ chúng ta có nhận xét: (Trang 23)
Bảng 6: Bảng tính từ  Qua bảng khảo sát tính từ trên chúng ta có những nhận xét cụ thể sau: - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 6 Bảng tính từ Qua bảng khảo sát tính từ trên chúng ta có những nhận xét cụ thể sau: (Trang 24)
Bảng 7 : Bảng đại từ nhân xƣng          Nhƣ  vậy,  đại  từ  trong  thơ  Tố  Hữu  chủ  yếu  là  đại  từ  nhân  xƣng  đƣợc - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 7 Bảng đại từ nhân xƣng Nhƣ vậy, đại từ trong thơ Tố Hữu chủ yếu là đại từ nhân xƣng đƣợc (Trang 25)
Bảng 8: Bảng từ khẩu ngữ - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 8 Bảng từ khẩu ngữ (Trang 28)
Bảng 9: Lớp từ xƣng gọi - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 9 Lớp từ xƣng gọi (Trang 28)
Bảng 11: Từ  ngữ chỉ thời gian - KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Bảng 11 Từ ngữ chỉ thời gian (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w