1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng tự sự trong thơ hữu thỉnh

105 647 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 829,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đi sâu tìm hiểu cảm hứng thế sự trong hai tập thơ trên sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quan điểm sáng tác, đặc điểm phong cách và cá tính sáng tạo của nhà thơ Hữu Thỉnh.Vì những lí

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG THƠ HỮU THỈNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, năm 2015

Trang 2

động viên giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo, của gia đình và bạn bè Tôi xin được ghi nhớ và gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả mọi người

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến PGS.TS Lí Hoài Thu, cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn của mình

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, phòng Tư liệu Khoa Văn học, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Trường ĐHSP Hà Nội 2, Thư viện Trường ĐHSP Hà Nội

1, đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo ý kiến của những người đi trước, dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của PGS.TS Lí Hoài Thu- người hướng dẫn khoa học của tôi

Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của tôi trong luận văn này

Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2015

Người viết

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng nghiên cứu 6

5 Phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Đóng góp của luận văn 7

8 Cấu trúc luận văn 7

PHẦN NỘI DUNG 8

Chương 1: Vấn đề cảm hứng, cảm hứng thế sự trong thơ và hành trình thơ Hữu Thỉnh 8

1.1 Vấn đề cảm hứng và cảm hứng thế sự trong thơ 8

1.2 Cảm hứng thế sự trong thơ sau 1975 11

1.3 Hành trình thơ Hữu Thỉnh 14

Chương 2: Những nguồn cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh 26

2.1 Cảm hứng trước những đổi thay của thời cuộc, quê hương, đất nước 26

2.2 Cảm hứng về đời sống nhân tình 36

2.3 Cảm hứng về thời gian 49

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh 61

3.1 Hệ thống hình ảnh, biểu tượng 61

3.2 Ngôn từ thơ Error! Bookmark not defined 3.3 Giọng điệu 83

PHẦN KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước, ông cùng thời với Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh…Những nhà thơ đã làm nên cả một dàn hợp xướng đa dạng và phong phú Sau khi chiến tranh kết thúc, họ đã tìm về với cảm hứng thế sự và lại tiếp tục đóng góp cho thơ ca đất nước thời kỳ đổi mới những vần thơ giàu nhiệt huyết Cùng với thời gian, thế

hệ các nhà thơ này trở nên già dặn trong cách nghĩ suy và khi nhận ra những biến đổi của đời sống xã hội, họ đã đem vào trong sáng tác của mình những suy tư, và nhiều khi cả nỗi cô đơn, hoài nghi,âu lo về cuộc đời, về con người

Là nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ chống Mỹ và thơ ca đương đại, sáng tác của Hữu Thỉnh khá liền mạch, tiêu biểu cho quá trình vận động của thơ ca cách mạng Việt Nam trong những thập niên gần đây và đã gây được tiếng vang lớn trên thi đàn Thơ Hữu Thỉnh vừa mang những đặc điểm chung của thơ ca kháng chiến chống Mĩ, vừa có những nét độc đáo riêng về cảm hứng

và thi pháp Ông đã tạo dựng được một tiếng thơ mới mẻ bằng một loạt những tác phẩm thơ trữ tình và trường ca, có phong cách, tiếng nói riêng, không bị khuất lẫn trong dàn đồng ca chung của thế hệ Nhiều bài thơ của Hữu Thỉnh

đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường và được các nhạc sỹ phổ nhạc Thơ Hữu Thỉnh đã ghi lại cái hào khí của thời đại anh hùng, nhiệt tình khẳng định lý tưởng, khí thế sục sôi, hào sảng qua giọng thơ khỏe khoắn, vui tươi

mà sâu sắc

Là một trong những cây bút chủ lực của thơ ca chống Mỹ và thơ ca đương đại, thơ Hữu Thỉnh có nhiều trăn trở, suy tư về đời sống và số phận con người Ông buồn đau khi chứng kiến những bất công ngang trái của cuộc đời Nhà thơ nói cái xót xa cũng là để thức tỉnh, để phát đi một tín hiệu cấp

Trang 6

thiết: “con người đừng tự biến mình thành một thế giới vô cảm, lạnh lùng, trái tim đừng chai lì trước nỗi đau đồng loại” Hữu Thỉnh thể hiện nó bằng một tiếng thơ vừa đậm chất dân tộc, vừa hiện đại

1.2 Thơ Hữu Thỉnh được coi như bản trường ca lịch sử ghi lại những năm tháng đấu tranh ác liệt của dân tộc Khi chiến tranh và bom đạn đã đi qua, nhà thơ đã giã từ màu xanh áo lính trở về với cuộc sống thường ngày Ngòi bút của ông lại hướng vào cuộc hành trình trở về với biển Cuộc hành trình đó vang lên với âm hưởng như một khúc “trường ca biển” hào hùng, dữ dội của người lính Họ phải chịu đựng hy sinh, gian khổ trong cảm giác thiệt thòi như “những dòng sông hóa thạch” cầm cụi và lặng lẽ Hòa mình vào công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh, ngòi bút của Hữu Thỉnh lại hướng vào cuộc hành trình đi tìm những giá trị nhân bản mà cuộc sống xô bồ

trước mắt đã làm mờ nhạt đi Hai tập thơ Thư mùa đông (1994) và Thương

lượng với thời gian (2005) phản ánh chân thực những suy tư, trăn trở của ông

về cuộc đời và con người hiện đại Việc đi sâu tìm hiểu cảm hứng thế sự trong hai tập thơ trên sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quan điểm sáng tác, đặc điểm phong cách và cá tính sáng tạo của nhà thơ Hữu Thỉnh.Vì những lí do

trên, chúng tôi đã chọn đề tài Cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh (qua

Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian) cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử vấn đề

Hữu Thỉnh là nhà thơ đương đại nổi tiếng với sự nghiệp thi ca không nhỏ Những sáng tác của ông đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của giới phê bình văn học Nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về thơ ông, đặc biệt là

những nghiên cứu liên quan tới Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian

đã đề cập đến nhiều khía cạnh nổi bật của thơ Hữu Thỉnh

Bài Thư mùa đông của Hữu Thỉnh của tác giả Trần Mạnh Hảo in trên

báo Văn nghệ Quân đội số 4/1996 đã khẳng định những đặc sắc của thơ Hữu

Trang 7

Thỉnh qua tập thơ Thư mùa đông như kiệm lời, hàm súc nhưng thể hiện sâu

sắc xúc cảm trong lòng người đọc Điều đáng chú ý là bài viết đã nhận ra được chất đồng quê, sự “ hồn nhiên” và cả nỗi cô đơn, đau buồn của thơ Hữu

Thỉnh Đến tập thơ Thượng lượng với thời gian, thơ ông có một bước đột phá

mới bởi nó đặc biệt quan tâm tới vấn đề đời tư, thế sự, những trăn trở, suy tư

và đầy trải nghiệm của một hồn thơ nặng lòng với đời

Trong bài viết Đọc “Đường tới thành phố” của Vũ Quần Phương in

trên tạp chí Văn nghệ Quân đội số 43 năm 1997 đã phát hiện “ Hữu Thỉnh không xây dựng những tính cách hoàn chỉnh, anh chỉ dừng lại đi sâu vào một vài tâm trạng, một vài mẫu người Phần xúc động nhất và tạo nên tầm khái quát của trường ca chính là những mẫu người đó…” Thiều Mai cũng có

những nhận xét khá tinh tế về nhiều phương diện trong bài viết Đọc “Đường

tới thành phố” của Hữu Thỉnh: “Cảm xúc dạt dào, phong phú và mạnh mẽ là

chỗ mạnh của Hữu Thỉnh… Trong lòng cuộc chiến đấu chống Mỹ vĩ đại của nhân dân, Hữu Thỉnh thường nghĩ về những vấn đề lớn lao của đất nước, của thời đi đại Anh khao khát thơ mình phản ánh và lí giải được những điều đó… Thành công chủ yếu nhất của Hữu Thỉnh cũng chính là thể hiện vừa sâu, vừa tỉnh, vừa khái quát, vừa tỉ mỉ, chí lí những tình cảm, những suy ngẫm của người chiến sỹ trong cuộc chiến đấu chống Mỹ Cái vững của ngòi bút Hữu Thỉnh là miêu tả trực diện những tổn thất mà tác phẩm vẫn không chìm xuống trong không khí bi đát, trái lại vẫn thấy được xu thế tiến lên của cuộc chiến đấu…”

Trong cuốn Văn chương cảm và luận in 1998 của Nguyễn Trọng Tạo

có bài Hữu Thỉnh- thành phố hồn quê cũng đã đánh giá cao yếu tố truyền

thống, yếu tố thôn quê dân dã trong những sáng tác của Hữu Thỉnh Ông cho rằng chính những yếu tố dân gian và truyền thống của dân tộc đã làm nên phong cách và khẳng định vị thế của thơ Hữu Thỉnh trên thi đàn đương đại

Trang 8

Năm 1999, trên tạp chí Văn học số 12, nhà nghiên cứu phê bình Lý

Hoài Thu có bài Thơ Hữu Thỉnh -một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc

đến hiện đại Bài viết đã đưa ra những minh chứng cho ý kiến “luôn biết đào

sâu, khai thác cái hay, cái đẹp của dân gian, dân tộc”,“cách tân”,“sáng tạo cái mới” của Hữu Thỉnh Điều đó, tạo nên một phong cách thơ kết hợp nhuần nhị truyền thống và hiện đại, có sức cuốn hút Khởi đầu từ cái nôi nghệ thuật của Trường Sơn khói lửa, nhà thơ đã viết về cảm hứng về Tổ quốc, về nhân dân anh hùng, về khát vọng độc lập Dù viết về đề tài Tổ quốc hay những số phận

con người, thơ Hữu Thỉnh vẫn thấm đẫm sắc vị dân gian: “ Bỗng nhận ra

hương ổi/ Phả vào trong gió se/ Sương chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về… (Sang thu)

Về mảng thơ tình, Hữu Thỉnh viết không nhiều, nhưng những bài thơ của ông đều cho người đọc thấy dư vị đắng, xót xa của những cảm xúc khi yêu Điều đặc biệt làm nên sức hấp dẫn của thơ Hữu Thỉnh là sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại, thể hiện ý thức luôn biết chủ động

“khai thác cái hay, cái đẹp của dân gian, của dân tộc”, và “biết dồn tâm lực, tài năng cho việc tìm kiếm, sáng tạo cái mới”

Nhà phê bình Vũ Nho trong Vài cảm nhận về Thương lượng với thời

gian của Hữu Thỉnh đã chỉ ra một Hữu Thỉnh thể hiện được bản lĩnh của một

nhà thơ có tầm vóc, được nhiều bạn đọc yêu thích, ngưỡng mộ, những vần thơ của ông đã làm say đắm biết bao thế hệ bạn đọc bởi những cảm nhận rất tinh

tế và tài hoa Trong ông không còn cái bồng bột mạnh mẽ, tinh tế của buổi đầu biết yêu, nhưng tình yêu ấy lại được cảm nhận theo những mùi vị riêng

Bài viết Thơ Hữu Thỉnh của tác giả Vũ Nho in trong Đi giữa miền thơ

năm 2001 cũng đã nhận xét, đánh giá bao quát về thơ Hữu Thỉnh

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp có bài viết Hữu Thỉnh và quá trình

tự đổi mới thơ in trên tạp chí Văn học số 9/2003 đã đi sâu vào những quan

Trang 9

niệm và ý thức đổi mới thơ ca của Hữu Thỉnh Những vần thơ của ông thật gần gũi, bình dị và chân thật, gần với đời sống thường nhật, chú trọng phản ánh đời sống với những suy tư, trăn trở… Chính điều đó làm nên sức lôi cuốn

kì diệu của thơ Hữu Thỉnh

Năm 2005, tác giả Lưu Khánh Thơ có bài viết Hữu Thỉnh một phong

cách thơ sáng tạo đăng trên tạp chí văn học, sau này được tập hợp vào cuốn Thơ và một số gương mặt thơ Việt Nam hiện đại đã khẳng định phẩm chất thơ

Hữu Thỉnh là “đằm thắm, đôn hậu, nghiêng về phía rợp mát” và “chìm lắng yêu thương” Đồng thời tác giả nhấn mạnh khả năng tiếp thu truyền thống dân tộc trong cách ví, cách nói, đặc biệt là cách tư duy, liên tưởng độc đáo của nhà thơ

Năm 2011, nhà phê bình Vũ Nho có bài Sức bền của một ngòi bút, in trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam đã cho rằng: Thơ Hữu Thỉnh đẹp

một vẻ đẹp đa dạng Ban đầu là sự hồn nhiên, tươi tắn, tinh tế của một người lính trẻ Sau là những chiêm nghiệm, suy tư, trăn trở của người lính từng trải Rồi từ một niềm tin tuyệt đối đến chỗ có lúc phân vân, hoang mang nhưng

vẫn kiên trì “…tin, sau cay đắng vẫn tin” (Thưa thầy) Bên cạnh vẻ đẹp của

những người lính trong chiến tranh là vẻ đẹp của quê hương, đất nước, vẻ đẹp bình dị của làng quê với những cỏ hội hè, cau ấp bẹ, cây rơm gầy, cuốc kêu ngoài bến xa, bầu trời trên giàn mướp…

Năm 2014, nhà nghiên cứu phê bình văn học Lí Hoài Thu lại có bài

“Cây như là sinh mệnh thứ hai của thơ Hữu Thỉnh” đăng trên tạp chí Nghiên

cứu văn học số 12 đã khẳng định: “Trong thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh,

“hình cây bóng lá” là một kiểu nhân vật trữ tình chứa đựng nhiều cung bậc tình cảm, những vui buồn riêng tư và nỗi niềm nhân thế” “Cây và hệ thống

các thủ pháp miêu tả và biểu hiện, so sánh, ví von, nhân hóa và lạ hóa…cũng

không là ngoại lệ Cây trong thơ Hữu Thỉnh là dấu ấn thi pháp, là gương mặt

Trang 10

và số phận con người, là kí ức dân tộc và tín hiệu văn hóa…Một cách khái

quát: Cây là sinh mệnh thứ hai có sức sống và độ ám ảnh, là yếu tố nổi bật lập

nên một phong cách thơ độc đáo và dồi dào tiềm lực sáng tạo”

Ngoài những bài viết tiêu biểu trên, thơ Hữu Thỉnh còn trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều chuyên luận, luận văn, luận án, khóa luận…Chuyên

luận Thi pháp thơ Hữu Thỉnh của tác giả Nguyễn Nguyên Tản do Nhà xuất

bản Hội nhà văn Hà Nội xuất bản năm 2005 đã khảo cứu khá toàn diện những

sáng tác của Hữu Thỉnh nhìn từ góc độ thi pháp Những chặng đường thơ

Hữu Thỉnh ( Nguyễn Minh Phương); Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh qua hai tập thơ Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian của Nguyễn Thị

Ngọc Linh…

Tiếp nối những công trình đã có, luận văn đi vào nghiên cứu, tìm hiểu

Cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh để có cái nhìn toàn diện, khái quát

hơn về tư duy nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo và phong cách thơ Hữu Thỉnh

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu Cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh nhằm

nhận diện được chân dung thơ Hữu Thỉnh, từ đó khái quát được những vấn đề

về tài năng, cá tính nghệ thuật của nhà thơ

4 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn, chúng tôi đi sâu nghiên cứu những biểu hiện và đặc điểm của cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh

5 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu, khảo sát hai tập thơ Thư mùa

đông (1994) và Thương lượng với thời gian (2005) của Hữu Thỉnh Ngoài ra,

chúng tôi còn tham khảo thêm một số bài thơ và hai trường ca Biển và Đường

tới thành phố

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

Đế thực hiện đề tài ,chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

7 Đóng góp của luận văn

Thông qua việc khám phá Cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh,

luận văn đưa đến một cái nhìn toàn diện, cái nhìn vào bên trong, từ đó khắc họa nên chân dung nhà thơ Hữu Thỉnh

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Vấn đề cảm hứng,cảm hứng thế sự trong thơ và hành trình

thơ Hữu Thỉnh

Chương II: Những nguồn cảm hứng thế sự trong thơ Hữu Thỉnh

Chương III: Nghệ thuật biểu hiện cảm hứng thế sự trong thơ Hữu

Thỉnh

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Vấn đề cảm hứng, cảm hứng thế sự trong thơ và

hành trình thơ Hữu Thỉnh

1.1 Vấn đề cảm hứng và cảm hứng thế sự trong thơ

Cảm hứng là một thuật ngữ từ lâu đã được các triết gia cổ Hi Lạp và sau này là Hêghen và Bêlinxki sử dụng để chỉ trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả

Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại Bêlinxki coi: “Cảm hứng là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực” Cảm hứng được bắt nguồn

từ cuộc sống thực tại “Cuộc sống sẽ nuôi dưỡng và bồi đắp cảm xúc người nghệ sỹ luôn tươi mát càng thêm phong phú” “Đó là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật”

Cảm hứng biểu thị sự tác động qua lại giữa tình cảm người nghệ sĩ và thế giới khách quan Không thể có một cảm hứng chung chung, trừu tượng,

mà cảm hứng phải cụ thể Nghĩa là cảm hứng phải xuất phát từ một đối tượng

cụ thể bên ngoài tinh thần người nghệ sĩ, nhưng nếu thiếu đi thế giới tinh thần nhạy cảm của người nghệ sĩ thì chưa thể có cảm hứng, nghĩa là cảm hứng phải gắn liền với tư tưởng Không có cảm hứng sẽ không có tác phẩm nghệ thuật Cảm hứng xuất hiện khi hội tụ đủ hai yếu tố khách quan và chủ quan

Cảm hứng nghệ thuật là trạng thái tâm lí, tình cảm bao trùm lên toàn bộ quá trình sáng tác của nhà văn nói riêng và nghệ sĩ nói chung Đó là sự kết tinh, tập trung cao độ của trí tuệ, cảm xúc dồi dào và trạng thái hưng phấn để tạo thành sự kích thích, là tiền đề của tâm lý

E.G.Ruđneva trong Dẫn luận nghiên cứu văn học quan niệm rằng: “Sự

lí giải, đánh giá sâu sắc và chân thực- lịch sử đối với các tính cách được miêu

Trang 13

tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn và tác phẩm của nhà văn” [110,141]

Bêlinxki lại quan niệm về cảm hứng một cách cụ thể hơn: “Trong những tác phẩm thơ đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm trừu tượng, được diễn tả một cách giáo điều, mà nó tạo thành linh hồn tỏa vào trong tác phẩm, giống như ánh sáng chiếu vào pha lê Tư tưởng trong sáng tác thi ca, đó chính là cảm hứng Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt thành nồng cháy gợi lên bởi một tư tưởng nào đó” Bên cạnh đó, Bêlinxki còn đề cao vai trò của việc nghiên cứu cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng tác của họ

Ở Việt Nam, vai trò của cảm hứng nghệ thuật trong sáng tạo thơ văn

nói chung cũng đã được chú ý từ rất lâu Trong Từ điển thuật ngữ văn học,

các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến những người tiếp xúc tác phẩm”[43,39] Cảm hứng thống nhất với

đề tài, tư tưởng tác phẩm sẽ đem đến cho tác phẩm “một không khí cảm xúc tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của tác phẩm”, là

“cái mức căng thẳng cảm xúc mà nhờ đó nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới quan của mình trong tác phẩm”[43,39]

Khi bàn luận về làm thơ, Lê Quý Đôn xem khái niệm cảm hứng như một trạng thái đong đầy của cảm xúc: “Trong lòng có cảm xúc thực sự, rung cảm nên lời”[39,93] Còn Nguyễn Quýnh đã đề cao vai trò của cảm hứng trong thơ: “Người như sông biển, chữ như nước, hứng thì như gió, gió thổi từ sông biển cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng, thành ba đào Hứng chạm vào người ta cho nên chữ nổi dạy, không thể nín được mà sinh ra

ở trong lòng, ngâm vịnh ở ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên, giấy mực Gió

Trang 14

không bám nổi vào chỗ nào nhất định, hứng cũng biến động, không ở yên, mỗi cái tuy ở phương Đông, Tây, Nam, Bắc mà buột ra rất nhanh Người làm thơ không thể không có gió vậy”[39,103]

Theo cách hiểu của Phùng Quý Nhâm thì cảm hứng là: “nhiệt hứng, niềm say mê, là sự trào dâng của tư tưởng- tình cảm cao độ của người nghệ sĩ khi họ chiếm lĩnh bản chất của cuộc sống, của con người, nó được thể hiện và biểu hiện một cách nghệ thuật trong tác phẩm”[105,81]

Trong Lí luận văn học- vấn đề và suy nghĩ, Huỳnh Như Phương và

Nguyễn Văn Hạnh cũng đã nhấn mạnh vai trò quyết định của cảm hứng chủ đạo đối với sự thành công của tác phẩm: “Bộc lộ khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm, cảm hứng chủ đạo thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm, vào thế giới hình tượng bao gồm không gian, thời gian, tính cách nhân vật, vào xung đột và cốt truyện, vào ngôn từ và giọng điệu của một bài thơ, một truyện ngắn, một thiên tùy bút hay một cuốn tiểu thuyết”[51,210]

Vũ Tuấn Anh từng nhìn nhận: “Nhìn chung, cái tôi hiện thực -thế sự biểu hiện thái độ tích cực- xã hội của nhà thơ: sự phẫn nộ trước những cái phi

lí, nỗi lo âu về sự xuống cấp của nhân cách và những giá trị tinh thần Đọng lại trong thơ là nỗi buồn, nỗi đau thế sự”[2,132]

Trong công trình Cái tôi trữ tình trong thơ, Lê Lưu Oanh đã chỉ ra một

số biểu hiện cụ thể, đặc trưng nhất của khía cạnh cái tôi thế sự- đời tư Thứ nhất: “Tôn trọng sự thật là mô-típ phổ biến”[108] Thứ hai: “Trách nhiệm công dân, đạo đức nghệ sĩ được đặt ra âm thầm nhưng lại khá quyết liệt”[108,80] Thứ ba: “Xuất hiện giọng nói ngược, những cái nhìn giả cổ tích với một kiểu nhận thức lại” trước những “sự phức tạp của đời sống với sự đảo lộn của các giá trị, những quan hệ chuẩn mực cũ ”[108,81] Thứ 4: “Cảm nhận về trạng thái xã hội hiện tại với những khiếm khuyết, băng hoại về môi

Trang 15

trường và nhân cách, chứa đầy những thông tin nhức nhối về số phận của con người”[108,83]

1.2 Cảm hứng thế sự trong thơ sau 1975

Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu Chính những cảm xúc đó đã tạo niềm cảm hứng cho các nhà thơ sáng tác nên những vần thơ đủ sức lay động lòng người Cảm hứng như một sức mạnh vô hình làm biến đổi thế giới tâm tình, khơi gợi những tình cảm mạnh mẽ, thúc đẩy nghệ sỹ sáng tạo và tạo lập những thế giới nghệ thuật độc đáo

Xuyên suốt hành trình sáng tác văn chương của dân tộc ta là cảm hứng yêu nước, cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự Theo Từ điển tiếng Việt ( Nxb Đà Nẵng 2006) thì “thế sự” tức là việc đời (gồm thời thế và thế thái nhân tình) Nói đến cảm hứng thế sự là nói đến cảm hứng về cuộc sống đời thường, về con người của thực tại Những tác phẩm mang cảm hứng thế sự thường hướng đến sinh hoạt hàng ngày của con người, khám phá mọi phức tạp, éo le và cả cái cao quý trên hành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con người

Cảm hứng thế sự đã xuất hiện trong thơ từ thế kỉ XV Kế thừa cảm hứng yêu nước và âm hưởng còn sót lại của hào khí Đông A, văn chương giai đoạn này chuyển dần sang cảm hứng thế sự, đi vào chuyện đời tư, chuyện người, phê phán các tệ nạn xã hội, sự suy thoái về đạo đức con người Cảm hứng ấy xuất hiện trong thơ Nguyễn Trãi, thơ Lê Thánh Tông, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm…Cảm hứng thế sự còn tồn tại và phát triển theo tiến trình lịch sử dân tộc Sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, đất nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất, lịch sử sang một trang mới tươi sáng hơn Đến thập kỉ 80, đặc biệt sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), không khí đổi mới- dân chủ tác

Trang 16

động mạnh mẽ đến đời sống văn học nghệ thuật Văn nghệ sĩ được “cởi trói”, được tự do sáng tác Họ có nhiều trăn trở về trách nhiệm của người cầm bút trong sự nghiệp đổi mới nền văn học nước nhà Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong văn học 1945-1975 được thay thế bằng cảm hứng thế sự Con người sử thi được thay thế bằng con người nếm trải Đề tài, chủ đề không còn bó hẹp, thiên về khai thác các vấn đề liên quan đến những nhiệm vụ chính trị trước mắt mà được mở rộng đến các đề tài về gia đình, thân phận, tình yêu,

số phận con người…Nếu như trước đây, các nhà thơ thường e ngại, né tránh, ngại ngùng khi khai thác những mặt trái, góc khuất, phần chìm của hiện thực cuộc sống thì trong thơ sau 1975, nhiều nhà thơ đã công khai khai thác những khía cạnh ấy Đó là những nỗi buồn vì cuộc sống mưu sinh làm cho con người

chỉ chú ý đến chuyện tồn tại và có những trắc ẩn về riêng tư, lừa dối: Em chết

trong nỗi buồn/ Chết như từng giọt sương/ Rơi không thành tiếng” (Lâm Thị

Mĩ Dạ)

Cảm hứng sử thi vẫn được tiếp nối như một quán tính nghệ thuật Không phải ngẫu nhiên mà giai đoạn này xuất hiện hàng loạt trường ca có ý nghĩa như những bức tranh hoành tráng tổng kết cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Sự thay đổi trong cái nhìn nghệ thuật trong các trường ca này so với thơ ca thời chống Mỹ là ở chỗ, tuy vẫn mang chủ âm hào hùng, nhưng các nhà thơ đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến bi kịch của con người Nói khác đi, trong khi cố gắng miêu tả sự lớn lao, kỳ vĩ của Tổ quốc, các nhà thơ đã quan tâm trực diện đến số phận của cá nhân, thậm chí nhiều khi số phận của đất

nước được đo ướm bằng nỗi đau của cá nhân: Một mình một mâm cơm/ Ngồi

bên nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền (Hữu Thỉnh

-Đường tới thành phố)

Trong những trường ca này, mặc dù cái bi chỉ là yếu tố để làm nổi bật cái tráng nhưng rõ ràng, cái nhìn về chiến tranh đã sâu hơn, gắn nhiều hơn với

Trang 17

những suy tư cá nhân về số phận dân tộc và số phận con người Thứ hai, trong những năm cuối thập kỷ 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX, “thơ đời thường” xuất hiện nhiều Chưa bao giờ các nhà thơ thấy nhiều bi kịch đến thế Thậm chí, cảm giác bế tắc và chán nản là cảm giác khá nổi bật trong tâm

trạng nhiều người: Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ Câu trả lời thật chẳng

dễ dàng chi (Nguyễn Trọng Tạo -Tản mạn thời tôi sống)

“ Từ xa” nhìn về Tổ Quốc, Nguyễn Duy đã thật lòng nói lên nỗi cay

đắng của mình khi nhìn thấy sự khổ nghèo và bất hạnh của con người trong cuộc sống đầy khốn khó Lưu Quang Vũ cũng cay đắng nghẹn ngào khi nghĩ

về Tổ quốc Các hình tượng nghệ thuật mang tính huyền thoại hóa về một hiện thực kỳ vĩ và cảm hứng sử thi không còn xuất hiện như là hiện tượng nổi bật của thơ ca giai đoạn này Trái lại, bằng cái nhìn tỉnh táo và giàu màu sắc chiêm nghiệm, nhiều thi phẩm sau chiến tranh đã thể hiện một cách khá riết róng những mặt trái của đời sống, những thay đổi các thang bậc giá trị và không né tránh việc nói đến những bất công xã hội Đây là những cảm hứng hiếm khi xuất hiện trong thơ 1945- 1975, khi mà số phận dân tộc và số phận

cá nhân hòa làm một, cái tôi và cái ta hoàn toàn thống nhất Cái nhìn nghệ thuật trong thơ sau 1975 là cái nhìn với cự ly gần, “suồng sã”, đối tượng hiện lên như một sự thật không mang màu lý tưởng hóa Theo đó, thể tài thế sự, đời tư trở nên nổi bật và gắn liền với nó là chất giọng “tự thú” và chất giọng giễu nhại Ở đây chất giọng giễu nhại mang trong mình nó ít nhất hai chức năng nghệ thuật cơ bản: làm cho thơ bớt đi sự nghiêm trang thái quá, ngôn ngữ thơ bớt đi sự “trong suốt” mà tăng thêm phù sa của “cây đời”; cho phép người đọc hình dung cuộc sống như một thực thể đa trị, bên cạnh cái trong veo, thuần khiết là những thứ “tèm nhem tâm hồn” Cả hai đều tồn tại bình đẳng trong một thế giới không phải lúc nào cũng được cắt nghĩa theo logic nhân quả Bởi thế, gắn liền với giọng điệu tự thú là chất giọng hoài nghi Chỉ

Trang 18

có điều cái nhìn hoài nghi cần được nhìn nhận trong mối quan hệ biện chứng, khi ta hoài nghi một giá trị có nghĩa là bắt đầu ta đã nghiêng về một giá trị khác (hoặc ít nhất ta không còn ràng buộc mình trong giá trị cũ) Đó là lý do

ta hiểu vì sao cái tôi trong thơ sau 1975 là cái tôi đa diện, nhiều bất an, giằng

xé, hướng nội

Bước vào những năm 80, khi cái tôi sử thi trong thơ mờ dần, thay vào

đó là cái tôi thế sự với những cảm xúc khác, những nỗi buồn, sự lo âu, tâm trạng xót xa, day dứt trước hiện trạng xã hội, nhân thế Sự chuyển hướng ấy

có thể thấy rõ ở những nhà thơ thời kỳ kháng chiến chống Mĩ như Hữu Thỉnh Là một người nặng suy tư, trăn trở về những vấn đề cuộc sống, Hữu

Thỉnh luôn gửi vào trang thơ của mình một nỗi niềm riêng: Mới một lát làm

người, Cây bỗng đòi bóng lại; Người sống với người thế nào?

1.3 Hành trình thơ Hữu Thỉnh

Hữu Thỉnh sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942, tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, bút danh là Vũ Hữu Ông quê ở làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Hữu Thỉnh sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học Năm 1963, ông nhập ngũ và tham gia chiến đấu ở binh chủng Tăng Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa, tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ

Sau khi chiến tranh kết thúc, năm 1975 Hữu Thỉnh học Đại học Văn hóa và thuộc lớp sinh viên khóa đầu trường viết văn Nguyễn Du Từ 1982

Hữu Thỉnh về Tạp chí Văn nghệ Quân đội Tại đây ông đảm nhiệm các chức

danh: trưởng ban thơ, phó Tổng biên tập Từ 1990, ông chuyển sang công tác tại Hội nhà văn Việt Nam, trở thành Tổng biên tập báo Văn nghệ Hữu Thỉnh tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa III, IV, V Năm

2000, tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam khóa V, ông được bầu làm Tổng thư

ký Hội Nhà văn Việt Nam Tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII,

Trang 19

Hữu Thỉnh tiếp tục được bầu là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ 2010-2015, đây là nhiệm kỳ thứ 3 liên tiếp ông được bầu là người đứng đầu Hội Nhà văn Việt Nam

Thơ Hữu Thỉnh luôn đằm thắm thiết tha và gắn bó với đất nước, quê hương, với cuộc đời bằng bút pháp thơ tài hoa, đặc sắc Thơ Hữu Thỉnh là sự vận động phát triển từ cái tôi trữ tình lãng mạn, đằm thắm đến cái tôi trữ tình đầy suy tư, trăn trở với những suy ngẫm và triết lý sâu xa trước nhân tình thế thái

1.3.1 Thơ Hữu Thỉnh trong kháng chiến chống Mỹ và thời hậu chiến

Năm 1964, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào thời kỳ mới, gay go, căng thẳng, khốc liệt và

dữ dội Thời kỳ này, thơ được coi là một mũi nhọn, có tính xung kích nhất, thơ luôn bám sát hiện thực cuộc sống và phản ánh trung thành những sự kiện lớn lao của đất nước, phản ánh tinh thần chiến đấu dũng cảm, hy sinh quên mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Thơ không chỉ có mặt khắp mọi nơi, hòa theo dòng người, theo những đoàn quân “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” mà thơ còn nối liền tình cảm, suy nghĩ của mỗi người thành tiếng nói cảm thông, trở thành nhịp đập chung của trái tim toàn nhân loại Thơ đã ghi lại nhiều hình ảnh về con người, đất nước trong những năm tháng lịch sử không thể nào quên Nối tiếp truyền thống thơ của những anh vệ quốc quân trong kháng chiến chống Pháp, những người lính chống Mĩ “lại viết thơ trên báng súng” (Hoàng Trung Thông) Bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc sẽ khuyết đi một mảng nếu thiếu vắng tiếng thơ của những nhà thơ trực tiếp cầm súng, xông vào trong lửa đạn, từng giờ, từng phút đối mặt với cái chết để nói về chiến tranh, để tự nói về đồng đội của

Trang 20

mình Chính hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó dẫn tới sự hình thành, xuất hiện một lớp nhà thơ trẻ chống Mĩ

Hữu Thỉnh là nhà thơ thuộc thế hệ nhà thơ trẻ chống Mĩ, cùng với

nhiều tên tuổi khác như: Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Anh Ngọc…Cũng như nhiều nhà thơ khác, Hữu Thỉnh luôn ý thức sâu sắc về vị trí, vai trò của thế hệ

sử, về sau này hành trình thơ của chúng tôi cũng giống như các anh Bối cảnh thì khác, quy mô và tính chất ác liệt cũng khác nhưng tinh thần dấn thân và nhập cuộc vẫn là một Một cuộc dấn thân để tìm thấy sự kết hợp hài hòa giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ Nói gọn trong một anh bộ đội có một thi nhân(…) Nhập cuộc và hành động có đòi hỏi hy sinh không? Có Đó là có vụn vặt, quẩn quanh, lạc điệu và nguy cơ cạn kiệt tâm hồn (…) Nhập cuộc và hành động được gì? Rất nhiều: Cả một đời thơ Cuộc sống cho anh bao nhiêu thứ, kể cả sự đào luyện nghiêm khắc để anh có thể trở thành “Con của vạn nhà” đã là cái lớn, chiến lược cho cả đời thơ” [90,5]

Trang 21

Cuộc sống khốc liệt của chiến trường đã được phản ánh trong thơ ông bằng những vần thơ giàu nhiệt huyết, với những thanh âm sôi nổi, trẻ trung Ông tự thấy “Lòng tôi mắc nợ chiến khu một đời” Mảng thơ viết về chiến

tranh gồm tập thơ Tiếng hát trong rừng, chủ yếu ghi lại cảm xúc của nhà thơ khi chiến đấu ở Trường Sơn Trường ca Sức bền của đất là bước trung chuyển

từ những bài thơ ngắn sang trường ca Với quy mô nhỏ, trường ca Sức bền

của đất ghi lại tâm tình của người lính cách mạng đang giữ chốt Ở nơi hàng

ngày giáp mặt với quân thù, ông suy tư về nguồn gốc sức mạnh của bản thân

và đồng đội- sức mạnh nhận từ lòng mẹ, từ đất đai Cảm hứng chủ đạo của mảng thơ này là cảm hứng về đất nước, nhân dân, về cuộc chiến đấu chống

Mĩ cứu nước Một đất nước, nhân dân với khát vọng tự do, thống nhất, đoàn

tụ và chính vì khát vọng cao đẹp ấy mà chấp nhận bao thử thách, hy sinh

Bước ra khỏi cuộc chiến, Hữu Thỉnh vẫn tiếp tục hành trình sáng tạo

nghệ thuật của mình Năm 1977, ông viết trường ca Đường tới thành phố, đây

là cột mốc đánh dấu sự chín muồi trong ý thức về thể loại, là bản tổng kết chiến tranh bằng thơ, giúp ta hình dung những chặng đường cuối cùng trong cuộc chiến chống Mĩ ngụy Đây là bản trường ca dài nhất của Hữu Thỉnh,gồm

5 chương và 1539 câu thơ Từ “cái nôi nghệ thuật” dữ dội, khốc liệt và thơ mộng là Trường Sơn, hồn thơ Hữu Thỉnh tìm đến những nguồn cảm hứng lớn

về Tổ quốc, nhân dân, về thế hệ những người cầm súng thời chống Mỹ giản dị

Trang 22

Mang đặc điểm của một hồn thơ hồn hậu, ham giãi bày, giàu suy tư, thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh có sự kết hợp nhuần nhị giữa giọng chính luận với giọng trữ tình đằm thắm trên dòng chảy ào ạt của sự kiện Hữu Thỉnh luôn lấy tiêu chí giản dị và trung thực nên khi thể hiện tình cảm của mình với dân tộc, với đất nước, nhà thơ đã tìm về với những sự vật quen thuộc, gần gũi, rất đỗi bình thường Hình ảnh Tổ quốc là quê hương, nơi có những dòng sông êm đềm chảy, có một sức sống trường tồn Sức sống của Tổ quốc được khẳng định bởi có những con người quên mình hi sinh cho dân tộc

Khi anh hiểu nhân dân, nhân dân đang chia cắt Yêu Tổ quốc mình, Tổ quốc mình chia đôi Nỗi đau ấy, góp đời mình để xóa

( Đường tới thành phố) Thơ Hữu Thỉnh luôn biểu hiện một cách tự nhiên về cuộc sống, điều này tạo nên sức sống cho hồn thơ ông Trong thơ ông luôn hòa quện giữa hiện thực và lãng mạn qua hình ảnh người lính nơi chiến trường:

Nhạc làm trong rừng em hát giữa Trường Sơn Người sốt rét hát cho người sốt rét

( Tiếng hát trong rừng)

Họ đã hát với tất cả tâm hồn của tuổi trẻ, đầy nhiệt huyết và ngập tràn yêu thương Họ hát để truyền cho nhau niềm vui trong cuộc sống, để cùng nhau vượt lên mọi khó khăn gian khổ Những năm tháng đó khiến nhà thơ

phải thốt lên rằng Những năm Trường Sơn bạn bè trong trẻo quá Tâm hồn họ

luôn nhạy cảm với thế giới xung quanh Đó là những gian khổ trở thành kí ức

Đó là tình quê hương, xóm làng, tình quân dân, đó là hình ảnh người mẹ, người vợ, người chị…tất cả đều hiện lên rất đỗi thân quen và vô cùng xúc động

Trang 23

Là một hồn thơ hồn hậu, giàu suy tư, thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh có sự kết hợp nhuần nhị giữa giọng chính luận với giọng trữ tình đằm thắm Chính điều này đã tạo nên sự thành công của Hữu Thỉnh Trước những đóng góp đó của ông, Trần Mạnh Hảo đã đánh giá cao vị trí và vai trò của

Hữu Thỉnh trên thi đàn văn học Việt Nam: “ Hữu Thỉnh và Thanh Thảo là cái

gạch nối của nền thơ ca chống Mĩ sang thời bình Sau 1975, cùng với Nguyễn Duy, họ đưa thơ tiến về phía trước với những bước tiến ngoạn mục, đa dạng

và phong phú ”

1.3.2 Thơ Hữu Thỉnh từ sau đổi mới

Khi đất nước chuyển mình sang một giai đoạn mới thì Hữu Thỉnh cũng nhanh chóng nhập cuộc và mang đến những tiếng thơ mới mẻ Trong gần 15

năm, Hữu Thỉnh đã cho ra mắt hai tập thơ: Trường ca Biển và Thư mùa đông vào năm 1994 Đến năm 2005, ông lại tiếp tục cho ra đời tập thơ Thương

lượng với thời gian Sự ra đời của các tập thơ này đã cho thấy sức sáng tạo

nghệ thuật mạnh mẽ của nhà thơ sau đổi mới

Thương lượng với thời gian gồm những bài thơ ông viết từ cuối thập kỉ

80 đến những năm đầu thế kỉ XXI Tập thơ gồm 56 bài, chủ yếu là những bài thơ ngắn được tác giả chia làm 3 phần: phần 1, có 21 bài thơ; phần 2, có 21 bài; phần 3, có 14 bài

Ở giai đoạn trước 1980, ý thức cộng đồng chiếm ưu thế, con người toàn tâm, toàn ý vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, số phận cá nhân luôn đặt trong

số phận đất nước Hòa trong dòng thác sục sôi của dân tộc, người người hăng hái lên đường mang sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc như những dòng suối trong trẻo, mát lành đổ vào dòng sông của tình yêu quê hương Trước khí thế của thời đại, Hữu Thỉnh say sưa, nhiệt tình khẳng định lý tưởng, lẽ sống lớn Cảm hứng chủ đạo trong thơ viết về chiến tranh là cảm hứng sử thi, cảm hứng ngợi ca cái cao cả Khi chiến tranh đã lùi xa, bước vào thời bình, diện

Trang 24

mạo đất nước đã khác xưa rất nhiều Sự thức tỉnh ý thức cá nhân, sự quan tâm nhiều hơn đến con người trong tính cụ thể, cá biệt với nhu cầu trong thời bình

là bước chuyển tất yếu của xã hội Con người được miêu tả trong tất cả tính

đa dạng của nó tạo thành nét chính trong sự định hướng về giá trị văn học của công chúng hôm nay Nói khác đi, tinh thần dân chủ và cảm hứng nhân văn là đặc điểm nổi bật của thời kỳ đổi mới

Sau khi kết thúc chiến tranh, tình hình kinh tế xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn và rơi vào khủng hoảng trầm trọng Nền văn học cũng chững lại và không ít nhà văn lâm vào tình trạng bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác Ý thức nghệ thuật của số đông người viết và công chúng chưa chuyển biến kịp với thực tiễn xã hội, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kỳ trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của bạn đọc Trước thực trạng đó, một số nhà văn có trách nhiệm cao về ngòi bút của mình cũng như sự mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống đã có những đổi mới trong cảm hứng sáng tác và tiếp cận hiện thực Họ

là những người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học, người “mở đường tài năng và tinh anh ” là Nguyễn Minh Châu với những truyện ngắn hướng vào các vấn đề đạo đức- thế sự trong đời sống hằng ngày của con người Góp phần tạo nên những chuyển động theo hướng mới của văn học trong thời gian này cũng phải kể đến những sáng tác của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy…

Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định đường lối đổi mới toàn diện, mở ra một thời kỳ mới cho đất nước vượt qua thời kỳ khủng hoảng để bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ Đây là thời kỳ đổi mới về tư duy và dám nhìn thẳng vào sự thật Tư duy văn học mới đã dần hình thành, làm thay đổi các quan niệm về chức năng của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn đọc, về sự tiếp nhận văn học

Trang 25

Từ năm 1993 đến nay, trong xu thế đi tới sự ổn định của xã hội, văn học về cơ bản cũng trở lại với những quy luật mang tính bình thường, nhưng không xa rời định hướng đổi mới đã hình thành từ những năm 80

Trong hoàn cảnh đất nước đã hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do, đời sống con người được quan tâm nhiều hơn Con người với những lo toan, bộn bề của cuộc sống và những suy tư cá nhân là nguồn cảm hứng cho văn học Do đó, nhà văn phải nhìn thẳng vào đời sống hiện thực của con người Vì vậy, cảm hứng thế sự, đời tư đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo của thơ Việt Nam sau 1975 và được thể hiện rõ nét trong sáng tác của nhiều tác giả như : Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo…

Cũng như nhiều nhà thơ chống Mĩ khác, Hữu Thỉnh đã từng trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt nên ông nhận ra được giá trị của cuộc sống hòa bình Vì vậy, trước những đổi thay của con người và cuộc sống, ông luôn suy nghĩ, trăn trở…và gửi gắm vào thơ Cùng với Thanh Thảo và Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh và một số nhà thơ khác là những gương mặt tiêu biểu trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Đó là thế hệ mà tuổi trẻ của

họ được tôi luyện ngay trong khói lửa chiến tranh nên họ ý thức rất rõ: “chiến tranh ra bài thi nhập môn cũng là nơi thử thách lâu dài của mỗi người” (Hữu Thỉnh) Ý thức đó được thể hiện qua suy nghĩ và việc làm cụ thể Với Hữu Thỉnh là “chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”, với Thanh Thảo là hát

vang Bài ca ống cóng:

Bài hát của hôm nay Thô sơ và hực sáng Mang lẽ đời đơn giản Nói được tới ngày mai

Còn Nguyễn Duy, ngay từ khi 20 tuổi, nhà thơ đã tự ý thức: “Anh phải

là nét vẽ dẫu đơn sơ” Đó là quan niệm hòa mình vào nhân dân, tan biến vào

Trang 26

snhân dân, coi việc trở thành một người dân là sự tồn tại, là lẽ sống lớn nhất của đời mình Ông làm thơ khá sớm nhưng đến 1973 ông mới được độc giả

biết đến qua các chùm thơ: Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm…Từ đó Nguyễn Duy

đã cho xuất bản nhiều tập thơ sáng giá trong tiến trình thơ đương đại Việt

Nam như: Cát trắng (1973), Phóng sự 30-4-1975 (1981), Ánh trăng

(1984)…đã đưa ông lên vị trí là một trong những nhà thơ đem lại vinh quang cho thế hệ trẻ thời kỳ chống Mĩ Quan niệm “ta là dân- vậy thì ta tồn tại” là quan niệm nhất quán trong suốt hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy, được đúc kết từ những trải nghiệm của bản thân nhà thơ, in đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo Trong thơ ông, ta thấy những hình ảnh giản dị nhất cũng được đưa vào như: rặng tre, bông lúa, những người nông dân chân lấm tay bùn…hiện lên rất chân thực, sinh động và rõ nét

Quan niệm thẩm mỹ trên của Nguyễn Duy in đậm dấu ấn chủ quan của nhà thơ Một trong những đặc điểm nổi bật của thơ ca chống Mỹ là phát hiện cái đẹp ngay trong đời thường giản dị Đây cũng là điểm tương đồng giữa Nguyễn Duy và Hữu Thỉnh Nhưng quan niệm “Cái lạ nhất là không thấy gì cả” của Thanh Thảo có một sự khác biệt đáng kể so với hai nhà thơ trên

Thanh Thảo cũng là một trong những nhà thơ được giới nghiên cứu quan tâm Thơ ông có rất nhiều cái lạ Ông quan niệm: “thế giới của thơ mãi mãi là thế giới của sự huyễn hoặc” Cho nên đi vào thế giới của thơ ông là đi vào thế giới của ảo mộng, của hư vô Thanh Thảo cho rằng thơ không phải thứ vật chất bình thường mà là tiếng gọi của tâm linh, hơn thế nữa còn là một thứ tôn giáo mà người làm thơ, người đọc thơ phải chấp nhận bi kịch để vác cây thập giá thơ bước qua những khổ nạn của cuộc đời mới mong chạm đến bản thể thơ

Ý thức được vai trò của thơ trong đời sống, Thanh Thảo không chỉ quan tâm đến việc đi tìm bản thể thơ mà còn quan tâm đến sứ mệnh của nhà

Trang 27

thơ Bởi lẽ thi sĩ không chỉ là người sáng tạo ra thơ, mà qua thơ họ còn tạo nên những giá trị của cuộc sống Bằng nghiệm sinh thi sĩ, Thanh Thảo đã cho thấy diễn trình sáng tạo của nhà thơ, một công việc mà nếu không có sự trải nghiệm thì không thể hiểu một cách sâu sắc và tinh tế được Theo ông, thi nhân chỉ có thể sáng tạo trong ám ảnh của vô thức và tâm linh: “Thơ đưa người làm thơ vào cách đi của người mộng du, đi trong mơ với cặp mắt mở

to, mở to nhưng không thấy gì, nghe tất cả nhưng cuối cùng chỉ là tiếng văng vẳng Thân thể của người làm thơ là một bộ lọc, chỉ khi nào anh để yên cho thân thể mình lọc lại đời sống , rồi bất chợt nó bật ra cái gì, thì đó mới là thơ

Thơ ca giai đoạn này tôn trọng sự thật xã hội và quan niệm nhà thơ

phải dấn thân vào cuộc đời: Thơ lặng lẽ, gày gò, thơ như thanh thép nguội,

thơ làm cột thu lôi dưới bão giông này (Nguyễn Khoa Điềm), Cái đẹp là sự thật, Hơn cả tắm trong lửa trong nước là tắm trong những ý nghĩ trung thực

(Thanh Thảo), Tôi đi qua tuổi học trò, Nói năng khuôn phép câu thơ sáo mòn,

Cười mình quen thói đại ngôn, Thương vay khóc mướn véo von một thời (Anh

Ngọc) Nhưng sự thật đòi hỏi sự dũng cảm: Sự thật là một gánh nặng, người

trung thực gánh sự thật bằng đôi vai trần trụi của mình (Ngọc Bái) Sự thật

mang đến vẻ đẹp mới cho thi ca: Tôi lột hết ngôn ngữ bóng bảy, những áo

thúng triệu thần trong những tụng ca, Những bài thơ trẻ trung cởi áo dưới mặt trời làm nghĩa vụ công dân (Thu Bồn) Trách nhiệm công dân, đạo đức

nghệ sĩ trước các vấn đề bức bối của xã hội buộc nhà thơ không thể thờ ơ, lãnh đạm Cùng với các nhà thơ khác, Hữu Thỉnh vẫn đang trên hành trình nhận thức lại các giá trị sống Nhiều lúc, tác giả phải gồng mình lên muốn tìm lời lí giải cho những băn khoăn, suy tư của mình về nhân tình, thế thái Hữu Thỉnh luôn mang đến cho người đọc những vần thơ dễ hiểu, độc đáo, mới mẻ Thơ ông là những câu hỏi suy tư Khi viết về chiến tranh,ông ghi nhận và phản ánh chân thực cuộc sống khốc liệt bằng những vần thơ giàu nhiệt huyết

Trang 28

với những âm thanh sôi nổi, trẻ trung Thời bình ông viết dưới góc nhìn của con người đi qua những năm tháng chiến tranh, giờ có thời gian nhìn nhận, đánh giá về chính hiện thực cuộc sống chiến tranh toàn diện hơn Ông đã gửi vào thơ những suy tư, trăn trở về thân phận, buồn đau khi phải chứng kiến những cảnh ngang trái ở đời và nhiều khi cả nỗi cô đơn, thất vọng về cuộc đời, con người Có thể nói, bằng góc nhìn đó, Hữu Thỉnh đã tìm được tiếng nói riêng trong bản đàn hợp xướng của các nhà thơ trẻ chống Mĩ

Thơ Hữu Thỉnh trong giai đoạn này đã thể hiện rõ sự nhìn nhận, đánh giá cuộc đời và những suy ngẫm của một con người đang trăn trở trước những khó khăn và thử thách của cuộc sống Cuộc sống được phản ánh trong thơ Hữu Thỉnh thời kỳ này là cuộc sống thường nhật Hữu Thỉnh khao khát được giãi bày, thổ lộ tâm tư, tình cảm, ước muốn đi tìm con người đồng cảm, tri

âm, thể hiện sâu những tầm triết lý, chiêm nghiệm về đời tư, thế sự Nhân vật trung tâm trong thơ ông cũng như văn học Việt Nam đương đại là những con người đang trăn trở, vật lộn, cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa cái thiện

và cái ác, cái đẹp và cái xấu, giữa dân chủ và phản dân chủ Nhà thơ đã thể hiện sự nhìn nhận về tình đời, lẽ sống, về thân phận con người trong cõi nhân gian đôi lúc phải tìm về nương tựa vào những giá trị truyền thống

Là một thi sĩ nhạy cảm, nặng lòng với sự đời, trong trang thơ của mình, Hữu Thỉnh đã cho chúng thấy những diễn biến nội tâm phức tạp của con người:

Chừng như cây chồn gốc

Muốn đổi bóng cho tôi

Để cây được làm người

Làm người trong chốc lát

Mới một thoáng làm người

Cây bỗng đòi bóng lại

Trang 29

-Bão trời ta coi khinh

Bão người không chịu nổi

(Một thoáng làm người) Bằng cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ chân chính, Hữu Thỉnh muốn tin tưởng vào sự trường tồn vĩnh cửu của những giá trị tốt đẹp sẽ đào thải cái xấu xa, đen tối Nhà thơ muốn nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ thờ ơ, lãnh đạm trước nỗi đau của đồng loại, đừng bao giờ bỏ rơi số phận những con người cụ thể Lòng khoan dung, tình yêu thương sẽ là sợi dây gắn kết con người với con người, xua tan mọi khoảng cách, nỗi đau, sự cô đơn

Chủ nghĩa nhân văn luôn luôn và mãi mãi là chuẩn mực đánh giá hàng đầu, quan trọng bậc nhất cho mọi giá trị văn học Điều này được hình thành trong quá trình sáng tác và tiếp nhận văn học Nhưng chủ nghĩa nhân văn ở mỗi thời kỳ lại có sự vận động thay đổi Quan niệm như vậy sẽ thấy hành trình sáng tạo thơ Hữu Thỉnh là hành trình của người chiến sĩ trong cuộc đấu tranh cho lẽ sống cao cả của con người thời đại Đây cũng chính là hành trình nhịp bước cùng với xu thế chung của thơ ca hiện đại Việt Nam từ 1975 đến nay

Trang 30

Chương 2: Những nguồn cảm hứng thế sự trong thơ

Khi đất nước còn chiến tranh, thơ Hữu Thỉnh là sự bộc bạch, giãi bày của cái tôi người lính với quê hương, đất nước, sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh bằng lòng dũng cảm và tinh thần lạc quan cách mạng cuả người lính cụ Hồ: “ Đạp bằng gian khổ hy sinh để chiến đấu và chiến thắng quân thù” Đó là cái tôi mang màu sắc sử thi luôn hướng về cái cao cả, cái anh hùng

Đất nước hòa bình đã làm thay đổi cuộc sống của quê hương, đất nước

Là một người nặng lòng với Tổ quốc, Hữu Thỉnh không khỏi ngỡ ngàng trước

sự thay đổi của quê hương đất nước, đặc biệt là sự thay đổi của quan hệ xã hội Chiến tranh kết thúc, niềm vui nhanh chóng qua đi, đất nước hòa bình thống nhất nhưng cuộc sống lại đặt ra những vấn đề mới không ít nghiệt ngã Thơ Hữu Thỉnh cũng dần đi vào những ưu tư, thức ngộ mới về thời cuộc:

Chiến tranh đi qua mẹ con mình

Hàng gạch lún giữa sân cơn mưa còn đọng nước

Hôm nay con trở về nhà

Trang 31

Chiếc vó nhện trên tường cũ vô cùng thân thuộc

Nhưng không phải em ơi, cuốc kêu không phải thế

Trưa nay có điều gì mà cuốc kêu như xé

(Nghe tiếng cuốc kêu)

Tiếng cuốc kêu đã trở thành hình tượng của tiếng đời đầy xót xa, khắc khoải trước cuộc đời đầy biến đổi, nhiều giá trị đạo đức bị xói mòn Ngỡ tưởng sau chiến tranh, mọi mất mát sẽ được bù đắp bằng cuộc sống hạnh phúc, chan hòa, nhưng càng sống, càng tin yêu, nhà thơ lại càng nhận ra nhiều cay đắng

Đoạn thơ “ thảng thốt, hổn hển, đứt nối rời rạc, quay quắt” (Trần Mạnh Hảo)

là tiếng “kêu vật vã” của con cuốc ban trưa hay chính là những nhức nhối của

nhà thơ Cái tôi bàng hoàng, kể lể về những lầm tưởng và than trời về sự thật nhiều đau đớn ở đời Chưa bao giờ bạn đọc lại thấy trong thơ Hữu Thỉnh xuất hiện nhiều nỗi đau, sự thất vọng như bây giờ Trước đây, quen sống bằng tình

nghĩa và niềm lạc quan tươi vui của “những năm Trường Sơn bạn bè trong

trẻo quá”, hay “đi trong mây anh thấy ấm em à” Đây cũng là tâm trạng

chung của cả một thế hệ mà càng trải đời, họ lại càng cảm thấy phải “trả giá đắt” Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã từng chua chát trước hiện thực lòng người thay đổi:

Khi đang đắm yêu có tin được bao giờ Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ

Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ

Trang 32

Bạn bè thân thọc súng bên sườn

( Tản mạn thời tôi sống)

Thế hệ các nhà thơ chống Mĩ bước vào cuộc sống thường nhật thấy khó khăn, mất chỗ đứng vì thiếu đi niềm tin: “Nhưng lòng tin, tôi có lúc đói lòng tin” (Thu Bồn) Bằng tâm hồn nhạy cảm cao độ, Lưu Quang Vũ đã trực tiếp

bày tỏ nỗi cô đơn: “Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ/ Thằng bé lẻ

loi giữa lớp học ồn ào” Với Hữu Thỉnh, cô đơn cũng bởi ông đã nhận thấy sự

thay đổi trong quan hệ của con người Nhà thơ tưởng rằng, mọi mối quan hệ, mọi ứng xử giữa người với người đều tốt đẹp, nhưng sự thật vẫn có những kẻ

“chao chân” Trước thực tế “đường nhân nghĩa chừng nào còn lắm bụi”

(Chạm cốc với Xa-in) thì nhà thơ vẫn còn đi tìm để mang nhân nghĩa trở về với cuộc sống con người, mặc dầu nhận ra điều đó là vô cùng khó khăn:

“bước chân thì ngắn, đường đời thì xa” (Tìm người)

Bước ra khỏi cuộc chiến, nếm trải và chứng kiến những mặt trái của cuộc đời, nhất là khi có cơ chế thị trường, Hữu Thỉnh bày tỏ tâm trạng buồn, trăn trở, lo lắng đầy trách nhiệm và tin tưởng vào cuộc đời qua rất nhiều tập

thơ của mình Tập thơ Tiếng hát trong rừng là cảm hứng sử thi thì tập thơ Thư

mùa đông thể hiện sự suy tư, triết luận Có thể nói, đến Thư mùa đông, thơ

Hữu Thỉnh đã ngoặt sang một hướng khác, đó là hướng về hiện thực cuộc sống với những góc khuất, những va vấp, những “cặn lắng” của cuộc sống

theo hướng “Gạn đục khơi trong” Tập thơ Thượng lượng với thời gian vẫn

đậm nồng hơi thở của cuộc sống, hướng tới ánh sáng cuộc đời, lên án, phê phán “bóng tối”, thói đời để hướng tới Chân- Thiện- Mĩ

Là một thi sĩ nhạy cảm trước những biến động của thời cuộc Hữu Thỉnh đã suy nghĩ rất nhiều về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cái tốt

và cái xấu Qua những trang thơ của Hữu Thỉnh, bạn đọc thấy được cuộc đấu

Trang 33

tranh gay go, phức tạp với những diễn biến khó định hình, điều đó được thể

hiện rõ nét qua Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian

Với tựa đề Sang thế kỷ- bài thơ mở đầu Thương lượng với thời gian đã báo

hiệu một bước chuyển biến của thời gian:

Sang thế kỷ với con tàu quá rộng

Hoa hồng sang, gai nhọn cũng sang

Là hình tượng trung tâm của cả bài, con tàu là cầu nối quá khứ và tương lai

Đối với Hữu Thỉnh, nhân loại đang đứng trên một con tàu quá rộng Bởi trên con tàu đó, sang một thế kỷ mới, con người chưa biết vận hành như thế nào cho kịp sự thay đổi của dân tộc

Sang thế kỷ mới, nhà thơ cảm thấy mình như kẻ chậm chân so với thiên nhiên

và với chính mình Thi sĩ bàng hoàng trước sự thay đổi của thiên nhiên, của lòng người, của cả xã hội với bao cảm xúc: “thương cảm, khoan dung, thớ lợ” Sâu thẳm trong trái tim nhà thơ là nỗi đa mang, suy tư và trăn trở:

Tay vun cây và bão dập mùa màng

Sông ôm song cả bên lở bên bồi

Thương cảm, phản thùng, khoan dung, thớ lợ

Vé trên tay thanh thản bước lên tàu

Kẻ chậm chân có thể là mây nõn

Mải ngu ngơ với chim mới ra rang

Kẻ chậm chân có thể là anh nữa

Trái tim cồng kềnh thơ phú đa mang

Sự thay đổi của thời cuộc đã trở thành mối quan tâm của không ít người, không ít nhà thơ và họ đã gửi gắm vào những vần thơ thế sự Đọc thơ Hữu Thỉnh, ta lại cảm thấy những điều mới mẻ trong cách cảm và nhìn nhận:

Chợ gần vòng chợ xa

Bán mua toàn thiên hạ

Chợ mỗi ngày mỗi giá

Giá nào cho chia phôi

Trang 34

( Sắm Tết)

Những thay đổi về giá trị vật chất trong những ngày giáp Tết đã được Hữu Thỉnh phản ánh một cách rất chân thực Những câu thơ như tiếng lòng của thi nhân Câu thơ cuối như một lời than và như một câu hỏi bỏ ngỏ đầy

xót xa: Giá nào cho chia phôi

Viết về đất nước trong thời bình, đối tượng mà nhà thơ hướng tới là những con người đơn lẻ trong cuộc sống thường nhật, đó là sự nghèo khổ, đói

rách của quê hương, bạn bè, người thân Ta bắt gặp trong Chiếc vó bè hình

ảnh bác ngư dân nhọc nhằn, vất vả với công việc kéo vó của mình:

Chiếc vó bè đã đặt xuống rồi

Đặt đúng chỗ phập phồng hôm trước

Sóng miên man hao hụt cả hoàng hôn

Bác ngư dân nhọc nhằn cất cả bóng mình lên

Nước cả song to, cá đàn ham sống

Cố lách qua hy vọng của con người

………

Bác ngư dân lại bắt đầu thử sức

Với dòng sông với bày cá tinh ranh

Đó còn là nỗi xót xa trước sự nghèo khổ, đói rách của người bạn thân:

Bạn trở về làm lụng dọc triền sông

Nước mấp mé mây vẫn ô mạ trũng

Căn nhà đất ánh đèn dầu cuối xóm

Bạn đi khuya về sớm lo toan

( Gửi bạn triền sông)

Trong các sáng tác của Hữu Thỉnh, mẹ là hình ảnh trung tâm, in đậm dấu ấn trong thơ ông từ những ngày tháng lặn lội trên chiến trường cho đến

Trang 35

khi mặt trận im tiếng súng Cuộc sống bình yên, người mẹ vẫn luôn dõi theo

để che chở, an ủi, khuyên nhủ, trò chuyện cùng con:

Mẹ tôi nón lá bước lên

Mẹ tôi gạt cỏ bước lên

( Trông ra bờ ruộng)

Để rồi nhà thơ phải ghìm nén tình cảm của mình trước hình ảnh người

mẹ già:

Mẹ già khom bóng dưới cau

Ngõ thu nắng dãi ngày mai sập chiều

Miếng cơm manh áo che khuất mẹ tôi

Sự vô tình che khuất mẹ tôi

( Chạm cốc với Xa-in)

Câu thơ đầy trăn trở, suy tư, mẹ khiêm nhường tỏa sáng trước cuộc sống hiện tại xô bồ khi con mải miết lo kiếm “miếng cơm manh áo” Câu thơ gợi lên hình ảnh người mẹ truyền thống Việt Nam với đầy đủ đức hy sinh và

Trang 36

chịu đựng Mỗi khi ta vấp ngã, người luôn bên ta, che chở cho ta, tiếp sức cho ta vượt qua mọi chông gai Điều mẹ lo sợ nhất là có kẻ nào đó làm hại con, làm tổn thương con- niềm vui tinh thần duy nhất của mẹ:

Anh hiểu vì sao tôi hay nhắc mẹ

Nỗi ám ảnh suốt đời day dứt

Đối với mẹ sẽ là đòn đau nhất

Có kẻ nào rình ném bẩn lên tôi

( Chạm cốc với Xa-in)

Hình ảnh người mẹ không chỉ hy sinh thầm lặng, không chỉ chịu đựng nắng nôi của cuộc đời mà mẹ còn hiện lên giữa sự chiêm nghiệm, suy nghĩ sâu sắc của nhà thơ Mẹ hiện lên qua chiều dài nỗi nhớ, qua sự ám ảnh, day dứt trong chiều sâu tâm hồn của thi sĩ

Sau chiến tranh, hồn thơ Hữu Thỉnh vẫn tập trung khai thác về hình ảnh người lính Những rung động về người lính, người chiến sĩ trong thơ Hữu Thỉnh là sự kết hợp hài hòa giữa chủ thể và khách thể, giữa cái tôi và cái ta Tình yêu màu xanh áo lính của nhà thơ được thể hiện rõ qua phần II của tập

thơ Thương lượng với thời gian Đó là hình ảnh “phút giải lao của đồng chí

gỡ mìn”, một anh bộ đội công binh nghỉ ngơi sau những giây phút chiến đấu giữa ranh giới của sự sống và cái chết Anh luôn phải chiến đấu với những quả mìn luôn thường trực để cướp đi sinh mạng của đồng đội anh Chính họ

đã đem đến bình yên cho cuộc sống này:

Đất mới thật là đất sau lưng anh

Cỏ mới thật là cỏ sau lưng anh

Anh dọn bữa tiệc xanh

Gọi đàn bê tung vó

(Phút giải lao của đồng chí gỡ mìn)

Trang 37

Một hình ảnh khác cũng hiện lên rất “hoành tráng”, đó là hình ảnh người thợ lặn cầu Thăng Long: “bộ đồ lặn tám mươi cân”, “xoáy lũ sông Hồng”, “ đám bùn nhão dưới năm mươi thước” và “cả dòng sông đè lên trái tim anh”, “sóng nặng trĩu thét gào trên mạch máu”, “cứ thế bao năm dưới đáy của dòng sông”

Dưới con mắt của Hữu Thỉnh, hình ảnh họ hiện lên thật cao đẹp Họ chỉ

là những con người lao động bình thường nhưng trong trang thơ Hữu Thỉnh,

họ lại hiện lên thật gần gũi, giản dị, thân thương nhất

Trong những trang thơ viết về cuộc sống thời bình của Hữu Thỉnh, hình

ảnh con người cô đơn in dấu ấn khá sâu sắc Nó xuất hiện trong Thư mùa

đông và đặc biệt là Thương lượng với thời gian Sau khi chiến tranh kết thúc,

nền kinh tế bắt đầu khởi sắc, đất nước có sự chuyển mình nhưng con người lại chưa sẵn sàng đón nhận nên cảm thấy ngỡ ngàng trước những cái mới, thậm chí mất phương hướng Thơ Hữu Thỉnh giai đoạn này có xu hướng hướng nội

và sự bùng nổ về ý thức cá nhân, tinh thần dân chủ và cảm hứng nhân văn Nhà thơ đã rất đau đớn khi lòng người đổi thay:

Nếu em không hứa em quay lại

Cá chẳng hơi đâu đớp bóng câu

Nếu em không hứa em quay lại

Sáo chẳng rủ đàn xuống lưng trâu

(Đất ngày thường)

Thơ Hữu Thỉnh đã tập trung khám phá tâm hồn ông qua sự hiện diện

của cái tôi cá nhân đầy nội cảm, trằn trọc, day dứt…trong Lời thưa (Thư mùa

đông) nhà thơ đã cho người đọc một chân dung về chính mình:

Tôi vẫn thường hay lẫn với mồ hôi

Xin bạn cứ hình dung một mảnh đời lấm láp

Những gì hay để quên, những gì hay bỏ xót

Trang 38

Tôi ấy mà, xin bạn cứ hình dung

Điệp khúc “Tôi ấy mà, những chiếc cốc vô danh/ Tôi ấy mà, cánh diều nhỏ cô đơn/ Tôi ấy mà, một cuống rạ bơ vơ” đã trở đi trở lại từng nét tô đậm thêm bức chân dung tự họa của chính nhà thơ Tự nhận mình là con người của rơm rạ đồng quê, và cứ thế ông bước vào thành phố với nguyên mùi rơm tươi

Vì vậy, mà ông cảm thấy lạc lõng: Tôi thường bị đám gai của hoa hồng xua

đuổi, sự cô đơn khi không tìm thấy được tiếng nói tri âm của những người

đồng cảm đã làm cho nhà thơ chán nản, tự ti, thấy mình là một “cuống rạ bơ vơ” Trong thơ ông xuất hiện nhiều hình ảnh ẩn dụ để diễn tả sâu sắc nỗi thất vọng:

Mưa thanh xuân mưa trước cửa thiền

Sông chảy chậm đợi chiều đang bị ướt

Ta khoác cả chiều mưa

Buồn chẳng vơi thêm

Vui chẳng ngập đầy

(Mưa thanh xuân)

Cảm giác “Với hạnh phúc tôi đứng ngoài song cửa/ Với chia tan tôi là

khúc ca buồn” (Lời thưa) đã hoàn toàn khác với cảm giác Quàng tay bạn vô tình ta chạm phải- cái cựa mình tin cậy của rừng đêm ở thời kỳ trước

Cuộc chiến đã đi qua, trước mặt là bao nhiêu phiền muộn, gập ghềnh phải đối diện Là một hồn thơ nhạy cảm, Hữu Thỉnh không thể không suy

nghĩ, lo âu Trong Thư mùa đông, tác giả có những cách nói ngỡ như thật

quẩn quanh:

Tôi ngồi buồn tôi đếm ngón tay

Có mười ngón đếm đi đếm lại

(Nghe tiếng cuốc kêu)

Trang 39

Những câu thơ đong đầy tâm trạng của chủ thể trữ tình Thật buồn khi cuộc sống đời thường còn khốc liệt hơn chiến trường Không có tiếng súng nhưng lại tồn tại bao nhiêu bi kịch:

Người than thở vì mất mùa nhân nghĩa

Nhân nghĩa là một trong những giá trị cao đẹp nhất tạo nên giá trị cuộc sống, vậy mà giờ đây nó đang từng ngày từng giờ bị hao mòn Câu thơ đã khái quát rất cô đọng trạng thái tinh thần của một thời đại lịch sử có quá nhiều truân chuyên Trong chiến tranh, ông ca ngợi nhân nghĩa, những người lính sẵn

sàng xả thân vì hai chữ nhân nghĩa Vậy mà khi chiến tranh kết thúc, nhà thơ

lại phải đối mặt với sự mai một của nhân nghĩa, nhân nghĩa đang bị đè bẹp

bởi những điều tầm thường trong cuộc sống Vì thế, Thư mùa đông mang âm

điệu buồn thương, xót xa dai dẳng:

Câu thơ đứng giữa trời

Vó nhện cất sương rơi

Giống như nhiều cây bút khác, Hữu Thỉnh nhận ra sự băng hoại của đạo đức

xã hội, sự xuống dốc của các giá trị tinh thần cho nên nhà thơ hiểu giá trị đích thực của cuộc sống cũng như của người cầm bút Hồn hậu, nhạy cảm, chân thành vẫn chưa đủ mà điều quan trọng nhất là người nghệ sĩ phải biết viết những điều làm trăn trở, day dứt người đọc

Cảm xúc đau đớn, xót xa, bế tắc ấy đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực trong thơ Hữu Thỉnh Ông suy tư về thế thái và tin vào vẻ đẹp của con người nên

ông mới buồn đến thế Đọc Thư mùa đông ta thấy sự cô đơn, lẻ loi xuyên suốt

các vần thơ Nó được ông chạm khắc qua muôn vàn âm điệu và cách thể hiện khác nhau Cô đơn trước đường đời gập ghềnh, trắc trở; cô đơn trước Bay-on bốn mặt:

Tự mình là cả núi non

Vẫn không thoát khỏi cô đơn giữa trời

(Trước tượng Bay- on)

Trang 40

Đi suốt cả ngày dài vẫn không tìm thấy tiếng nói đồng cảm, nhà thơ mơ

màng giữa hư và thực Hình ảnh ẩn dụ Tuyết trắng đi tìm nơi đậu trắng đã

diễn tả cảm xúc cô đơn đến lạnh người :

Hình như ta chưa gặp

Một chút tri âm ở cuối đường

Tuyết trắng đi tìm nơi đậu trắng

Bắt đầu từ những hạt cô đơn

(Tuyết trắng)

Nỗi buồn của nhà thơ trải dài khắp không gian và thời gian, nó thấm đượm vào trong cảnh vật và đi sâu vào lòng người Vốn là cái vô hình nhưng trong cảm nhận của Hữu Thỉnh thì nỗi buồn lại hiện hình cụ thể :

Tôi ngồi nhặt sỏi đếm buồn

Gió đi tìm khói chon von mấy đồi

Mây kia ham sự nhất thời

Bao nhiêu oan nghiệt mắt người ngước lên

(Vô thanh)

Nuối tiếc quá khứ, sợ tương lai, đó cũng là tâm trạng chung của các nhà thơ kháng chiến chống Mĩ Họ sợ hãi trước sự đổi thay của thời cuộc cũng như nhân tình thế thái đã làm cho tâm hồn người nghệ sỹ đa cảm, như oán trách chính mình Bởi trước những biến động đó, con người khó có thể tìm lại được sự thăng bằng và bình yên

2.2 Cảm hứng về đời sống nhân tình

Trong Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian, bên cạnh những

vần thơ được gợi cảm hứng từ sự thay đổi của thời cuộc, quê hương đất nước

là những bài thơ phê phán sự tha hóa của tâm hồn và đời sống nhân tình Đó

là những cuộc vật lộn, giằng xé nội tâm gay gắt trong con người; đó là những băn khoăn, suy tư của con người hiện đại với những diễn biến rất gay go,

Ngày đăng: 18/08/2016, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguyễn Đăng Điệp, Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ, Tạp chí Văn học số 9- 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ
16. Nguyễn Đăng Điệp, Giọng điệu thơ trữ tình, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa
17. G.N.Pôxpêlôp, Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
19. Trần Mạnh Hảo, Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 4-1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư mùa đông của Hữu Thỉnh
20. Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
21. Mã Giang Lân, Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
22. Phương Lựu (chủ biên), Lí luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
23.Thiếu Mai, Hữu Thỉnh trên đường tới thành phố, Văn nghệ Quân đội số 3- 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh trên đường tới thành phố
24. Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
25. Lê Thị Mây, Hữu Thỉnh với Trường ca Biển, Tạp chí Văn học, T1- 2001 26. Vũ Nho, Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình, Tạp chí Nhà văn- Hội Nhà văn, T3-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh với Trường ca Biển", Tạp chí Văn học, T1- 2001 26. Vũ Nho, "Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình
27. Nhiều tác giả, Nhà thơ Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
28. Nhiều tác giả, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Vũ Cao, Nguyễn Duy, Nhà xuất bản Việt Nam, TP HCM, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Vũ Cao, Nguyễn Duy
Nhà XB: Nhà xuất bản Việt Nam
29. Nhiều tác giả, Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
30. Nhiều tác giả, Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
31. Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình Việt Nam 1975- 1990, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trữ tình Việt Nam 1975- 1990
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
32. Thạch Quỳ, Đối thoại biển, Diễn đàn Văn nghệ số 5- 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại biển
33. Vũ Quần Phương, Thơ và lời bình, Nhà xuất bản Giáo dục, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và lời bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
34. Vũ Quần Phương, “Hỏi”, Báo tuần du lịch văn hóa, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hỏi”
35. Vũ Quần Phương, Đọc Đường tới thành phố, Văn nghệ số 43- 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc Đường tới thành phố

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w