1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn lịch sử cuộc đời nhà khoa học nguyễn văn nhân dưới góc độ văn hóa

139 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 14,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2008, Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam được thành lập với chức năng nghiên cứu, bảo tồn và lưu giữ những giá trị văn hóa vậtthể và phi vật thể thông qua tiểu sử, ký ức, tư

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ CON NGƯỜI VÀ LỰA CHỌN NGÀNH

NHÂN 6 1.1 Bối cảnh Việt

Nam những năm thế kỷ XX 6 1.2 Dòng họ, giađình Nguyễn Văn Nhân 12 1.3 Đến vớingành Y và những yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách của Nguyễn VănNhân 14

Chương 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, KHÁM CHỮA BỆNH VÀ ĐÀO TẠO CỦA NGUYỄN VĂN NHÂN 30

2.1 Các công trình nghiên cứu khoa học của Nguyễn Văn Nhân 302.2 Nguyễn Văn Nhân trong công tác khám chữa bệnh, giảng dạy và đào

tạo.45 Chương 3: BÀN LUẬN VỀ GIÁ TRỊ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU

HỌC 54 3.1 Giá trị lịch sử-văn

hóa 54 3.2 Giá trị bảo tồn disản của nhà khoa học 58 3.3 Giá trị giáodục 64 KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤC LỤC 74

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Lịch sử luôn bắt đầu từ mỗi cá nhân, mỗi gia đình Lịch sử đất nước sẽđược nhìn phong phú hơn, đa dạng hơn nếu bắt đầu từ mỗi cá nhân, mỗi giađình… Mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi dòng tộc nếu có điều kiện và biết cách

kể câu chuyện của mình thì sẽ góp phần làm cho lịch sử của đất nước phongphú hơn, đa dạng hơn”[2, tr.33]

Nghiên cứu lịch sử cuộc đời là một trong những phương pháp tiếp cậnnhân học trên thế giới được sử dụng phổ biến Ở Việt Nam cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu về những nhân vật khác nhau về các nhân vật lịch sử như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phan Bội Châu… Trung tâm lưu trữ Quốc gia cũng đang lưu trữ các tài liệu về cuộc đời của một

số nhân vật Đây là công việc hết sức quý giá trong việc gìn giữ, bảo tồn di sảncủa đất nước

Năm 2008, Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam được thành lập với chức năng nghiên cứu, bảo tồn và lưu giữ những giá trị văn hóa vậtthể và phi vật thể thông qua tiểu sử, ký ức, tư liệu và hiện vật cá nhân của cácnhà khoa học Việt Nam Trong việc nghiên cứu lịch sử cuộc đời của nhà khoahọc, Trung tâm đã sử dụng cách tiếp cận - phương pháp nghiên cứu lịch sửcuộc đời để kể các câu chuyện của nhà khoa học Ngay từ những ngày đầuthành lập, các nhà khoa học chuyên ngành y học đã được lựa chọn làm đốitượng nghiên cứu trước, sau đó lan rộng ra các chuyên ngành khác

Trong quá trình nghiên cứu về các nhà khoa học thuộc ngành y, tôi vôcùng ấn tượng với GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân (1924-2013) Mặc dù ôngkhông phải là một vị giáo sư nổi tiếng như GS Tôn Thất Tùng hay GS HồĐắc Di nhưng ông lại là hiện tượng hiếm thấy ở Việt Nam khi bảo vệ luận ántiến sĩ (nay gọi là tiến sĩ khoa học) ở tuổi 67 Sinh tại Hội Vũ, Hoàn Kiếm, HàNội, ông là nhà khoa học thuộc chuyên ngành phẫu thuật chỉnh hình, nguyên

Trang 3

1

Trang 4

là Chủ nhiệm Khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội

108, được đào tạo ở Liên Xô cũ Khi nghiên cứu, chúng tôi mới biết ông làmột trong những chuyên gia hàng đầu về Chấn thương chỉnh hình quân đội,người lập ngân hàng xương đầu tiên ở Việt Nam, có nhiều sáng kiến, đónggóp trong việc áp dụng các kỹ thuật mới trong phẫu thuật xương

Cũng như với nhiều nhà khoa học khác, việc đi sâu tìm hiểu, nghiêncứu lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân là một công việc hếtsức cần thiết để thông qua đó có thể hiểu được bối cảnh lịch sử; những đónggóp của GS Nhân đối với ngành Chấn thương chỉnh hình nói riêng và ngành

Y học nói chung; bên cạnh đó cũng thấy được phẩm chất của một thầy thuốcvới trái tim nhân hậu, luôn hết lòng vì người bệnh và say mê nghiên cứu khoahọc Đây chính là lý do tôi quyết định lựa chọn đề tài “Lịch sử cuộc đời nhàkhoa học Nguyễn Văn Nhân dưới góc độ văn hóa” làm luận văn thạc sĩ,chuyên ngành Văn hóa học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam đã có nhiều ấn phẩm xuất bản nói về câu chuyện cuộc đời

của các nhà khoa học Các ấn phẩm đó có thể là từ các hồi ký như: Nhớ nghĩ

chiều hôm của GS Đào Duy Anh, Hồi ký thời kỳ thanh thiếu niên của GS

Đặng Thai Mai, Đường vào khoa học của tôi của GS Tôn Thất Tùng; các

cuốn sách giới thiệu chân dung, hoạt động, những đóng góp của nhà khoa học

như Giáo sư Nguyễn Xiển - Cuộc đời và sự nghiệp, Đặng Văn Ngữ - Một trí

tuệ Việt Nam, Tạ Quang Bửu - Nhà khoa học tài năng, uyên bác Trung tâm

Di sản các nhà khoa học Việt Nam xuất bản sách tập hợp các bài viết của cácnghiên cứu viên trong quá trình nghiên cứu lịch sử cuộc đời của các nhà khoa

học: Di sản ký ức của nhà khoa học(tập 1,2,3,4,5,6,7), Những câu chuyện

hiện vật (tập 1,2,3).

2

Trang 5

Tuy nhiên, chưa có một công trình hay một ấn phẩm nào thể hiện mộtcách sâu sắc và toàn diện về lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn VănNhân Câu chuyện về cuộc đời ông được một số tác giả đề cập trong các sách,

tạp chí, trang báo điện tử Trong cuốn Những tấm gương thầy thuốc Việt

Nam, NXB Y học, 2009 trang 560 giới thiệu những thông tin cơ bản của GS

Nhân, đồng thời có hai bài viết: Vị giáo sư già và sứ mệnh “Nâng niu

bàn chân Việt” ở trang 561-564 và Thầy thuốc nhân dân Nguyễn Văn Nhân ở trang 564-568 giới thiệu ứng dụng bộ dụng cụ kết xương bên ngoài

của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân trên những bệnh nhân mổ bàn chânkhoèo, kéo dài chi do ông trực tiếp mổ “Đôi bàn tay vàng cùng vớinhững dụng cụ chỉnh hình sáng chế của ông đã giúp nhiều bệnh nhân thoátkhỏi cảnh tật nguyền với chi phí không quá cao” Tác giả Hương Giang có

bài viết Lặng lẽ giúp cho con người đứng thẳng đưa ra nhận xét: Đề tài

“bàn chân khoèo” của ông không những có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội màcòn có ý nghĩa về mặt kinh tế, đó là cơ hội cho những người tật nguyền nghèokhó”

Các tài liệu nói về GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân như: Tạp chí Chỉnh

hình, Maitrise Orthopédique, Pháp, 1996 đăng bài phỏng vấn Nguyễn Văn

Nhân Ngay ở lời tựa của bài phỏng vấn có giới thiệu “Giáo sư Nguyễn VănNhân là một trong những người tiên phong và là trưởng kíp trong ngành phẫuthuật chỉnh hình và chấn thương ở Việt Nam Từng chứng kiến những cuộcchiến tranh trải dài trên đất nước mình, ông đã cống hiến chuyên ngành củamình để điều trị những nạn nhân và những người bị tai nạn” Trong bài phỏngvấn, GS Nhân kể về quá trình học tập, công tác, nghiên cứu của mình Cuốn

sách Di sản ký ức của nhà khoa học (tập 2, 3, 4); Câu chuyện hiện vật (tập 1,

2) của Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, đăng các bài viết liênquan đến quá trình học tập, công tác, nghiên cứu, cũng như các tài liệu của

GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân như: Tình đồng đội và niềm tin son sắt (Hoàng

Trang 6

3

Trang 7

Thị Liêm), Hơn 40 năm theo dõi một bệnh nhân (Hoàng Thị Liêm, Lê Thị Hoài Thu), Món quà kỷ niệm của một bênh nhân (Nguyễn Thị Thành) Báo Quảng

Bình - Cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Bình, số

127, ngày 22-10-1998 có bài phỏng vấn GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân "Một

giờ và một đời" của tác giả Tâm Phùng Cuốn Giáo sư Việt Nam cũng có một

trang viết khái quát thông tin cá nhân,quá trình công tác, hướng nghiêncứu, quá trình giảng dạy và đào tạo cũng như khen thưởng của GS Nhân

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu thông tin về lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn VănNhân gắn liền bối cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế, thôngqua việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử cuộc đời

- Bước đầu đưa ra những nhận định về giá trị của việc nghiên cứu lịch

sử cuộc đời nhà khoa học trong việc bảo tồn di sản của nhà khoa học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhà khoa họcNguyễn Văn Nhân

- Phạm vi nghiên cứu: Lịch sử cuộc đời nhà khoa học Nguyễn VănNhân từ năm 1924 đến năm 2013

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu nhân học về lịch

sử cuộc đời một con người Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng:

Phương pháp sử học: Đặt lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn VănNhân gắn liền với bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế

Phương pháp quan sát tham gia, phỏng vấn trực tiếp GS.TSKH Nhân khi ông còn sống và các đối tượng liên quan như đồng nghiệp, học trò, bệnh nhân Nguồn tư liệu này có được là do sử dụng tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Disản các

Trang 8

4

Trang 9

nhà khoa học Việt Nam và tác giả luận văn cũng thực hiện phỏng vấn khi côngtác tại Trung tâm.

Phương pháp phân tích, tổng hợp các thông tin thu được từ việc phỏngvấn; phân tích tổng hợp các văn bản tài liệu bản thảo, thư từ, sách, tạp chí,luận văn của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân hiện đang được lưu trữ tại Trungtâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Qua các câu chuyện về lịch sử cuộc đời của GS.TSKH NguyễnVăn Nhân, phần nào thấy được bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam vàquốc tế giai đoạn ông sinh sống, học tập, công tác; những câu chuyện về nỗlực học tập, sáng tạo của nhà khoa học trong thời kỳ khoa học kỹ thuật cònchưa phát triển; góp phần tìm hiểu lịch sử của chuyên khoa Chấn thươngchình hình nói chung và ngành Y nói riêng Qua đó thấy được giá trị củaviệc nghiên cứu lịch sử cuộc đời trong việc bảo tồn di sản của các nhà khoahọc

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phầnphụ lục, luận văn được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Khái lược về con người và lựa chọn ngành Y của NguyễnVăn Nhân

Chương 2: Hoạt động và những đóng góp của Nguyễn Văn Nhân

Chương 3: Bàn luận về giá trị của việc nghiên cứu lịch sử cuộc đời nhàkhoa học

Trang 10

5

Trang 11

Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ CON NGƯỜI VÀ LỰA CHỌN NGÀNH Y

CỦA NGUYỄN VĂN NHÂN 1.1 Bối cảnh Việt Nam những năm thế kỷ XX

1.1.1 Về chính trị

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 là dấu mốcquan trọng trong lịch sử Việt Nam Ngay sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạocuộc chiến của nhân dân ta giành được nhiều thắng lợi, để chuẩn bị cho cáchmạng tháng Tám sau này, điển hình là phong trào cách mạng 1930-1931 vớiđỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh, phong trào đấu tranh dân chủ 1936-1939, vàcuộc vận động chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám Tháng 8-1945, dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch HồChí Minh, nhân dân Việt Nam đã khởi nghĩa giành chính quyền thành công,thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945

Đầu năm 1946, nhân dân ta lần đầu tiên được thực hiện quyền làm chủcủa mình, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới được tổchức thành công, với hơn 98% cử tri trong cả nước đi bỏ phiếu Tuy nhiên, vìchúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng thực dân Pháp đãphá bỏ trắng trợn hiệp định mà chúng đã ký với ta Mâu thuẫn giữa toàn thểdân tộc Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng lên cao, từ đó Lời kêu gọitoàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh đã vang đi khắp cả nước,động viên toàn thể dân tộc vào một cuộc chiến lâu dài để tự giải phóng cho ta:

"Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càngnhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước tathêm một lần nữa Không, chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định khôngchịu mất nước, không chịu làm nô lệ".1 Sau khi Lời kêu gọi Toàn quốc khángchiến ra đời, toàn thể dân tộc ta đã bước vào một cuộc chiến trường kỳ đấutranh chống thực dân Pháp xâm lược

Trang 12

6

Trang 13

Cuộc kháng chiến 9 năm (1945-1954) chống lại sự xâm lược trở lại củaPháp của Việt Nam, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp địnhGeneve về Việt Nam năm 1954 Theo Hiệp định này, đất nước tạm thời bịchia làm hai vùng lãnh thổ miền Bắc và miền Nam, lấy vĩ tuyến 17 làmgiới tuyến và sẽ được thống nhất hai năm sau đó (1956) thông qua một cuộctổng tuyển cử Miền Bắc Việt Nam vào thời kỳ nay mang tên Việt NamDân chủ Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động với Thủ đô là HàNội Miền Nam mang tên Việt Nam Cộng hoà với sự quản lý của chínhquyền thân Pháp, rồi thân Mỹ đặt tại Sài Gòn Chính quyền Sài Gòn đãbằng mọi cách ngăn chặn cuộc tổng tuyển cử, đàn áp và loại bỏ những ngườikháng chiến cũ Tuy nhiên, Chính quyền Sài Gòn đã không thể ngăn cảnđược nguyện vọng thống nhất đất nước của quần chúng, phong trào đấutranh vì hòa bình, thống nhất đất nước đã bùng nổ mạnh mẽ và ngày Mặt trậndân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, ngày 20-12-1960.

Để duy trì Chế độ Sài Gòn, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự Đặcbiệt kể từ giữa thập kỷ 60 Mỹ đã gửi nửa triệu quân Mỹ và đồng minh đếnmiền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến, và từ ngày 5-8-1964 bắt đầu némbom miền Bắc Việt Nam Nhưng nhân dân Việt Nam, theo lời dạy của Chủtịch Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập tự do", đã đứng vững vàgiành nhiều thắng lợi ở cả hai miền Nam và Bắc

Năm 1973, Washington buộc phải ký hiệp định Paris về lập lại hoàbình ở Việt Nam và rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam Mùa xuân năm 1975, trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc và được sự đồng tình của nhândân yêu chuộng hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới, các lực lượng vũtrang yêu nước Việt Nam đã thực hiện cuộc tổng tiến công đập tan Chínhquyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Ngày 25-4-1976,nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được đổi tên thành nước Cộng hoà Xã hội

7

Trang 14

chủ nghĩa Việt Nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam và Bắc Năm

1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc1

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối Đổi mới với trọng tâm là đổi mới kinh tế Đây là một mốc quan trọng trong quátrình phát triển của dân tộc Việt Nam thời kỳ mới Đường lối Đổi mới đã tiếp tục được Đảng khẳng định và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội sau đó Trong hơn 20 năm qua, Việt Nam từ một nước nhập khẩu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, nhiều chủng loại hàng hóa được xuất khẩu và nhiều thương hiệu hàng hóa được thế giới biết đến; kinh tế đạt tăng trưởng cao vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu tiêncủa thế kỷ XXI, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, chính sách xã hội được chú trọng hơn hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, quản lý xã hội trên cơ sở luật pháp dần đi vào nề nếp, an ninh quốc phòng được giữ vững, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu

Trang 15

8

Trang 16

Với âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp bội ước nổsúng đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và đổ bộ hàng nghìn quân lên ĐàNẵng (20-11-1946) Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Đảng

và Chính phủ, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến đầy gian khổ nhưngrất anh hùng Cùng với nhiệm vụ thực hiện cuộc kháng chiến chốngchiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, chúng ta đã thực hiện chuyển nềnkinh tế tàn tích thực dân, phong kiến và thấp kém thành nền kinh tế dân chủ,độc lập phục vụ nhu cầu kháng chiến kiến quốc1

Trong thời kỳ này (1946-1954) kinh tế nông thôn và sản xuất nôngnghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng nên cùng với việc động viên nông dân tíchcực tăng gia sản xuất, Chính phủ đã từng bước thực hiện các chính sách vềruộng đất, giảm tô, giảm tức Năm 1949, sắc lệnh giảm tô, giảm tức đượcban hành, đồng thời tạm cấp ruộng đất thu được của thực dân Pháp và địachủ bỏ chạy vào vùng địch tạm chiếm chia cho nông dân nghèo Nhờ đó,trong các vùng giải phóng, sản xuất nông nghiệp phát triển, sản lượng lươngthực năm 1954 đạt gần 3 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946, tốc độ tănggiá trị sản lượng nông nghiệp ở miền Bắc trong 9 năm kháng chiến đạt 10%/năm Nhiều cơ sở công nghiệp quan trọng phục vụ quốc phòng và sản xuấthàng hóa tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân được khôi phục và mở rộng.Từmột nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kiệt quệ vì sự bóc lột lâu dài của đếquốc và phong kiến, dân tộc ta đã đứng lên kháng chiến 9 năm gian khổchống thực dân Pháp, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấnđộng địa cầu

Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nước

ta đứng trước một tình hình mới, cách mạng Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp

Trang 17

1 Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (cb), Đại cương Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến năm 2000, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2011.

9

Trang 18

tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cuộc cách mạng độc lập dân tộc trong cả nước1.

Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), sản xuất công nghiệp từng bước được khôi phục và phát triển Trong 3 năm khôi phục kinh tế(1955-1957) và tiếp theo là kế hoạch 5 năm 1961-1965 với đường lối côngnghiệp hóa, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được phục hồi và xây dựng

Từ năm 1965 đến 1975, tuy miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiếntranh phá hoại của đế quốc Mỹ nhưng sản xuất công nghiệp vẫn được duy trì

và phát triển Công nghiệp miền Bắc thời kỳ này đã có bước phát triển khá

Từ những cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé, chủ yếu là khai thác nguyênliệu và sửa chữa nhỏ nay đã bắt đầu sản xuất một phần tư liệu sản xuất vàphần lớn những vật phẩm tiêu dùng của nhân dân

Có thể nói, miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội xuất phát từ một nền kinh tế hết sức nghèo nàn lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề.Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân miền Bắc không những làm tròn sứ mệnh là hậu phương lớn đối với miền Nam ruột thịt, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, mà còn giành được những thắng lợi to lớn trong công cuộc cải tạo và xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa và nâng cao đời

sống nhân dân

Trải qua 21 năm chiến đấu gian khổ và anh hùng, cách mạng miền Nam từng bước lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi to lớn Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam,

thống nhất tổ quốc

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất,cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn cả nước đi lênchủ nghĩa xã hội

Trang 19

1 Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (cb), Đại cương Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến năm 2000, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2011.

10

Trang 20

Tuy nhiên, kết quả sản xuất trong 5 năm 1976-1980 chưa tương xứngvới sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra; những mất cân đối của nền kinh tế quốcdân còn trầm trọng; thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xãhội; thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định; đời sống củanhân dân lao động còn khó khăn Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnhđạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khoá V (6-1986) đãđánh giá tình hình sau cuộc điều chỉnh giá-lương-tiền (9-1985) và khẳng địnhchính thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp

Đại hội VI của Đảng tháng 12-1986 đã quyết định thực hiện đường lốiđổi mới toàn diện đất nước, nhất là đổi mới về mặt tư duy kinh tế Đường lốiđổi mới của Đảng đã tác động tích cực đến sự phát triển của các ngành sảnxuất và dịch vụ

Cùng với thành tựu trong tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã đạt đượcnhững kết quả xuất sắc trong xóa đói giảm nghèo Chủ trương của Đảng vàNhà nước ưu tiên phát triển nông nghiệp và nông thôn, vùng sâu, vùng xa đãthành công trong việc giải phóng sức sản xuất của dân cư nông thôn vàkhuyến khích họ tự mình phấn đấu cải thiện cuộc sống

1.1.3 Văn hóa, xã hội

Trước cách mạng tháng Tám nước ta là một nước thuộc địa nửa phongkiến, nên di sản mà thực dân Pháp để lại cho chúng ta là vô cùng to lớn Thựcdân Pháp đã thực hiện một nền giáo dục nô dịch, trên 90% dân số mù chữ Trung bình 1 vạn dân chỉ có 115 học sinh vỡ lòng, 210 học sinh tiểu học,

2 học sinh chuyên nghiệp và đại học Cơ sở y tế thiếu thốn và chủ yếu phục

vụ cho quân đội viễn chinh Pháp và bọn tay sai phản động Cả nước chỉ có

213 bác sĩ, 335 y sĩ, 264 nữ hộ sinh, bình quân 1 vạn dân mới có 0,23 bác sĩ và

y sĩ

Trang 21

11

Trang 22

Cùng với nỗ lực đẩy mạnh sản xuất, sự nghiệp giáo dục-chống giặc dốtđược coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, đi đôi với chống giặc ngoạixâm, giặc đói Từ 1946 đến 1954 có 10,5 triệu người thoát nạn mù chữ.

Cùng với phát triển kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dâncũng nâng lên Lấy năm 1957 làm gốc so sánh, Quỹ tiêu dùng của nhân dântính bình quân đầu người tăng 82,8%; thu nhập bình quân đầu người của giađình công nhân viên chức tăng 48,5%; của gia đình xã viên hợp tác xã nôngnghiệp tăng 73,8% Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Đảng và Nhà nước ta

đã tiếp tục lãnh đạo nhân dân xây dựng nền kinh tế, văn hóa giáo dục, và đãđạt được nhiều thành tựu

Sự nghiệp giáo dục đạt nhiều thành tựu Tỷ lệ dân số từ 10 tuổi trở lênbiết đọc, biết viết đã tăng từ 88% năm 1989 lên 91% năm 1999 Năm 2000nước ta đã hoàn thành chương trình mục tiêu chống mù chữ và phổ cập giáodục tiểu học

Sự nghiệp y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm Hệthống y tế đã được phát triển từ tuyến cơ sở tới trung ương với nhiều loại hìnhdịch vụ y tế đã tạo điều kiện cho người dân được lựa chọn các dịch vụ y tếphù hợp Năm 1990, tính bình quân 1 vạn dân có 3,5 bác sĩ; đến năm 2004 là6,1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi năm 1990 từ 51,5%; đến năm 2004 còn 26,7% Chỉ số về sức khoẻ bà mẹ và trẻ em có nhiều tiến bộ

Tỷ lệ tử vong của trẻ em đã giảm xuống bằng với mức phổ biến ở những nước

có thu nhập đầu người cao gấp 2-3 lần Việt Nam

1.2 Dòng họ, gia đình Nguyễn Văn Nhân

GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân sinh ngày 12-8-1924 tại Hội Vũ,Hoàn Kiếm, Hà Nội Thân phụ ông là cụ Nguyễn Văn Hạnh sinh năm

1899 tại đường Nam Bộ, Hà Nội Năm 1915, cụ Hạnh học lớp y tá nhà binh 7tháng tại Nhà thương đồn thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108),

ra trường

Trang 23

12

Trang 24

bị điều sang Pháp rồi Tân Đảo, đến năm 1922 mới về nước và làm việc ở nhàthương Chũ - Phú Thọ - Việt Trì - Hưng Hoá - Đồn Vàng, cho đến 1937 mớitrở lại Bệnh viện Phủ Doãn làm việc cho đến kháng chiến toàn quốc.Tháng 12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ Hạnh theo đoàn giải phẫulưu động của GS Tôn Thất Tùng ra Vân Đình (Hà Đông) cho đến cuối năm

1947 về Ban Y tế Phú Thọ phụ trách Trạm y tế nông cụ kháng chiến rồi sangtrường Trung học quốc dân miền núi đến 1951 nghỉ mất sức Tháng 7-1955,

cụ lại ra làm việc phụ trách y tế ở Ty Giao thông Lạng Sơn đến ngày mất 6-1968)

(20-Thân mẫu của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân là cụ Hoàng Thị Chín, quê

ở Thượng Thuỵ, Ước Lễ, Thanh Oai, Hà Tây Cụ Chín có con trai là NguyễnĐình Quế, sau một thời gian chồng cũ mất, cụ Chín lấy cụ Nguyễn Văn Hạnh.Cuộc đời cụ cũng giống như bao phụ nữ thành thị ngày trước: Lấy chồng-sinhcon-nuôi dạy con cái-quản lý nhà cửa, nghĩa là cuộc đời của một bà nội trợ

Do công việc của cụ Hạnh đi đây đó khắp nơi nên cụ Chín phải theo chồng đến những vùng cụ Hạnh phải chuyển đến Sau khi cụ Hạnh mất, cụ Chín về

Hà Nội sống cùng với con trai Nguyễn Văn Nhân, nhưng chỉ một thời gianngắn thì đổ bệnh, phải vào nằm tại Viện Quân y 108 Lúc này, Hà Nội hết sứccăng thẳng vì Mỹ đe doạ ném bom nên BS Nguyễn Văn Nhân phải vào hẳntrong Viện để “trực chiến” Tháng 11-1968, tình hình bệnh của cụ càng xấu

đi, lúc tỉnh lúc mê, BS Nguyễn Văn Nhân lại nhận được lệnh chuẩn bị đi B

BS Nhân vào chiến trường được 10 ngày thì cụ bà mất

Có thể thấy truyền thống gia đình cũng có người theo ngành y, đây làmột trong những yếu tố quyết định đến việc lựa chọn ngành Y của NguyễnVăn Nhân GS Nhân kể: “Sơ học tiểu học tôi học ở trường Tiểu học ĐồnVàng, châu Thanh Sơn, Phú Thọ do khi đó thân phụ ông bị cử biệt phái lênPhú Thọ làm Bệnh xá trưởng ở khu Đồn Vàng Tôi đi theo bố nên học ởnhững chỗ khỉ ho cò gáy ấy Và cũng vì bố tôi đi làm ở các nơi như thế và

Trang 25

13

Trang 26

mình học ở những nơi không nổi tiếng, không giỏi cho nên trình độ của mình

là xoàng Đến lúc tôi về Hà Nội, tôi học tiểu học ở trường Sinh Từ Tự biếttrình độ của mình nên tôi chỉ dám thi vào trường trung học Đỗ Hữu Vị, khôngdám thi vào trường Bưởi, nhưng cũng không đỗ, thành ra tôi phải đi họctrường tư thôi, chứ không được học trường công Trường tư thục tôi học làtrường Thăng Long, Hà Nội Tú tài tôi học trường tư thục Louis Parteur, HàNội Từ nhỏ, tôi quen đi nhiều, quen được xem bố làm các công việcchuyên môn, tôi thấy thích và tôi tự thấy mình khéo tay, rất thích làm thủcông, làm các phẫu thuật về xương là phù hợp nên sau khi thi đỗ tú tàitriết học (năm 1944, kỳ 2), tôi thi vào trường Y ngay khoá đầu tiên saucách mạng tháng Tám, năm 1945”2

1.3 Đến với ngành Y và những yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách của Nguyễn Văn Nhân

Năm 1945, Nguyễn Văn Nhân thi đỗ trường Đại học Y Dược khoa,khóa đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám Học được một năm thì kháng chiếnbùng nổ, Nguyễn Văn Nhân tham gia phục vụ tại Cục Giao thông - CôngBinh, lúc đó Cục trưởng là thầy Hoàng Đạo Thuý, trụ sở ở một ngôi đình cáchVân Đình khoảng 15-17 cây số Trước đó, Nguyễn Văn Nhân đã tham giasinh hoạt trong tổ chức Hướng đạo sinh Việt Nam của nhà giáo Hoàng ĐạoThuý từ Thiếu sinh lên Tráng đoàn Nhị Khê Nhiệm vụ lúc đó là đi chuyểngiao các công văn, mệnh lệnh, có lúc đi hộ tống bàn giao đạn dược vũ khí, cóchuyến đi nhận đạn pháo từ Pháo đài Láng chuyển ô tô, đi đêm lên cho pháođài Phùng Về lịch sử của phong trào hướng đạo có thể thấy, ông tổ củahướng đạo thế giới là Baden Powell (1857-1941) Trong trận chiến Boers ởNam Phi Tướng Baden Powell là vị chỉ huy quân Anh ít ỏi bị quân Boers đông gấp bội vây hãm trong bẩy tháng trời và đã chiến thắng oanh liệt ở thị trấn

Trang 27

14

Trang 28

Mafeking Ông đã viết tập chỉ dẫn huấn luyện binh sỹ các điều căn bản về mưusinh, tìm dấu vết đi rừng, liên lạc thám báo, quan sát địa hình và thoát hiểm.

Hai thập kỷ sau (1929-1930) phong trào Hướng đạo mới chớm vào ViệtNam Nhóm thanh niên dân tộc đang trăn trở với vận mệnh đất nước sau việcthực dân Pháp đàn áp tàn khốc các cuộc nổi dậy của phong trào Văn Thân,Đông kinh nghĩa thục và các cuộc khởi nghĩa Xô Viết - Nghệ Tĩnh - Yên Bái

- Nam Kỳ - Đô Lương đã thấy ở Hướng đạo một công cụ thần diệu giúp thực hiện lý tưởng, tạo ra những con người nhiệt tình với đất nước, với dân tộc

Hội hướng đạo Việt Nam được ông Hoàng Đạo Thúy (1900-1994) sánglập vào năm 1930, trong thời thuộc Pháp Về sau ông Hoàng Đạo Thúy, mộtnhà mô phạm, lập Tráng Đoàn Lam Sơn quy tụ được những trí thức danhtiếng như BS Tôn Thất Tùng, BS Phạm Biểu Tâm

Trang phục hướng đạo sinh ngày đó là áo sơ mi cộc tay nâu, quần soocxanh, đầu đội mũ rộng vành, đeo khăn quàng Nguyễn Văn Nhân là một trong

4 người anh lớn tuổi của Đoàn Tây Hồ: Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn VănNhân, Ngô Văn Chính, Phạm Hướng Có thể nói chính trong thời gian hoạt động trong ở tổ chức hướng đạo sinh là một trong ba yếu tố làm nên thành công của Nguyễn Văn Nhân, bởi từ nhỏ đã được rèn luyện tính tự lập, bản lĩnh

Sau ngày Hà Nội nổ súng, Nguyễn Văn Nhân được biết Bệnh viện PhủDoãn có một bộ phận chuyển về Vân Đình lập một trạm phẫu thuật cấp cứu ở

đó Đây là bộ phận của GS Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Hoàng Đình Cầu cùngmột số sinh viên và nhân viên Ngoại khoa Lúc này, Nguyễn Văn Nhân vẫnphục vụ ở Cục Giao thông liên lạc, chỉ qua lại những trạm giải phẫu và bệnh

xá này vì trường chưa gọi sinh viên về

Sau khi GS Hồ Đắc Di, GS Tôn Thất Tùng lên Việt Bắc thànhlập trường Đại học Y khoa ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang), Nguyễn Văn

Trang 29

Nhân được tin, xin thôi công tác ở Cục Giao thông liên lạc để về truờng tậptrung

15

Trang 30

học tiếp ở Chiêm Hoá vào giữa năm 1947 Nguyễn Văn Nhân tự đi lên tìmtrường, qua Tuyên Quang đi lên đường Hà Giang đến cây số 31 rẽ đi chợ Bợ,qua Đèo Gà, lên Chiêm Hoá, vào Ngòi Quẵng Nguyễn Văn Nhân thuộckhoá 1945, sau khi thi lên năm thứ 4 thì trường gửi sinh viên đi thực tập ởcác nơi Nguyễn Văn Nhân xin về khu III, nơi có trạm Giải phẫu lưu động

A do BS Hoàng Đình Cầu phụ trách, ở thôn Chuôn (Ứng Hoà, Hà Đông)

Trạm giải phẫu A lúc đó (1948) xây dựng trên cơ sở của nhà hộ sinhthôn Chuôn (Chuôn-Tre) nằm ngay trên bờ con sông Đào từ Đồng Quan điCống Thần-Chợ Đại Nhà mổ triển khai ở buồng đỡ đẻ cũ của nhà hộ sinh, một nhà gạch nhỏ một tầng Phụ trách nhà mổ này là ông Khang “già” Số nhân viên này ở ngay trong khu nhà hộ sinh và nhóm sinh viên cũng ở nhờngay tại đây Hồi đó bộ đội, du kích dân quân và nhân dân bị thương ở mộtphần Hà Nội đều được đưa về xử trí ngoại khoa ở trạm giải phẫu A Cũng nhờ

có trạm giải phẫu A, nhà hộ sinh Chuôn cũng tập trung những ca đẻ thường,

đẻ khó của cả vùng Giường bệnh là những chõng tre hoặc phản gỗ… nhưnghầu như lúc nào cũng đầy bệnh nhân

Các vết thương chiến tranh đủ các loại rất phong phú: từ sọ - não đếnbụng, lồng ngực, gãy xương, dập nát chi… Nhóm sinh viên “nội trú” vì ăn ởngay trạm nên bao giờ cũng tiếp xúc với thương binh đầu tiên: khám xét, sơcứu, làm chẩn đoán, dự kiến chỉ định xử trí, ra mệnh lệnh cho nhân viênchuẩn bị rồi mới vào làng báo cáo với các sinh viên khóa trên và BS HoàngĐình Cầu Các ca điều trị đầu tiên phần lớn là BS Cầu và các sinh viên khóatrên trực tiếp mổ, sinh viên được phụ hoặc đứng xem học tập, ghi chép

BS Cầu và các anh lớp trên ngày ấy thường rất ít giảng giải: ra xem lạichẩn đoán rồi ra lệnh rửa tay và vào mổ Sinh viên Nguyễn Văn Nhân vàĐinh Văn Lạc bàn nhau: ai không phải phụ mổ, sẽ đứng ngoài ghi chép, vẽ lạicác thì mổ và kỹ thuật mổ …Cứ thế, sau vài ba ca mổ mỗi loại, hai người lại

16

Trang 31

xem lại các ghi chép của mình và tự soạn ra kỹ thuật và các thì mổ cho từngloại phẫu thuật (ví dụ cắt cụt chi ở từng vị trí, mổ nội tạng bụng, mổ vết thươnglồng ngực…) rồi cũng tự soạn chỉnh lại thành tài liệu thực hành cho mình.

Thời gian này rất thuận tiện cho việc học tập của nhóm nội trú, tuy cókhó khăn là thầy và các anh ít giảng giải và thiếu tài liệu sách vở nhưng thuậnlợi lại rất lớn là thương binh nhiều, đủ các loại, lại được trực tiếp khám xét,phụ mổ, theo dõi sau mổ

Khi đã ít nhiều học được kinh nghiệm từ BS Cầu và các sinh viên khóatrên, sau khi đợi thầy duyệt lại chẩn đoán, quyết định hướng xử trí, sinh viênđược tự làm những phẫu thuật cắt lọc, cắt cụt chi ở chi trên và cẳng tay

Năm 1949, BS Hoàng Đình Cầu chuyển về làm Hiệu trưởng trường Y

sĩ Liên Khu III và IV, BS Nguyễn Hữu từ trạm giải phẫu B ở Ngọc Bài (SơnTây) về thay

BS Nguyễn Hữu và gia đình mượn một căn buồng nhỏ, cùng ở ngaytrong khu vực nhà hộ sinh Mọi vết thương lớn nhỏ đều được thầy xem vàhướng dẫn sinh viên cùng xem

Tác phong của BS Nguyễn Hữu là rất thích hỏi vặn sinh viên và phân tích giảng giải Ngay từ những ngày đầu về trạm giải phẫu A, BS Hữu đã đặt

ra nếp học tập lên lớp cho sinh viên về kỹ thuật xử trí các loại vết thương chiến tranh Khi có thương binh, vừa làm, thầy vừa nhắc lại, hướng dẫn thực

tế từng thì mổ

Khi phụ mổ cho BS Hữu, sinh viên vừa thích thú, vừa sợ hãi: thích thú

vì được chỉ dẫn, được gợi nhớ lại nhiều, cả về giải phẫu và kỹ thuật ngoạikhoa, nhưng sợ hãi vì trước khi chỉ dẫn, bao giờ BS Hữu cũng vặn hỏi và sinhviên rất sợ lòi những chỗ dốt của mình trước mọi người Trong từng bước mổ,

BS Hữu thường hay hỏi: cơ gì đây? nhánh gì đây… rồi khi sinh viên trả lờisai hoặc không đầy đủ thì thầu lại đọc vanh vách như lật sách ra

Trang 32

17

Trang 33

Được gần ở BS Nguyễn Hữu, Nguyễn Văn Nhân mới hiểu vì sao BSHữu giỏi, biết nhiều? Tất cả là vì chăm học Và trong đối xử với sinh viên,

BS Hữu cũng luôn tỏ ra quan tâm và ưa thích những sinh viên nào chăm học, thích học

Sau thời gian ngắn sau khi về giải phẫu A, BS Hữu đã liên hệ nhờ bênBiệt động thành móc nối với BS Phạm Biểu Tâm (ở lại phụ trách bệnh việnPhủ Doãn) gửi cho tài liệu sách vở mới Khi nhận được bộ sách Traité dePathologie chirurgicale mới xuất bản, BS Nguyễn Hữu đã nghiền ngẫm và lậptức tổ chức bắt sinh viên cùng học Hình thức tổ chức rất đơn giản mà lại rấthiệu quả, đó là nêu ra một vấn đề chuẩn bị để thuyết trình lại trước lớp trongbuổi học, một phần của vấn đề (ví dụ: bệnh lý giải phẫu, triệu chứng và chẩnđoán, biến chứng, phương pháp điều trị ) Đến buổi học, nếu không bận cócuộc mổ, tất cả tập trung và lần lượt từng người trình bày lại, BS Hữu yêu cầungười khác bổ sung, rồi lại tự bổ sung, nhận xét và kết luận

Sau một thời gian, hình thức học tập này đã quen, BS Hữu lại thay đổi:chỉ nêu vấn đề sẽ thuyết trình để mọi người phải cùng đọc và nghiên cứu,không phân công trước cho mỗi người Đến buổi học, BS Hữu viết sẵn mấymảnh giấy nhỏ ghi các phần phải thuyết trình rồi cho sinh viên tự bốc Sau10-15 phút chuẩn bị, mỗi người phải theo thứ tự chỉ định, trình bày phần bàighi trong phiếu mình bốc được

Với những buổi học như vậy, Nguyễn Văn Nhân vừa lo âu, vừa hàohứng Lo âu vì sợ mình quên sót, hoặc chuẩn bị không kỹ Hào hứng vì cáchhọc rất sinh động, dễ nhớ, bắt buộc mỗi người phải chủ động mà học Sáchchỉ có một bộ mà ai cũng phải đọc và chuẩn bị, sinh viên đều đóng vở rồi cặmcụi mượn sách ghi chép lại nguyên văn từng bài, từng chương của sách Cóhình vẽ thì vẽ lại, không biết vẽ đẹp thì phải căn ke bằng giấy pơ luya Dầndần mỗi sinh viên đều có nhiều tập vở chép tay các môn học tập

18

Trang 34

Ngoài những kiến thức chuyên môn cụ thể đã nêu trên của BS NguyễnHữu mà Nguyễn Văn Nhân học được và áp dụng trong suốt quá trình thựchiện nhiệm vụ trị bệnh cứu người đối với Nguyễn Văn Nhân, BS Hữu còn

là tấm gương sáng về tác phong và phương pháp làm chuyên môn kỹthuật Nguyễn Văn Nhân học được ở BS Nguyễn Hữu phương pháp ghichép sổ biên bản phẫu thuật: Sau mỗi ca mổ, bất kể lớn nhỏ, BS Hữu ghichép rất cụ thể, chi tiết các mô tả thương tổn, cách xử trí Hồi ấy sổ mổ

BS Hữu ghi chép chỉ là giấy được sản xuất bằng cây giang, hay những vỏbao thuốc lá, lật trái ghi mặt sau và những vở học sinh khổ nhỏ nhưng ghichép đặc kín những phân tích nhận xét, rút kinh nghiệm… Ngày đó chưa

có giấy để làm hồ sơ bệnh án, những tình hình diễn biến sau mổ của mỗibệnh nhân BS Hữu đều ghi thêm ngay vào bên, hoặc dưới phần biên bảnphẫu thuật

Học tập kinh nghiệm trên của BS Nguyễn Hữu, sau này Nguyễn VănNhân cũng ghi chép và giữ được sổ mổ của bệnh nhân Nhờ đó mà NguyễnVăn Nhân có thể tổng kết, theo dõi rút kinh nghiệm và thực hiện những đề tàinghiên cứu khoa học Có thể thấy nếu như ở BS Hoàng Đình Cầu, NguyễnVăn Nhân học được cách học từ thực tiễn, không sách vở thì ở BS NguyễnHữu, Nguyễn Văn Nhân là người có tác động nhiều nhất đến ông, tạo cho ôngphương pháp nghiên cứu, làm gì cũng phải cặn kẽ tìm hiểu đến tận cùng

Mùa xuân năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lượccủa nhân dân ta trên cả nước đã bước sang năm thứ 4 Dưới sự lãnh đạo củaĐảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã vững vàng trong nhữngnăm dài gian khổ, chiến đấu trong vòng vây của địch, dựa vào sức mình làchính; đã vượt qua nhiều hy sinh, thử thách và không ngừng trưởng thành.Chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ và rộng khắp Từng bước, các lựclượng vũ trang nhân dân ta đã tiến lên đánh vận động quy mô nhỏ, giữ vững

và mở rộng các căn cứ địa kháng chiến, làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn

Trang 35

19

Trang 36

của một số kẻ địch mạnh hơn ta nhiều lần về quân số và trang bị, vũ khí Ta

đã chủ động tiến công vào những hướng sơ hở và nơi hiểm yếu của địch Lựclượng vũ trang ta, trước hết là bộ đội chủ lực vừa chiến đấu, vừa xây dựng

đã liên tục lớn mạnh trưởng thành, đưa cuộc kháng chiến phát triển sanggiai đoạn mới-giai đoạn chuẩn bị tổng phản công

Trước sự phát triển và yêu cầu của cuộc chiến tranh nhân dân đòi hỏiphải có những đơn vị vũ trang tập trung, có khả năng cơ động nhanh, đánhđịch với quy mô lớn, dài ngày, lại phòng thủ kiên cố trên địa hình phức tạp…nhằm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, nhanh chóng làm thay đổi cáncân lực lượng giữa ta và địch, tiến lên giành toàn thắng

Trong cục diện đó, tiếp theo sự ra đời của Đại đoàn 308 - Đại đoàn chủlực đầu tiên của quân đội ta, ngày 10-3-1950, Đại đoàn 304 ra đời, sau nàymang tên Sư đoàn Vinh Quang Đại đoàn trưởng đầu tiên là đồng chí HoàngMinh Thảo và chính ủy đầu tiên là đồng chí Trần Văn Quang

Đi đôi với lực lượng chiến đấu tập trung, lực lượng bảo đảm chiến đấucũng phải tập trung Tháng 11-1950, Đội điều trị 4 được thành lập trên cơ sởhợp nhất các đơn vị quân y: Đội giải phẫu lưu động, An dưỡng đường vàBệnh xá Nguyễn Văn Nhân là đội trưởng kiêm phẫu thuật viên chính, độiphó là Bùi Thiện Sự, chính trị viên là Trần Ba

Đội điều trị 4 có nhiệm vụ tiếp nhận và cứu chữa cho thương binh,bệnh binh của sư đoàn, kể cả các đơn vị dân công phục vụ cho chiến dịch(thuộc phạm vi phụ trách của sư đoàn), ngoài ra đội còn góp phần phục vụchữa bệnh cho nhân dân nơi đóng quân trong những trường hợp khẩn cấp bất

kể ngày hay đêm

Nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến, các sinh viên y khoa được huy động phục vụ trong quân đội, kể cả khi chưa tốt nghiệp Trường hợp Nguyễn Văn Nhân đã được học thực hành ở trạm Giải phẫu không phải là ngoại lệ

Trang 37

20

Trang 38

Tháng 3-1950, Nguyễn Văn Nhân nhận được lệnh nhập ngũ, biên chếvào Đại đoàn 304, phụ trách Ban quân y E57, sau đó là Đội trưởng Đội điềutrị 4 của Đại đoàn Lúc này bà Đinh Thị Loan - vợ Nguyễn Văn Nhân tuyđang mang bầu đứa con đầu lòng nhưng đã bỏ lại phía sau việc quản lý mộtxưởng than ở Hà Nội để theo chồng vào Thanh Hóa - nơi đóng quân của Đạiđoàn 304 Niềm vui được làm mẹ không át được nỗi lo về trường hợp xấu cóthể xảy ra khi sinh con vì bà Loan vốn bị bệnh tim (hẹp van 2 lá); gia đìnhchồng lại đang ở Phú Thọ, đi lại, ăn ở khó khăn Gần đến ngày sinh, vợchồng Nguyễn Văn Nhân nghĩ đến việc xin trợ giúp của đơn vị "Để gỡ thế bí,chúng tôi tính nước xin với Đại đoàn cho vợ tôi về ở nhờ nhà chị gáiĐinh Thị Hương trong Hà Nội vừa để tiện theo dõi bệnh tim, vừa để chờsinh con Nguyện vọng và đề nghị của vợ chồng tôi được anh chị em Độiđiều trị 4 tán thành và Đại đoàn cho phép Hơn thế Đại đoàn còn cấp Giấygiới thiệu của Khu III và nhờ biệt động thành giúp đỡ việc ra vào"1 Nhờ đó,

bà Loan đã dễ dàng trở về Hà Nội và sinh con rất thuận lợi Cậu con traiđầu lòng được đặt tên là Nguyễn Văn Trung Hết thời gian ở cữ, con đã cứngcáp, hai mẹ con bà Loan lại ra vùng tự do đoàn tụ gia đình Trong khối tư liệuhiện vật GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân tặng Trung tâm Di sản các nhà khoa

học Việt Nam có một Giấy giới thiệu được ép plastic cẩn thận Giấy giới

thiệu do ông Nguyễn Văn Xước - Ủy viên thường trực Ủy ban Kháng chiếnHành chính Liên khu III ký, gửi các Trưởng ty Công an Hà Nam-Hà Đông-Ninh Bình ngày 4-8-1951, có viết: "Về trường hợp đặc biệt, chúng tôi đồng ýcho bà Đinh Thị Loan, vợ y sĩ Nguyễn Văn Nhân, được vào Hà Nội để đemmột cháu trai là con của hai ông bà Nhân ra vùng tự do Y sĩ Nhân hiện đangphục vụ ở ngành Quân y, rất tích cực trong công tác, đủ bảo đảm cho bàĐinh Thị Loan Bà Loan về lưu lại ở Hà Nội độ hai tháng và khi ra sẽmang theo một số vật dụng…Yêu cầu các

Trang 39

21

Trang 40

ông đồng thời với sự kiểm soát sự đi về theo thường lệ, giúp đỡ bà Loan vềmọi phương diện để bà có thể vào đưa cháu bé ra vùng tự do".

Lần thứ hai sinh con (sinh đôi), bà Loan tiếp tục được đơn vị tạo điềukiện về Hà Nội để đảm bảo an toàn Lần chia tay này khá đặc biệt với hai ông

bà, bởi với Nguyễn Văn Nhân ngoài trọng trách của một người chồng đối với

vợ thì còn có thêm sự chọn lựa giữa đi về thành hay ở lại vùng tự do Trongcuốn Hồi ký năm 1996, GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân viết: "Trời đã về chiềutôi và Lê Minh Tường đưa vợ tôi và em Bê đến sát mép nước, bờ bên này đểxuống đò Vợ tôi không chèo kéo, nhưng cả 2 chị em nước mắt đầmđìa…bước xuống con đò nhỏ Tất cả chúng tôi lòng nặng trĩu buồn nhưngkhông dám dùng dằng lâu" [22, tr.4]

Nhớ lại cảnh vợ chồng bịn rịn chia tay ở bến đò vượt qua sông Đáy,khi bà Loan về Hà Nội sinh con lần thứ 2, Nguyễn Văn Nhân vẫn luôn tự đặtcâu hỏi: Tại sao lúc đó ông không bước xuống đò "sang ngang" cùng vợ về

Hà Nội? Bởi trước đó, khi về Hà Nội sinh con lần thứ nhất, qua bà Loan cácthầy trong nội thành ngỏ ý nếu Nguyễn Văn Nhân về Hà Nội, các thầy sẽgiúp để được sang Pháp học nâng cao Giáo sư Nhân lý giải: "Lý do xácđáng và dễ thấy hơn cả là thái độ hoàn toàn tin cậy của tập thể anh chị em ởĐội điều trị 4 và của lãnh đạo-chỉ huy Đại đoàn 304 lúc đó với tôi… Có lẽchính sự chân thành tin tưởng đó, đã ngầm giúp tôi tự xác định được bướcchân quay lại của mình Và có lẽ chính suy nghĩ ấy đã giúp được vợ tôi, tuytrong hoàn cảnh chia ly đau buồn cao độ nhưng vẫn không một lời hoặcmột hành động nhỏ để níu kéo tôi cùng sang ngang"1

Sự tin tưởng, giúp đỡ của Đại đoàn là động lực giúp Nguyễn Văn Nhânnguyện đem hết những kiến thức chuyên môn, tâm huyết cứu chữa thương

1

Hoàng Thị Liêm, Phỏng vấn GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân, ngày 26-12-2010.

Ngày đăng: 01/06/2017, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Bé (2000), Thư gửi GS Nguyễn Văn Nhân. Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư gửi GS Nguyễn Văn Nhân
Tác giả: Phan Thị Bé
Năm: 2000
2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Tạp chí Tia sáng, số 22, ra ngày 20-11-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tia sáng
3. Diêm Thị Đường, Bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân văn hóa truyền thống Việt Nam, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân văn hóa truyềnthống Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa-Thông tin
4. Vũ Minh Giang (2004), Một vài suy nghĩ bước đầu về phương pháp nghiên cứu của Giáo sư Đào Duy Anh, Hội thảo kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đào Duy Anh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ bước đầu về phương phápnghiên cứu của Giáo sư Đào Duy Anh
Tác giả: Vũ Minh Giang
Năm: 2004
5. Trần Giữu, Người thầy của ngành chấn thương chỉnh hình h t t p : // w w w . ba o m o i . c o m / n g u o i - t h a y - cu a - n g anh - cha n - t h u o n g - c h i nh - h i nh / c / 12366594 . e pi, 8-11-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người thầy của ngành chấn thương chỉnh hình
6. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển văn hóa, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa, gìn giữ và phát huy bản sắcdân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
7. Trần Bích Hạnh, Nghiên cứu - sưu tầm di sản của các nhà khoa học Việt Nam, một bộ phận trong lĩnh vực bảo tồn di sản, Báo cáo tại Hội thảo ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu - sưu tầm di sản của các nhà khoa họcViệt Nam, một bộ phận trong lĩnh vực bảo tồn di sản
8. Nguyễn Văn Huy (Chủ biên) (2012), Di sản ký ức của nhà khoa học, tập 2, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản ký ức của nhà khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Huy (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2012
9. Nguyễn Văn Huy (Chủ biên) (2013), Di sản ký ức của nhà khoa học, tập 3, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản ký ức của nhà khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Huy (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2013
10. Nguyễn Văn Huy (Chủ biên) (2014), Di sản ký ức của nhà khoa học, tập 4, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản ký ức của nhà khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Huy (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2014
11. Nguyễn Văn Huy (Chủ biên) (2014), Những câu chuyện hiện vật, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những câu chuyện hiện vật
Tác giả: Nguyễn Văn Huy (Chủ biên)
Nhà XB: NxbThế giới
Năm: 2014
12. Nguyễn Văn Huy, Bùi Minh Hào, Nguyễn Thanh Hóa, Di sản các nhà khoa học và vấn đề lưu trữ về lịch sử cuộc đời các nhà khoa học Việt Nam, Hội thảo quốc tế Tổ chức và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ nhân dân, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản cácnhà khoa học và vấn đề lưu trữ về lịch sử cuộc đời các nhà khoa học ViệtNam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w