Nghiên cứu lịch sử cuộc đời là một trong những phương pháp tiếp cận nhân học trên thế giới được sử dụng phổ biến.. Trong việc nghiên cứu lịch sử cuộc đời của nhà khoa học, Trung tâm đã s
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ LIÊM
LỊCH SỬ CUỘC ĐỜI NHÀ KHOA HỌC
NGUYỄN VĂN NHÂN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HÓA
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 60 31 06 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học ã h i Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Huy
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Xuân Kính
Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Thị Hiền
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 9 giờ 30 ngày 23 tháng 4 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Lịch sử luôn bắt đầu từ mỗi cá nhân, mỗi gia đình Lịch sử đất nước sẽ được nhìn phong phú hơn, đa dạng hơn nếu bắt đầu từ mỗi cá nhân, mỗi gia đình… Mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi dòng tộc nếu có điều kiện và biết cách kể câu chuyện của mình thì sẽ góp phần làm cho lịch sử của đất nước phong phú hơn, đa dạng hơn”
Nghiên cứu lịch sử cuộc đời là một trong những phương pháp tiếp cận nhân học trên thế giới được sử dụng phổ biến Ở Việt Nam cũng
có rất nhiều nhà nghiên cứu về những nhân vật khác nhau về các nhân vật lịch sử như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phan Bội Châu… Trung tâm lưu trữ Quốc gia cũng đang lưu trữ các tài liệu về cuộc đời của một số nhân vật Đây là công việc hết sức quý giá trong việc gìn giữ, bảo tồn di sản của đất nước
Năm 2008, Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam được thành lập với chức năng nghiên cứu, bảo tồn và lưu giữ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể thông qua tiểu sử, ký ức, tư liệu
và hiện vật cá nhân của các nhà khoa học Việt Nam Trong việc nghiên cứu lịch sử cuộc đời của nhà khoa học, Trung tâm đã sử dụng cách tiếp cận - phương pháp nghiên cứu lịch sử cuộc đời để kể các câu chuyện của nhà khoa học Ngay từ những ngày đầu thành lập, các nhà khoa học chuyên ngành y học đã được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu trước, sau đó lan rộng ra các chuyên ngành khác
Trong quá trình nghiên cứu về các nhà khoa học thuộc ngành
y, tôi vô cùng ấn tượng với GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân
Trang 4(1924-2013) Mặc dù ông không phải là một vị giáo sư nổi tiếng như Giáo
sư Tôn Thất Tùng hay Giáo sư Hồ Đắc Di nhưng ông lại là hiện tượng hiếm thấy ở Việt Nam khi bảo vệ luận án tiến sĩ (nay gọi là tiến sĩ khoa học) ở tuổi 67 Sinh tại Hội Vũ, Hoàn Kiếm, Hà Nội, ông
là nhà khoa học thuộc chuyên ngành phẫu thuật chỉnh hình, nguyên
là Chủ nhiệm Khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, được đào tạo ở Liên Xô cũ Khi nghiên cứu, chúng tôi mới biết ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về Chấn thương chỉnh hình quân đội, người lập ngân hàng xương đầu tiên ở Việt Nam, có nhiều sáng kiến, đóng góp trong việc áp dụng các kỹ thuật mới trong phẫu thuật xương
Cũng như với nhiều nhà khoa học khác, việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân là một công việc hết sức cần thiết để thông qua đó có thể hiểu được bối cảnh lịch sử; những đóng góp của GS Nhân đối với ngành Chấn thương chỉnh hình nói riêng và ngành Y học nói chung; bên cạnh đó cũng thấy được phẩm chất của một thầy thuốc với trái tim nhân hậu, luôn hết lòng vì người bệnh và say mê nghiên cứu khoa học Đây chính là
lý do tôi quyết định lựa chọn đề tài “Lịch sử cuộc đời nhà khoa học Nguyễn Văn Nhân dưới góc độ văn hóa” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Văn hóa học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở phần này chúng tôi giới thiệu những bài viết về GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân Chưa có một công trình nghiên cứu nào tổng thể
Trang 5nói về GS Nhân nên đề tài đi sâu nghiên cứu về lịch sử cuộc đời GS Nhân dưới góc độ văn hóa
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thông tin về lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân gắn liền bối cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế, thông qua việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử cuộc đời
- Bước đầu đưa ra những nhận định về giá trị của việc nghiên cứu lịch sử cuộc đời nhà khoa học trong việc bảo tồn di sản của nhà khoa học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhà khoa học Nguyễn Văn Nhân
- Phạm vi nghiên cứu: Lịch sử cuộc đời nhà khoa học học Nguyễn Văn Nhân từ năm 1924 đến năm 2013
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu nhân học về về lịch sử cuộc đời một con người, cụ thể:
Phương pháp sử học: Đặt lịch sử cuộc đời của Nguyễn Văn Nhân gắn liền với bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế
Phương pháp quan sát tham gia, phỏng vấn trực tiếp GS Nhân khi ông còn sống và các đối tượng liên quan như đồng nghiệp, học trò, bệnh nhân.Nguồn tư liệu này có được là do sử dụng tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam và tác giả luận văn cũng thực hiện phỏng vấn khi công tác tại Trung tâm
Trang 6Phương pháp phân tích, tổng hợp các thông tin thu được từ việc phỏng vấn; phân tích tổng hợp các văn bản tài liệu bản thảo, thư
từ, sách, tạp chí, luận văn của Nguyễn Văn Nhân hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Qua các câu chuyện về lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân, phần nào thấy được bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam và quốc tế giai đoạn ông sinh sống, học tập, công tác; những câu chuyện về nỗ lực học tập, sáng tạo của nhà khoa học trong thời kỳ khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển; góp phần tìm hiểu lịch
sử của chuyên khoa Chấn thương chình hình nói chung và ngành Y nói riêng Qua đó thấy được giá trị của việc nghiên cứu lịch sử cuộc đời trong việc bảo tồn di sản của các nhà khoa học
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phần phụ lục, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ CON NGƯỜI VÀ LỰA CHỌN
NGÀNH Y CỦA NGUYỄN VĂN NHÂN
1.1 Bối cảnh Việt Nam những năm thế kỷ XX
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 là dấu mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam Tháng 8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã khởi nghĩa giành chính quyền
Trang 7thành công, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945
Mùa xuân năm 1975, trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc và được sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý và tiến
bộ trên thế giới, các lực lượng vũ trang yêu nước Việt Nam đã thực hiện cuộc tổng tiến công đập tan Chính quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Ngày 25/4/1976, nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà được đổi tên thành nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam và Bắc
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối Đổi mới với trọng tâm là đổi mới kinh tế Đây là một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam thời kỳ mới
1.2 Dòng họ, gia đình Nguyễn Văn Nhân
GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân sinh ngày 12-8-1924 tại Vũ Hội, Hoàn Kiếm, Hà Nội Có thể nói truyền thống gia đình là một trong những yếu tố quyết định đến việc lựa chọn ngành Y của Nguyễn Văn Nhân
1.3 Đến với ngành Y và những yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách của Nguyễn Văn Nhân
Con đường đến với ngành Y của Nguyễn Văn Nhân xuất phát từ truyền thống gia đình cũng như từ những sở thích cá nhân của ông Khi đã có sẵn những định hướng về nghề nghiệp, Nguyễn Văn Nhân quyết tâm theo đuổi học tập để trở thành người thầy thuốc cứu chữa cho các thương bệnh binh Có được những kiến thức chuyên môn, Nguyễn Văn Nhân không quên sự dìu dắt của các thầy đầu ngành, đặc biệt là hai người thầy ảnh hưởng tới ông nhất là BS
Trang 8Hoàng Đình Cầu và BS Nguyễn Hữu Chính trong thời gian hoạt động trong tổ chức Hướng đạo sinh và ảnh hưởng từ hai người thầy lớn, rồi qua quá trình hoạt động trong quân đội đã hun đúc bản lĩnh của người bác sĩ quân y Nguyễn Văn Nhân
Chương 2: HOẠT ĐỘNG VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA
NGUYỄN VĂN NHÂN 2.1 Các công trình nghiên cứu khoa học của Nguyễn Văn Nhân
Quan điểm của GS Nhân trong nghiên cứu khoa học ngay từ những công trình đầu tay, ông đã luôn thể hiện phương pháp nghiên cứu có phân tích - phê phán, mạnh dạn ủng hộ và áp dụng những đường hướng kỹ thuật tiến bộ; luôn có phương pháp nghiên cứu sáng tạo; luôn tìm tòi để có những đóng góp mới, có những đóng góp cá nhân Dưới đây là các công trình nghiên cứu tiêu biểu của GS Nhân
* Đề tài: Điều trị Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn
xương cẳng chân bằng phương pháp phẫu thuật Đây là công trình
nghiên cứu khoa học đầu tiên của Nguyễn Văn Nhân
Sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, năm 1955, BS Nguyễn Văn Nhân cùng các bác sĩ thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau được nhà nước chọn lựa cử đi học ở Liên Xô để nâng cao tay nghề và học tập các chuyên khoa Đây là đoàn thực tập sinh Việt Nam đầu tiên về y tế theo chương trình Nghiên cứu sinh ở Liên
Xô do BS Hoàng Đình Cầu làm Trưởng đoàn
Trước khi lên đường đi học, tất cả các học viên được học chỉnh huấn cũng như được định hướng về các chuyên ngành học
Trang 9Bằng phương tiện tàu hỏa, các ông sang Trung Quốc, nghỉ lại Trung Quốc và tiếp tục đi tàu hỏa sang Liên Xô vào cuối năm 1955
Ấn tượng đầu tiên khi ông đặt chân tới Liên Xô đó là tình cảm của con người xứ sở Bạch Dương dành cho các bác sĩ trẻ Việt Nam "Họ rất quý chúng tôi Trong đoàn có BS Hoàng Đình Cầu là lớn tuổi nhất, lên tàu điện ngầm còn được một bà người Nga nhường
chỗ Họ gọi chúng tôi là mantrick vì chúng tôi còn rất trẻ."-
GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân nhớ lại
Sang Liên Xô, thời gian đầu các ông được học tiếng Nga, chủ yếu học tiếng Nga thông qua tiếng Pháp Khi làm Thực tập sinh, ông cùng BS Vũ Tam Hoán và BS Vũ Trọng Kính được phân công học về ngành Phẫu thuật xương "Khi có chiến tranh, số thương binh
có thể chiếm đến 60-70% nên bản thân ngành phẫu thuật xương cũng rất quan trọng"- GS Nguyễn Văn Nhân nhấn mạnh Sau 2 năm làm Thực tập sinh về đề tài "Điều trị Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương cẳng chân bằng phương pháp phẫu thuật" tại Viện Chấn thương Chỉnh hình Trung ương Liên Xô (SITO), ông được chuyển tiếp làm Nghiên cứu sinh
Qua việc tra cứu các y văn của Liên Xô và thế giới, Thực tập sinh Nguyễn Văn Nhân thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề điều trị Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương Tuy nhiên, đa số công trình đã công bố tập trung vào vấn đề điều trị Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương thời chiến, còn về loại Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương ở thời bình, đặc biệt về nguyên nhân phát sinh những di chứng này thì còn ít được đề cập đến
Trang 10Trong khi đó, Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương ở cẳng chân lại phổ biến nhất so với các vị trí khác và điều trị cũng khó khăn nhất do một số đặc điểm giải phẫu sinh lý đặc thù của đoạn cẳng chân
Và cũng từ thực tế của đất nước cần giải quyết các di chứng vết thương chiến tranh ở thời bình, BS Nguyễn Văn Nhân đã lựa chọn đề tài
"Điều trị Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương cẳng chân bằng phương pháp phẫu thuật" mà ông được phân công thực hiện khi làm Thực tập sinh, để phát triển thành luận án Phó Tiến sĩ
Luận án được BS Nguyễn Văn Nhân thực hiện tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Viện Hàn lâm Y học Liên Xô dưới sự hướng dẫn của Viện sĩ hàn lâm Y học Liên Xô GS.N.N Priorov-Giám đốc SITO Bên cạnh đó ông cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, tận tụy của bà Mari Ivan Panova-Chủ nhiệm Khoa
* Ngân hàng xương
Sau khi bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ năm 1960 ông
về nước, với mong muốn đưa một số thành tựu kỹ thuật đã được nghiên cứu toàn diện về phương pháp sử dụng xương đồng loại trong Chấn thương - Chỉnh hình để áp dụng vào điều kiện thực tế của nước
ta trong công tác điều trị gẫy xương
Ở miền Bắc, xương đồng loại được sử dụng lâm sàng đầu tiên ở khoa Chấn thương-bệnh viện Việt Đức, nhưng phương pháp bảo quản ở độ lạnh -100C còn mang những nhược điểm cơ bản là không sử dụng được những miếng ghép lớn và thời hạn bảo quản chỉ được không quá 3 tuần
Trang 11Để đáp ứng nhu cầu tạo hình ngày càng lớn mà ghép xương
tự thân không thỏa mãn được, từ tháng 2-1962, tại khoa Chấn thương-Quân y viện 108, GS Nguyễn Văn Nhân và đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện đầu tiên phương pháp trữ xương đồng loại ở độ lạnh sâu: -250
C, -200C và lập ra “Ngân hàng xương” hay còn gọi là “Băng xương”- nơi thu gom lấy xương, bảo quản để sử dụng và phân phát xương tới các bệnh viện khác
GS Nguyễn Văn Nhân chia sẻ: “Việc lấy xương để đưa vào băng xương được lấy từ những tử thi chọn lọc, trong điều kiện buồng
mổ vô trùng Và tốt nhất, việc lấy xương được thực hiện trong 6h đầu sau tử vong Các miếng ghép sau khi lấy từ tử thi được làm theo một quy trình: Lấy mảnh ghép đóng gói trong các chai lọ, hộp đã tiệt trùng, được gắn đậy kín, làm đông lạnh ở ngăn tủ -250
C, sau 6h chuyển sang ngăn tủ -200C và bảo quản cho đến khi dùng Các miếng ghép chỉ được phép sử dụng khi các xét nghiệm tử thi bình thường, không mang những mầm mống gây bệnh cho người sử dụng xương sau này và các xét nghiệm cấy trùng là âm tính”
Với những ưu điểm của xương đồng loại bảo quản đông lạnh được cơ thể bệnh nhân tiếp nhận tốt, ít gây biến chứng thải loại, xương đồng loại cứu được nhiều bệnh nhân bị gãy xương đã được lành lặn, trở
về cuộc sống chiến đấu, lao động bình thường Đây cũng là nơi cung cấp các miếng ghép cho các khoa chấn thương, mặt hàm-Viện 108; các khoa chấn thương của bệnh viện Việt-Đức, bệnh viện Việt-Pháp
Bên cạnh đó BS Nguyễn Văn Nhân còn sáng tạo ra phương pháp bảo quản xương bằng mật ong: Trong dân gian, mật ong được
Trang 12biết đến với nhiều tác dụng khác nhau đặc biệt là có tác dụng sát trùng, điều trị vết thương chiến tranh, bảo quản xác Từ những kinh nghiệm cổ truyền và áp dụng kinh nghiệm từ các đơn vị quân y giải phẫu, kinh nghiệm trên thế giới , trước những yêu cầu cấp thiết như trên, cuối những năm 60, tại Khoa Chấn thương, Quân y Viện 108,
BS Nguyễn Văn Nhân cùng đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu thực hiện phương pháp bảo quản xương đồng loại bằng dung dịch mật ong Phương pháp này thuận lợi trong hoàn cảnh chiến tranh, điện lưới không được đảm bảo Tuy nhiên, đây là phương pháp thủ công nên không được ứng dụng trong thời gian dài
* Dụng cụ kết xương bên trong
Qua sự tìm tòi, nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ của bộ phận
Cơ khí sửa chữa Cục quân y, Giáo sư cùng đồng nghiệp đã tìm ra biện pháp cải tạo nẹp Danis Nội dung cải tiến nhằm thay đổi chi tiết vít ép nằm ngay trong chiều dày của nẹp Denis, bằng một chi tiết ép
có thể tháo rời, hoặc bằng một dụng cụ ép riêng biệt Điều này không những làm cho nẹp mỏng nhẹ đi nhiều, vẫn vững chắc mà còn sử dụng được nguyên liệu thép không gỉ dàn đập từ những đinh nội tủy
cỡ lớn đã có thừa để tự sản xuất lấy các cỡ nẹp
Mẫu nẹp cải biên được sử dụng ở khoa Chấn thương - Chỉnh hình V108 từ tháng 6.1960 để điều trị các gãy xương, khớp giả và mất đoạn xương không nhiễm khuẩn chủ yếu là ở chi trên
Ngày 3/4/1962, mẫu nẹp cải biên đã được Hội đồng khoa học Viện Quân y 109 xét duyệt và được Bộ Y tế công nhận và giới thiệu
dự triển lãm Sáng kiến cải tiến toàn quốc năm 1962
Trang 13* Mẫu dụng cụ nâng xương
Sau khi lựa chọn phương pháp phẫu thuật và dụng cụ nâng xương phù hợp và hiệu quả, ông phối hợp với Xưởng Cơ khí sửa chữa và Nghiên cứu sản xuất dụng cụ phẫu thuật của Viện SITO để thiết kế và sản xuất thử mẫu nâng xương này Sau nhiều lần thay đổi sửa chữa, một mẫu dụng cụ nâng xương mới ra đời, dụng cụ này
“được làm bằng thép không gỉ dày 15mm, có bề rộng 8x6cm, hình chữ nhật, một đầu có móc cong (3x2cm), một đầu là tay cầm dài 12x3cm, tray cầm và thân dụng cụ tạo một góc 150 độ Thân dụng cụ rộng và hình chữ nhật, banh tách và che chắn an toàn cho mô cơ trên suốt trường mổ, tay cầm bẻ góc 150 độ làm tay người phụ mổ tách xa trường mổ, tăng độ an toàn, thoải mái” Dụng cụ ra đời đã được sử dụng thử nghiệm tại SITO Cuộc thử nghiệm thành công cho những trường hợp không liền xương, khớp giả, mất đoạn xuơng ở cẳng chân Hội đồng nghiên cứu sáng kiến cải tiến của Viện SITO nhận xét: “Mẫu dụng cụ mới thực sự có tác dụng tốt: bảo đảm an toàn cho cuộc mổ và tạo điều kiện thuận tiện cho phẫu thuật viên” Và dụng cụ nâng xương này được đưa vào sử dụng ở SITO từ năm 1958
Tháng 3-1960, Hội đồng xét duyệt sáng kiến-phát minh trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã công nhận Mẫu dụng cụ nâng xương là một cải tiến mới và cấp bằng sáng chế, công nhận quyền tác giả cho Phó Tiến sĩ Nguyễn Văn Nhân Và năm 1962 dụng cụ này được phép sản xuất hàng loạt, đồng thời xếp vào danh mục “Dụng cụ
y tế xuất khẩu của Liên Xô”
* Dụng cụ kết xương bên ngoài