1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết lịch sử Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác (từ góc độ thể loại

124 751 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 788,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều tác phẩm đạt đến độ trường thiên, viết về lịch sử bằng thể loại tiểu thuyết lịch sử, trong đó phải kể đến "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác với bốn tập NXB An Tiêm Californi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Phần mở đầu Lời nói đầu - cấu trúc luận văn

I Lời nói đầu

1 Lý do chọn đề tài, mục đích của đề tài

Đất nước chuyển biến mạnh mẽ trên con đường đổi mới, nhất là từ

1986 Đảng chủ trương mở cửa, hội nhập với cộng đồng Quốc tế, nhanh chóng đưa đất nước ra khỏi nguy cơ tụt hậu, đưa nền kinh tế phát triển theo

cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong đổi mới toàn diện của đất nước, những đứa con xa đã trở về, trở về bằng cả con người và bằng cả những giá trị tinh thần Những năm cuối XX đầu XXI, đội ngũ kiều bào đã có những gương mặt thành đạt và yêu nước, có những đóng góp đáng quý trong sự nghiệp xây dựng đất nước Trong không khí đó, đời sống văn học khởi sắc với sự góp mặt của tiểu thuyết lịch sử trong và ngoài nước Tiêu biểu là những tên

tuổi: Nam Dao với "Gió lửa"; Vũ Ngọc Đĩnh với "Bắn rụng mặt trời", "

Mười hai sứ quân", " Hào kiệt Lam Sơn"; Trần Đại Sĩ với "Nam quốc Sơn Hà", "Anh hùng Đông A dựng cờ bình Mông", "Anh hùng Tiêu Sơn",

"Thuận thiên di sử", "Anh hùng Bắc Cương", "Anh linh thần võ tộc Việt"

(theo phụ san trang cuối tập II "Sông Côn mùa lũ" Nhiều tác phẩm đạt đến

độ trường thiên, viết về lịch sử bằng thể loại tiểu thuyết lịch sử, trong đó

phải kể đến "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác với bốn tập NXB

An Tiêm California 1991 được gửi qua Trung tâm văn hoá Quốc tế, được xuất bản trong nước 2001 (4 tập) và tái bản 2003 (2 tập) Khi được sự bố trí của khoa văn học làm luận văn tốt nghiệp với GS - VS Phan Cự Đệ với sự

gợi ý của GS-VS, tôi đề đạt nguyện vọng viết về "Sông Côn mùa lũ" (từ góc

độ thể loại) và được sự đồng ý

Trang 3

Mục đích của luận văn với đề tài trên, bản thân chúng tôi không có tham vọng bàn đến những vấn đề quá rộng lớn, mà chỉ dừng ở mức độ nhất định, phạm vi nhất định trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp thạc sĩ:

- Xác định những nét đặc trưng của tiểu thuyết

- Xác định những nét đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử

- Những nét tương đồng và dị biệt của tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch

sử

- Để tìm hiểu về tiểu thuyết lịch sử"Sông Côn mùa lũ" từ góc nhìn

thể loại: nội dung, kết cấu và ngôn ngữ nghệ thuật

- Xác định tác giả viết theo cảm hứng nghệ thuật nào?

- Xác định tác giả viết theo cách nào: lịch sử là "cứu cánh" hay lịch

sử là "phương tiện"

- Mối quan hệ giữa chất liệu tiểu thuyết và chất liệu lịch sử trong tác phẩm

Nói chung là từ xuất phát điểm giới thuyết về thể loại, phạm vi bài

viết chủ yếu tìm hiểu "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác

2 Lịch sử vấn đề

Tiểu thuyết lịch sử có mặt trên văn đàn Việt Nam từ cuối XVIII đầu

XIX với "Hoàng Lê nhất thống chí" Tiểu thuyết lịch sử bốn mươi nhăm

năm đầu thế kỷ XX ở nước ta phát triển tương đối mạnh mẽ: Nguyễn Tử

Siêu có " Tiếng sấm đêm đông" (1928), "Đinh Tiên Hoàng" (1929), "Vua

Bố cái" (1929), "Lê Đại Hành" (1929), "Trần Nguyên chiến kỷ" (1935),

"Việt Thanh chiến sử" (1935), "Hai Bà đánh giặc" (1936); Đinh Gia Thuyết

có "Ngọn cờ vàng" (1934); Trần Trung Viên có "Cầu vồng Yên Thế", Tân Dân Tử có "Giọt máu chung tình" (1926), Phạm Mạnh Kiên có " Việt Nam

Lý Thường Kiệt"; Trần Thanh Mại có "Ngô Vương Quyền"; Đào Trinh Nhất

có "Phan Đình Phùng" (1936); Chu Thiên có "Lê Thái Tổ" (1941); Ngô Tất

Trang 4

Nguyễn" (1937), "Lịch sử Đề Thám" (1935); Nguyễn Huy Tưởng có "An Tư" (1944 - 1945)

Những năm cuối thế kỷ XX, tiểu thuyết lịch sử xuất hiện những tác

phẩm ở trong nước, nổi bật là "Hồ Quý Ly" của Nguyễn Xuân Khánh, ở

ngoài nước với những tên tuổi: Nam Dao, Trần Sĩ Đại, Nguyễn Mộng Giác với hàng chục trường thiên tiểu thuyết (tên tác phẩm đã nêu ở phần I - tác phẩm đã và sẽ xuất bản trước và sau 2003) ở lĩnh vực phê bình, bàn về tiểu thuyết lịch sử không phải là điều mới, vì ngay từ 1957 đã diễn ra cuộc tranh

luận về "Tiêu Sơn tráng sĩ" "Cuộc tranh luận năm 1957 xung quanh "Tiêu

Sơn tráng sĩ" tập trung vào vấn đề: các Đảng viên Tiêu Sơn là những người

yêu nước hay là những kẻ đi ngược lại xu thế của lịch sử" Nhiều cây bút đã tham gia vào cuộc tranh luận như: Phan Cự Đệ, Trương Chính, Minh

Tranh, Trần Thanh Mại (Thế nào là quan điểm lịch sử trong văn học - Văn

nghệ số 3, tháng 8/1957) Từ "năm 1966, trong cuốn Nguyễn Huy Tưởng

(viết chung với Hà Minh Đức), chúng tôi đã viết về sự khác biệt trong công việc của nhà tiểu thuyết lịch sử và nhà sử học" (Phan Cự Đệ) Gần đây có

luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Văn Lợi "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam những

năm đầu thế kỷ XX đến 1945" (1999) Nhìn từ góc độ số lượng và thời gian

sáng tác, có thể thấy tiểu thuyết lịch sử xuất hiện đến nay đã trải hai thế kỷ

Số lượng tác phẩm cũng không phải là ít, song dường như có hai khoảng thiếu hụt: ở XIX và nửa cuối XX trong nền văn học cách mạng Chỉ rộ lên ở những năm cuối của XX Về phê bình cũng có sự ngắt quãng cùng với sự thiếu hụt của loại hình tiểu thuyết lịch sử

3 Nhiệm vụ của luận văn:

Tổng hợp sơ lược giới thuyết về thể loại tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử, chỉ ra những khác nhau giữa nhà viết sử, nhà viết tiểu thuyết và nhà

viết tiểu thuyết lịch sử Tập trung phân tích nội dung tác phẩm "Sông Côn

Trang 5

mùa lũ", xem thể loại tiểu thuyết lịch sử như là sự quy chiếu để thấy được

những vấn đề của tác phẩm: Nguyễn Mộng Giác viết "Sông Côn mùa lũ" từ

cảm hứng nghệ thuật nào? Mối quan hệ giữa chất liệu lịch sử và chất liệu

tiểu thuyết trong tác phẩm Lịch sử là "cứu cánh" hay là "phương tiện" của

nhà văn

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp tổng hợp phân tích

- Phương pháp so sánh văn học

- Phương pháp loại hình (loại hình tiểu thuyết lịch sử)

II Cấu trúc luận văn Phần mở đầu

I Lời nói đầu: - Lý do chọn đề tài, mục đích của đề tài

- Lịch sử vấn đề

- Nhiệm vụ của luận văn

- Phương pháp nghiên cứu

II Bố cục luận văn

Chương I:

Tiểu thuyết, tiểu thuyết lịch sử: giới thuyết về thể loại, những tương đồng và dị biệt

1 - Tiểu thuyết, giới thuyết về thể loại:

- Đặc trưng của thể loại tiểu thuyết

- Giới thuyết về hành trình của tiểu thuyết trong văn học

- Vị trí, vai trò của tiểu thuyết với văn học và cuộc sống

2 - Tiểu thuyết lịch sử, giới thuyết về thể loại

- Đôi điều về thể loại tiểu thuyết lịch sử

- Vấn đề phản ánh qua tiểu thuyết lịch sử

Trang 6

3 - Tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử, những tương đồng và dị biệt

1 - Chất liệu lịch sử - nhân vật lịch sử trong" Sông Côn mùa lũ"

1.1 Chất liệu lịch sử trong "Sông Côn mùa lũ"

1.2 Nhân vật lịch sử trong "Sông Côn mùa lũ"

- Nguyễn Huệ

- Nguyễn Nhạc

- Nguyễn Lữ

2 - Chất liệu tiểu thuyết-nhân vật tiểu thuyết trong "Sông Côn mùa lũ"

2.1 - Chất liệu tiểu thuyết trong "Sông Côn mùa lũ"

2.2 - Nhân vật tiểu thuyết trong "Sông Côn mùa lũ"

- Trí thức thời loạn trong "Sông Côn mùa lũ"

- Nhân vật trung gian trong "Sông Côn mùa lũ"

- Hình tượng người phụ nữ trong "Sông Côn mùa lũ"

- Nhân vật thường dân trong "Sông Côn mùa lũ"

Chương III

Kết cấu và ngôn ngữ nghệ thuật của "Sông Côn mùa lũ"

1 Kết cấu

- Tuyến lịch sử

- Tuyến hư cấu

- Kết cấu đan xen các chủ đề

Trang 7

- Ngôn ngữ tạo hình và đa thanh

Đôi lời kết luận

- Tiểu thuyết lịch sử với văn học, với văn hoá đọc nói chung

- Tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết hiện nay phát triển theo hướng nào

- Tiểu thuyết lịch sử "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác và

vấn đề - tính thời sự của văn học

Trang 8

Chương I

Tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử:

Giới thuyết về thể loại, những tương đồng và dị biệt

I Tiểu thuyết, giới thiệu về thể loại:

Thể loại tiểu thuyết trong sự phát triển lịch đại của văn học sinh sau

đẻ muộn Sự ra đời và phát triển của một số thể loại của văn học rất sớm

Có những thể loại ra đời tiền văn tự như: Sử thi cổ đại, các thể loại văn học thuộc văn hoá dân gian - FOLKLORE Nó tồn tại gắn liền với các hình thái sinh hoạt dân gian và cả trong lễ hội Sự chuyển dịch từ văn học dân gian thành văn học thành văn là sự phát triển nhảy vọt của văn học Nó chuyển hẳn từ văn hoá nghe qua giọng kể, văn hoá nhìn qua biểu diễn thành văn hoá đọc Sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết trong văn học nâng tầm văn hoá đọc lên một bước mới, một tầm cao mới Có lẽ cũng vì thế mà tiểu thuyết không phải là món ăn tinh thần cho tất thảy quảng đại quần chúng; cho dù tác giả muốn hướng tới quần chúng đến mức cao nhất trong phản ánh cuộc sống bằng thể loại đặc biệt này

Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi không có tham vọng trình bày những vấn đề về thể loại và thi pháp tiểu thuyết một cách đầy đủ mà ở đây chỉ trình bày ở góc độ giới thuyết ( có giới hạn) như là những nét khái quát

về tiểu thuyết trong sự phát triển của văn học với tư cách là một thể loại đặc biệt, như là một nhịp nối để bàn về tiểu thuyết lịch sử

Hê ghen gọi tiểu thuyết là "Sử thi thị dân" điều này có nghĩa là tiểu thuyết hiện đại phương Tây ra đời gắn liền với sự ra đời và phát triển của yếu tố tư bản, với sự hình thành của giai cấp tư sản Nhận định này của Hê ghen còn giúp ta thấy cái mốc đã làm nảy sinh một thể loại văn học mới

Trang 9

mẻ là tiểu thuyết Biê lin x ki cho rằng: " Sử thi của thời đại chúng ta là tiểu

thuyết Trong tiểu thuyết có tất cả những dấu hiệu thể loại quan trọng của

sử thi, chỉ có sự khác nhau là trong tiểu thuyết khống chế những yếu tố khác

và sắc màu khác"(Phan Cự Đệ - Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại) Nói như

vậy có nghĩa là tiểu thuyết ra đời không tách rời sự vận động nội tại của văn học Bị chi phối bởi yếu tố khách quan là cuộc sống, song tiểu thuyết, một sản phẩm tinh thần của con người có sự vận động nội tại để hoàn thiện Khi Biêlinxki nói rằng: " Trong tiểu thuyết có những sắc màu khác" thì chính là

sự phản ánh, miêu tả " cuộc sống hàng ngày" Cuộc sống đang diễn ra hôm nay chứ không phải là cái quá khứ sử thi tuyệt đối Vì thế, tiểu thuyết có thể tái hiện cuộc sống bằng những nguồn đề tài khác nhau Đề tài trong quá khứ

là lịch sử Đề tài trong cuộc sống hiện tại là "tình trạng hiện tại của nó" Vì thế, tiểu thuyết phải miêu tả cuộc sống như là nó vốn có Tiểu thuyết hướng tới cuộc sống, miêu tả cuộc sống của cộng đồng xã hội Nhân vật của tiểu thuyết vì thế mà sinh động như trong cuộc đời "Bằng nghệ thuật điển hình hoá, nhà tiểu thuyết nâng cái cá biệt, cái cụ thể lên chiều cao của sự khái quát Cái đích của tiểu thuyết mà cũng là phương tiện để thực thi hoàn thành tiểu thuyết là hư cấu, song là hư cấu, từ chính cuộc sống hiện tại mà tác phẩm phán ánh Điều này khác hẳn với một số tiểu thuyết từ trước nửa thế kỷ XVIII Đó là sự hư cấu trên cơ sở những truyền thuyết thần thoại cổ

như kiểu Tristan Iseult của Josef Bedie' Hoặc là tiểu thuyết kỵ sĩ thời phục

hưng sử dụng những hình tượng và những thủ pháp nghệ thuật của sử thi kỵ

sĩ trung thế kỷ để kể lại những cuộc du hành thám hiểm những khám phá lớn lao về sức mạnh vạn năng của con người trong thế kỷ XVI Như vậy là mãi đến cuối thế kỷ XVIII và đặc biệt thế kỷ XIX người ta mới quan niệm Roman như ta hiểu ngày nay, nghĩa là một tác phẩm "miêu tả cuộc sống với

Trang 10

chất xác thực của cuộc sống nhân loại" (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại -

Phan Cự Đệ ) Sử thi hướng về cái quá khứ tuyệt đối với một " khoảng cách

sử thi " đầy tôn kính, còn tiểu thuyết là cuộc sống bình thường hàng ngày,

là một thể loại mang tính dân chủ (dân chủ với nhân vật, dân chủ với bạn đọc ) Tiểu thuyết phát huy cao độ vai trò của hư cấu, thậm chí có những hư cấu cao độ ( Don Qui chotte, Xuân Tóc Đỏ ), đến mức không thể tìm được một nguyên mẫu đúng như thế trong cuộc đời Tiểu thuyết hướng về cuộc sống đương đại, về cái hiện thực đang vận động, đang phát triển, nên dù có nói chuyện trung thế kỷ hay kể chuyện khoa học viễn tưởng thì chủ yếu cũng phải giải quyết những vấn đề bức xúc của đương đại

ở cái nôi văn hoá phương Đông, điển hình là Trung Quốc, tiểu thuyết

đã xuất hiện trong đời sống văn học từ rất sớm Theo "Trung Quốc tiểu

thuyết sử lược" của Lỗ Tấn ,"Hán thư nghệ văn chí" cho rằng phái các nhà

tiểu thuyết là vốn xuất phát từ chức tỳ quan, chép những lời ngoài đường ngoài ngõ Những chuyện ngụ ngôn, những chuyện quái lạ, những giai thoại, những chuyện hoang đường có tính chất lịch sử là những chuyện hết sức vụn vặt ngoài đường ngoài ngõ Tiểu thuyết theo quan niệm trên là những lời nói nhỏ - "tiểu thuyết" - vụn vặt được ghi chép Như thế, theo quan niệm này, " tiểu thuyết" chưa được coi là sự sáng tạo mang tính chất văn học bác học, chưa thể xuất hiện tiểu thuyết gia sáng tác mà chỉ có tiểu thuyết gia chí mà thôi Cũng chính vì thuần tuý là ghi chép mà tiểu thuyết, dưới cái nhìn của Nho gia cửa Khổng, sân Trình không phải là chính thư, trái với đạo Nho Tiểu thuyết ở đây còn có thể hiểu là tạp thuyết Điều này hoàn toàn khác với khái niệm tiểu thuyết mà Lỗ Tấn dùng sau này Với quan niệm "Văn dĩ tải đạo" của đạo Nho, văn học Trung Quốc một thời gắn với lịch sử, dường như không tách rời lịch sử Văn học là cái chí hướng tới của người quân tử để lập ngôn nếu không lập nổi đức, lập nổi công, thì lưu

Trang 11

đến tột đỉnh của thơ ca từ thời Đường, Tống, tiểu thuyết vẫn hầu như tránh mặt trên văn đàn Trung Quốc Mãi đến thời Minh -Thanh (Thế kỷ XIV đến

thế kỷ XVI), tiểu thuyết mới xuất hiện mà điển hình là: Tam Quốc Diễn

Nghĩa, Thuỷ Hử, Tây Du Ký và Hồng Lâu Mộng Với bốn pho đại tiểu

thuyết này, văn học Trung quốc đã xuất hiện những tiểu thuyết gia lớn : La Quán Trung, Thi Nại Am, Ngô Thừa Ân, Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc

ở Việt Nam, tiểu thuyết hiện đại như ta quan niệm hiện nay thực sự hiện hữu trên văn đàn từ những năm 20 của thế kỷ XX, với những tên tuổi:

Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, Hoàng Ngọc Phách Truyện ngắn đã xuất hiện, trong văn học Việt nam khá sớm Nó bắt nguồn từ các loại: thần tích, chí quái, truyền kỳ Quá trình phát triển của văn xuôi, cũng là quá trình tách rời giữa lịch sử và văn học Tính lịch sử, tính chất chí bớt đi và tính sáng tạo,

hư cấu nghệ thuật tăng lên Cũng là quá trình đi lên từ chuyện lạ hoang đường đến những chuyện bình thường hàng ngày trong cuộc sống Có thể nói, truyện ngắn Việt Nam được khai sinh từ nguồn gốc dân gian và lịch sử

Vì lẽ đó, văn học thành văn của Việt Nam gắn liền với những chuyện kể

dân gian, các loại thần tích (Việt điện u linh), chí quái (Lĩnh Nam chích

quái), truyền kỳ (Truyền kỳ tân phả, Truyền kỳ mạn lục), truyện thơ nôm từ

truyện cổ tích (Thạch Sanh), truyện thơ nôm khuyết danh Phạm Công Cúc

Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa Nguồn mạch và dòng chảy của văn học thành

văn của Việt Nam mãi đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX xuất hiện

những thiên ký sự, tuỳ bút, tiểu thuyết lịch sử (Thượng kinh ký sự, Vũ trung

tuỳ bút, Hoàng Lê nhất thống chí) Những năm 20 của thế kỷ XX, hiện

tượng Hồ Biểu Chánh với hơn 60 tiểu thuyết phản ánh cuộc sống Nam bộ, đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức tốt đẹp của ông đối với cuộc sống đương thời Hiện tượng Biểu Chánh - Hồ Văn Trung có thể xem là con người tiên phong trong lĩnh vực tiểu thuyết văn xuôi, mang tính luận đề

Trang 12

móng cho tiểu thuyết mới với bút pháp lãng mạn Hiện tượng Phạm Duy

Tốn với "Sống chết mặc bay" có thể xem là người đặt nền móng cho

truyện ngắn mới với bút pháp hiện thực phê phán

Tiểu thuyết có vị trí đặc biệt trong văn học như trên đã trình bày một cách tóm tắt Bên cạnh đó, tiểu thuyết có ưu thế tuyệt đối trong phản ánh toàn vẹn cuộc sống với bình diện lớn, tổng thể Tiểu thuyết hiện vẫn còn là một thể loại chưa có hồi kết Mối quan hệ, cách nhìn nhận, việc phản ánh cuộc sống, tái tạo cuộc sống, các nhà văn đã làm nên những dòng chảy, những chủ thuyết trong quá trình sáng tạo ở phương Tây, tiểu thuyết cổ điển phát triển mạnh ở thế kỷ XIX, đồng thời cũng làm bùng nổ những dòng chảy, chủ thuyết về tiểu thuyết ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX: chủ nghĩa tự nhiên của E'mile Zola, chủ nghĩa hiện sinh của Jean Paul Satre, Camus, Hiện tượng Milan Kundera đã đưa vào văn học đương đại tiểu thuyết giả tưởng khi mà ông chủ trương " suy nghĩ về một câu chuyện" Hiện tượng văn học Harry Potter được xem là một loại hình mới của văn học hậu hiện đại phương Tây

Giữa thế kỷ XX, phe xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển, đối trọng với chủ nghĩa tư bản ở các nước phương Tây Trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, văn học được sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, làm nảy sinh một hiện tượng văn học phát triển rực rỡ với những tên tuổi như: Maxime Gorki; Alexis Tolstoi; Cholokhov; Fade'ev; Ehrenbourg; Aimatov thuộc Liên bang Xô viết (cũ)

Từ những năm 30 của thế kỷ XX trên văn đàn Việt Nam, tiểu thuyết phát triển mạnh trong tư trào văn học lãng mạn của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Tư trào này dường như cáo chung vào những năm 40 Từ sau Cách mạng tháng Tám, văn học nói chung tiểu thuyết nói riêng phát triển mạnh

mẽ Thể loại tiểu thuyết mang cảm hứng sử thi, mang hơi thở của hai cuộc

Trang 13

kháng chiến, chống Pháp và chống Mỹ kéo dài ngót 30 năm và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc gần mười năm (1955-1964) Chúng ta có một

di sản tiểu thuyết dù chưa tương xứng với tầm vóc lịch sử, song nó làm tròn

sứ mệnh của văn học là phản ánh một cách chân thật và hùng hồn cuộc sống mới, con người mới theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa

Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão cùng với công nghệ thông tin, đặc biệt là loại hình nghệ thuật thứ bảy đang tác động mạnh đến mối quan hệ giữa tiểu thuyết với bạn đọc Nếu tiểu thuyết khủng hoảng thì có lẽ phải hiểu nó là sự chững lại như một lát cắt Tiểu thuyết là một sản phẩm mà thông qua nghệ thuật ngôn từ có giá trị phi vật thể rất lớn trong đời sống tinh thần con người Tiểu thuyết có chỗ đứng quan trọng trong văn học và do chính cuộc sống (thế sự) tạo nên nó song nó vẫn tồn tại theo một quy luật riêng Một quy luật khách quan là mọi hiện tượng trong cuộc sống, khi đã phát triển đến đỉnh điểm rực rỡ thì có sự chuyển hoá Tiểu thuyết không nằm ngoài quy luật nghiệt ngã đó Nếu tiểu thuyết khủng hoảng thì đây chính là một trong những nguyên nhân khách quan Khoa học kỹ thuật tiến bộ đẩy nhanh vòng xoáy của công việc lao động Giờ làm giảm, cường

độ lao động tăng, con người tìm đến những hình thức giải trí bằng nhiều hình thức khác Từ đói phương tiện giải trí, văn hoá đọc là chính đã chuyển sang văn hoá nghe nhìn phong phú và nhiều hình thức giải trí khác nữa Vì thế, bạn đọc tiểu thuyết cũng một phần bị thưa vãn Mặt khác, ngay cả khi nghèo phương tiện thông tin, phương tiện giải trí, tiểu thuyết vốn không phải là điểm hẹn cho tất cả mọi người Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nhiều hình thức giải trí có liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày Tiểu thuyết thuộc phạm trù tinh thần, đảm trách trọng yếu chức năng của văn học: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giao tiếp, dự báo, giải trí, lại thiếu những gì thiết thực như nhu yếu của con người Trong thế giới kim

Trang 14

đó có văn học, các tiểu thuyết gia buộc phải xem các tác phẩm của mình như một hàng hoá trên thị trường Sản phẩm tiểu thuyết có giá trị phi vật thể, những giá trị nhân bản được sáng tạo bởi tài năng và thiên chức sáng tác lại được định giá bằng tiền Đồng tiền định giá giá trị tinh thần thì nhân cách của nhà văn bị xúc phạm Đây chính là sự mất tự do lớn nhất Nếu tiểu thuyết khủng hoảng thì đây là một tác nhân không nhỏ Những năm gần đây (thập kỷ IX của thế kỷ trước và những năm đầu của thế kỷ này), một câu hỏi lớn đặt ra: "tiểu thuyết Việt Nam phát triển theo hướng nào", là một trăn trở của giới cầm bút, của các tiểu thuyết gia và là sự chờ đợi về phía độc giả Nhìn ở góc độ khách quan, văn nghệ nói chung đã được "cởi trói", đất nước đổi mới với chủ trương hội nhập là một vận hội mới cho tiểu thuyết Tiểu thuyết Việt Nam đương đại, phải góp phần tạo nên một nền văn học xứng đáng với tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế Mặt khác, đội ngũ độc giả với mặt bằng dân trí như hiện nay cũng là một vận hội không nhỏ đối với văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Câu hỏi trên

là sự mong đợi của độc giả, một đội ngũ được xem là đồng tác giả đối với tiểu thuyết Việt Nam đương đại Từ đổi mới đến nay (1986 - 2005), những tác phẩm văn học ở các thể loại khác như truyện ngắn phát triển mạnh, đặc biệt là kịch bản phim truyện Tiểu thuyết thì tuy có phát triển về số lượng nhưng chưa nhiều những tác phẩm hay Thành công tiêu biểu phải kể đến

"Mùa lá rụng trong vườn" (Ma Văn Kháng), " "Thời xa vắng" (Lê Lựu),

"Bến không chồng" (Dương Hướng), "Mảnh đất lắm người nhiều ma"

(Nguyễn Khắc Trường), "Chim én bay" (Nguyễn Trí Huân) "Ăn mày dĩ

vãng" (Chu Lai), "Hồ Quý Ly" Nguyễn Xuân Khánh Tiểu thuyết Việt

Nam chuyển mình theo hướng nào là một thông điệp chung với tiểu thuyết gia của đội ngũ độc giả

2 Tiểu thuyết lịch sử, giới thuyết về thể loại:

Trang 15

Tiểu thuyết lịch sử không phải là mới vì nó đã hiện hữu ở Việt Nam

từ cuôí thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với "Hoàng Lê Nhất Thống Chí" (Ngô

Gia Văn Phái) Đồng thời cũng xuất hiện tiếp trên văn đàn không phải là hy

hữu với "Trùng Quang tâm sử" (Phan Bội Châu) (1925 - Trùng Quang tâm

sử đăng trên Binh sự tạp chí (The military magazine) từ tháng 1/1921 đến

tháng 4/1925 - xuất bản lần thứ nhất mang tên "Hậu Trần dật sử (Trần Lê

Hữu dịch) NXB Văn hoá 1957, "Tiếng sấm đêm đông"(Nguyễn Tử Siêu), Tiêu Sơn tráng sỹ (Khái Hưng) vấn đề ở đây là quan niệm về tiểu thuyết lịch sử Nói

như Goncourt, "Lịch sử là cuốn tiểu thuyết đã viết xong, tiểu thuyết là lịch sử có

thể diễn ra như thế" (Pierre Louis-Rey- Tiểu thuyết Hachette-Paris 1992, trang 11

(tiểu mục tiểu thuyết và lịch sử).Với lời khẳng định này ta thấy rằng: tiểu thuyết

và lịch sử có mối quan hệ đặc biệt Lịch sử với sự ghi chép bằng văn bản là cuốn tiểu thuyết đã hoàn tất Tiểu thuyết là "cuốn sử" có thể diễn ra như thế, có thể diễn ra theo giả thiết suy luận , là lịch sử chưa có hồi kết Dù vậy, khi các tiểu thuyết gia chọn đề tài lịch sử để viết tiểu thuyết lịch sử, thì những gì đã trở thành

"giấy trắng mực đen", tiểu thuyết gia không thể làm thay tạo hoá được nữa Mọi sáng tạo đều có quyền hư cấu, song với nhà tiểu thuyết lịch sử thì phần sáng tạo chỉ là một đối trọng với lịch sử Nó là một phần quan trọng thể hiện qua tác phẩm Tiểu thuyết lịch sử phải được coi là một loại thể trong phạm trù thể loại tiểu thuyết nói chung Do nhà văn chọn đề tài để đối thoại với cuộc sống mà có tiểu thuyết tâm lý xã hội, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết lịch sử Từ thái độ, cách thể hiện đối thoại với cuộc sống của nhà văn theo một quan điểm nào đó mà tạo ra các trường phái tiểu thuyết theo các chủ thuyết như: hiện thực, lãng mạn, hiện sinh tiểu thuyết hiện đại chủ nghĩa (thế kỷ XX) và hậu hiện đại Những năm cuối XX và đầu XXI có nhiều tiểu thuyết sáng tác theo các chủ thuyết trên tạo thành sự phong phú đa dạng của tiểu thuyết phương Tây Với khuôn khổ và mục đích bài viết này chúng tôi không nói gì thêm về những chủ thuyết trên mà chỉ

Trang 16

nêu ra với tư cách như là sự điểm danh của các chủ thuyết đó trong văn đàn Tiểu thuyết là kết quả của thiên chức sáng tác cùng với vốn sống, vốn hiểu biết và kinh lịch trong cuộc sống của tác giả Tác giả viết tiểu thuyết lịch sử phải am tường lịch sử, sự kiện, tôn trọng những gì lịch sử đã hoàn tất Lịch sử được phản ánh trong tiểu thuyết lịch sử phải là sự thể hiện: am tường sự kiện, nhân vật, không gian, thời gian, địa điểm lịch sử Dựa vào lịch sử còn những "điểm trắng", nhà tiểu thuyết lịch sử sáng tạo,

tái hiện những nhân vật không góp mặt trong tác phẩm của sử gia Những nhân vật này là gương mặt của cuộc sống thường nhật, chính loại nhân vật này làm nên chất tiểu thuyết của tác phẩm Bên cạnh đó, " những điểm trắng " về nhân vật lịch sử, được các tiểu thuyết gia lịch sử thêm vào làm cho nhân vật lịch sử thêm chất tiểu thuyết song không nhào nặn lại nhân vật, không vi phạm vào tính chân thực của lịch sử, của cuốn lịch sử đã được hoàn tất Cái khó của nhà tiểu thuyết lịch sử là phải đảm bảo tính khách quan, đòi hỏi tham khảo đến tường tận cứ liệu lịch sử, phải am tường về những yếu tố địa lý, thổ nhưỡng, phong tục, tập quán Muốn vậy phải điều tra hồi cố các sự kiện, nhất là để phát hiện ra những điều mà vốn nó nằm ngoài sự ghi chép của lịch sử Hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử là tất yếu, song hư cấu không thể vượt qua hai tiếng lịch sử Nếu vượt qua, nó sẽ trở thành tiểu thuyết dã sử, lấy lịch sử làm phương tiện, coi lịch sử là điều đang diễn ra mà quyền nhào nặn của nhà văn như chính là tạo hoá Như vậy, nhà văn đã tiểu thuyết hoá lịch sử chứ không phải là viết một tiểu thuyết lịch sử

Tóm lại: Tiểu thuyết lịch sử nằm trong phạm trù tiểu thuyết nói chung nhưng viết về đề tài lịch sử Vì những lẽ đó, tiểu thuyết lịch sử luôn tồn tại hai hệ thống nhân vật: nhân vật lịch sử và nhân vật thuộc "điểm trắng" của lịch sử - nhân vật sáng tạo của tiểu thuyết gia Mặt khác, khi lấp những điểm trắng" nghĩa là tạo ra những chi tiết bổ sung cho lịch sử, sáng

Trang 17

phải tránh hiện đại hoá con người nhất là khi gắn nối giữa hai hệ thống nhân vật: lịch sử và phi lịch sử Để tạo ra một kết cấu tác phẩm lô gíc, nhà văn cũng rất dễ hiện đại hoá mối quan hệ giữa người với người Khi đã hiện đại hoá mối quan hệ này thì cho dù tác phẩm có kết cấu lô gíc đến chừng nào, người đọc cũng không dễ dàng cảm thông trong tiếp nhận Mặt khác, khi gắn nối hai hệ thống nhân vật trên nhà văn có thể làm cho nhân vật lịch sử không còn là lịch sử nữa (hoặc thêm vào những nét cao thượng vốn đã đầy

ắp của nhân vật lịch sử hoặc là sẽ tầm thường hoá nhân vật lịch sử) Nếu nhà văn rơi vào tầm thường hoá nhân vật lịch sử, hiện đại hoá mối quan hệ giữa người với người trong tác phẩm sẽ tạo ra một dã sử được ghi chép bằng tác phẩm văn học

3 Tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử - những tương đồng và dị biệt

Tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử đều có chức năng tái hiện cuộc sống Tiểu thuyết tái hiện những gì đang diễn ra như chính cuộc sống đồng đại với bạn đọc Tiểu thuyết lịch sử tái hiện những gì đã diễn ra trong quá khứ, những gì mà thượng đế không làm gì được nữa Tiểu thuyết lịch sử có

sự gặp gỡ giữa tác giả với bạn đọc là sự giao tiếp về lịch sử, về quá khứ, song nó không hoàn toàn là những gì thuộc công việc của sử gia, cũng không hoàn toàn là tiểu thuyết Công việc của nhà tiểu thuyết lịch sử là làm sống lại phần cuộc sống đã bị "che khuất" để tạo nên bình diện tổng thể của cuộc sống Phần khuất lấp ấy - phần không là nét lớn, nét chính của sử gia - khi tái hiện, tiểu thuyết gia lịch sử hoàn toàn có quyền hư cấu như chính các tiểu thuyết gia Thậm chí cả những yếu tố thuộc lịch sử mà còn các "điểm trắng" thì khi lấp các "điểm trắng", nhà tiểu thuyết lịch sử có quyền hư cấu, làm cho những gì thuộc lịch sử vẫn là lịch sử, song sinh động hơn, hấp dẫn hơn Nhà tiểu thuyết tái tạo cuộc sống bằng hư cấu để tạo ra những gương mặt tiêu biểu của đời thường đang diễn ra; nhà tiểu thuyết lịch sử hư cấu để

Trang 18

tạo ra những gương mặt tiêu biểu của đời thường đã diễn ra trong quá khứ Khi hư cấu, nhà tiểu thuyết ít bị chi phối bởi tính niên đại Khi hư cấu, nhà tiểu thuyết lịch sử phải đặt bình diện phản ánh trong niên đại Nhà tiểu thuyết khi viết về cuộc sống đang diễn ra, đồng hành với nhà chép sử đồng đại Họ đều là " thư kí " của cuộc sống Nhà tiểu thuyết lịch sử với sử gia là tiếng nói đồng vọng của hôm nay với hôm qua, nối quá khứ với hiện tại, giao thoa giữa hiện tại với quá khứ Có sự khác biệt trong công việc của nhà tiểu thuyết lịch sử và nhà viết sử, "việc nghiên cứ lịch sử là vô cùng cần thiết đối với nghệ sỹ, nhưng sự nghiên cứu ấy không thể thay thế sự sáng tạo Có khi nhà nghệ sỹ chỉ cần vài khoảnh khắc trong đời sống của nhân vật lịch sử, có khi nghệ sỹ đưa vào tác phẩm những điều phi lịch sử, không quan trọng, thậm chí trong một chừng mực nào đó có quyền vi phạm sự đúng đắn về sự kiện lịch sử, bởi vì tác giả chỉ cần " sự đúng đắn lý tưởng"

mà thôi" (Phan cự Đệ - Tiểu thuyết lịch sử - tạp chí Nhà văn số 1 2003,

trang 56)

Nhà tiểu thuyết, như ta quan niệm hiện nay, lấy những sự kiện đang diễn ra hàng ngày, đối thoại với cuộc sống để sáng tạo cuộc sống trong tác phẩm Nó là những " chuyện ngoài đường ngoài ngõ ", những điều mà sử gia phong kiến không ghi chép Những con người ngày xưa được dùng chung bằng một từ " bách tính" mà ngày nay được dùng là nhân dân, đồng bào, các sử gia không ghi chép gương mặt cá thể trong phạm trù này Nhà viết sử không thể tạo ra tính cách toàn diện của nhân vật lịch sử trong lịch

sử Nhà tiểu thuyết thì trái lại, sáng tạo cuộc sống thứ hai trong tác phẩm, tạo ra những cá tính, những số phận, cả những buồn vui trong đời sống con người Tiểu thuyết lịch sử có thể ví như nhịp cầu nối giữa lịch sử và tiểu thuyết Nó chọn đề tài là lịch sử để sáng tác, vì thế vừa phải là tiểu thuyết mang diện mạo tiểu thuyết, vừa phải là lịch sử như lịch sử đã diễn ra hoặc "

Trang 19

sử là thế sự đã khép lại nhưng nhà văn cũng có thể giả định, tiên đoán xu thế phát triển của nó Theo dòng chảy thời gian, cái hôm nay sẽ thành cái hôm qua, cái ngày mai rồi sẽ là cái ngày nay, nghiã là thế sự rồi cũng đi vào quá khứ, đi vào lịch sử Những gì mà tiểu thuyết thế sự tạo ra là gương mặt của những cuộc đời thường trong cuộc sống thường nhật hôm nay Tiểu thuyết lịch sử làm sống lại những gì mà thời gian đã đẩy vào dĩ vãng Tiểu thuyết lịch sử bị chi phối bởi khách quan là lịch sử Dù sáng tạo chủ quan đến mức cao nhất, tiểu thuyết gia lịch sử cũng không thể thế sự hoá lịch sử

mà chỉ có thể thêm vào trong tác phẩm những gì mà sử gia không làm như thế Tác giả chỉ có thể đưa vào tác phẩm những chi tiết chủ quan không làm lệch lạc cái công việc của tạo hoá, không can thiệp công việc của tạo hoá bằng chủ quan cá nhân Nếu không, tiểu thuyết gia lịch sử đã lạm dụng, đã thiên lệch tính tiểu thuyết để dã sử hoá lịch sử Tiểu thuyết có sức hoành tráng hoá một nền văn học, có sức thu nạp lớn nhất là cuộc sống đang diễn

ra, đang hiện hữu, tiểu thuyết gia có mặt chính trong thế sự đó Thế sự đang hiện hữu được các nhà tiểu thuyết hiện thực cổ điển thể hiện thành công ở cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX ở Châu Âu với những tên tuổi lớn như DicKens ( Anh), Balzac (Pháp ), Lev Tolstoi ( Nga ) ở Việt Nam là những tên tuổi thời tiền chiến (thế kỹ XX): Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng Thế sự trong tiểu thuyết lịch

sử là thế sự tái hiện bằng kết quả nghiên cứu lao động trí tuệ về nhiều phương diện: văn hoá, lịch sử, địa lý

Tiểu thuyết lịch sử đòi hỏi vấn đề phản ánh phải dừng trước vạch cấm chỉ của lịch sử để tác phẩm đảm bảo tính chân thực lịch sử Vượt qua vạch cấm chỉ, tiểu thuyết lịch sử đã tiểu thuyết hoá lịch sử Cái " có thể diễn

ra như thế" không thể là phương tiện để tiểu thuyết gia tạo dụng ý " bình cũ rượu mới", chuyển hẳn nó sang tiểu thuyết luận đề, dã sử hoá lịch sử nhằm

Trang 20

hiện tại Như vậy tiểu thuyết lịch sử chỉ còn là một phương tiện (Gió lửa

của Nam Dao) Tiểu thuyết lịch sử muốn hay không, để nó đảm trách nhiệm

vụ lịch sử (Hystory) thì không gian, thời gian, địa điểm , thể hiện trong tác phẩm phải mang dấu ấn của thời điểm lịch sử mà tác phẩm phản ánh Mặt khác, tuyến nhân vật sáng tạo của tác giả - loại nhân vật không là đối tượng của sử gia, khi được tái tạo phải là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử, không thể hiện đại hoá con người trong quá khứ Những nhân vật sáng tạo phải mang dấu ấn lịch sử: Phong tục, tập quán, lời ăn tiếng nói, trang phục, nhất

là quan hệ giữa người với người Nếu không, tác phẩm sẽ trở thành hai mảng riêng biệt: lịch sử và thế sự không ăn nhập, không lô gíc Như vậy, tác giả đã mượn danh lịch sử để viết tiểu thuyết với dụng ý nào đó chứ không phải là viết tiểu thuyết lịch sử

Bàn về tiểu thuyết lịch sử, trong một chuyện luận cùng tên, giáo sư Phan Cự Đệ đã đề cập đến những vấn đề có tính phổ quát về thi pháp tiểu thuyết lịch sử khi dẫn những chính kiến của các lý luận gia tên tuổi các nước: Anh, Pháp, Nga và của chính những cây bút tiểu thuyết lịch sử Một nhà phê bình vừa khen vừa chê Dumas như sau "Alexandre Dumas đã hiếp dâm lịch sử mà đẻ ra những đứa con hoang sinh động hơn những đứa con

chính thức "(Phan Cự Đệ - tài liệu đã dẫn) Nhưng nhà văn lãng mạn Alexandre Dumas, người có biệt tài viết tiểu thuyết lịch sử (Ba người lính

Ngự lâm, Hai mươi năm sau, Hoàng hậu Margot, Ba tước Monte Cristo )

đã đáp lại: " Lịch sử đối với tôi là gì ? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo cái

bức hoạ của tôi thôi" (Phan Cự Đệ - tài liệu đã dẫn)

"Không tôn trọng sự chính xác lịch sử hoặc chỉ dùng quá khứ lịch sử

để ám chỉ những vấn đề hiện tại, đó là khuynh hướng đường như không

thể thay đổi của một số nhà lãng mạn Trong "Những suy nghĩ về chân lý

nghệ thuật" ( 1827 ), vốn là Lời tựa của cuốn tiểu thuyết lịch sử Cing Mars

Trang 21

(1826 ) Alfred de Vigny nhấn mạnh rằng" chúng ta đang ở vào một thời đại

mà con người muốn biết và muốn tìm kiếm cái nguồn của mọi con sông" Vuợt qua cái chân thật của sự kiện ", tiểu thuyết có thể vươn tới " chân lý của nghệ thuật ", có nghĩa là đi qua bên ngoài huyền thoại để đưa ra " một ý

niệm về lịch sử " Lu kacs cho rằng trong tiểu thuyết Cing Mars, Alfred de

Vigny đã trình bày một quan niệm về lịch sử ngược hẳn với chủ nghĩa lịch

sử của Walter Scott Những tác phẩm của nhà văn Anh này được Lukacs

coi như hình thái cổ điển của tiểu thuyết lịch sử" (Phan Cự Đệ - tài liệu đã

dẫn)

" ởmột đoạn khác, Lu kacs lại viết: mối quan hệ sinh động với hiện tại thể hiện ngay chính trong sự vận động được mô tả của lịch sử và tự nó nói lên Nhà tiểu thuyết không nên biến tác phẩm của mình thành luận văn lịch sử mang tính giáo huấn và những quy chiếu lộ liễu về thời hiện tại, theo Piere Louis - Rey, những tác phẩm như thế chỉ là những thứ xỉ giữa thế giới

tiểu thuyết" ( Phan Cự Đệ - tài liệu đã dẫn)

Trong trào lưu lãng mạn Việt Nam thời tiền chiến của thế kỷ XX,

"khi viết "Tiêu Sơn tráng sĩ", Khái Hưng đã dựa vào "Hoàng Lê nhất thống

chí" của Ngô Gia văn phái và dựa vào cuộc đời của Phạm Thái, tác giả "Sơ kính tân trang" , Khái Hưng đã căn cứ hoàn toàn vào "Hoàng Lê nhất thống chí" để viết về những ngày cuối cùng của cuộc đời những " bề tôi

trung nghĩa" với nhà Lê như thượng thư bộ binh Nguyễn Đình Giản, trấn thủ kinh bắc Trần Quang Châu, trạch trung hầu Phạm Đại, thiêm thư khu mật viện Lê Ban; những người cha của các đảng viên Tiêu Sơn như Nhị Nương, Quang Ngọc, Phạm Thái, Lê Báo Cuộc đời và tính cách của thế hệ trẻ trong đảng Tiêu Sơn là những nhân vật lãng mạn mang dáng dấp khách chinh phu của Thế Lữ Do hư cấu, sáng tạo, Khái Hưng chỉ căn cứ một

phần vào các sự kiện và cái không khí xã hội trong "Hoàng Lê nhất thống

Trang 22

chí ", " Sơ kính tân trang" Như thế có nghĩa là "lịch sử chỉ là cái đinh để

tôi treo các bức hoạ của tôi thôi " ( Dumas )."Tiêu Sơn tráng sĩ" là một cuốn

tiểu thuyết lịch sử nhưng rõ ràng đã ấp ủ nhiều điều tâm sự của con người hiện đại Vì Phạm Thái vừa mang giấc mộng anh hùng lại vừa có phong thái của nghệ sĩ, vừa là khách chinh phu vừa là khách tình si Lấy hai tác

phẩm: một tiểu thuyết lịch sử (Hoàng Lê nhất thống chí), một truyện thơ

(Sơ kính tân trang) làm tư liệu, Khái Hưng đã viết "Tiêu Sơn tráng sĩ" mang

đầy ý tưởng, tâm sự của tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam trước Cách mạng tháng 8 năm 1945

" Các nhà tiểu thuyết lịch sử không coi việc miêu tả quá khứ như một mục đích tự tại Họ kể một câu chuyện về qúa khứ nhưng các động từ vẫn được chia ở thì hiện tại" Tiểu thuyết lịch sử còn nhiều tác dụng khác nữa

"nó có thể soi sáng những thời kỳ quá khứ của con người đã trải qua với mục đích rõ ràng là gạn lọc những tình trạng tiến thoái lưỡng nan của hiện tại Nó giúp ta làm những bảng so sánh đối chiếu thời đại nọ với thời đại kia Tác giả tiểu thuyết lịch sử sử dụng quá khứ như một khí cụ để vẽ lên những điểm tương đồng giữa quá khứ và hiện tại và do đó làm sáng tỏ hiện

tại" (Phan Cự Đệ - tài liệu đã dẫn)

Từ thực tế sáng tác, nhà viết tiểu thuyết lịch sử - Nam Dao nhấn mạnh đến "vị thế hiện tại của chủ thể", điều này góp phần giúp ta hiểu thêm

về những yếu tố có tính mã hoá và giải mã tác phẩm tiểu thuyết lịch sử

"Với một nhà văn, lịch sử không là những xác chết và những sự cố liên miên, ù lì Trong tiểu thuyết lịch sử, quá khứ lịch sử nhìn bởi nhà văn, nhà văn như chủ thể Đó là thứ tái chiếm hữu và tái tạo từ vị thế hiện tại của chủ thể Tiếp cận quá khứ từ vị thế hiện tại dĩ nhiên đèo bồng vào lịch sử được tái tạo qua tiểu thuyết, những vấn nạn hiện tại ở điểm này, đèo bồng

đó đến khi thì từ ý thức, khi vô thức nhưng ít hay nhiều đều nhằm truy

Trang 23

nguyên nguồn căn của các vấn nạn, vì lẽ hiện tại nào cũng là tổng hợp

những thành tựu và những thất bại trong quá khứ" (Phan Cự Đệ - Tài liệu

đã dẫn) Nhà viết tiểu thuyết lịch sử có thể "đảo ngược và xoay quanh

những sự cố cũng như tính chất những con người trong quá khứ Tưởng tượng, Nguyễn Huệ không chết sớm, Minh Mệnh không tàn sát giáo dân,

Tự Đức nghe và làm theo điều trần của Nguyễn Trường Tộ thì hôm nay thế nào?" Với cách nhìn như vậy, hiện tại mang cái khả năng "khác được" Lẫn vào quá khứ để chiếm hữu và tái tạo lịch sử, tiểu thuyết lịch sử hoá ra

là một tập hợp những dự phỏng về một tương lai có thể có được Chính sự khả hữu này làm đổ mồ hôi trong công việc viết văn và tiểu thuyết lịch sử Nói cho cùng, phải là máu cũng như nước mắt của người viết" (Phan Cự Đệ

- tài liệu đã dẫn) Nói như Nam Dao nghĩa là lịch sử được coi như một

phương tiện, nhà văn dắt quá khứ đặt vào hiện tại, đối thoại với lịch sử, đối thoại với hiện tại nhằm "Phục sinh một hiện tại, cần tháo gỡ hầu thoát khỏi những bế tắc tiêu vong" của hiện tại Thế nghĩa là, tiểu thuyết lịch sử mang mầu sắc luận đề, đặt ra những câu hỏi mà các chính trị gia hiện tại phải

nhăn trán Có lẽ chính vì thế mà Nam Dao không gọi Gió lửa là tiểu thuyết

lịch sử mà gọi là tiểu thuyết dã sử Là một cây bút tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Mộng Giác lại nhấn mạnh "Tôi nghĩ, một cuốn tiểu thuyết lịch sử đúng nghĩa luôn luôn phải là một cuốn tiểu thuyết thế sự Bản chất của tiểu thuyết là thế sự Tiểu thuyết lịch sử mà thiếu thế sự thì hoặc là một thứ sử thi giả dùng làm tài liệu tuyên truyền hoặc chỉ là một mớ tài liệu sử vô giá trị Một cuốn tiểu thuyết lịch sử chỉ minh hoạ lịch sử, từ đầu chí cuối chỉ toàn các vua quan đi ra đi vào âm mưu hãm hại nhau, tranh giành quyền lực còn đời sống của người dân thế nào, biến cố lịch sử đó ảnh hưởng đến người dân đen ra sao tác giả không quan tâm.; tôi cho cuốn sách đó không phải là tiểu thuyết theo đúng nghĩa Thế sự là da thịt của tiểu thuyết lịch sử

Trang 24

cũng như lịch sử là xương cốt của tiểu thuyết lịch sử" ( trả lời phỏng vấn giữa tác giả với Mai Quốc Liên - lời cuối sách)

Từ những điều đã trình bày ở trên dù chưa định được thật đầy đủ thật đầy đủ những vấn đề mã hoá và giải mã tiểu thuyết lịch sử nhìn từ góc độ thi pháp, nhưng ít nhất, ta cũng định được những kiểu, dạng của tiểu thuyết lịch sử ở hai phương diện: nhận thức và thực tiễn sáng tác Nói như chuyên luận của Phan Cự Đệ: "Có thể tạm chia các nhà tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thế kỷ XX thành hai nhóm Một số nhà văn lấy việc tái hiện chính xác

sự kiện lịch sử, không khí lịch sử là chính như: Vũ ngọc Đĩnh, Thái Vũ, Chu Thiên, ở đây lịch sử được coi là cứu cánh Một số khác chỉ coi lịch sử

là chất liệu, thậm chí là phương tiện để viết tiểu thuyết Họ tập trung vào việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết hoặc thông qua lịch sử đặt ra những vấn

đề cho hôm nay, cho mai sau Trong nhóm thứ hai có thể kể: Hà Ân, Nguyễn Xuân Khánh, Nam Dao, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Huy

Tưởng "(Phan Cự Đệ - tài liệu đã dẫn)

Tóm lại từ xuất phát điểm đến cái đích của một tiểu thuyết lịch sử (như trên đã trình bày), ta có thể xác định được mối quan hệ giữa tiểu thuyết với lịch sử như chính tên gọi của nó: lấy lịch sử làm cứu cách hoặc lấy lịch sử làm phương tiện Muốn bàn đến tiểu thuyết lịch sử cũng phải bắt đầu từ chính mối quan hệ này

Trang 25

Chương II

Nội dung "Sông côn mùa lũ"

của Nguyễn Mộng Giác - Nhìn từ góc độ tiểu thuyết lịch sử

1 Chất liệu lịch sử - nhân vật lịch sử trong "Sông Côn mùa lũ"

1.1 Chất liệu lịch sử trong "Sông Côn mùa lũ"

Như đã trình bày ở trên, tiểu thuyết lịch sử thuộc phạm trù tiểu thuyết nói chung, nhà tiểu thuyết lịch sử lấy lịch sử làm đề tài để sáng tác Để trình làng đứa con tinh thần, nhà tiểu thuyết hội tụ những yếu tố: vốn sống, vốn kinh nghiệm, góc nhìn với thế sự, tâm tư, ý nguyện, thiên chức sáng tác Nhà tiểu thuyết lịch sử dù coi "lịch sử là phương tiện", "lịch sử là cái đinh" thì vẫn phải am tường lịch sử, am tường những vấn đề thuộc văn hoá của

lịch sử đã được chọn làm đề tài "Sông Côn mùa lũ", nhìn từ góc độ tiểu

thuyết lịch sử, trước hết, ta phải nhấn mạnh lại những vấn đề mang tính chung nhất như là hệ quy chiếu để bàn về nó Do tiểu thuyết lịch sử gắn với lịch sử nên mọi tiểu thuyết lịch sử đều không có hồi kết mà chỉ có điểm

dừng của tác giả Nó được hoàn tất theo sự lựa chọn của tác giả "Sông Côn

mùa lũ" theo lời tác giả Nguyễn Mộng Giác - được viết ngoài chủ ý ban

đầu với thời gian sáng tạo (thời gian lựa chọn của tác giả) ngắn, hẹp và bình diện thế sự (phần hư cấu) cũng có giới hạn trong giới trí thức thời loạn "ý định ban đầu như thế là "viết về tâm trạng trí thức thời loạn" nói chung trong đó có một phần tâm trạng mình trong những năm nhiều biến chuyển sau tháng 4/1975 Chọn thời gian Tây Sơn vì đấy là thời kỳ cũng có nhiều biến động dữ dội, thời kỳ giới nho sĩ trí thức cả đàng Trong lẫn đàng Ngoài đều bị đặt trước những thử thách sinh tử"(lời cuối sách) ý định của tác giả thay đổi vì " lịch sử thời Tây Sơn quá đa dạng, phong phú và tầm nhìn của tôi cũng mở rộng ra", "tâm trạng trí thức thời loạn" trở thành chật hẹp" (lời cuối sách) Sự thay đổi ý định của tác giả cũng chính là sự thay đổi, trăn trở

Trang 26

giữa hai vấn đề lớn của cuốn tiểu thuyết lịch sử: lịch sử là "phương tiện" hay lịch sử là "cứu cánh" Từ ý định ban đầu, Nguyễn Mộng Giác đã sử dụng "lịch sử như một phương tiện" để bộc lộ "một phần tâm trạng của mình trong những năm nhiều biến chuyển sau tháng tư năm 1975"(lời cuối sách) Chọn thời kỳ Tây Sơn tức là chọn lịch sử, chọn thời gian để đặt "một phần tâm trạng của mình", Nguyễn Mộng Giác đã thể hiện thế sự trên cái nền của quá khứ lịch sử Vấn đề sự kiện lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử, dù viết trong tâm thế quan niệm lịch sử như thế nào, tác giả cũng không thể

phủ nhận sự thực của lịch sử "Khái Hưng không thể qua "Tiêu Sơn tráng

sĩ" tầm thường hoá nhân vật vĩ đại trong lịch sử là Quang Trung Dù chính

thống hoá cũng không thể không thể hiện Lê Chiêu Thống là " cái ông bụt mục, cái ông tượng nát", "vận nhà Lê đến lúc cùng rồi" Dù yêu mến và thả sức bút ca ngợi những đảng viên trong đảng Tiêu Sơn thì Khái Hưng cũng

không thể khoác lên đầu họ hào quang của chiến thắng" (Phan Cự Đệ - Tài

liệu đã dẫn) Viết " Sông Côn mùa lũ", Nguyễn Mộng Giác không thể vượt

khỏi sự kiềm toả này Vấn đề sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử, tác giả phản ánh thế nào mang tính quyết định đến bản mệnh của chính tác phẩm Hư cấu sự kiện, nhân vật lịch sử thực chất là tác giả đã

dã sử hoá lịch sử bằng quan niệm đương đại Như vậy, tiểu thuyết lịch sử không tránh khỏi thiên về tiểu thuyết luận đề Hai tiếng lịch sử chỉ là cái cớ

để tác giả gửi gắm một thiên kiến chính trị, một quan niệm, một nhận thức

tư tưởng về chính trị, về cuộc sống mà tác giả đang hiện hữu Thực trạng và kết quả của sự hư cấu này, nhà văn sẽ tạo ra một cuộc sống đương đại bằng những diện mạo nhân vật của quá khứ Đành rằng, tiểu thuyết nói chung không phải là thứ giải trí cho tất thảy mọi người vì nó là đỉnh cao của văn hoá đọc, song kiểu hư cấu như vậy liệu độc giả có dễ dàng đồng hành với tác giả để trở thành đồng tác giả hay không lại là một vấn đề khác Nói như Nam Dao "đảo ngược và xoay quanh" lịch sử để tưởng tượng: " Nguyễn

Trang 27

Huệ không chết sớm", "Minh Mệnh không tàn sát giáo dân", "Tự Đức nghe

và làm theo điều trần của Nguyễn Trường Tộ" Nếu chỉ thế thôi phỏng có ích gì khi mà tạo hoá đã đặt dấu chấm hết cho những con người và sự kiện này vì " Lịch sử là cuốn tiểu thuyết đã viết xong" (Gon -court) Trong tiểu thuyết lịch sử, dã sử là yếu tố nằm ngoài lịch sử (chính sử), song đây là lựa chọn của tác giả chứ không phải là sáng tạo Yếu tố dã sử có sức lấp điểm trắng của lịch sử nhưng không được phương hại đến lịch sử mà tác phẩm đề cập đến

Nguyễn Mộng Giác mở rộng bình diện lịch sử, chọn thời Tây Sơn để

có sự " đồng điệu" về nhiều biến động tức là tác giả đã mở rộng thêm cả bình diện hư cấu vì " thế sự là da thịt của tiểu thuyết lịch sử" (Nguyễn Mộng Giác)

Viết tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, tất cả các tiểu thuyết gia "lấy lịch

sử làm cứu cánh", gặp phải những khó khăn không nhỏ Chức vụ sử quan ở nước ta không có những bậc chết cho nghiệp bút để vua là vua, sử là sử Vì thế, sử gia "chấp kinh" mà phải "tòng quyền" Ngòi bút lựa theo quyền lực Mặt khác, triều đại sau thường xoá sạch dấu ấn của triều đại trước Những

sử quan của triều đại sau tu sửa, chỉnh trang trên cơ sở những cứ liệu từ những nguồn khác nhau vì thế rất có thể lẫn cả những "hạt sạn" là dã sử, là truyền khẩu trong dân gian Mặt khác, khi làm công việc lấp những điểm trắng về nhân vật lịch sử, hư cấu thế sự, dù khách quan đến mấy, nhà văn cũng không tránh khỏi cái chủ quan từ vị thế là một con người cụ thể, một nhãn quan giai cấp cụ thể, thậm chí còn bị chi phối bởi đời sống chính trị, kinh tế, tư tưởng thời đại mà nhà văn đang sống Vì thế tác phẩm nhất định

phải mang dụng ý chủ quan "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác

không nằm ngoài quy luật của những điều đã trình bày ở trên Thông qua tiểu thuyết lịch sử, nhà văn có thể xuất phát từ nhiều ý định chủ quan: Có

Trang 28

thể là lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lấy việc trò chuyện với lịch sử để làm cầu nối giữa quá khứ với hiện tại Cũng có thể đứng trước thế sự hiện tại, nhà tiểu thuyết lịch sử muốn thông qua tác phẩm để "dự báo" một vấn đề nào đó, có thể đồng tình hoặc không đồng tình với hiện tại

Những ý kiến chung đúc trên có thể xem là những tiền đề tìm hiểu

tiểu thuyết "Sông Côn mùa lũ" nhìn từ góc độ thể loại Có thể bài viết chưa

tập hợp đầy đủ những tiêu chí, góc độ, song coi như là xuất phát điểm có tính định hướng chung để bàn về một bộ sách được phát hành ở hải ngoại

có chỗ đứng trong đời sống văn hoá đọc trong nước Từ 1991, "Sông Côn

mùa lũ" được xuất bản ở California, ở trong nước 2001 và 2003 được in lần

thứ hai Trong chuyên luận "Tiểu thuyết lịch sử" (Phan Cự Đệ- tài liệu đã

dẫn) viết: " Nguyễn Mộng Giác dường như viết "Sông Côn mùa lũ" với ba

nguồn cảm hứng lớn: cảm hứng phê phán, cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa và cảm hứng sử thi" Đây là ý kiến có tính tổng quan, cùng với những ý kiến chung đúc trên, ta có thêm những yếu tố hội tụ như là hệ quy chiếu để tìm

hiểu và bàn về "Sông Côn mùa lũ" Nhìn một cách khái quát, ta thấy"Sông

Côn mùa lũ" được xây dựng trên cơ sở chất liệu lịch sử và chất liệu thế sự

trong lớp nội dung

1.2 Nhân vật lịch sử trong "Sông Côn mùa lũ"

Từ những điều trên, ta thấy trong khi xây dựng nhân vật lịch sử trong

"Sông Côn mùa lũ", Nguyễn Mộng Giác đã tôn trọng những điều mà sử gia

đã hoàn thiện Nhân vật lịch sử của phong trào Tây Sơn được tác giả nhào nặn, lấp những "điểm trắng" là ba nhân vật: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ Khi lấp những điểm trắng" về nhân vật lịch sử, Nguyễn Mộng Giác đã tuân thủ mục đích thế sự hoá nhân vật lịch sử Sự "tình cờ" gặp gia đình ông giáo Hiến ở An Thái, Nguyễn Nhạc đã gửi hai chú em: Lữ, Huệ theo đòi học tập Tuổi trẻ của Huệ dù ở nhà học ngắn ngủi, song nhân vật

Trang 29

lịch sử đã có những ngày tháng êm đềm Tác giả một mặt chú trọng con người quân sự, chính trị của nhân vật lịch sử, đồng thời chú trọng đến tư cách một con người đời thường "lâu nay người ta xem Nguyễn Huệ là một

võ tướng tài ba, một anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, nói chung tôn trọng thiên tài quân sự của ông ít ai quan tâm đến khía cạnh khác như Nguyễn Huệ trong tư cách một nhà chính trị, trong tư cách một con người đời thường trong gia đình, trong giao tiếp với kẻ thân, người sơ, kẻ hiền, người dữ Tôi muốn tái hiện Nguyễn Huệ như một con người trọn vẹn, vừa

là con người lịch sử vừa là con người thế sự hoà quyện vào nhau" (lời tác giả cuối sách) Trong tác phẩm, tác giả đã thế sự hoá để có một Nguyễn Huệ như một con người trọn vẹn Một Nguyễn Huệ lịch sử và phi lịch sử Điều này có nghĩa là , tác giả thế sự hoá, cá tính hoá nhân vật lịch sử song không vượt quá để lấn sân lịch sử Nhân vật trung tâm của phong trào Tây Sơn được ghi lại trong sử sách là Nguyễn Huệ, tác giả cũng dồn tâm lực nhiều nhất để " thế sự hoá" nhân vật này Xây dựng, "hư cấu" Nguyễn Huệ trong tư thế người em út, người học trò, Nguyễn Mộng Giác "khắc hoạ" nhân vật vừa là để "cắt nghĩa" cho một thực tế: sinh ra ở miền sơn cước, Nguyễn Huệ tiếp xúc với tri thức từ nguồn nào mà trở thành thiên tài Chính trong vai trò người học trò, trọ học ngay trong nhà thầy - ông đồ trốn chạy khỏi hoạ liên luỵ mới chân ướt, chân ráo đến An Thái, tác giả đã hoàn thiện

"một quãng" tiểu sử nhân vật lịch sử Đây là một nét lớn trong cảm hứng nhân đạo của tác giả - một mắt xích tạo nên tổng thể giá trị nhân đạo của tác phẩm bằng những nhân vật hoàn toàn hư tưởng (sẽ đề cập ở phần sau) "Có thể xem cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa là cảm hứng chính trong tiểu thuyết

"Sông Côn mùa lũ" (Phan Cự Đệ - tài liệu đã dẫn) Chính từ công việc khắc

hoạ "nhân vật lịch sử" Nguyễn Huệ, tác giả đã tạo nên một Nguyễn Huệ

"thế sự" mà vẫn "lịch sử" Đây là điều ít thấy ở những tác phẩm trước đó Nguyễn Mộng Giác không dắt lịch sử đặt vào hiện tại mà nhảy vào vòng

Trang 30

lửa của lịch sử để thế sự hoá, làm cho nó sống động trước mắt người đọc

Sáng tạo một lớp học, Nguyễn Mộng Giác đã chi tiết hoá gương mặt của

bảy học trò: hai anh em: Lữ, Huệ; Chinh, Lãng - hai con ông giáo; Thìn

con ông tri áp; Tiến con ông Chánh tổng và Khải con ông biện An Thái

Sau buổi lễ khai tâm, lớp học có bảy học trò thì đã có tới năm bậc tuổi: 17,

16, 15, 14, 12 được coi là sàn sàn như nhau Ông giáo nhanh chóng được

tiến hành dạy học Sự phân loại mặt bằng kiến thức bước đầu tiến hành,

công việc này thể hiện tác giả am tường một lớp ghép của thầy đồ trong quá

khứ Nhân vật Huệ với tư cách là em út của gia đình được tác giả "thể hiện"

ngay từ những buổi đầu Huệ hiểu cái đưa mắt ngầm của Lữ, đi làm phận sự

của em út, học trò (đun nước , pha trà) Hai anh em ăn uống sinh hoạt tại

nhà thầy: riêng rẽ, không chung đụng Huệ làm tròn bổn phận của người

em "Hằng ngày, việc nấu nước pha trà và cơm nước, Huệ phải lo Điều đó

tự nhiên, vì Huệ là em" (trang 100) Từ công việc thường ngày phải làm

trọn phận sự của em út, học trò, tác giả đặt Huệ vào một " tình huống" tế

nhị của tuổi vị thành niên khi gặp với An, (con gái thầy) Tạo ra tình huống

này, Nguyễn Mộng Giác đã thế sự hoá nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ bằng

một chi tiết rất đời thường Con người thiên tài Nguyễn Huệ mà sử sách dù

bị bẻ cong bởi quyền lực cũng phải thừa nhận là có tài "thần xuất, quỷ nhập,

hăng tợn và giỏi cầm quân", "bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con", "giết

Vũ Văn Nhậm như giết con lợn" Người từng làm cho trang lịch sử dân tộc

sau bao năm Nam - Bắc phân tranh thu về một mối, người quét giặc Thanh

ra khỏi bờ cõi với lời hiệu triệu, hồi kèn xung trận vang vọng mãi ngàn thu

" Đánh cho để dài tóc Đánh cho để đen răng Đánh cho nó chích luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Trang 31

Đánh cho sử tri, Nam quốc anh hùng chi hữu chủ"

(Lịch sử lớp 7- NXBGD-H.2003)

Tầm vóc vĩ nhân lịch sử, Nguyễn Huệ hiển hiện cái ngập ngừng rất đời, rất thường trước người khác giới, "Huệ sang bếp nhà thầy nấu nhờ ấm nước sôi từ sáng sớm Cậu sợ làm phiền gia đình thầy Cậu cũng sợ gặp con gái thầy ở nhà bếp" (trang 100) Một tâm trạng của tuổi vị thành niên trước một người khác giới ở Huệ, tác giả thể hiện một cách tế nhị, ngọt ngào Tâm trạng này không phụ thuộc vào thời gian, không phụ thuộc vào hai tiếng xưa và nay Bởi nó là chất người trong mỗi con người - cái rạo rực mơ

hồ của tuổi dậy thì Chàng thiếu niên em út, học trò Nguyễn Huệ được tác giả khắc hoạ bằng một tâm trạng "hư cấu", tạo ra một thời niên thiếu của nhân vật lịch sử Những trăn trở trong nội tâm nhân vật Huệ xem là một thành công của Nguyễn Mộng Giác Giọng văn là lời kể, cũng là lời độc thoại nội tâm của nhân vật thể hiện khả năng tiểu thuyết của tác giả "Cho đến một ngày Huệ gặp An Điều ghi dấu đậm, sâu vào cảm quan của cậu, khiến cậu gần như sững sờ, là cái dáng điệu uyển chuyển, nhịp nhàng, linh động của An Từ cách đưa ngón tay út lên vén nhẹ một mảng tóc loà xoà, cho đến cách đưa lưỡi liếm nhẹ lên môi trên, cách rót một tách nước trà, cách gật đầu nhận một lời chỉ bảo, tất cả, tất cả đều vừa độ cần thiết Cử chỉ biểu lộ sự thân mật dịu dàng, đồng thời cũng giữ riêng cho An một sự bí mật tôn nghiêm Huệ chưa bao giờ gặp sự hoà điệu như vậy giữa hai đòi hỏi gần như mâu thuẫn là sự cởi mở thân tình và sự gói ghém kiêu hãnh nơi một người con gái Cậu cũng ngạc nhiên khi thấy cô gái có dáng điệu trang nhã và thân mật ấy còn giữ nguyên nét trẻ thơ trên khuôn mặt Nước da ửng sáng trên đôi má bầu bĩnh Cái môi trên mọng Chỉ trừ đôi mắt buồn trước tuổi Huệ nghĩ có lẽ nhờ đôi mắt ấy mà khuôn mặt và cử chỉ của An hoà hợp nhau, tiết ra một sức hấp dẫn đến lạ lùng Cậu đau khổ công nhận giữa cái đẹp xa lạ ấy và mình có hố cách biệt trang nghiêm; cậu không thể nói gì

Trang 32

thêm, không thể phác một cử chỉ nhỏ, vì bất cứ hành động nào của cậu cũng trở thành vụng về, thừa thãi trước vẻ đẹp toàn bích ấy Và lần đầu tiên trong đời, cậu thấy lúng túng, thất vọng cho sự vụng dại của mình" (trang 101) Tạo tình huống nghệ thuật, tình huống tiểu thuyết, tác giả chẳng những đã sáng tạo mà cũng là sự nhấn mạnh một tuyên ngôn về cái đẹp trong lẽ thường ở đời - Huệ và An, hai nhân vật: anh hùng và mỹ nhân Sự rung động trong tâm hồn Huệ là sự rung lên của thói đa tình Sự vụng dại đến

"thất vọng" của Huệ như là một tất yếu không tránh khỏi vì "mỹ nhân tự cổ như danh tướng" Huệ như bị hớp hồn trước vẻ đẹp thôn dã hoá của An Bản tình ca - tình yêu một phía, một sự "phải lòng" từ nơi Huệ và cũng chính từ cái tình huống đặc biệt này Tác giả đã xây dựng được mối quan hệ đặc biệt giữa Huệ và An đến tận cùng của thiên truyện Nguyễn Mộng Giác

đã khai thác mối quan hệ giữa anh hùng và người đẹp, tạo dựng, phát triển nhằm thế sự hoá, tiểu thuyết hoá lịch sử mà vẫn rất lịch sử Tình huống và tâm trạng của Huệ qua đoạn văn được xem là đầy chất thơ, chất điệu tâm hồn Tác giả dụng ý xây dựng và dùng nhân vật An là sức hấp dẫn của thiên truyện "là mối tình (tưởng tượng) giữa Nguyễn Huệ và cô con gái ông giáo Hiến Mối tình đó làm cho câu chuyện được thống nhất, lại qua đó tạo thêm những quan hệ khác làm sườn cho bộ truyện An là cứu cánh của thiên truyện" (lời tác giả- cuối sách) Việc thế sự hoá nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ, tác giả đặt trong một trật tự tuyến tính về thời gian và đặt trong mối quan hệ đời sống tình cảm và đạo nghĩa: tình yêu và tình thầy trò Mặc dù thế, thiên truyện không một chút vướng vào luận đề, giáo huấn Có thể xem nhân vật Nguyễn Huệ được tác giả thế sự hoá theo hai nhánh chính: tình yêu, tình thầy trò đặt trong trật tự tuyến tính Gia đình ông giáo Hiến là điểm hội tụ của việc thế sự hoá Hai nhánh tình yêu và tình thầy trò như hiện tượng song tuyến Tình thầy trò, đạo nghĩa thầy trò tạm kết thúc ở chương 48 của thiên truyện Trong tư cách là học trò, Nguyễn Huệ xuất sắc

Trang 33

trong nhận thức và tự tin Trước câu hỏi của thầy "các anh đã nhớ và hiểu hết chưa ?", Huệ trả lời rõ ràng dứt khoát "Dạ đã hiểu hết!" Học trò Huệ được ông giáo Hiến "phát hiện" những dấu hiệu của một tài năng lớn, niềm

hy vọng lớn lao như là sự cứu cánh cho hoàn cảnh của ông Ông hận Trương Phúc Loan "Uy thế của quốc phó lớn quá, tiền tài và thế lực át cả chúa" Mà đám con ông "Kiên đơn giản quá, ngoan ngoãn theo đường thẳng, không thể đi cùng cha vào những chuyện phức tạp quanh co Chinh hời hợt quá, bao nhiêu tâm trí dồn cả lên bắp thịt An và Lãng mẫn cảm quá, ông chỉ thấy chúng thích thơ Mãi đến nay, ông mới gặp được Huệ"(trang 104) Huệ được thầy coi như là người san sẻ, người gửi gắm những tâm sự, những thiếu hụt như một tri kỷ "và vì mừng rỡ, ông giáo quên cả giới hạn

của tuổi tác và kinh nghiệm sống của Huệ Ông bắt Huệ đọc "Sử ký"(trang

104) Nguyễn Mộng Giác đã học trò hoá một Nguyễn Huệ thiếu niên qua bài giảng của thầy, dường như xuất phát từ một đạo lý của dân tộc "không

thầy đố mày làm nên", đạo lý "tôn sư trọng đạo" của dân tộc Bài giảng "tựa

truyện du hiệp" trong sử ký, bài giảng mang ý nghĩa về chính đạo, lẽ hưng

phế, bậc chân nhân, lẽ tôi trung, tiết tháo nhà Nho , đối lập với những oan trái, những thực tại mà chính ông giáo Hiến đang hứng chịu "Hoá ra bao nhiêu tứ thư, ngũ kinh ông thuộc làu làu thời trai trẻ, lấy đó làm nền cho chí hướng và hành động chẳng qua chỉ là thứ bài trí hoa hoè nơi dinh thự bọn quyền thế Tua chỉ điều cột nơi chuôi kiếm vấy máu của kẻ cướp lớn Hạt trân châu đính trên mũ của kẻ ngồi kiệu Cái quạt hoa che giấu những cái liếc mắt đĩ thoã còn gì nữa trời hỡi ! cái gì đẩy ta đến tận bờ vực của phạm thượng thế này ! Không giật mình dừng lại kịp, ta sẽ lạc về đâu ? chỉ

vì giận tên Trương Tần Cối, uất cho cái chết thê thảm của bạn và cuộc đời long đong bấy lâu nay mà ta nghi ngờ đến cả chân lý vĩnh cửu, quật đổ nhân nghĩa hay sao? " (trang 105) Ông giáo Hiến tìm và coi Huệ như một

sự đồng điệu Trước những trái ngang cuộc đời như mặt trái của sách vở,

Trang 34

ông giáo không bứt ra khỏi được cái vòng luẩn quẩn giữa cao thượng sách

vở với thấp hèn, đê mạt của thực tại Song cũng chính ông tự "giật mình dừng lại kịp" Chính cái giật mình để hành động theo lời sách vở đã tạo nên một ông giáo Hiến bảo thủ, cố hữu với thuyết lý Nho gia trước vòng xoáy của lịch sử Nhân vật Huệ đã tiếp thu chính cái điểm mà người thầy không dám vượt khỏi Huệ xem xét lại cái chân lý sách vở với thực tiễn cuộc sống đầy biến động của thời đại Tác giả đã sáng tạo một Nguyễn Huệ vụt lớn

dậy trong nhận thức từ bài giảng "tựa truyện du hiệp", xem xét lại trật tự xã

hội, tầm nhìn chiến lược về thời cuộc khác hẳn với thầy, ông giáo Hiến - con người của sách vở là nạn nhân của lý thuyết sách vở Cuộc đời là mặt trái của sách vở Mặt trái ấy, đã làm xuất hiện trong ông giáo khối mâu thuẫn không giải thoát được Trái lại, khi tiếp xúc với sách vở, Huệ cứ trăn

trở mãi cái triết luận trong tựa truyện"Du hiệp" "ăn trộm lưỡi câu thì chết

chém Ăn trộm nước người thì phong hầu Cửa nhà hầu nhân nghĩa thiếu

gì đâu" Nhận thức của Huệ về thế cuộc thật đơn giản mà cũng thật lớn lao: làm nên nghiệp lớn như là "kẻ trộm lớn" - "trộm nước người" Thiếu là thiếu nghiệp lớn để ban phát nhân nghĩa mà trở thành "kẻ trộm lớn" chứ không thèm ăn trộm lưỡi câu "Thèm ăn cá mà chỉ dám ăn trộm lưỡi câu thì tội nghiệp" Thế sự hoá nhân vật Huệ, Nguyễn Mộng Giác đã đặt nhân vật trong tư thế học trò, trang bị cho nhân vật cách nhìn xa để đi xa hơn trong

tư thế của một nhân vật lịch sử lừng danh Nguyễn Mộng Giác đã lấp những "điểm trắng" của lịch sử về nhân vật lịch sử một cách hợp lý Điều đáng ghi nhận là sự hợp lý của "điểm trắng" lại rất hợp với cội nguồn của đạo lý dân tộc - sự hiếu học, tôn sư trọng đạo Vị thế được thế sự hoá - Nguyễn Huệ học trò cũng nhanh chóng dừng lại vừa để đảm bảo tính cần và

đủ trong việc thế sự hoá nhân vật vừa là bám chắc chủ điểm - Sông Côn đang mùa lũ Việc học hành khép lại vì "lũ" đã tràn bờ, sông dâng nước Mọi việc đều gián đoạn vì "lũ" sông Côn

Trang 35

*

* * Nhân vật Huệ còn được tác giả thế sự hoá bằng mối quan hệ với nhân vật hoàn toàn "hư cấu" là An Mối quan hệ này xét về nội dung của bộ truyện có tác dụng trữ tình hoá chất lịch sử của thiên tiểu thuyết lịch sử, nên

nó đòi hỏi sự cẩn trọng của nhà tiểu thuyết Mối quan hệ trên đặt nhân vật lịch sử, Nguyễn Huệ trong một tư thế mong manh và chông chênh như đi trong cái ranh giới giữa thế sự và lịch sử Nguyễn Huệ trong đời sống với tư cách là một con người và một Nguyễn Huệ tầm vóc vĩ nhân lịch sử Nhân vật An hư cấu hoàn toàn thuộc về tiểu thuyết, nhân vật An có tính cách, có

số phận riêng Xây dựng mối quan hệ Huệ - An đến độ "cá nước duyên ưa"

sẽ đẩy nhân vật Huệ trở thành sản phẩm được lãng mạn hoá bằng cảm quan của người viết Nhân vật An có số phận riêng còn có nghĩa là có đời sống thật như một con người thật ngoài cuộc đời Không tỉnh táo tác giả sẽ sa vào cuộc tình tay ba: Huệ - An - Lợi mang màu sắc hiện đại hoá Hoặc là, tác giả tô đậm mối tình tay ba Huệ - An - Lợi trăn đi, trở lại trong tác phẩm Giữa Huệ và An, tác giả đã có điểm dừng trong mối quan hệ đặc biệt này Đây chính là độ "tỉnh táo" của tác giả Huệ - An có mối quan hệ lãng đãng một tình yêu không quá đậm, không quá nhạt Nó vừa phải vì tác giả tỉnh táo nên có điểm dừng để mối quan hệ Huệ - An đẹp mãi trong cái ban sơ của tình yêu như gió mùa thổi mãi, như cái cây khát nắng Một tình yêu đi suốt mù lũ sông Côn, đi suốt thiên tiểu thuyết vẫn câm lặng vì chính tác giả chưa "cho phép" hai nhân vật này một lần thao thức đến "bổi hổi bồi hồi" Hoặc là, lời yêu mà trai gái vẫn trao gửi cho nhau Hoặc là những "việc làm" mà chỉ tình yêu mới có Hoặc là những cử chỉ bộc lộ tình yêu đậm đà thắm thiết Những cử chỉ âu yếm dành cho tình yêu chỉ thoảng qua, giây lát Bởi thế, mối quan hệ Huệ - An đã góp phần thế sự hoá nhân vật Huệ thành công trong thiên tiểu thuyết Nguyễn Mộng Giác đi giữa khoảng cách hẹp:

Trang 36

lịch sử và tiểu thuyết đã tạo ra nhân vật Huệ đi trong sự mong manh và chông chênh của tình yêu "tiểu thuyết" và tư thế vĩ nhân của lịch sử

Sau cái buổi gặp An ở nhà bếp, mối quan hệ Huệ - An thêm gần hai cái tết tác giả mới dàn dựng một "cuộc" trò chuyện Nhưng xem ra, Huệ -

An không gần gũi hơn mà trái lại như là điểm nhấn của sự ngăn cách - sự ngăn cách "tỉnh táo" của tác giả, sự ngăn cách của lịch sử Lần này cuộc trò chuyện được thể hiện qua hồi ức của An như là sự đối chiếu giữa Lợi, người con trai mà An có cảm tình với Huệ là người mà An ngưỡng mộ

"Một lần Huệ bắt gặp An đang ngồi may áo, và hoàn cảnh lúc đó không cho phép một trong hai người giả lơ tránh mặt nhau, vì làm như vậy là đi quá giới hạn cần thiết" Cuộc trò chuyện xoay quanh việc may áo - kiểu áo: nửa kinh, nửa núi và được kết thúc chẳng đi xa hơn được tý gì về tình cảm Có chăng chỉ là một ấn tượng không vui vẻ

"- Tôi chịu thua không hiểu nổi An, không hiểu nổi đàn bà Thôi bỏ qua mọi chuyện đi Cái áo này may xong chưa ? Phải nhận An may đẹp thật" (lời của Huệ)

"- An buông gọn hai tiếng cộc lốc:

- Cám ơn !" (trang 128)

Thông minh, sắc sảo trong tiếp thu kiến thức sách vở bao nhiêu, Huệ vụng về bấy nhiêu trong tiếp xúc với người con gái mà bản thân không ít cảm tình Cuộc trò chuyện kết thúc bằng hai tiếng cộc lốc " Cám ơn"! " như một dấu chấm câu trong chuỗi quan hệ giữa Huệ và An mà nội dung câu là con số không Thậm chí, còn tồi tệ hơn, cuộc trò chuyện mở đầu đầy thiện cảm: "Còn An thì sao" và kết thúc "không ngờ tôi lặt vặt nhỏ nhen chứ gì

?"(trang 128) Giọng xưng hô giận hờn của An làm cho mối quan hệ lần thứ hai này có điểm dừng "tỉnh táo" của tác giả Vì An là "Tài sản" của tác giả, Huệ là "Tài sản" của lịch sử Phần I của thiên truyện với tựa đề "Về An

Trang 37

phiêu bạt trốn chạy khỏi liên luỵ Cái "về" của nhân vật Huệ với vị thế của người học trò, của một chàng trai trong quan hệ với người con gái mà Huệ

có cảm tình Đây là hai nhánh chính đồng hành trong việc thế sự hoá nhân vật Huệ Vị thế học trò của Huệ được đặt dấu chấm hết bởi "lũ" sông Côn Lớp học, với bẩy học trò thành lớp học một thày với một trò duy nhất là Huệ Dòng sông đời, lũ đã dâng nạn đói hoành hành Ông giáo thường đi canh lúa đêm, học trò Huệ thức canh lúa cùng thầy Gia đình Huệ ở Kiên Thành bị đốt Kiên- con cả ông giáo Hiến bị bắt lính Huệ lên Tây Sơn thượng Chính trong đêm Huệ rời An Thái, tác giả đã thêm một lần để Huệ đối mặt với An Huệ chủ động gặp An "Huệ trở ra qua lối cửa sau nhà bếp, gặp An đang đứng ở đấy Anh dừng lại Bóng tối che giùm không cho hai người trông thấy vẻ bối rối của nhau An run run nói:

- Anh nhớ quấn khăn cổ Không lại cảm

Huệ cảm động, cả đời chưa được một người con gái nào ân cần dặn

dò như vậy nên cảm thấy hãnh diện, ngây ngất Anh muốn nói với An một câu gì thật âu yếm, thật đơn sơ mà chân thành như câu An vừa thốt ra Nhưng trong cơn lúng túng, tìm mãi không ra lời Huệ cố dằn xúc động nói:

- Cảm ơn An

Huệ ngước lên nhìn An, thấy tất cả vẻ đẹp quyến rũ của một nụ cười

e ấp Không tự chủ được mình, Huệ tiến tới định nắm lấy bàn tay An An rụt tay về, giọng hơi hốt hoảng:

Đừng , anh Huệ ! (cuối trang 173 dầu 174)

Nếu như An không rụt tay về thì quan hệ Huệ - An sẽ thế nào? Cái rụt tay của An cũng chính là cái "lạnh lùng"của tác giả, là cái duyên cớ hấp dẫn của tác phẩm Người đọc sẽ bị hút theo mối quan hệ Huệ - An tiếp diễn thế nào ở phần tiếp theo vì Huệ là nhân vật lịch sử?

Phần I của thiên truyện "Về An Thái" song kết thúc lại là đi khỏi An

Trang 38

trốn lên Tây Sơn thượng Triều đình đã phát động một cuộc khủng bố, đàn

áp quy mô, tái lập trật tự, thu vét số thiếu thuế, kiểm soát đám dân xiêu bạt, sống ngoài vòng pháp luật Ông giáo sắp trở thành nạn nhân của cuộc khủng bố thị uy ấy" (trang 174) Phần I là phần của "tiểu thuyết", của "thế sự" có thể xem là sự thành công ngay từ cái đáng lẽ "vạn sự khởi đầu nan" Phần này đã tạo ra được những cung bậc ngọt ngào làm nên chất tình ca toát

ra từ tình thày trò, từ tình cảm ban sơ của tình yêu giữa An - Lợi, hai nhân vật của tiểu thuyết (sẽ đề cập sau) và Huệ - An: một nhân vật lịch sử, một nhân vật tiểu thuyết Tác giả đã gắn nối thành công hai mảng lịch sử và tiểu thuyết trong tiểu thuyết lịch sử Hai yếu tố này hoà quyện nhuần nhuyễn thể hiện sự thành công, đồng thời cũng là sự cứng cáp của tác giả trong công việc cầm bút

ở phần I "về An Thái", nhân vật Huệ được thế sự hoá trong vị thế - học trò, em út; trong vị thế một tình yêu chớm nở Vị thế học trò đã chấm dứt ở An Thái Huệ đã thành niên, lớp học đã đóng cửa, vĩnh viễn khép lại trong năm mất mùa, nạn đói hoành hành - Sông Côn dâng "nước lũ" Đến phần II "Tây Sơn thượng", nhân vật Huệ được thế sự hoá ở những vị thế khác: Huệ trong không khí chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa, trong quan hệ: đàm đạo đại sự với thầy, trong quan hệ tình cảm với An ở phần II này, tính

hư cấu của thiên truyện như là sự chảy tràn cảm hứng của tác giả từ phần I Trong những vị thế mới của Huệ, tác giả đã bắt đầu nhen lên không khí sử thi của thiên truyện: khúc dạo đầu của bản anh hùng ca chiến trận đã cất lên cùng với những giai điệu âm hưởng tình ca trong quan hệ Huệ - An tiếp tục nảy nở trong sự "lạnh lùng" của lịch sử Phần này, tác giả dường như chưa

bị chất lịch sử ước thúc cho nên dù là phần ngắn nhất của thiên truyện - chỉ gồm 5 chương (từ chương 13 đến chương 17 - từ trang 177 - trang 262), song góp phần quan trọng chuyển dịch nội dung truyện vào vòng xoáy

Trang 39

khởi nghĩa, Nguyễn Huệ đã được thế sự hoá trong một cuộc bàn thảo về dấy nghiệp lớn Tầm nhìn chiến lược, sắc sảo của Huệ được tác giả thể hiện qua lời bàn về việc xây thành Nguyễn Nhạc muốn xây thành để "tượng trưng cho quyền uy vạn năng" thì Nguyễn Huệ cho rằng cái thành ấy chỉ "được xây trên khói núi" Huệ nói bằng lời lẽ sắc bén và tầm nhìn chiến lược, đầy thuyết phục " xây xong một thành nhỏ hơn thành Qui Nhơn một chút thì phải mất bao nhiêu năm? Vả lại có cần phải xây thành không đã ? Để tạo quyền uy ư? thành quách lâu đài cao rộng như thành Phú Xuân có tạo được chút uy nghi nào không, ngoài những lời xầm xì về trò dâm dật của thằng bé con 12 tuổi ( Duệ Tôn ) và chứng tham lam của tên quốc phó Để phòng ngự ư? Quanh đây là núi, có thành nào cao cho bằng? Đèo An Khê hiểm yếu có cửa thành nào vững cho bằng? Không xây thành vì Trời đã xây sẵn cho ta cả toà thành hùng vĩ bảo vệ ôm ấp Tây Sơn thượng rồi " (trang 189) Nhận thức của Huệ đã đi xa, vượt khỏi tầm nhìn của dân núi, của một cậu học trò ngày nào Tác giả thế sự hoá Nguyễn Huệ ở phần II này như một con người hoàn chỉnh từ nhận thức có tầm chiến lược đến những việc làm có tầm chỉ huy, lãnh tụ Nhân vật Huệ, qua tâm trí của ông giáo Hiến:

"ông là kẻ trốn nạn, anh em Huệ là người bao che Hơn nữa, chính tại Tây Sơn thượng,ông thấy Huệ giúp anh đảm nhiệm các công việc quản trị, điều khiển, quyết định nhiều vấn đề trực tiếp thay đổi đời sống của nhiều người, trong đó có gia đình ông"( trang 190) Dường như, tác giả chưa thấy thoả đáng khi với dụng ý "xây dựng" Nguyễn Huệ ở tầm nhìn chiến lược, ở tầm quản lý vĩ mô Nguyễn Huệ còn được thể hiện ở góc độ của con người có tầm tư tưởng lớn Tác giả dàn dựng cuộc trao đổi giữa Nguyễn Huệ và ông giáo Hiến, lúc này đã trở thành vị "quân sư " chưa chính thức của anh em Nhạc, Lữ, Huệ Bàn về lẽ hưng phế, ông giáo Hiến có cái nhìn cố cựu về chúa Nguyễn - tám đời chúa như tám cái cột vững chắc, ví chế độ chúa Nguyễn như ngôi nhà chỉ dột, chỉ hỏng rui mè; cái nền Nho vững chắc Trái

Trang 40

lại, Nguyễn Huệ lại cho rằng "Người dân dốt nát không đọc được kinh truyện, lại là kinh truyện khó hiểu từ bên Tàu đem sang, nên suốt đời nem nép lo sợ Đến một lúc nào đó, tình thế đẩy họ vào đường cùng, họ không

sợ hãi nữa mà hoá liều thì tám cây cột kia sẽ thế nào ? Người còn có một mái nhà để về thì còn băn khoăn suy tính nên dọi mái hay thay kèo Nhưng đối với hạng cố cùng xiêu giạt nay đầu đường, mai xó chợ, bữa no, bữa đói, chết còn sướng hơn sống thì những điều từ nãy đến giờ con với thầy nói với nhau phỏng có ích gì ! Hỏi họ, họ sẽ đồng thanh đòi phá hết, làm lại hết" (trang 224) Kết thúc buổi đàm đạo, Huệ chuyển lời Nhạc tới ông giáo, nhờ ông giáo viết hịch "chỉ cần ngăn ngắn thôi", song sự sắc sảo của Huệ thêm một lần được thể hiện " con nghĩ con nghĩ ta nên viết bằng chữ Nôm Đa

số dân chúng không đọc được chữ Hán, họ không hiểu " (trang 205) Nhân vật có tầm vóc lịch sử - Nguyễn Huệ một lần nữa được đặt trong quan hệ với An Mối quan hệ được tác giả dàn dựng ở Tây Sơn thượng đi xa hơn một bước nữa, nhưng chỉ dừng ở mức độ mơ hồ Cuối cuộc đàm thế sự với thầy, Huệ gặp An Suốt chiều dài cuộc gặp gỡ, đối thoại giữa Huệ và An dài

cả hai trang sách, tác giả để kết thúc bằng điểm dừng mơ hồ về tình yêu An gọi Huệ là anh, xưng em ngọt ngào nhưng nấc thang tình cảm dường như vẩn vơ "Em nói thật Em không có tài ăn nói rành rọt, có đủ đầu đuôi như anh Nhiều hôm cha em bực, gắt lên "ăn nói chẳng ra đâu vào đâu cả!" Nói chuyện với em chỉ rước cái bực mình vào thân mà thôi "(trang 227) Những lời nói vẩn vơ chẳng có chủ ý của lời tình yêu nhưng Huệ đến với An và cuộc trò chuyện làm cho không khí căng thẳng trong những ngày tị nạn của những người " đồng cảnh " lại đang chuẩn bị mưu sự việc lớn chùng xuống Cuộc trò chuyện ví như nét hoa văn trên bức hoạ toàn cảnh cuộc sống tỵ nạn vùng Tây Sơn thượng Sau những lần tập kích như là sự tập dượt của sự nghiệp dấy binh, một lần nữa, Huệ được thế sự hoá trong ý tưởng sắp được

về quê Cái không khí, Huệ và Lãng (em An) cười đùa ồn ào về những câu

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w