Về nội dung * Về thơ tình: Đáng chú ý nhất là các bài viết của Nguyễn Thị Minh Thái, Lưu Khánh Thơ, Phong Lê… Các tác giả này đã bám rất sát các mốitình trong đời Lưu Quang Vũ để lý giải
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1 Lưu Quang Vũ trong đội ngũ các nhà thơ thế hệ chống Mỹ 10
1.1 Sự hình thành đội ngũ các nhà thơ thế hệ chống Mỹ 10
1.1.1 Điều kiện chính trị - xã hội 10
1.1.3 Những đặc điểm chung của các nhà thơ chống Mỹ về học vấn, sự trải nghiệm cuộc sống và thực tiễn sáng tác 15
1.2 Con đường sáng tác của Lưu Quang Vũ 18
1.2.1 Sự xuất hiện đầy ấn tượng 18
1.2.2 Những bước đi “lệch chuẩn” và hệ lụy của nó 19
1.2.3 Sự chín chắn của phong cách 22
1.3 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong thế hệ các nhà thơ chống Mỹ 23
1.3.1 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong việc khẳng định tiếng nói chung của thế hệ 23
1.3.2 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong việc khẳng định tiếng nói của con người cá nhân 24
1.3.3 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong việc đổi mới thi pháp thơ 26
Chương 2 Nội dung của cảm hứng sử thi, cảm hứng đời tưm thế sự và sự thống nhất của chúng trong thơ Lưu Quang Vũ 27
2.1 Giới thuyết khái niệm 27
2.1.1 Khái niệm cảm hứng 27
2.1.2 Cảm hứng sử thi 30
1
Trang 22.1.3 Cảm hứng thế sự 32
2.2 Cảm hứng sử thi trong thơ Lưu QuangVũ 34
2.2.1 Cảm hứng về Tổ quốc, quê hương 34
2.2.2 Cảm hứng về nhân dân 40
2.2.3 Cảm hứng về thế hệ 43
2.3 Cảm hứng đời tư, thế sự trong thơ Lưu Quang Vũ 47
2.3.1 Cảm hứng về tình yêu 47
2.3.3 Cảm hứng về sự dở dang, bất toàn của hiện thực 52
2.3.4 Cảm hứng về cái tôi cá nhân 56
2.4 Biểu hiện của sự thống nhất giữa cảm hứng sử thi và cảm hứng đời tư thế sự trong thơ Lưu Quang Vũ qua các chặng đường sáng tác 60
2.3.1 Biểu hiện của sự thống nhất ở giai đoạn sáng tác đầu tiên 61
2.4.2 Biểu hiện của sự thống nhất ở gian đoạn “khủng hoảng” 63
2.4.3 Biểu hiện của sự thống nhất trong những sáng tác cuối đời 66
Chương 3 Những hình thức biểu hiện cảm hứng sử thi và cảm hứng đời tư, thế sự, trong thơ Lưu Quang Vũ 72
3.1 Tạo lên mối quan hệ hài hòa giữa các hình tượng sử thi và hình tượng đời thường 72
3.1.1 Hình tượng “em” 74
3.1.2 Hình tượng “gió” 77
3.1.3 Hình tượng “lửa” 79
3.2 Phát biểu suy tư về vấn đề lớn của cộng đồng từ chiêm nghiệm của một cá nhân 81
3.2.1 Phát biểu suy tư về quê hương, đất nước 82
3.2.2 Phát biểu suy tư về chiến tranh 84
3.3 Chọn giọng điệu chủ đạo cho thơ: giọng nồng say nhiệt thành 90
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
2
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tăi
1.1 Lưu Quang Vũ lă nhă thơ, nhă văn, nhă viết kịch nổi tiếng của vănhọc Việt Nam hiện đại Kịch của ông có chỗ đứng vững chắc trong lòng côngchúng vă lđu nay đê được nghiín cứu nhiều Tuy nhiín, về thơ lă lĩnh vực mẵng dănh tđm huyết vă bỏ bao công sức trong suốt 20 năm, đến nay vẫn cònthiếu những công trình nghiín cứu toăn diện, chuyín sđu Trong bối cảnh đó,thực hiện một đề tăi luận văn về thơ Lưu Quang Vũ lă việc lăm có nhiều ýnghĩa, sẽ góp thím những căn cứ để đânh giâ một câch đầy đủ hơn về tầm vóccủa một tâc gia đê từng được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệthuật
1.2 Lưu Quang Vũ thuộc thế hệ câc nhă thơ chống Mỹ Thơ ông cóchung nhiều đặc điểm với thơ của câc nhă thơ cùng thế hệ năy Tuy nhiín,bín cạnh việc hòa giọng văo câi chung, thơ Lưu Quang Vũ vẫn chứa đựngnhững tìm tòi riíng mă căng ngăy ta căng nhận ra tính độc đâo của chúng.Với đề tăi năy, chúng tôi muốn tìm hiểu sđu về mối tương tâc giữa phongcâch câ nhđn vă phong câch thời đại trong thơ Lưu Quang Vũ - một vấn đềcho đến nay vẫn chưa được nhiều người nghiín cứu chú ý đúng mức
1.3 Trong thơ Lưu Quang Vũ, giữa cảm hứng sử thi vă cảm hứng đời
tư, thế sự có sự gắn bó, thống nhất cao Trong khi hướng về những “đại tựsự”, nhă thơ đê không quín thiín chức của nhă văn lă quan tđm đến số phậncon người, đến những nông nỗi của đời người Chính vì sự trung thănh vớitrải nghiệm thật của mình mă nhă thơ đê tạo nín được những trang thơ thoâtkhỏi lối mòn vă gđy được âm ảnh Qua việc thực hiện đề tăi năy, chúng tôimuốn lăm sâng tỏ thím vấn đề bản lĩnh nhă văn trong những môi trường sângtạo không hiếm chông gai, thử thâch
Trang 52 Lịch sử vấn đề
2.1 Tập thơ Hương cây, Bếp lửa (in chung với Bằng Việt) - Nxb Văn học là tập thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ Nhưng “chỉ riêng 20 bài thơ trong tập này thôi, Lưu Quang Vũ đã là một trong những đỉnh cao của thơ ca chống Mỹ, và vẫn là hồn thơ được nhiều người ưu ái nhất” Hai mươi năm
sau khi ông mất, thơ ông mới tiếp tục được công bố rộng rãi:
Năm 1989: Mây trắng của đời tôi - Nxb Tác phẩm mới
Năm 1993: Bầy ong trong đêm sâu - Nxb Tác phẩm mới
Năm 1994: Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - Nxb Giáo dục
Năm 1994: Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - Nxb Hội Nhà văn Năm 1997: Lưu Quang Vũ Thơ và đời - Nxb Văn hoá Thông tin
Năm 1998: Lưu Quang Vũ Thơ và truyện ngắn - Nxb Hội Nhà văn Năm 2008: Lưu Quang Vũ Di cảo Nhật Ký - Thơ - Nxb Lao động
Năm 2010: Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi - Nxb Hội Nhà văn
Nhìn vào sự ra đời của các tập thơ, ta thấy một thời gian dài thơ củaông không đến được với độc giả Bởi vậy, sự phổ biến thơ Lưu Quang Vũ bịhạn chế Từ năm 1989 trở lại đây, các tập thơ của ông liên tiếp ra đời, là tiền
đề để thơ ông được khẳng định với công chúng yêu thơ
2.2 Tình hình nghiên cứu thơ Lưu Quang Vũ: Ngoài bài viết của Hoài
Thanh đánh giá về tập thơ Hương cây - Bếp lửa trước đây là đáng chú ý, theo
chúng tôi, kể từ năm 1988 trở lại đây có một số bài viết thực sự đáng quantâm về thơ Lưu Quang Vũ, đó là:
- Đọc thơ Lưu Quang Vũ (Vũ Quần Phương - 1989)
- Nỗi lao lung của một hồn thơ mới bước vào đời (Phan Trọng Thưởng
- 1993)
- Thơ tình Lưu Quang Vũ (Nguyễn Thị Minh Thái - 1993)
- Lưu Quang Vũ với những mối tình và những bài thơ sống với thời gian (Lưu Khánh Thơ - 1996).
Trang 6- Lưu Quang Vũ - Tâm hồn trở gió (Phạm Xuân Nguyên - 1998)
- Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ tình yêu và số phận (Phong Lê - 1998)
- Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật (Nhiều tác giả - 2001)
- Những vần thơ viển vông cay đắng u buồn (Vương Trí Nhàn - 2002)
- Đọc thơ Lưu Quang Vũ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (Lê Hồ
Quang - 2010)
Nhìn chung những bài viết trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản sau
về thơ Lưu Quang Vũ:
2.2.1 Về nội dung
* Về thơ tình: Đáng chú ý nhất là các bài viết của Nguyễn Thị Minh
Thái, Lưu Khánh Thơ, Phong Lê… Các tác giả này đã bám rất sát các mốitình trong đời Lưu Quang Vũ để lý giải, cảm nhận thơ tình của ông
Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Thị Minh Thái chú ý đặc biệt đến hình ảnhngười con gái trong thơ Lưu Quang Vũ Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng:
“Em, vừa có thể là người tình, vừa có thể là nỗi khát khao không đạt đến, sự
cứ rỗi cho linh hồn đau buồn của chàng, em mang nhưng tên gọi khác nhau, đầy âu yếm và thương cảm”.
Lưu Khánh Thơ có cách cảm nhận tương tự: “Hình ảnh người con gái trong thơ tình Lưu Quang Vũ thường rất đẹp… Có khi là người là người tình
cụ thể, cũng có khi chỉ là một hình bóng mơ hồ, một nỗi khát khao không đạt đến”…
Phong Lê nhận định trong bài Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - tình yêu
và số phận: riêng đối thoại tình yêu Quỳnh - Vũ trong thơ, một đối thoại bậc
nhất trong thơ Việt Nam hiện đại
* Về cảm hứng dân tộc: là cảm hứng xuyên suốt, bền chắc trong thơ
Lưu Quang Vũ Đáng chú ý nhất là bài viết của Vũ Quần Phương Ông đã chỉ
ra cái đặc biệt của cảm hứng dân tộc trong thơ Lưu Quang Vũ, in đậm phong
cách của tác giả ở chỗ quan tâm đến “vẻ hùng vĩ của đất đai, vẻ đẹp óng ánh
Trang 7của ngôn ngữ, đời sống trận mạc, gian lao của người dân”, “yêu thương và gợi ca yêu các dân tộc, ngợi ca tầm vóc vĩ đại và hy sinh cao cả của người dân” [69] Ông nhấn mạnh: “Sự ngợi ca này của anh dễ lẫn vào giọng ca chung của cả nền thơ nếu anh không biết cá thể hoá nó Anh đã cá thể hoá bằng bút pháp, bằng cái tài hoa của Lưu Quang Vũ có nhiều nét cá biệt”
lộng lẫy, để lựa chọn “Những chữ lấm lem đứng dậy từ đời thực” (Lưu Quang Vũ một tâm hồn trở gió).
* Về thơ cho người thân: Là mảng thơ giúp ta hình dung toàn diện về
chân dung tinh thần Lưu Quang Vũ Viết về mảng thơ này có các bài của LưuKhánh Thơ, Vũ Quần Phương, Nguyễn Thị Minh Thái
Tóm lại, các nhà phê bình đã cho biết các cảm hứng lớn trong thơ LưuQuang Vũ đều in đậm dấu ấn phong cách của ông
2.2.2 Về hình thức
* Về biểu tượng của thế giới nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ:
Phạm Xuân nguyên trong bài Lưu Quang Vũ tầm hồn trở gió đã phát hiện gió là biểu tượng biểu trưng cho toàn bộ thế giới thơ Lưu Quang Vũ, làm
nên bản sắc riêng của thế giới nghệ thuật ấy Gió biểu thị cho sự luôn luônvươn lên, không yên ổn trong những cái mực thước, khuôn phép, vừa phải,
lưng chừng, rồi tác giả khẳng định: Lưu Quang Vũ là người “nổi gió sớm trong thơ như về sau nổi gió đầu trong kịch”.
Trang 8Vương Trí Nhàn lại tìm thấy một biểu tượng khác gắn với rất nhiều câuthơ, bài thơ tài hoa của Lưu Quang Vũ: mưa Vương Trí Nhàn nhận thấy:
“Trong các thi sĩ đương thời Vũ là người nhậy cảm với mưa, thân thuộc với mưa hơn ai hết Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian mà con người thấy bất lực, không sao níu kéo nổi, mưa làm cho hiện tại trở nên vô nghĩa và tương lai trở nên lờ mờ không xác định”.
Phan Trọng Thưởng chú ý đến biểu tượng bầy ong như hình bóng của tác
giả: “Hình như anh cảm thấy có một sự đồng thanh, đồng phận nào đấy giữa mình với con ong: sự cần mẫn, lam lũ, ý thức chắt chiu, tìm kiếm, nhỏ nhoi, giản dị”.
Như vậy, mỗi bài viết phát hiện ra những biểu tượng khác nhau trongthơ Lưu Quang Vũ, nhưng mỗi biểu tượng ấy đều giàu sức biểu cảm và inđậm phong cách thơ Lưu Quang Vũ
* Về giọng điệu: là yếu tố được nói đến khá nhiều trong các bài viết về
thơ Lưu Quang Vũ
Hoài Thanh: “Câu thơ Lưu Quang Vũ thường ngọt ngào, hiền hậu”,
“ngọt lịm”.
Anh Ngọc: “Hồn thơ tràn đầy mẫn cảm, đằm thắm đến ngọt lịm”,
“một thứ nhạc điệu du dương êm ái đặc biệt”, “Sức chảy ào ạt của dòng tình cảm đã phá vỡ mọi khuôn khổ và khiến thơ anh có sức lôi cuốn mạnh mẽ”
Đáng chú ý nhất là nhận định của Vũ Quần Phương: “Giọng thơ đắm đuối” Ông viết: “Đắm đuối là một đặc điểm của suốt đời thơ Lưu Quang Vũ Vui hay buồn, tin cậy hay hoang mang… bao giờ anh cũng đắm đuối”.
Lưu Khánh Thơ và nhiều tác giả khác cũng dùng từ “đắm đuối” để nói
về giọng điệu thơ Lưu Quang Vũ
Nhìn chung, các tác giả đã nêu bật và trúng được giọng điệu thơ LưuQuang Vũ, hé lộ nhiều hướng nghiên cứu về sau cho đề tài thơ Lưu QuangVũ
Trang 92.3.2 Có thể thấy tất cả các bài viết đều đề cập đến một phương diệnnào đó về nội dung hay hình thức thơ Lưu Quang Vũ, qua đó khẳng định tàinăng thơ ca của Lưu Quang Vũ và xác lập vị trí của Lưu Quang Vũ trongdòng thơ ca chống Mỹ nói riêng, thơ ca hiện đại nói chung Các nhà nghiêncứu đều hướng đến và khẳng định - có thể dẫn một nhận định tiêu biểu của
Vũ Quần Phương: “Đọc hết các bản thảo anh để lại, tôi thấy thơ mới là nơi anh ký thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thăng được thời gian Tôi thấy trước sau cốt cách thi sĩ vẫn là nét trội nhất trong tâm hồn anh Tôi trộm nghĩ, về lâu dài sự đóng góp của Lưu Quang Vũ về thơ còn lớn hơn về kịch” [69, 357]
Cùng với thời gian, cùng với việc thơ Lưu Quang Vũ được công bốrộng rãi, thơ ông ngày càng được khẳng định, yêu thích Các nhà phê bình đãtiếp cận thơ ông Lưu Quang Vũ ở các góc độ: cái độc đáo của từng chặng thơtrong đời ông; những đề tài lớn: tình yêu, dân tộc, nhân dân, thơ cho ngườithân; giọng điệu, hệ thống biểu tượng… Các tác giả đã chỉ ra được những nétriêng, không dễ lẫn với các giọng thơ khác cùng thời Rõ ràng, đã định hình
một phong cách thơ Lưu Quang Vũ: “Đã có một giọng điệu riêng, đã ổn định một bản sắc thơ nhất quán” (Anh Ngọc).
Tuy nhiên cần phải nói thêm, ngoài các bài viết trên, từ năm 1999 trởlại đây, thơ Lưu Quang Vũ đã trở thành một đề tài nghiên cứu khoa học trongcác trường Đại học
Gần đây nhất, cuối năm 2010, TS Lê Hồ Quang (Đại học Vinh) với bài
viết Đọc tuyển thơ Lưu Quang Vũ - Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi đã
có cái nhìn khá toàn diện về thơ Lưu Quang Vũ Mở đầu bài viết, tác giả trích
dẫn câu thơ biểu hiện đặc trưng tâm hồn thơ Lưu Quang Vũ: “Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh” sau đó tác giả lần lượt đi vào phân tích một số vấn đề của Tuyển thơ Nói chung bài viết gồm những nội dung sau:
Trang 10+ Khẳng định nét riêng Lưu Quang Vũ với “dàn đồng ca” của phongtrào thơ chống Mỹ Từ đó, tác giả nhấn mạnh đến sự đổi mới sớm sủa của thơLưu Quang Vũ trong dòng chảy chung của thơ ca Việt Nam hiện đại.
+ Khẳng định cái nhìn “phi sử thi” của Lưu Quang Vũ về chiến tranh, đất nước, dân tộc và “sự chuyển dịch từ tư duy sư thi sang tư duy thế sự, đời
tư trong khai thác đề tài chiến tranh của Lưu Quang Vũ” [53] Tuy nhiên, khi nhấn mạnh vấn đề này, bài viết cũng đề cập đến “sáng tác đầu tay của ông,
âm hưởng sử thi của thời đại xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước / Mà lòng phơi phới dậy tương lai rất đậm nét” [53] và “nhà thơ còn nhận ra vẻ đẹp và sức sống tiềm tàng mạnh mẽ của dân tộc ẩn chứa trong chiều dài lịch sử, văn hoá, trong đời sống trận mạc và lao động lam lũ của người dân Trong vẻ đẹp đắng cay mà trong trẻo của tiếng Việt” [53].
+ Bàn về sự tự ý thức của cái tôi Lưu Quang Vũ trong thơ
+ Bàn về tình yêu trong thơ Lưu Quang Vũ
+ Chỉ ra hình thức diễn tả, cách cảm thụ đời sống trong thơ Lưu QuangVũ
Trên đây là một số phương diện tiêu biểu tập trung nhất mà các nhànghiên cứu, phê bình văn học thường hay đề cập khi viết về thơ Lưu Quang
Vũ Bên cạnh đó, rải rác có những ý kiến, những phát hiện khách nhau tuỳthuộc vào góc độ soi chiếu của từng tác giả về thơ Lưu Quang Vũ Chúng tôinhận thấy các bài viết, các ý kiến trên thực sự là những gợi mở hết sức quý
báu, có giá trị to lớn cho hướng khai thác và xây dựng luật văn Sự thống
nhất giữa cảm hứng sử thi và cảm hứng đời tư, thế sự trong thơ Lưu Quang Vũ.
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Qua khảo sát các tập thơ chủ yếu của Lưu Quang Vũ là: Lưu Quang Vũ
- Thơ và đời, Nxb Văn hoá Thông tin, 1997; Gió và tình yêu thổi trên đất
Trang 11nước tôi, Nxb Hội Nhà văn, 2010, chúng tôi tập trung làm nổi bật sự thống nhất giữa cảm hứng sử thi và cảm hứng đời tư, thế sự trong thơ Lưu Quang
Vũ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Định vị Lưu Quang Vũ trong đội ngũ các nhà thơ thế hệ chốngMỹ
3.2.2 Phân tích nội dung cảm hứng sử thi, cảm hứng đời tư, thế sự và
sự thống nhất của chúng trong thơ Lưu Quang Vũ
3.2.3 Khảo sát những hình thức biểu hiện cảm hứng sử thi và cảmhứng đời tư thế sự trong thơ Lưu Quang Vũ
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương phápsau: phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp loại hình, phương pháp sosánh, phương pháp thống kê…
5 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở kế thừa và phát triển những luận điểm tiếp cận về thơ Lưu
Quang Vũ của những người đi trước, luận văn khẳng định sự thống nhất giữa
cảm hứng sử thi và cảm hứng đời tư thế sự trong thơ Lưu Quang Vũ Đây làvấn đề dường như còn mới mẻ, ít thấy các bài viết đề cập đến Theo chúng tôi
sự thống nhất ấy được biểu hiện cụ thể như sau:
- Hai nguồn cảm hứng này tồn tại thống nhất trong suốt quá trình sáng tác của Lưu Quang Vũ.
- Trong từng giai đoạn sáng tác cụ thể, sự thống nhất của hai nguồn cảm hứng này có những biểu hiện khác nhau.
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn gồm 3 chương
Trang 12Chương 1 Lưu Quang Vũ trong đội ngũ các nhà thơ thế hệ chống Mỹ Chương 2 Nội dung của cảm hứng sử thi và cảm hứng đời tư thế sự trong thơ Lưu Quang Vũ.
Chương 3 Những hình thức biểu hiện cảm hứng sử thi và cảm hứng đời tư thế sự trong thơ Lưu Quang Vũ.
Trang 13Chương 1 LƯU QUANG VŨ TRONG ĐỘI NGŨ CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ CHỐNG MỸ
1.1 Sự hình thành đội ngũ các nhà thơ thế hệ chống Mỹ
1.1.1 Điều kiện chính trị - xã hội
Cái năm ấy, năm 1964 đã đi vào ký ức của bao triệu trái tim người dânViệt, Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch “leo thang chiến tranh” ra miền Bắc,hòng tiêu diệt hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, nhằm mục
đích đen tối, đưa “hình chữ S” ra khỏi bản đồ thế giới Nó là điểm mốc để ghi
dấu những trang sử chói lọi của dân tộc và những đau thương mất mát củaquân và dân ta ở hai miền Nam Bắc Chính cái năm này đây, kể từ đó cho tớinăm 1975, nhân dân cả nước cùng lên đường đi đánh giặc, cùng chịu nhữngtổn thất đau thương, mất mát, bên cạnh những oanh liệt, hào hùng
Ở miền Bắc, tính đến thời điểm này, đã bắt tay vào xây dựng nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa được 10 năm, gặt hái được những thành công nhất định.Đời sống chính trị, văn hoá, xã hội tương đối ổn định, đủ điều kiện trở thànhhậu phương lớn cho tiền tuyến lớn
Ngược dòng lịch sử, trở về với thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ta lạicàng vững tin hơn khi đối mặt với hiện tại Chín năm lửa đạn, chín năm cận
kề giữa cái sống và cái chết, sự thiếu thốn về vật chất tinh thần khiến người ta
có thể nghĩ dân tộc Việt Nam sẽ bị khuất phục Nhưng không, đâu phải đếnbây giờ, dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam đã được khẳng định từ bốnnghìn năm trước, và hôm nay, những ngày tháng này sẽ góp phần khẳng địnhlại cho trang sử hào hùng ấy
Dân tộc ta, bao giờ cũng vậy, tiếng thơ cất lên cùng tiếng súng Và ở đócon người Việt Nam được hiện lên như là một minh chứng cho tâm hồn dântộc
Trang 14Nếu lần theo bước đi của lịch sử, có thể nói, đây là trang lịch sử nguykịch nhất nhưng cũng hào hùng nhất, phải đối đầu với một tên đế quốc lớnmạnh chưa từng có từ trước tới nay Chính bối cảnh nguy kịch ấy lại là nơi
“lửa thử vàng”, dân tộc Việt Nam tiếp tục lật thêm một trang sử hào hùng,oanh liệt nữa, làm dày thêm cho cuốn sử vàng của dân tộc Gắn với chiếncông huy hoàng đó là những áng thơ văn hào sảng được cất lên để ca ngợiđồng bào, chiến sĩ cả nước Tuy nhiên, sự tổn thất to lớn là không thể tránhkhỏi Lịch sử đã qua đi, đến hôm nay nhìn lại, quả đúng như vậy Tổn thấtgắn liền với đau thương mất mát, và đau thương mất mát gắn liền với những
suy tư: “Lẽ nào không làm nảy sinh những lo âu lớn nhỏ trong lòng đồng bào
và chiến sĩ ta? Đâu phải thời chống Mỹ tất cả đều tốt đẹp, trơn tru với một mầu hồng lạc quan tin tưởng, đó là cơ sở thực tại để cắt nghĩa sự ra đời của một số sáng tác có tính hiện thực nhưng thời đó ta gọi là “lệch lạc”, là bộc lộ những “hoang mang, dao động, hoài nghi” trước thắng lợi tất yếu của cách mạng Dĩ nhiên thời đó, văn học phải tránh và nên tránh những tư tưởng bi quan, những lo âu vướng mắc Nhân vật có thể nghi ngờ nhưng tác giả thì phải có lòng tin Lòng tin vào cách mạng và tin vào Đảng là phẩm chất đầu tiên của văn học cách mạng Tuy vậy, những tác phẩm có biểu hiện cái hoài nghi ấy chính là biểu hiện của những tấm lòng nhiều trăn trở, suy tư, muốn tìm tòi phát hiện và nêu vấn đề mới hoặc cách đặt vấn đề có khác với lối tư duy thông thường của thời đại” [58, 6] Kinh nghiệm cho thấy, thời gian,
chính thời gian là một thước đo chính xác và hiệu quả nhất Nhìn lại chặngđường văn học đã qua, những gì trước đây phủ định, bây giờ được khẳng địnhtrở lại, chính có những tác phẩm trước đây từng bị coi là “lệch lạc” đã gópphần làm cho văn học thời chiến tránh được sự đơn điệu, làm cho hiện thực
thời chiến hiện lên đầy đủ, tròn trịa hơn: “ không phải chỉ say sưa với đề tài chính trị, xã hội Mỗi người đều có một mảng thơ trữ tình nho nhỏ mang màu sắc biểu hiện, nói về gia đình, một người bạn đời thân thiết, về những đứa
Trang 15con từ lúc sơ sinh cho đến lúc trưởng thành Tất cả những nội dung trên đã tạo cho thơ trữ tình thời chống Mỹ một sự phát triển toàn diện Thơ không chỉ làm nhiệm vụ đánh giặc, tuyên truyền kêu gọi, thơ còn là những lời tâm tình ngọt ngào và sâu lắng, những lời giãi bày tâm sự riêng tây” [59, 10] Chính
điều này, đòi hỏi thơ phải đa dạng hoá các hình thức biểu hiện để có thểtruyền tải nội dung vô cùng phong phú đó
Đó cũng là cơ sở để phủ nhận những quan điểm cực đoan, cho rằng cómột bộ phận thơ không đóng góp được gì đáng kể cho quá trình phát triển văn
học Thực ra: “Chúng ta thường nói đến thơ cách mạng như một loại hình thơ
đã có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển của loại hình thơ hiện đại nói chung Điều này là hoàn toàn đúng và không thể nghi ngờ Tuy nhiên ngoài lý tưởng cách mạng, ngoài vấn đề thế giới quan, thơ cách mạng vẫn tìm thấy tiếng nói chung với loại hình thơ khác trong những thể nghiệm hình thức Nhiều kinh nghiệm nghệ thuật quý báu của thơ lãng mạn, tượng trưng, siêu thực ở phương diện kết cấu đã được các nhà thơ cách mạng tiếp nhận một cách hết sức tự nhiên” [9, 118].
1.1.2 Nhu cầu đổi mới thi pháp thơ
Khi mà thời gian cứ trôi và lịch sử có những dấu mốc thì đổi mới thipháp thơ nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung không chỉ là nhu cầu màcòn là quy luật Tuy nhiên, quy luật của thơ là quy luật nhân tạo, khác hoàntoàn với những quy luật trong tự nhiên Nó chịu sự tác động và chi phối bởilịch sử, chính trị, xã hội Thơ bao giờ cũng có sự kết hợp hài hoà giữa cáichung và cái riêng, giữa dân tộc, thời đại và chính cá nhân nhà thơ Đối vớithơ, không có nhà thơ thì không có gì cả (nói như vậy để nhấn mạnh cái quyluật nội tại của thơ), không có tâm hồn thơ thì không có chủ thể trữ tình (nóithế để nhấn mạnh tố chất người nghệ sĩ) Chính con người làm ra thế giới vàchủ thể trữ tình làm ra thơ (bao gồm thi pháp thơ) Con người luôn tồn tạitrong trạng thái vận động, và chủ thể trữ tình không nằm ngoài quy luật đó
Trang 16Bởi vậy đổi mới thi pháp là một nhu cầu Song chủ thể trữ tình không tồn tạiđộc lập, mà tồn tại trong thời gian, không gian - các giai đoạn lịch sử gắn vớitrào lưu văn học, các khu vực địa lý gắn với quốc gia, dân tộc Nên nhu cầuđổi mới thi pháp thơ nói riêng, văn nghệ nói chung vừa chịu sự tác động củaquy luật chung và quy luật riêng
Bước sang giai đoạn lịch sử mới, cuộc kháng chiến chống Pháp chấmdứt, cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ đang đe doạ đến sự tồn vong của dân tộc,không có con đường nào khác, mỗi người dân phải chấp nhận cái chết của bảnthân để giành lấy cái sống cho dân tộc Những người hoạt động trên lĩnh vựcvăn học nghệ thuật cũng chuyển sang một giai đoạn “nhận đường” mới, ngườinghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận, ngòi bút là súng đạn Với phương châm đó,
dĩ nhiên việc đổi mới thi pháp đối với văn học thời kỳ này là một nhu cầu,
một nhiệm vụ cần kíp: “phát triển văn nghệ với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân sâu sắc Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, có thêm nhiều tác phẩm phản ánh chân thật cuộc sống mới, con người mới góp phần giáo dục và động viên nhân dân đấu tranh cho Cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà Sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ đã tạo ra một nền văn nghệ cách mạng thống nhất về nhiều phương diện: Sự tập trung của tư tưởng chủ đề, đề tài; sự thống nhất về cảm hứng chủ đạo và âm hưởng chung Chính vì vậy, văn học chống Mỹ đã mang những đặc điểm của một nền văn học tự giác, phát triển theo những định hướng có tính quy ước, tính quan phương” [58, 25] Một điểm cần nhấn mạnh, thơ kháng chiến chống Mỹ, về
cơ bản, không tạo ra thêm những thể loại mới, nhưng nó có công rất lớn trongviệc đưa ngôn ngữ mới vào thơ Ngôn ngữ ấy là của nhân dân lao động,những người lính cầm súng góp phần tạo ra Thơ cổ vũ nhân dân và đến lượtmình, nhân dân đón đọc và cổ vũ làm cho thơ không ngừng phát triển
Trang 17Thơ là cảm xúc dâng tràn, nhưng cảm xúc nào cũng chứa đựng nộidung Nội dung hay hình thức đều bắt đầu từ cảm xúc mà hiện hình lên.Những hình thức mà các nhà nghiên cứu phát hiện không thể bao trùm hếtthơ Thơ bao giờ cũng muốn bứt tung ra ngoài các hình thức đã được kháiquát Thơ là một tồn tại nghệ thuật riêng biệt Nói như vậy là để khẳng địnhquy luật phát triển nội tại của thơ nói riêng và văn nghệ nói chung, nó có quyluật phát triển riêng của nó Đó chính là sự kế thừa của truyền thống văn họcdân gian, văn học trung đại, đặc biệt là trào lưu văn học lãng mạn, văn họchiện thực phê phán những năm đầu thế kỉ XX - là những năm văn học nước tabước sang một giai đoạn mới, văn học hiện đại Tiếp nữa là, tuy có sự thốngsoái của Đảng về đường lối văn nghệ, nhưng thực tế đã chứng minh rằng,
trong văn học nghệ thuật cũng như trong cuộc sống, cái tôi và cái ta luôn luôn
tồn tại song hành, dù muốn áp đặt hay gò nó vào khuôn khổ nào đó, thì sức
mạnh của quy luật, dù sớm hay muộn, bao giờ cũng chiến thắng (Gió, nắng là hiện tượng tự nhiên, thật là nực cười nếu có ai đó lại muốn tắt gió, buộc nắng,
chắc chỉ có thi sĩ mới làm như vậy) Chính nhờ quy luật này, văn học thời kỳkháng chiến chống Mỹ đã đạt được những thành tựu to lớn hơn chính bảnthân nó Đi xa quay đầu nhìn lại ta mới nhận ra những hạn chế Nhưng cuộcđời là hữu hạn mà thời gian thì vô tận, thế hệ này chưa tìm ra chân lý thì vẫncòn thế hệ sau Và thời gian chính là tất cả, là chân lý cho mọi chân lý Đếnnay, khối lượng văn học ấy đã được cân đo lại, có thể chưa phải là chính xáctuyệt đối, nhưng phần nào đã phản ánh tương đối cái giá trị đích thực của mộtgiai đoạn văn học quan trọng này
Nói như vậy để hình dung phần nào về nhu cầu, về quy luật đổi mới thipháp thơ của văn học giai đoạn chống Mỹ nói riêng và văn học mọi thời nóichung Đó không phải chỉ là nhu cầu của một giai cấp, một tầng lớp nào đótrong xã hội, mà nhu cầu đó còn xuất phát từ quy luật khách quan - quy luậtnội tại của thơ, thơ có con đường đi riêng của mình, trong đó cá nhân nhà thơ
Trang 18là nhân tố quyết định nhất, tích cực nhất cho sự phát triển của thi pháp thơ.Cùng với đường lối văn nghệ của Đảng, các nhà thơ với ý thức về tráchnhiệm của một người nghệ sĩ, đã góp phần vào sự đổi mới thi pháp thơ mộtcách toàn diện trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tiếp tục hiệnđại hoá văn học, đồng thời tạo một bước đệm cho văn học nước nhà ở nhữnggiai đoạn sau.
1.1.3 Những đặc điểm chung của các nhà thơ chống Mỹ về học vấn,
sự trải nghiệm cuộc sống và thực tiễn sáng tác
Mỗi một giai đoạn văn học có đặc điểm riêng, trước tiên là ở đội ngũ
sáng tác “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại quả thật đã khơi dậy cảm hứng lớn cho thơ, lôi cuốn một đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, sung sức Các thế hệ làm thơ cùng có mặt trên chiến tuyến đánh Mỹ và đáng chú ý là lớp trẻ Lớp trẻ đã đem đến sự đông vui ồ ạt cho cả nền thơ bằng tiếng nói sôi nổi, mới mẻ và duyên dáng của riêng lứa tuổi họ, lứa tuổi
đã lớn lên trong chế độ CNXH, tha thiết tin yêu cách mạng và có mặt trên khắp các mặt trận sản xuất, chiến đấu Ba cuộc thi thơ năm 1966, năm 1969 -
1970 và 1972 - 1973 do báo Văn nghệ tổ chức đã giới thiệu thêm được nhiều tài năng trẻ Có thể kể tên những cây bút trẻ đã nhanh chóng thu được cảm tình của người đọc: Thái Giang, B ằ ng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Xuân Thâm, Ngô Văn Phú, Hoài Nam, Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn, Vương Anh, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Bế Kiến Quốc, Lâm Thị Mỹ Dạ ” [33, 158 - 159] Sẽ
là khiếm khuyết nếu không kể tên Lưu Quang Vũ trong danh sách này
Khi nói tới thơ giai đoạn chống Mỹ không thể không nhắc tới đặc điểmchung của các nhà thơ này về học vấn, sự trải nghiệm cuộc sống và thực tiễnsáng tác Bởi, dù thế nào thì thơ vẫn là một sản phẩm của nhà thơ Và nhà thơvẫn là nhân tố quyết định cho sự phát triển của thơ về mọi mặt
Trang 19Khác hoàn toàn với giai đoạn trước, nền giáo dục đang còn trong thời
kỳ trứng nước, tiền đề về học vấn của người dân là rất hạn chế Sang giaiđoạn này, không chỉ cái ăn, cái mặc được đảm bảo hơn, mà cái chữ cũng đượcđào tạo bài bản, hệ thống Trình độ dân trí có sự phát triển vượt bậc hơn vớinhững giai đoạn trước đó Các nhà thơ được tiếp cận với nền văn hoá tiên tiếncủa thế giới, được kế tục truyền thống cha anh Đó là một tiền đề thuận lợi vềmọi mặt, trong đó có lĩnh vực văn hoá nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng
Những người lính, không phải ai khác, họ chính là những nam thanh,
nữ tú của các trường phổ thông, sơ cấp, trung cấp, đại học Trước khi là ngườilính thì họ là những cô cậu học trò non nớt, với lý tưởng và niềm tin trongsáng vào Đảng, vào Bác Hồ, vào những trang sách mà thầy cô đã dạy Khibước chân vào kháng chiến, trở thành những anh bộ đội cụ Hồ, trong họ sôinổi, bùng cháy khát vọng hiến dâng Và rồi, trong số đó, từ những người lính
họ trở thành những nhà văn, nhà thơ Với trái tim sục sôi của tuổi trẻ, vànhững tình cảm yêu nước thiết tha, họ nhân danh cái ta của dân tộc và thời
đại, cất lên những lời thơ dõng dạc, đường hoàng, đầy chất sử thi: “Ôi trái tim
em, trái tim vĩ đại/ Còn một giọt máu tươi còn đập mãi/ Không phải cho em Cho lẽ phải trên đời/ Cho quê hương em Cho Tổ quốc loài người” (Tố Hữu).
Họ dâng trọn tính mạng mình cho Tổ quốc thân yêu: Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết/ Cho mỗi căn nhà ngọn núi con sông (Chế Lan Viên) Ở họ có nhiều điểm chung, mà trước tiên: “Đó là những nhà thơ mà trước và trong khi làm thơ, họ đã là những người lính hoặc tình nguyện sống như những người lính chống Mỹ Đã có nhiều người trong thế hệ ấy ngã xuống khi viết những bài thơ, những vần thơ về tình yêu, về lòng căm giận, những câu thơ dành cho Tổ quốc mình, nhân dân mình, người yêu của mình Những câu thơ ấy được gọi chung là “những câu thơ chống Mỹ” Đã có một thời kỳ, những năm tháng
mà làm thơ với chống Mỹ là hai hành động đồng thời, trùng hợp, cái này xốc dậy cái kia, cái kia động tới nơi sâu kín của cái này Nếu Mỹ không xâm lược
Trang 20Việt Nam thì chắc chắn không có thế hệ những nhà thơ chống Mỹ Nhưng chúng ta đã có một thế hệ nhà thơ như thế, đó là điều độc đáo của Việt Nam”
[59]
Mỗi nhà văn, nhà thơ gắn liền với một cái tôi, “cái tôi thể hiện cách nhìn, cách cảm riêng của một lứa tuổi trẻ gánh trên vai họ thử thánh nặng nề của cuộc chiến tranh, với những gian lao hy sinh mà họ nếm trải đến tận cùng xương thịt Cái tôi trữ tình ấy có một quá trình hình thành và sự vận động riêng của nó, song song với thử thách ác liệt của cuộc chiến Thế hệ trẻ bước vào cuộc chiến đấu trong khí thế cả nước hào hùng ra trận Giáp mặt với máu lửa chiến tranh, trải nghiệm những gian khổ hy sinh, trong thơ hình thành một cách nhìn khác, một giọng nói khác, suy tư và trầm lắng hơn Tư thế trữ tình của thơ là suy ngẫm, tự bạch, độc thoại, đối thoại với thế hệ mình hơn là ca ngợi và cổ vũ Điểm nhìn nghệ thuật tập trung vào một hiện thực sống, một sự thật chiến hào được cảm nhận bằng kinh nghiệm của người trong cuộc” [2, 137].
Và cũng là một quy luật tất yếu, khi còn là những cậu học sinh trẻmăng thì họ như một trang giấy có mầu nền mà chưa có tranh ảnh Rồi cứtheo thời gian, sương gió, súng đạn làm cho họ dạn dày, và những tờ giấy nền
đó được vẽ nên những bức tranh khác nhau, có thể là một bức tranh hoànhtráng ca ngợi cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, và cũng có thể là một bứctranh khắc hoạ những mảng tâm trạng của người lính trước những mất mát hysinh Có thể nói, qua chiến tranh, qua dòng chảy của thời gian họ dần dầnbiến đổi
Còn riêng về Lưu Quang Vũ, ngoài những đặc điểm nói trên, bị chiphối bởi một hoàn cảnh riêng không mấy suôn sẻ, thuận lợi nên đã ảnh hưởng
ít nhiều tới con người ông, sự nghiệp sáng tác của ông, trong đó có thơ Bởivậy, cùng sinh ra, trưởng thành trong dàn đồng ca chung của thời đại, ông cónhững đặc điểm riêng không dễ lẫn
Trang 211.2 Con đường sáng tác của Lưu Quang Vũ
Tính đến thời điểm này, tác phẩm thơ Lưu Quang Vũ đã được công bốtương đối đầy đủ Thơ Lưu Quang Vũ luôn là tiếng nói đồng điệu với thực tại
- thực tại chung của dân tộc, của đất nước và thực tại của chính hoàn cảnh cánhân ông Ở mỗi giai đoạn sáng tác, tâm hồn thơ của ông có những biểu hiệnriêng Có thể chia quá trình sáng tác của ông làm ba giai đoạn: 1963 - 1970,
1971 - 1973, 1974 - 1988, tương ứng với ba mục nội dung sau:
1.2.1 Sự xuất hiện đầy ấn tượng
Lưu Quang Vũ yêu thơ và sáng tác thơ từ rất sớm Khi rời ghế phổ
thông vào quân ngũ, “đây là giai đoạn có thay đổi lớn trong cuộc đời Vũ Vũ làm rất nhiều thơ Không phải là kiểu thơ thủa học trò sách vở mộng mơ nữa Thơ Vũ mang cảm xúc, hơi thở mới: tiêu biểu cho một thế hệ háo hức lên đường diệt Mỹ Chùm thơ đầu của Vũ in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội với ba bài thơ: Gửi tới các anh, Lá bưởi lá chanh, Đêm hành quân Nhiều bạn bè văn nghệ quen biết vợ chồng tôi đều có lời khen chùm thơ của Vũ Anh Chế Lan Viên nói với nhà tôi: “Thằng Vũ nhà anh tài hoa quá, xin chúc mừng Tôi thích bài thơ Gửi tới các anh của Vũ lắm!”“ [61, 20] Những
ngày tháng đầu quân ngũ của Lưu Quang Vũ không chỉ có thơ, mà còn có
kịch: “Vũ viết những vở kịch ngắn, những hoạt cảnh chèo về anh bộ đội, về tình quân dân, được anh em rất hoan nghênh” [61, 20]
Tập thơ đầu tay Hương cây - Bếp lửa (1968) in chung với Bằng Việt ra
đời đã gây một tiếng vang trong giới văn nghệ sĩ, công chúng yêu thơ lúc bấy
giờ Hoài Thanh rất tinh, rất sành khi thưởng thức, thẩm định thơ Đọc Hương cây, ông đã nhận ra một tài năng thơ: “Năng khiếu của anh đã rõ Miễn anh
đi đúng nhất định anh sẽ đi xa” và Hương cây quả là một sản phẩm: “Nó là vàng thật”.
“Vạn sự khởi đầu nan” phải chăng là một đúc kết kinh nghiệm khôngđúng với trường hợp Lưu Quang Vũ? Không, ông vẫn trong quy luật ấy, bởi
Trang 22từ sau tập này, không ai còn chú ý đến thơ của ông nữa Không phải vì thơông không hay, mà vì nó lạc điệu so với thơ lúc bấy giờ Thực chất, càng vềsau, thơ ông lại càng có sức hút, sức lay động, nó nồng đượm, ấm áp tìnhngười, tình yêu quê hương, đất nước ở độ chín hơn, trưởng thành hơn
Đáng buồn cho số phận thơ của Lưu Quang Vũ một thời, nhưng “thàmột phút huy hoàng rồi chợt tắt” cũng là đủ lắm rồi cho đời một con người,còn với Lưu Quang Vũ thì đó cũng là một niềm an ủi cho một kiếp người “tàihoa mệnh bạc” Tài năng đó không tắt mà vẫn cháy, điều đó lại càng làm chochúng ta, không phải chỉ hôm nay mà mãi mãi mai sau, khâm phục, bởi khôngchỉ vì tài năng mà quan trọng hơn đó là bản lĩnh của một người nghệ sĩ
1.2.2 Những bước đi “lệch chuẩn” và hệ lụy của nó
Thời gian trôi đi, nhưng ký ức vẫn đọng lại Hôm nay, nhìn lại đời thơLưu Quang Vũ, chúng ta không thể không xuýt xoa, tiếc nuối, giá mà giámà không có chiến tranh, không có những quy tắc cứng nhắc cho nghệthuật Nhưng mọi giả thiết chỉ là giả thiết, biết đâu không có chiến tranh thìhồn thơ của ông lại rẽ sang một hướng khác, và tài năng thơ của ông chắc gì
đã được khẳng định như ngày hôm nay Không có chiến tranh, thơ ông đâu cónhững nỗi buồn cao thượng Không có những quy tắc cứng nhắc trong nghệthuật, thì có đâu lối rẽ độc đáo, sự lựa chọn dũng cảm trong tìm bước đi riêng
Đã qua rồi cũng đừng nên tiếc nữa Khách quan mà nói thì cũng thiệt thòi choLưu Quang Vũ thật Nhưng lịch sử vốn là vậy, nó không nhân nhượng bất cứ
ai, còn Lưu Quang Vũ vẫn cứ là mình, ông đã chọn con đường thơ đầy “hệ lụy”, hình như Lưu Quang Vũ là nhà thơ trẻ rất hiếm hoi vào thời điểm ấy
dám đi ngược lại những quy ước, thể hiện ý chí tự do, rẽ sang một lối hoàntoàn khác từ nền thơ đại chúng Chính với sự lựa chọn đó, tài năng và nhâncách, bản lĩnh của ông được chứng tỏ
“Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước”, ông đã chọn dòng nước
nhiều thác ghềnh nhất, nơi mà người nghệ sĩ nếu không cứng tay chèo, con
Trang 23thuyền nghệ thuật sẽ bị phá vụn ra làm trăm mảnh Và, dòng nước yên ả, baogiờ cũng là lựa chọn của số đông Thời điểm đó số đông dành phần thắng, cònLưu Quang Vũ, một mình lủi thủi trên con thuyền thơ nghiệt ngã, cũng xuất
phát bởi: “Tôi không muốn viết những lời như thế/ Tôi không thể viết những lời như thế/ Chẳng muốn ai vui lòng khi đọc thơ tôi/ Tôi viết những bài thơ chống lại chính tôi/ Chống lại bóng đen trì trệ của đời/ Chống lại bài thơ tôi
đã viết cùng ai ưa thích nó” Một tâm hồn lạnh giá có lẽ sẽ không rung động
trước lời tâm sự này của Lưu Quang Vũ Thực sự là một sự lựa chọn đau khổ
“Đơn thương độc mã” là đau khổ, là quá sức, nhưng đau khổ hơn vẫn là phủ
định lại chính mình, chống lại chính mình Biết trách ai bây giờ, nhận thức làmột quá trình Khi mới vào lính, khái niệm “chiến tranh” nhà trường đã dạyluôn gắn với sự “hy sinh”, “quên mình” mà thầy cô nhắc nhở Và người lính
phải có “lý tưởng”, “niềm tin”, “phải cười” trước cái chết: “Sông Thương ơi đang những ngày đánh Mỹ/ Nên đôi bờ nòng pháo hướng trời mây/ Những cô lái đò súng khoác trên vai/ Đời đẹp vô cùng dòng lệ hoá dòng vui” Và Lưu
Quang Vũ đã thấm nhuần lý tưởng như bao đồng chí, đồng đội khác cùng thời
ngay từ khi mới vào quân ngũ Nhưng thật đáng tiếc cho “con người công dân” của ông không thể chiến thắng nổi “con người thơ” của mình Bom rơi
lửa đạn, chết chóc cứ đập vào mắt ông, một ngày hai ngày rồi cứ thế,không mủi lòng sao được khi đã trót mang một hồn thơ nhạy cảm Hai phía
hiện thực cùng xuất hiện, hiện thực vui (nhà trường dạy) đã bị hiện thực buồn
trong hồn thơ của ông khuất phục, đó là lý do khiến cho thơ ông những năm
Trang 24cho đời những tiệc vui ảo ảnh/ Nỗi buồn chân thành đời chẳng nhận hay sao” Và cuối cùng ông đã lựa chọn con đường thơ của riêng mình, sự lựa chọn ấy mất nhiều hơn là được: “Phải chăng anh đã mất giấc mơ/ Mất tiếng
ve và những mùa dưa chín/ Anh đã mất cả mây qua lòng giếng/ Cả tiếng gà hẻm núi cả cơn mưa/ Mất tiếng rung mơ hồ mà biết gọi người đi/ Mất niềm tin vào chiếc thuyền buồm trắng/ Mất đom đóm đầm sâu mất nụ cười phố vắng/ Mất bài thơ trao tay nhỏ em cầm” Cái giá phải trả cho sự lựa chọn ấy chính là sự trống rỗng: “Giờ lạnh tanh anh không còn xao động nữa/ Không nỗi buồn không cay đắng không niềm vui” Nhưng mất chưa phải là hết: “Dẫu anh mất nhà ga êm đẹp đó/ Vẫn còn con tàu chuyển bánh đi xa” Đến nay ta
mới nghiệm ra rằng, mọi sự “hệ lụy”, “lệch chuẩn” chỉ có ý nghĩa một thời,điều đó đúng với Lưu Quang Vũ Đơn độc trên một con đường nghệ thuật,ông đã sải rộng bước chân bỏ xa các nhà thơ cùng thế hệ
1.2.3 Sự chín chắn của phong cách
“Đau khổ về vật chất thì giết chết nghệ thuật, còn đau khổ về tinh thần thì đẻ ra nghệ thuật” [65] Đó là một chân lý Chính sự dằn vặt, đau khổ, suy
tư làm cho con người trưởng thành hơn Tất nhiên thực tế và từng trải là nhân
tố quan trọng, nó là tiền đề cho con người phát triển Điều đó cũng đúng vớicon người thơ Lưu Quang Vũ Biết buồn biết hy sinh là cao thượng Giai đoạn
1970 - 1973, thơ của ông nặng về trăn trở, suy tư, đượm buồn Với tài năngcủa mình, không phải ông không thể nhập cuộc được với vần thơ cùng thế hệ.Thà chấp nhận hy sinh để ông còn được là mình Cái gì rồi cũng có giới hạn
cả, chẳng lẽ trong cuộc đời con người ta cứ chìm đắm trong khổ đau, cứ bịkhổ đau đè bẹp mãi Không thể và không bao giờ như vậy được, cuộc đời nó
như vòng xoắn ốc, kể cả những điều lặp lại: “Khổ đau hôm nay không như khổ cũ/ Nỗi lo âu cũng khác hẳn xưa rồi”, dù “có những lúc tâm hồn tôi rách nát”, nhưng “cuộc đời sẽ qua đi những ngày đông xám ngắt” Sống phải có niềm tin, chẳng lẽ: “Cuộc đời này toàn những chuyện xấu xa/ Tại sao cây táo
Trang 25lại nở hoa/ Sao rãnh nước lại trong veo đến thế ?” Nhà trường và thực tiễn
đã khiến ông vỡ lẽ, chẳng có gì là tuyệt đối, cho nên trước tuyệt vọng và đau
khổ ông luôn hy vọng, hy vọng cả trong thơ: “Nước lũ qua sẽ còn lại phù sa/ Những tình yêu những ước vọng thiết tha/ dẫu bay đi không một lời đáp lại/ Vẫn trơ trọi trong lạnh lùng bóng tối/ Dẫu đường dài xa ngái/ Đừng phút nào mệt mỏi, thơ ta ơi” Đến hôm nay, dù không còn sống nữa, nhưng ý nguyện
của ông đã rất đúng
Mỗi năm thêm một tuổi, con mắt như tinh hơn: “Ta lớn lên cửa sổ thay màu/ Nghe tiếng chim không thấy mùa nắng nữa” Chiến tranh làm nhận thức của ông biến chuyển: “Qua chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều” Qua những bước thăng trầm, thơ của ông cũng khác hẳn xưa, “nhưng mạch thơ trong thơ anh không hề đứt nối Giai đoạn trước kiến tạo cho giai đoạn sau Sức nặng của câu thơ yêu đời được bắt đầu từ câu thơ mất mát” [5, 24] Từ 1974 cho
đến cuối đời, thơ của ông có sự chín chắn hơn, đằm thắm hơn, những dằn vặt,khổ đau trong thơ cũng nhạt dần theo năm tháng Nhiều người cho rằng, cóbước ngoặt này là do đời tư của ông có sự biến đổi (ông kết hôn với người
bạn đời mới Xuân Quỳnh): “ tình yêu luôn là điều quan trọng nhất Nó là chỗ dựa về mặt tinh thần, là nguồn năng lượng dồi dào và quan trọng hơn nó
là nguồn cảm hứng đối với người nghệ sĩ sáng tạo” [61, 39] Điều đó đúng
nhưng chỉ đúng một nửa, nếu như không có những thăng trầm, trải nghiệm,cùng với vốn kiến thức tích luỹ, đặc biệt là năng khiếu thơ bẩm sinh thì khôngthể có một Lưu Quang Vũ ở chặng thơ sau này
1.3 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong thế hệ các nhà thơ chống Mỹ
Nếu không có những hồn thơ như Lưu Quang Vũ thì thành tựu của thơchống Mỹ mới chỉ đạt được một nửa
1.3.1 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong việc khẳng định tiếng nói chung của thế hệ
Trang 26Với tập thơ Hương cây, Lưu Quang Vũ đã thật sự góp thêm một thanh
âm riêng vào dàn đồng ca của thơ thế hệ thời chống Mỹ, làm cho dàn đồng ca
ấy thêm hoành tráng, hào hùng Những bài thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ làniềm hạnh phúc lớn đối với ông, với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và côngchúng yêu thơ Thơ của ông giai đoạn này có cảm xúc tươi trong, ngọt ngào,phù hợp với thị hiếu của công chúng, đáp ứng được niềm mong mỏi củaĐảng, của dân tộc Với giọng thơ cất lên hợp thời, Lưu Quang Vũ đã đứngđường hoàng trong đội hình chỉnh tề của các nhà thơ thế hệ thời thời chống
Mỹ Có lẽ không cần giải thích gì nhiều ta vẫn có thể biết tại sao Lưu Quang
Vũ lại bắt nhịp được với điệu thơ thời đại Khi còn rất trẻ, sự trải nghiệm chưanhiều, chủ yếu sống với sách, với vở là chính như bao người lính cùng thế hệ,
và sự nhiệt huyết, hăng say, hiếu động của tuổi trẻ cũng là nhân tố để hồn thơ
phơi phới, cất cánh bay cao: “Lúc này Lưu Quang Vũ đã rời ghế nhà trường, vào bộ đội, anh bộ đội này khá nhiều mơ mộng, mỗi bước đường hành quân, mỗi làng mạc đi qua gợi lên trong anh bao cảm xúc rưng rưng về Tổ quốc về nhân dân Những cảm xúc còn nhiều dấu vết của sách vở nhà trường thiêng liêng trong trẻo, đầy tin cậy” [61, 50] Đồng thời khi được đứng trong hàng
ngũ, sống trong không khí của tập thể, sự hoà đồng dễ dẫn đến tiếng nóichung
Tuy nhiên, hoà vào cái chung của thời đại, để giữ được mình là rất khó,
nhưng Lưu Quang Vũ vẫn giữ được cốt cách riêng của một người thi sĩ: “Anh
cá thể hoá nó bằng cảm giác của cái tôi bàng bạc suốt bài thơ và cá thể hoá bằng bút pháp, bởi cái tài hoa của Lưu Quang Vũ có nhiều nét cá biệt Anh viết rất tạo hình vì có lẽ anh còn là hoạ sĩ ” [69, 366] Hoà đồng mà vẫn giữ
được cốt cách, điều đó chỉ có ở một nhà thơ tài năng
1.3.2 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong việc khẳng định tiếng nói của con người cá nhân
Trang 27Từ những năm 1971, Lưu Quang Vũ đã mang trọn vẹn cá tính củamình vào thơ, và thơ ông trở thành cá biệt, trở thành sản phẩm lạc thời.Không phải người khác mang đến cho ông, mà ông tự nhận lấy, ông tự lựachọn Hình như đó là sự lựa chọn thiệt thòi? Không, với ông, có đúng thì mớichọn, và ông đã chọn đúng Nhờ sự lựa chọn ấy, ông đã khẳng định đượctiếng nói thơ của mình Do thời bấy giờ nó là cái độc đáo lạc thời, nên đếnnay thơ ông mới được khẳng định Dù muộn mằn nhưng lại là một khẳng địnhvinh quang nhất Bởi ông là người biết hy sinh và chờ đợi Hy sinh cho tươnglai và chờ ở ngày mai Cho nên có thể nói đó là tấm gương sáng cho những aitheo con đường nghệ thuật.
Trong khoảng thời gian từ 1971 - 1973, thơ ông đã bứt phá ra khỏi độihình, đội ngũ để rẽ sang một hướng khác, hướng vắng người đi hơn Có rấtnhiều cách lý giải cho sự chuyển biến của hồn thơ Lưu Quang Vũ giai đoạnnày, nhưng dù là nguyên nhân nào thì cũng đều xuất phát từ nhận thức Nếucho rằng đó là xuất phát từ đời tư của ông thì chỉ có thể đúng với một mảngnhỏ thơ về tình yêu, gia đình Vậy còn mảng thơ về chiến tranh, về đất nướccũng do đời tư sao? Chắc chắn là không Đó là nhận thức Phải nhìn sâu vàothực tế để nhận định Chính sự trải nghiệm, bao gồm tất cả (hoàn cảnh chung
và hoàn cảnh riêng), làm cho nhận thức của ông biến đổi Thực tế đã dạyông: những lý tưởng (con người Lưu Quang Vũ rất coi trọng lý tưởng, đọctrong nhật ký của ông ta sẽ hiểu) được học trong sách khác xa với ngoài đời.Ông tin vào lý tưởng, tin vào tình yêu, tin vào con người, tin vào tất cả Mộtđiều hiển nhiên và rất thật, về chiến tranh các thầy cô dạy có bao giờ nói đếnchết chóc, đau thương mà chỉ toàn là điều tốt đẹp Tình yêu trong sách cũngrất đẹp, rất lãng mạn còn ngoài đời thì hoàn toàn khác xa, không giốngnhững gì ông nghĩ và sách đã viết Hãy đứng về phía Lưu Quang Vũ để nhìnnhận, nhiều khi lấy lòng ta để đo lòng người là rất khó Xin nhắc lại rằng,Lưu Quang Vũ là người sống với lý tưởng, tôn thờ lý tưởng, và vốn bẩm
Trang 28sinh có tâm hồn thi sĩ nữa, nên ông rất nhạy cảm Sự vỡ lẽ và mất niềm tinbao giờ cũng gây ra phản ứng (hãy tưởng tượng chúng ta trong hoàn cảnhấy) Với ông, để giải toả không con đường nào khác ngoài thơ Cho nênchặng thơ sau ta thấy ông luôn có sự suy tư, chất vấn Có những bài thơ ôngkhông đặt câu hỏi, nhưng mỗi bài thơ như là một câu hỏi lớn Có thể nói, sự
chất vấn ấy phải chăng bắt nguồn từ sự nghi hoặc, “không còn tin ai nữa”, nên lúc nào ông cũng thấy mình cô đơn, “cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ”
Có thể nói, tiếng nói cá nhân, cái nét riêng biệt của mình được LưuQuang Vũ khắc hoạ tương đối rõ nét trong thơ
1.3.3 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong việc đổi mới thi pháp thơ
Thơ ca thời chống Mỹ vươn tới những hình ảnh kỳ vĩ lớn lao, nhữngcảm hứng lạc quan khoẻ khoắn, ca ngợi lý tưởng, ca ngợi Đảng, Bác Hồ, cuộcsống lao động gian lao vất vả mà vẻ vang của nhân dân, cuộc chiến đấu thần
kỳ của dân tộc Hình tượng trung tâm là người chiến sĩ đánh giặc bảo vệ Tổquốc: anh bộ đội cụ Hồ, cô thanh niên xung phong, là chiến sĩ lái xe, là anhnuôi quân, cô giao liên họ hiện lên thật đẹp và sáng ngời, với những phẩmchất hy sinh anh dũng, kiên cường, với niềm tin lạc quan vào cách mạng
Trong dàn đồng ca của thế hệ, Lưu Quang Vũ đã tự tách mình ra, đứngmột mình, âm thầm cất lên tiếng nói riêng từ cõi lòng sâu thẳm Sự lựa chọn
ấy đã “cởi trói” cho thơ của ông Không bị gò vào một cái khuôn đúc sẵn của
một quy tắc sáng tác, ông dễ dàng phơi bày tấm lòng, lựa chọn cách biểu đạtriêng Tâm hồn thơ phong phú của ông đã kéo theo sự phong phú trong cáchdiễn đạt và thể hiện
Nhìn chung chặng thơ đầu của ông mang đặc điểm chung của thi phápthơ chống Mỹ, cảm hứng thơ chủ yếu là hướng ngoại Từ những năm 1970 trở
đi, thơ ông nghiêng nhiều về hướng nội, trình bày những suy tư trước hiện thựccuộc sống Sự nới rộng đường biên đề tài đã quy định thi pháp thơ của ông Nếugiai đoạn trước, thơ của ông đang còn đậm dấu vết của thi pháp thơ cũ (thể thơ 7
Trang 29chữ, 8 chữ, chia khổ ), lúc này, ông sử dụng thể thơ tự do là chủ yếu Giọng thơthơ thành kính trang trọng được thay thế bởi giọng thơ suồng sã, thân mật, mangnhiều tính chất đời thường Hình tượng đời thường và hình tượng chiến tranhđược kết hợp một cách nhuần nhuyễn Càng về những năm cuối, thơ ông cómột dấu hiệu rất đặc biệt, chữ cái đầu các dòng thơ rất hiếm khi thấy ông viếthoa, có lẽ đó là một dấu hiệu đặc biệt mang tính cá thể của thi pháp thơ LưuQuang Vũ Về mặt thi pháp, có thể nói đó là sự đổi mới sớm sủa của ông so vớicác nhà thơ cùng thời.
Trang 30Chương 2 NỘI DUNG CỦA CẢM HỨNG SỬ THI, CẢM HỨNG ĐỜI TƯ,
THẾ SỰ VÀ SỰ THỐNG NHẤT CỦA CHÚNG
TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
2.1 Giới thuyết khái niệm
2.1.1 Khái niệm cảm hứng
Cảm hứng là một yếu tố quan trọng trong quá trình sáng tạo, đồng thờicũng là cái mang lại tinh thần thoải mái, tạo niềm hứng khởi cho những điềumới mẻ trong công việc, học tập Nói đến cảm hứng thì người ta lại nhắc đến
sự sáng tạo, cả trong văn chương nghệ thuật nói riêng và tất cả các lĩnh vựctrong đời sống nói chung Làm việc, học tập không có cảm hứng thì cũng nhưxây các tòa nhà mà không đào móng Văn chương nghệ thuật mà không xuấtphát từ những cảm hứng sáng tạo rất riêng, rất “nghệ sĩ” của mỗi tác giả,không khơi gợi lên những nguồn cảm hứng đặc biệt trong lòng người đọc thìsản phẩm của nó chẳng khác gì những bài thuyết lý
Trong giao tiếp thường ngày, người ta cũng hay dùng các từ cảm hứng,
cảm xúc để chỉ một trạng thái tình cảm, cảm xúc của con người trước một đốitượng nào đó
Khái niệm cảm hứng được dùng ở đây là một thuật ngữ của chuyên
ngành ngữ văn thuộc khoa học xã hội Từ thời cổ đại khái niệm này đã được
dùng: “Ngay các triết gia cổ Hy Lạp, sau này là Hê ghen và Belinsky đều đã dùng từ “cảm hứng” (tiếng Hy Lạp cổ: pathos - một tình cảm sâu sắc, nồng nàn) để chỉ trạng thái phấn hưng cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại” [36, 168] Trong Từ điển thuật ngữ văn học, khái niệm cảm hứng đã được định nghĩa như sau: “Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác
Trang 31phẩm nghệ thuật, gắn liền với tư tưởng xác định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm Theo một nghĩa nào đó, cảm hứng chủ đạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm” [37, 39].
Cần phân biệt cảm hứng với cảm xúc, cảm hứng với hứng thú Cảm xúc mang tính chất đời thường, gắn liền với trạng thái tình cảm của con người nói chung trong các hoạt động xã hội, mang tính chất trung tính, còn cảm hứng nghiêng về cảm xúc, nhưng là cảm xúc cao độ đặc thù trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật Hứng thú theo một nghĩa nào đó có liên quan đến cảm
hứng, cảm xúc, chỉ một trạng thái tình cảm, nhưng hứng thú thể hiện sự thích
thú, tập trung của một người tới một đối tượng cụ thể nào đó Cảm hứng
không chỉ là trạng thái tình cảm, sự chú ý chung chung tới một đối tượng cụthể, mà còn là sự chú ý tới đối tượng trong một trạng thái tình cảm, cảm xúccao độ
Cảm hứng là sự tác động qua lại giữa tinh thần người nghệ sĩ và thếgiới khách quan Không thể có một cảm hứng chung chung, trừu tượng, màcảm hứng phải cụ thể Nghĩa là, cảm hứng phải xuất phát từ một đối tượng cụthể bên ngoài tinh thần người nghệ sĩ, nhưng nếu thiếu đi thế giới tinh thầnnhạy cảm của người nghệ sĩ thì chưa thể có cảm hứng, nghĩa là cảm hứngphải gắn với tư tưởng Không có cảm hứng sẽ không có tác phẩm nghệ thuật.Cảm hứng xuất hiện khi hội tụ đủ hai yếu tố khách quan và chủ quan
Lĩnh vực tinh thần của con người gồm có hai mặt: tình cảm và lý trí,
cảm hứng thuộc mặt tình cảm của tinh thần con người Từ đây có thể thấy tầmquan trọng của cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật Cảm hứng là tiền đề hìnhthành tác phẩm nghệ thuật Tuy nhiên, cảm hứng là điều kiện cần, nhưng chưa
đủ, nếu thiếu đi mặt lý trí, thì tác phẩm nghệ thuật sẽ khó có thể hình thành:
“Trong sáng tạo nghệ thuật, thường khi ý thức và vô thức nhập vào với nhau, không thể tách bạch ra một cách thô thiển được Cũng như một tác phẩm hay thì nội dung và nghệ thuật hoà trộn vô nhau như máu hòa trong da thịt Phân
Trang 32tâm học bảo: dường như vô thức điều khiển ý thức Nhưng theo tôi, nếu vô thức là một vùng tối tăm chìm khuất làm sao con người nhận biết? Lại phải cần dùng ánh đèn pin của ý thức rọi vào vùng tăm tối vô thức kia thì ta mới nhận ra hình dạng của nó Khi đó vô thức đã bị ý thức hóa mất rồi… Thường
là, khi cảm hứng đến nhà văn ào lên viết, tranh thủ mà viết, nào có thời gian
để phân biệt cái nào là vô thức cái nào là ý thức đang ám ảnh mình như kia…” [65] Vì vậy một tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là sự
kết hợp hài hoà giữa lý trí và tình cảm của nhà văn Tình cảm là khởi nguồncho sáng tạo, còn lý trí làm cho văn bản nghệ thuật có chiều sâu về nội dung
tư tưởng và cách thể hiện Tình cảm và lý trí thúc đẩy nhau cùng phát triển.Hầu hết mọi người đều cho rằng, cảm hứng hoàn toàn là do tự phát, không thểkiểm soát hay điều tiết được Lúc làm việc, học tập tinh thần sảng khoái, tựnhiên thấy “hứng” lên thì năng suất lao động tăng vèo, còn đang mệt mỏi, cụthứng thì Quan điểm này là không sai Tuy nhiên, cái cách người ta quanniệm và áp dụng nó lại dẫn đến nhiều hậu quả Cho nên không thể hiểu cảmhứng theo cách hiểu thông thường Cảm hứng, xét ở một góc độ nào đó thìcũng liên quan ít nhiều đến may mắn Tuy nhiên, con người cũng đang dầnchinh phục được những bí quyết của may mắn và tự khơi dậy cho mình nhữngnguồn cảm hứng mới trong sáng tạo nghệ thuật và lao động Cảm hứng có thểhoàn toàn nuôi dưỡng được Bởi vậy, mỗi một sản phẩm nghệ thuật ra đời,
thường được ví như một đứa con tinh thần của nhà nghệ sĩ là vì vậy.
Lĩnh vực tinh thần của con người mang tính tập thể, tính cộng đồng,tính nhân loại nên cảm hứng cũng vừa mang tính chung vừa mang tính riêng
Vì vậy có cảm hứng riêng của một tác giả, nhưng cũng có cảm hứng chungcủa thời đại, của trào lưu, của dân tộc, của khu vực Từ những tâm hồn khaokhát sáng tạo, khao khát cống hiến, nhằm tiếp nối dựng xây truyền thống ngànnăm văn hiến mà biểu hiện cao nhất của nó là tinh thần yêu hoà bình, yêu tự
do độc lập, yêu đất nước quê hương mình, đã kết tinh thành nguồn cảm hứng
Trang 33thời đại, để lại cho dân tộc Việt Nam, cùng nhân loại những áng thơ văn bất
hủ Tinh thần ấy, nguồn cảm hứng thời đại ấy đã chắp cánh cho từng câu,từng chữ của hồn thơ
Tuỳ vào cách thức thể hiện, nội dung phản ánh, có thể chia thành nhiềuloại cảm hứng tương ứng khác nhau: cảm hứng sử thi, cảm hứng thế sự, cảmhứng anh hùng, cảm hứng bi, cảm hứng hài
2.1.2 Cảm hứng sử thi
Trước tiên cần phải xác định được nội hàm ý nghĩa của khái niệm sử
thi Sử thi là khái niệm chỉ một loại hình văn học: “Cũng gọi là tự sự, một trong ba loại văn học, phân biệt với trữ tình và kịch” [4, 290], đồng thời trong nghĩa hẹp hơn, nó chỉ đích danh một mảng văn học cụ thể: “Trong nghĩa hẹp
và chuyên biệt, sử thi trỏ một hoặc một nhóm thể loại trong tự sự, đó là sử thi anh hùng, tức là những thiên tự sự kể về quá khứ anh hùng, hàm chứa những
“bức tranh” rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân và về những anh hùng, dũng sĩ đại diện cho một thế giới sử thi nào đó, thống nhất, hài hoà” [4, 290] Như vậy, ở nét nghĩa thứ nhất, sử thi dùng để phân biệt với trữ tình, kịch Ở nét nghĩa thứ hai, sử thi chỉ một loại văn bản sử thi anh hùng, một đi không trở lại Tuy nhiên, “các hình tượng anh hùng của thần thoại được sử dụng rộng rãi trong nghệ thuật và văn học các thời đại về sau Tuy được giải thích lại, song chúng vẫn giữ ý nghĩa là những tượng trưng vĩnh cửu cho chủ nghĩa anh hùng của nhân loại”[36, 173] Cảm hứng sử thi vì vậy cũng gắn với cảm
hứng anh hùng: “Cảm hứng anh hùng bao hàm sự khẳng định chiến công lớn lao của một cá nhân hoặc của cả một tập thể, sự khẳng định ý nghĩa to lớn của chiến công đó đối với sự phát triển của nhân dân, dân tộc, nhân loại Đối tượng của cảm hứng anh hùng trong văn học là chất anh hùng của bản thân thực tại tức hoạt động tích cực của những con người đã thực hiện những nhiệm vụ lớn mang tính chất tiến bộ của toàn dân tộc” [36, 170] Tuy nhiên
Trang 34đó là nét nghĩa chính của khái niệm sử thi Qua thời gian, gắn với từng thời kỳlịch sử cụ thể, khái niệm sử thi đã có sự nới rộng về nội hàm khái niệm.
Trên cơ sở những nét tương đồng về hoàn cảnh lịch sử, tương đồng vềkhuynh hướng sáng tác, cảm hứng sáng tác mà giai đoạn văn học 1945 - 1975cũng được gọi là sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta lại bước vào một giaiđoạn chiến đấu đầy cam go, ác liệt nhằm xây dựng và bảo vệ nước Việt Namdân chủ Cộng hoà non trẻ Chính trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt và anhhùng ấy, đời sống văn học đã không hẹn mà cùng tập trung xây nên một bảnanh hùng ca giàu sức sống về những tấm gương quyết tâm bảo vệ đến cùngtừng tấc đất của Tổ quốc Để phục vụ cho nhiệm vụ “toàn dân kháng chiến”,văn học cũng trở thành một mặt trận chiến đấu bằng sức mạnh của ngòi bút.Các nhà văn viết về các câu chuyện kháng chiến, viết về những tấm gươnganh hùng của người chiến sĩ, biến hình tượng này trở thành nhân vật trungtâm trong suốt một giai đoạn văn học trường kỳ Cảm hứng tráng ca vớinhững trang văn cổ vũ, biểu dương những thành tích thần kỳ cũng như sự hysinh oanh liệt của toàn thể quân dân phục vụ cho một mục đích duy nhất:chiến thắng kẻ thù xâm lược Hàng loạt các truyện ngắn, tiểu thuyết, bút kýđến thơ ca đều tập trung miêu tả người lính, người chiến sĩ, miêu tả hìnhtượng lãnh tụ vĩ đại hoà mình trong hình ảnh của Đảng, của Tổ quốc Tuy cónhững cách khai thác khác nhau song tựu trung lại cảm hứng chủ đạo chi phốitoàn bộ các sáng tác trong giai đoạn văn học 1945 - 1975 là cảm hứng sử thi,
anh hùng ca Theo Vũ Tuấn Anh: “Cái nhìn sử thi là cái nhìn hoành tráng; điểm nhìn sử thi là hiện thực được phóng chiếu trên cái nền rộng lớn của những chiều kích vĩ mô; cảm xúc sử thi là cảm xúc ở trạng thái đỉnh điểm, cao trào; đồng thời tư duy sử thi đòi hỏi tinh thần lịch sử làm cốt lõi” [2,
134]
Trang 35Từ những điều đã dẫn giải ở trên, gắn với đặc điểm của giai đoạn văn
học 1945 - 1975, có thể hiểu “cảm hứng sử thi” là khái niệm được dùng để
chỉ loại cám hứng trong những sáng tác hướng tới cộng đồng, dân tộc Conngười được quan tâm trước nhất là những người anh hùng, mang tầm vóc thờiđại, gắn với những sự kiện của lịch sử, của quốc gia Giọng điệu bao trùm làgiọng hào sảng, ngợi ca những chiến công oanh liệt của thời đại
quý trên hành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con người Và “cảm hứng thế sự, đời tư là loại cảm hứng mô tả đời sống nhằm mục đích nhận thức nó trong tất cả các trạng thái nhân thế phức tạp vốn có Cảm hứng sáng tạo này gắn liền với ý thức trách nhiệm đạo đức - xã hội, với tinh thần “nhập thế” tích cực của người nghệ sĩ Cảm hứng thế sự, đời tư thường trỗi dậy mạnh mẽ khi con người phải đối mặt với một hiện thực “méo mó, bất toàn”,
do đó, nó thường đi cùng tinh thần phê phán trên cơ sở ý thức hướng tới một môi trường xã hội nhân văn, tiến bộ Với khao khát “nhìn thẳng vào sự thật”,
“nói rõ sự thật”, nhà thơ trực diện hướng ngòi bút vào các chủ đề xã hội, đặt lên hàng đầu những suy nghĩ và chủ kiến cá nhân để phản ánh, lý giải hiện thực một cách triệt để Đi cùng với một ý thức trách nhiệm đạo đức - công dân, một thái độ, một lý tưởng xã hội mạnh mẽ, tích cực, họ cũng khẳng định mình trong tư cách “con người đời thường”, với tất cả mọi biểu hiện chân thực, nhân bản” [53].
Trang 36Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã mở ra một trang sử mới: xây dựng đấtnước sau chiến tranh Văn chương cũng vậy, có những chủ đề mới đòi hỏingười cầm bút phải khai thác bên cạnh chủ đề chiến tranh và chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc Đến năm 1986, đất nước lại chuyển mình một lần nữa với đường lốiđổi mới - đổi mới trong mọi lĩnh vực vĩ mô như kinh tế, xã hội cho đến nhữngvấn đề cụ thể của từng khối ngành Văn chương cũng đi theo sự đổi mới ấy.Bởi chức năng của nó là phản ánh một cách chân thực hiện thực đời sốngcũng như hiện thực tâm lý con người Cảm hứng chủ đạo chi phối các sángtác của người nghệ sĩ đã chuyển dần từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng cánhân, cảm hứng đời tư, thế sự Các nhà văn, nhà thơ lại tập trung tinh lựctrong ngòi bút của mình để khai thác những mảnh đời nhỏ bé, đời thường mà
có ý nghĩa nhân văn cao cả Họ không nói đến những cái to tát, những cái lớncủa tập thể nữa mà đi sâu vào những con người nhỏ bé trong giai đoạn hoàbình sau chiến tranh
Văn học với những loại hình nhỏ hơn của nó đã có những thay đổi từ tưduy sáng tác cho đến cảm hứng chủ đạo cũng như các nhân vật trung tâm,hình tượng văn học Ngay từ trong thơ ca, tiểu thuyết đến truyện ngắn, bút ký,hồi ký cảm hứng anh hùng ca dần được thay thế bởi cảm hứng cá nhân, đời
tư, thế sự Người nghệ sĩ trong giai đoạn văn học sau này đã tìm cho mìnhmột con đường mới, khai thác văn chương trong một cách nhìn mới mà không
hề phủ định các giá trị của các tác phẩm văn học trước đó
Nhìn chung sự chuyển đổi cảm hứng sáng tác từ cảm hứng sử thi sangcảm hứng cá nhân trong văn học giai đoạn sau 1975 là sự chuyển đổi phù hợpvới sự vận động theo quy luật phát triển của đời sống văn học Nó tạo nên sựphong phú trong sáng tác và tiếp nhận tác phẩm văn chương Mặt khác nó còn
mở ra nhiều con đường sáng tạo nghệ thuật cho các cây bút trẻ Nó góp phầnkhẳng định cao hơn nữa, rõ nét hơn nữa cái tôi cá nhân điển hình của ngườinghệ sĩ có bắt nguồn từ trong gốc rễ của các giai đoạn văn học trước đó
Trang 37Tuy nhiên, riêng về Lưu Quang Vũ, từ những năm 1970 trở đi, cảmhứng đời tư, thế sự trong thơ của ông đã bắt đầu xuất hiện So với các nhà thơcùng thế hệ và trào lưu chung của văn học kháng chiến, đây là một điểm hạnchế của thơ ông, nhưng đồng thời cũng chính điểm hạn chế này lại khiến thơông có một nét riêng không thể lẫn, tạo nên sự độc đáo, một phong cách thơLưu Quang Vũ, trước tiên là ở cảm hứng thơ.
2.2 Cảm hứng sử thi trong thơ Lưu QuangVũ
Theo chúng tôi, không thể có một khái niệm nào áp dụng cho mọi đốitượng như một cái khuôn đúc ra những viên gạch Khi đi vào cụ thể về cảmhứng sử thi trong thơ Lưu Quang Vũ, cần có cái nhìn linh động
2.2.1 Cảm hứng về Tổ quốc, quê hương
Cũng như các nhà thơ cùng thế hệ chống Mỹ, Lưu Quang Vũ cũng cónhững dòng thơ viết về quê hương, đất nước rất hay và rất say, mang âmhưởng thời đại
Cảm xúc về đất nước vốn là cảm xúc nổi trội xuyên suốt trong văn học
ta xưa nay Nguồn cảm xúc ấy cảm xúc càng đặc biệt sâu đậm trong nhữngthời kỳ lịch sử oanh liệt, hào hùng chống giặc ngoại xâm Văn học thời kỳchống Mỹ là một giai đoạn bừng sáng rực rỡ của cảm hứng dân tộc Chưa baogiờ lịch sử chống giặc ngoại xâm với nhiều chiến công vang dội, với nhữngnhân vật lịch sử đã trở nên huyền thoại như Thánh Gióng, Bà Trưng, BàTriệu, Lê Lợi, Quang Trung lại sống dậy mạnh mẽ như thời kỳ này Âmhưởng chủ đạo của dàn đồng ca giai đoạn văn học này là khẳng định, ngợi ca,
tha thiết tự hào: “Tổ quốc tôi như một thiên đường” (Tố Hữu), “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” (Chế Lan Viên), là hào hùng, anh dũng, hy sinh, chấp nhận cái chết của bản thân để dành cái sống cho dân tộc: “Ôi Tổ quốc nếu cần
ta chết” (Chế Lan Viên), trước bom đạn của kẻ thù cận kề với cái chết, vẫn lạc quan yêu đời, ung dung, tự tại: “Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” Có một âm hưởng như vậy là xuất phát từ một tinh
Trang 38thần tập thể, tinh thần dân tộc và thời đại cả nước lên đường đi đánh giặc làmrung động mọi tâm hồn yêu nước, khiến quân thù phải run sợ.
Gắn với trách nhiệm cao cả của một người lính, ngay từ buổi đầu vàoquân ngũ, những vần thơ của Lưu Quang Vũ cũng được cất lên với âm hưởngtrẻ trung, trong sáng, tràn đầy sinh lực của một người lính trẻ tuổi Thời điểmđầu vào lính, tình yêu nước và tình yêu quê hương của ông có sự thống nhấttuyệt đối Cũng như nhiều nhà thơ cùng thế hệ, những vần thơ đầu tay củaLưu Quang Vũ là tiếng nói tha thiết yêu quê hương và gửi trao tin cậy trướccuộc đời Có khác chăng, ở ông, tiếng thơ ấy được cất lên với cung bậc trầmlắng và da diết hơn:
“Sao tên sông lại là Thương
Để cho lòng anh nhớ?”
Đi từ những gì gần gũi thân thương nhất để viết về quê hương, đất nước
một chủ đề lớn của thơ ca cách mạng nói chung và thơ chống Mỹ nói riêng Lưu Quang Vũ ngay từ đầu đã tạo được dấu ấn về một lối viết tài hoa, nồng
-nàn cảm xúc Thiên nhiên trong Hương cây thấm đẫm hương sắc hoa trái cỏ cây của một xứ sở “hoa tươi nắng đẹp” Thiên nhiên ấy đồng nghĩa với quê
hương - đất nước Trong những ngày đánh Mỹ, trên những chặng đường hànhquân, cảm xúc của ông vẫn thiên về việc đi tìm chất thơ qua hương vị đất đai,sông nước, hoa lá quê nhà Phải yêu lắm cảnh sắc thiên nhiên đất nước mình,Lưu Quang Vũ mới viết nên những câu thơ đậm đà bản sắc Việt Nam qua mộthình tượng thời gian tươi tắn và sinh động Hình hài đất nước hiện lên trong
thơ ông qua một dòng sông Thương “nước chảy đôi dòng”, một phố huyện
“bồi hồi bao kỷ niệm”, một thôn Chu Hưng “trăng sao rơi đầy giếng/ Nằm giữa bốn bề rừng rậm nứa lao xao ” Song có lẽ ấn tượng nhất vẫn là Hà Nội, trái tim của Tổ quốc, thủ đô của “niềm tin yêu và hy vọng” chung cho tất
cả mọi người và của riêng ông:
“Trong thành phố có một vườn cây mát
Trang 39Trong triệu người có em của ta
Vườn em là nơi đọng gió trời xa Hoa tím chim kêu bàng thưa lá nắng
Con nhện đi về giăng tơ trắng Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi”
(Vườn trong phố)
Tình yêu đó là sự hoà hợp giữa cái tình riêng trong cái tình chung của
cuộc đời rộng lớn: “Em ơi, em là Hà Nội/ Anh chưa bao giờ yêu Hà Nội như hôm nay” Ông coi quê hương là điểm tựa tinh thần, là nguồn sức mạnh và
gửi gắm tình cảm của chính mình Chính vì vậy, ở tập thơ đầu tay này, khôngcao giọng, không trực tiếp lặn lội trên những nẻo đường Trường Sơn haynhững mảnh đất vùng tuyến lửa như nhiều bạn thơ cùng thế hệ, thơ LưuQuang Vũ vẫn mang vẻ đẹp lý tưởng và nặng tình yêu quê hương đất nước:
“một con sông chảy qua thời gian chảy qua lịch sử
chảy qua triệu triệu cuộc đời chảy qua mỗi trái tim người”
(Sông Hồng)
Mỗi dòng thơ viết ra là một lời tâm sự yêu nước xuất phát từ đáy lòng:
“Ta đi giữ nước yêu thương lắm/ Mỗi xóm thôn qua mỗi nghĩa tình” Hoà
chung khí thế cả nước cùng ra trận, tiếng thơ của ông cất lên thật hùng hồnkhoẻ khoắn, tràn ngập âm hưởng sử thi của thời đại:
“Mùa chiến dịch bừng muôn ánh đuốc Rung núi chuyển rừng bộ đội hành quân Súng giặc khuân về vui chuyện dân công
Tù binh Pháp hàng đoàn run rẩy
Mẹ dắt con ra vẫy chào bộ đội
Trang 40Bố ghé qua nhà áo ướt sương khuya Hôn vội con rồi lại hành quân đi”.
(Phố huyện)
Gác bút nghiên lên đường ra trận tuyến, cũng như bao nhà thơ cùng thế
hệ, Lưu Quang Vũ nhận thức được rằng chỉ khi nào lý tưởng của dân tộc thựchiện được thì lý tưởng của mỗi cá nhân mới có cơ hội để phát triển Dân tộc ta
đang bị đe doạ, “Đến đốt lúa đồng ta là giặc Mỹ/ Mẹ ký vào đơn xin cho con tòng quân” Cho nên, dù con đường cách mạng hiểm nguy, “dấn thân vô là chịu cảnh tù đày”, nhưng chí khí của họ đã lấn át mọi hiểm nguy, dưới con mắt của người lính trẻ, mọi cái đều đẹp một cách thi vị: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” Cũng mang một cách nhìn chung của người lính thời chống Mỹ, Lưu
Quang Vũ trong buổi đầu vào quân ngũ, lời thơ của ông đã hoà vào dàn đồng
ca của thơ dân tộc:
“Tiếng ai hò? dáng lạ cũng thân quen Đường nào vui bằng đường ra trận tuyến?
Nam Bắc lòng ta chung tiếng gọi mẹ hiền
Ta náo nức như suối về sông biển”.
(Đêm hành quân)
“Con đường quê hương, con đường yêu thương Nối với vạn nẻo đường đất nước
Náo nức ngày đêm xe xuôi xe ngược
Đi ra tiền tuyến xa gần ”
(Những con đường)
Cảm hứng về quê hương, đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ còn đượcthể hiện ở lòng tự hào về dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước vàgiữ nước Ngợi ca Tổ quốc tươi đẹp là giọng ca chung của cả nền thơ thờikháng chiến Dưới cặp mắt thi sĩ của ông, hình ảnh quê hương hiện lên thật