1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyển đổi doanh nghiệp theo quy định của pháp luật lào và việt nam dưới góc độ so sánh (luận văn thạc sĩ luật học)

87 209 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, vấn đề pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp đã được nhiều nhà khoa học của Việt Nam và Lào bàn luận đến trong các công trình khoa học nghiên cứu về chuyên ngành Luật hành chí

Trang 1

MONESAY PHINPACHAN

ĐỀ TÀI CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NHƯ PHÁT

Trang 2

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

MONESAY PHINPACHAN

Trang 3

Từ viết tắt Tên đầy đủ

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 6

1.1 Khái quát về chuyển đổi doanh nghiệp 6

1.1.1 Khái niệm chuyển đổi doanh nghiệp 6

1.1.2 Bản chất, đặc điểm, vai trò của chuyển đổi doanh nghiệp 8

1.2 Quá trình hình thành, phát triển của chế định chuyển đổi doanh nghiệp ở Lào và Việt Nam 11

1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển của chế định chuyển đổi doanh nghiệp ở Lào 11

1.2.2 Quá trình hình thành, phát triển của chế định chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam 14

1.3 Các tiêu chí so sánh pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp 16

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 21

2.1 Những điểm tương đồng trong các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp giữa pháp luật Lào và Việt Nam 21

2.1.1 Đối tượng chuyển đổi 21

2.1.2 Điều kiện chuyển đổi 26

2.1.3 Thủ tục chuyển đổi 30

2.1.4 Quy định về bảo vệ người thứ ba từ sự tác động của chuyển đổi doanh nghiệp 31

2.2 Những điểm khác biệt trong các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp giữa pháp luật Lào và Việt Nam 32

2.2.1 Đối tượng chuyển đổi 32

2.2.2 Điều kiện chuyển đổi 39

Trang 5

doanh nghiệp 49

2.3 Lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt và những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc so sánh quy định pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp Lào và Việt Nam 51

2.3.1 Lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt trong các quy định pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp Lào và Việt Nam 51

2.3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ việc so sánh quy định pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp Lào và Việt Nam 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62

Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 63

3.1 Nhu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 63

3.2 Các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 65

3.2.1 Hoàn thiện các quy định chung về doanh nghiệp 65

3.2.2 Bổ sung, sửa đổi các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp 68

3.3.3 Các giải pháp đảm bảo thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với quan điểm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những năm gần đây, Nhà nước Lào rất quan tâm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp Trong đó, những vấn đề về thành lập, tổ chức doanh nghiệp cũng dần được hoàn thiện Bắt đầu từ việc được quy định trong nhiều văn bản khác nhau, dần dần được tập trung và hoàn thiện trong một hệ thống luật văn bản chuyên ngành Tuy vậy, các văn bản pháp luật này, bên cạnh những thành công nhất định, còn bộc lộ nhiều nhược điểm, bất cập cả về nội dung pháp lý và kỹ thuật lập pháp Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc kìm hãm sự phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo ra sự phân bổ các nguồn lực không hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh và tính công bằng trong môi trường kinh doanh

Tình hình trên đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết, trong đó, một yêu cầu cấp thiết là phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng các vấn đề lý luận về pháp luật tổ chức, quản lý, điều hành doanh nghiệp Đồng thời, cần phải đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp của Lào trong tương lai

Trong đó, xuất phát từ những nguyên nhân lịch sử, văn hóa, chinh trị, Lào và Việt Nam khá tương đồng nhau về chính trị và pháp luật Tuy nhiên, Việt Nam, với những ưu điểm của đất nước đi trước, trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, đã có những bước tiến vượt bậc trong kỹ thuật lập pháp, tạo khung pháp lý khá hoàn thiện cho việc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Chính vì vậy, trong quá trình sửa đổi và hoàn thiện pháp luật Lào về tổ chức doanh nghiệp hiện nay, việc so sánh các quy định của pháp luật doanh nghiệp Lào nói chung, các quy định

về tổ chức doanh nghiệp nói riêng với pháp luật doanh nghiệp Việt Nam là điều vô cùng cần thiết Tuy nhiên, trong phạm vi một công trình nghiên cứu khoa học cấp thạc sĩ, việc nghiên cứu các nội dung về tổ chức doanh nghiệp là quá rộng Vì vậy, tác giả chỉ lựa chọn một khía cạnh trong đó - chuyển đổi doanh nghiệp

Cũng chính vì lẽ đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Chuyển đổi doanh nghiệp

theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh” làm luận văn

thạc sĩ luật học

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua thời gian tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình nghiên cứu đề tài, tác giả thấy rằng, chưa có công trình khoa học nào tại Việt Nam, tại Lào cũng như trên thế giới nghiên cứu riêng về vấn đề hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi doanh

nghiệp của Lào trên cơ sở so sánh, bài học kinh nghiệm thực tiễn từ Việt Nam Tuy

nhiên, vấn đề pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp đã được nhiều nhà khoa học của Việt Nam và Lào bàn luận đến trong các công trình khoa học nghiên cứu về chuyên ngành Luật hành chính; các giáo trình; sách tham khảo; một số đề tài khoa học; các luận án, luận văn; bài viết đăng trên các tạp chí khoa học và các hội thảo

khoa học, Cụ thể:

Tại Lào, do lịch sử phát triển và hình thành của pháp luật về doanh nghiệp

còn trẻ, sự quan tâm của nhà nước đối với doanh nghiệp còn chưa đúng mức nên hiện nay các công trình nghiên cứu về chuyển đổi doanh nghiệp còn chưa được quan tâm nhiều Vấn đề tổ chức lại doanh nghiệp mới chỉ được đề cập đến trong các công trình chung nghiên cứu về pháp luật doanh nghiệp Lào như: Bộ Công nghiệp

và Thương mại (2005), Pháp luật về doanh nghiệp, Nxb Thống kê, Viêng Chăn Bộ

Tư pháp (tháng 4, 2007), Giải thích pháp luật về doanh nghiệp nước Cộng hòa dân

chủ nhân dân Lào, Sách hợp tác với JICA (Japan International Cooperation

Agency); Phôthilat Phôm Phô Thi (2005), Tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước

trong nền kinh tế thị trường ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luận án tiến sĩ,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Beelee Yearseng (2011), Luật doanh

nghiệp năm 2005 của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh, Luận văn thạc sĩ Luật

học, Đại học Luật Hà Nội; Vathsana Lathtanaphanh (2011), "Cơ sở lý luận và thực

tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội; Xổm Xay Xỉ Hà Chắc

(2000), “Mấy vấn đề về hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế của Cộng hòa dân chủ

nhân dân Lào”, Luật học, (4), tr.42-48; Phô Thi Lát Phôm phô Thi (2001), “Sự cần

thiết khách quan tiếp tục đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Cộng

hòa dân chủ nhân dân Lào”, Giáo dục lý luận, (12), tr.25-28; Phô Thi Lát Phôm phô Thi (2003), “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước”, Alunmay, (5), tr.32-39 Các

công trình này chủ yếu nghiên cứu về tổ chức, quản lý doanh nghiệp nói chung,

Trang 8

chưa có công trình chuyên sâu nào đề cập đến việc hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp tại Lào đặc biệt là từ bài học kinh nghiệm của Việt Nam

Trong khi đó, ở Việt Nam, vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp, trước hết được

nghiên cứu trong các công trình chung như: Nguyễn Viết Tý (2012), Giáo trình

Luật thương mại tập I, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Đồng Ngọc Ba (2005), Cơ

sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam,

Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội; Trần Ngọc Liên (2002), Hoàn thiện

pháp luật về các loại hình công ty trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án

tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội;… Tiếp đó, đã có một vài công trình nghiên

cứu về chuyển đổi doanh nghiệp như: Hoàng Anh Tuấn (2012), Chuyển đổi hình

thức công ty theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học

Quốc gia Hà Nội; Lê Ngọc Huyền (2015), Vấn đề chuyển đổi hình thức giữa công

ty đối nhân và công ty đối vốn theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học,

Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Phạm Đức Trung (2006), “Chuyển đổi

doanh nghiệp nhà nước - Khó khăn và triển vọng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,

(4), tr 2 - 5; Đinh Dũng Sỹ (2011), “Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công

ty theo Luật doanh nghiệp 2005 có phải là “bình mới, rượu cũ”?”, Tạp chí Nghiên

cứu lập pháp, (16), tr 51 - 55…

Như vậy, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Chuyển đổi doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Lào trên cơ sở so sánh với pháp luật Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng của việc nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về doanh nghiệp và pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp; Hệ thống các quy định trong pháp luật hiện hành của Lào về doanh nghiệp dưới góc độ so sánh với Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận có liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp và pháp luật hiện hành về chuyển đổi doanh nghiệp của Lào

và Việt Nam

4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đưa ra phương hướng và các giải

Trang 9

pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào trên cơ sở các bài học kinh nghiệm rút ra

từ việc so sánh với pháp luật Việt Nam về chuyển đối doanh nghiệp

5 Các câu hỏi nghiên cứu

- Chuyển đối doanh nghiệp là gì? Bất chất của chuyển đổi doanh nghiệp?

- Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của Lào và Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển như thế nào?

- Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của Lào và Việt Nam có những điểm tương đồng và khác biệt nào?

- Các bài học kinh nghiệm có thể rút ra từ việc so sánh pháp luật Lào và Việt Nam về chuyển đổi doanh nghiệp?

- Việc hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp Lào cần có những giải pháp gì?

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Để nghiên cứu đề tài đã chọn, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin Đồng thời, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, thích hợp, như phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp Những phương pháp nghiên cứu hiện đại này bảo đảm độ tin cậy của những kết quả nghiên cứu của luận văn

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn này này là sự kế thừa, chọn lọc và phát triển những vấn đề lý luận

về doanh nghiệp và pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở CHDCND Lào và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam Sự hình thành và phát triển của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp chịu sự chi phối sâu sắc bởi cơ sở kinh

tế, trình độ phát triển của thị trường và các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng: chế độ chính trị, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán kinh doanh Luận văn nhận diện những quy định bất cập trong pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào và Việt Nam trong giai đoạn hiện nay dưới góc độ so sánh Đây sẽ là cơ sở để đánh giá thực trạng pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của Lào hiện nay để từ đó nghiên cứu, xây dựng phương hướng và các giải pháp cụ thể, hợp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của Lào

Trang 10

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chuyển đổi doanh nghiệp theo pháp luật Lào và Pháp luật Việt Nam;

Chương 2: Thực trạng quy định về chuyển đổi doanh nghiệp theo pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh;

Chương 3: Bài học kinh nghiệm và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP

THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1 Khái quát về chuyển đổi doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm chuyển đổi doanh nghiệp

Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là một nội dung của tái cấu trúc pháp lý doanh nghiệp: thay đổi hình thức pháp lý của tổ chức kinh doanh Theo đó, quá trình chuyển đổi doanh nghiệp có thể được xem là quá trình thay đổi, đặc điểm pháp

lý của doanh nghiệp, thay đổi mối quan hệ giữa các thành viên doanh nghiệp với nhau, thay đổi mối quan hệ về quản trị doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các thành viên doanh nghiệp với doanh nghiệp và đôi khi thay đổi quyền và nghĩa vụ của thành viên doanh nghiệp đối với doanh nghiệp trong khi doanh nghiệp vẫn tồn tại

và không ngừng hoạt động

Doanh nghiệp được tạo lập nên bới ý chí của các thành viên hoặc các thành niên Nên việc chuyển đổi phải được tự do theo sự lựa chọn của thành viên hoặc các thành viên Tuy nhiên, doanh nghiệp là một thực thể kinh doanh hay là một chủ thể của pháp luật hoặc có thể gây ảnh hưởng tới cộng đồng và người thứ ba

Maurice Conzian và Alain Viandier trong cuốn “Tổ chức lại công ty, Tập 2”, do Nguyễn Văn Bình và Lê Thị Tý (1989) dịch từ cuốn “Droit des Societes”

đưa ra khái niệm: “Cải hóa công ty là chuyển từ hình thái công ty này sang hình

thái công ty khác: công ty vô danh chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh chuyển thành công ty cấp vốn đơn giản, công ty dân dụng trở thành công ty vô danh”.1

Đây là khái niệm thể hiện đúng bản chất của việc chuyển đổi công ty nói riêng và chuyển đổi doanh nghiệp nói chung

Chuyển đổi doanh nghiệp là tổ chức lại doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp

sẽ thay đổi từ hình thức doanh nghiệp này sang hình thức doanh nghiệp khác, có nghĩa là thay đổi các yếu tố kết cấu chủ yếu để tạo lập thành các hình thức doanh nghiệp như: mối quan hệ giữa các thành viên, mối quan hệ giữa các thành viên với

Trang 12

doanh nghiệp, chế độ trách nhiệm của các thành viên đối với khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức quản lý nội bộ, quyền và nghĩa vụ của các thành viên…Việc thay đổi các yếu tố không ảnh hưởng tới hình thức doanh nghiệp do pháp luật đã xác định không được xem là thay đổi hình thức doanh nghiệp Ví dụ: Thay đổi vốn điều

lệ, thay đổi thành viên, thay đổi người đại diện theo pháp luật…

Nhƣ vậy, chuyển đổi doanh nghiệp là việc các doanh nghiệp chuyển từ loại

hình doanh nghiệp này sang loại hình doanh nghiệp khác để phù hợp hơn với quy

mô, sự phát triển và sự định hướng của doanh nghiệp Mặt khác, việc chuyển đổi

loại hình doanh nghiệp cũng giúp doanh nghiệp không phải giải thể do không đủ số lượng thành viên tối thiểu

Việc chuyển đổi doanh nghiệp không làm chấm dứt hoặc thay đổi nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp chuyển đổi vì về nguyên tắc doanh nghiệp là một thương nhân nên pháp nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ Bởi vậy, pháp luật chỉ can thiệp vào chuyển đổi doanh nghiệp ở các khía cạnh: thủ tục chuyển đổi, các trường hợp chuyển đổi, vân đề bảo vệ người thứ

ba, các khoản nợ của doanh nghiệp đối với người thứ ba trong trường hợp chuyển đổi hình thức doanh nghiệp Khi chuyển đổi doanh nghiệp mà tài sản của doanh nghiệp tăng lên thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp tăng lên theo

Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014) đã sắp xếp chuyển đổi doanh nghiệp và

“Chương IX – Tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh doanh nghiệp” và dự liệu các

trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp đó là: (1) chuyển đổi giữa công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) với Công ty cổ phần (CTCP) và ngược lại; (2) chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH hai thành viên trở lên; (3) chuyển đổi

từ doanh nghiệp tư nhận thành công ty TNHH Như vậy, pháp luật Việt Nam có ghi nhận khái niệm chuyển đổi doanh nghiệp, theo đó, doanh nghiệp bao gồm tất cả các thực thể kinh doanh, kể cả Doanh nghiệp tư nhân (DNTN), trừ những người buôn bán nhỏ lẻ và hộ kinh doanh Theo quy định của pháp luật Việt Nam, “doanh nghiệp” trong khái niệm “chuyển đổi doanh nghiệp” không bao gồm hợp tác xã (HTX), do HTX tổ chức và hoạt động theo một luật khác

Theo Điều 13, Luật Doanh nghiệp (2013) của Lào thì chuyển đổi doanh nghiệp là biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp cá

Trang 13

thể (DNTN), công ty TNHH và CTCP Theo đó, doanh nghiệp cá thể (DNTN) có thể chuyển đổi thành CTCP, còn công ty TNHH có thể chuyển đổi thành CTCP và ngược lại

1.1.2 Bản chất, đặc điểm, vai trò của chuyển đổi doanh nghiệp

* Bản chất

Về bản chất kinh tế và pháp lý, chuyển đổi doanh nghiệp chỉ là việc thay đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp, do chính doanh nghiệp đó quyết định, không làm tiêu biến thương nhân đó, cũng không thể khiến thương nhân đó rũ bỏ các khoản nợ đối với bên thứ ba Doanh nghiệp vẫn tồn tại liên tục về mặt kinh tế Điều

đó có nghĩa là việc chuyển đổi doanh nghiệp không làm chấm dứt nghĩa vụ trả nợ của thương nhân Tuy nhiên, việc chuyển đổi có thể làm biến đổi chế độ trách nhiệm của thành viên đối với các khoản nợ của doanh nghiệp Vì vậy, việc nghiên cứu các hình thức doanh nghiệp, nhất là về các đặc điểm pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu về chuyển đổi doanh nghiệp Như vậy, chuyển đổi doanh nghiệp là hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp, là quá trình chuyển từ loại hình doanh nghiệp này thành loại hình doanh nghiệp khác, diễn ra trong sự tồn tại liên tục của doanh nghiệp (với ý nghĩa là một thực thể kinh doanh) và có sự chuyển giao quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trước và sau chuyển đổi

* Đặc điểm

Doanh nghiệp (pháp nhân) là một thực thể pháp lý tách biệt với chủ sở hữu của nó Chuyển đổi doanh nghiệp có bản chất là một hành vi pháp lý Do đó, đặc điểm pháp lý của chuyển đổi doanh nghiệp rất phức tạp Các đặc điểm đó xuất phát

từ bản chất hợp đồng của sự chuyển đổi hay hành vi pháp lý đơn phương của sự chuyển đổi, đồng thời cũng xuất phát từ các yêu cầu đặc biệt của pháp luật nhằm bảo vệ trật tự chung của cộng đồng và các chủ sở hữu doanh nghiệp Có thể tóm tắt các đặc điểm của chuyển đổi doanh nghiệp như sau:

+ Về tính chất: Chuyển đổi doanh nghiệp là hoạt động mang tính thủ tục

pháp lý, theo đó, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường trước, trong và sau quá trình chuyển đổi

+ Chủ thể quyết định việc chuyển đổi: Chủ sở hữu doanh nghiệp (chủ

DNTN, thành viên công ty TNHH, cổ đông CTCP) là người quyết định nội dung,

Trang 14

hình thức, thời gian chuyển đổi doanh nghiệp

+ Lý do chuyển đổi: Lý do chuyển đổi mang tính tự nguyện nhằm triển khai

định hướng phát triển công ty phù hợp với điều kiện mới của chủ đầu tư, song cũng

có thể mang tính bắt buộc để tránh nguy cơ giải thể (ví dụ khi số lượng thành viên công ty giảm dưới mức tối thiểu nếu không muốn giải thể, lại không kết nạp thêm thành viên mới thì doanh nghiệp buộc phải thực hiện chuyển đổi)

+ Hệ quả pháp lý của việc chuyển đổi doanh nghiệp

Chuyển đổi doanh nghiệp sẽ làm thay đổi loại hình doanh nghiệp, do vậy, về thủ tục pháp lý, tất yếu sẽ phải cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp sau chuyển đổi

Chuyển đổi doanh nghiệp có thể dẫn đến thay đổi sở hữu doanh nghiệp, nếu khi chuyển đổi doanh nghiệp xuất hiện thêm thành viên công ty hay cổ đông mới Trường hợp này còn được gọi là chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, cũng

có những trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp không có sự thay đổi về chủ sở hữu doanh nghiệp mà chỉ thay đổi về loại hình doanh nghiệp, như trường hợp chuyển đổi DNTN thành công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu

Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp sau chuyển đổi đương nhiên kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp trước chuyển đổi

* Vai trò của chuyển đổi doanh nghiệp

Xét đến cùng thì mọi hành vi của con người đều chịu sự thúc đẩy của các lợi ích Do đó, họ luôn luôn oan tính để định đạt những gì thuộc về mình một cách hiệu quả Vậy, họ được thụ hưởng những gì khi chuyển đổi doanh nghiệp từ hình thức doanh nghiệp này sang hình thức doanh nghiệp khác? Tại sao họ không chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp cũ để thành lập mới với một hình thức doanh nghiệp mong muốn? Trả lời những câu hỏi này sẽ làm rõ vai trò và ý nghĩa của việc chuyển đổi doanh nghiệp nói chung

Một doanh nghiệp có thể là sở hữu của nhiều thương hiệu có giá trị hàng tỉ Đô la

Mỹ, ví dụ như thương hiệu Apple, BMW, Toyota… và có thể có một hệ thống bán hàng

đa cấp khắp thế giới hoặc có thể đang là thành viên của nhiều công ty khác… Trường hợp, vì một lý do nào đó cần hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp khác với hình thức doanh nghiệp hiện có, thì chủ nhân của nó có thể cân nhắc các phương án sau:

Trang 15

(1) Phương án thứ nhất: Thành lập thêm một doanh nghiệp mới và vận hành

đồng thời cả hai doanh nghiệp Phương án này sẽ làm tăng chi phí quản lý, chi phí nhân công và các chi phí khác như mua sắm trang thiết bị, thuê trụ sở… Như vậy,

họ có thể không đủ sức hoặc không thể tập trung vào cả hai doanh nghiệp cùng một lúc và dẫn đến giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh

(2) Phương án thứ hai: Thành lập doanh nghiệp mới và chấm dứt hoạt động

của doanh nghiệp cũ Phương án này phát sinh những vấn đề cụ thể như: không có căn cứ nào ràng buộc để người lao động phải làm cho doanh nghiệp mới và nếu họ

ở lại làm việc thì phải đàm phán, giao kết lại nhiều hợp đồng; doanh nghiệp mới không đương nhiên thừa kế các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cũ; doanh nghiệp mới có thể không duy trì được hệ thống khách hàng của doanh nghiệp cũ hoặc mất thương hiệu; đặc biệt doanh nghiệp cũ bị sự cản trở của pháp luật trong việc chuyển giao dự án cho doanh nghiệp mới

(3) Phương án thứ ba: Chuyển đổi doanh nghiệp, phương án này tạo ra

một doanh nghiệp mới có hình thức pháp lý theo nguyện vọng của nhà đầu tư, doanh nghiệp mới được kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được chuyển đổi

Xét về lợi ích kinh tế: Khi thực hiện việc chuyển đổi, nhà đầu tư không mất

nhiều thời gian để có được một doanh nghiệp mới theo đúng nguyện vọng của mình; doanh nghiệp được chuyển đổi đương nhiên chấm dứt hoạt động khi doanh nghiệp chuyển đổi được hình thành, nên không phải vận hành hai doanh nghiệp, không phải làm thủ tục chấm dứt doanh nghiệp được chuyển đổi; doanh nghiệp chuyển đổi có quyền thừa kế các lợi ích và phải kế thừa các nghĩa vụ, do đó doanh nghiệp chuyển đổi có thể được đảm bảo hoạt động bình thường ngay từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; việc thay đổi thông tin về chủ sở hữu đối với các tài sản được kế thừa từ doanh nghiệp này được đổi hết sức đơn giản và đặc biệt là doanh nghiệp chuyển đổi được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản được

kế thừa mà không phải chịu các chi phí như thuế và lệ phí Vấn đề quan trọng nữa

là có thể ổn định ngay bộ máy quản lý điều hành, nhân công lao động và vẫn đảm bảo được hệ thống khách hàng

Xét về mặt pháp lý: Việc chuyển đổi doanh nghiệp đảm bảo cho doanh

Trang 16

nghiệp chuyển đổi trở thành chủ sở hữu các tài sản được kế thừa một cách an toàn

và dễ dàng So với trường hợp thành lập doanh nghiệp mới và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp cũ thì trường hợp này có thể nói là rất an toàn về mặt pháp lý đối với vấn đề sở hữu tài sản, đặc biệt là các tài sản là bất động sản, các phương tiện vận tải có giá trị lớn, thương hiệu…; thủ tục kế thừa các nghĩa vụ như: thanh toán, giao hàng… cũng rất thuận lợi vì trong quá trình chuyển doanh nghiệp vẫn hoạt động bình thường

Như vậy, có thể thấy phương án chuyển đổi doanh nghiệp khắc phục được hầu hết các yếu điểm của hai phương án trên Việc chuyển đổi doanh nghiệp không những

có vai trò và ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn bảo đảm an toàn pháp lý cho chủ đầu tư

1.2 Quá trình hình thành, phát triển của chế định chuyển đổi doanh nghiệp ở Lào và Việt Nam

1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển của chế định chuyển đổi doanh nghiệp ở Lào

Sau khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Lào đã quan tâm nghiên cứu pháp luật doanh nghiệp nhằm phù hợp với điều kiện nền kinh tế của Lào Luật Kinh doanh đã được Quốc hội Lào khóa III, kỳ họp thứ bốn thông qua ngày 18/7/1994 và có hiệu lực ngày 13/8/1994 Luật Kinh doanh Lào (1994) được áp dụng đối với các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp tập thể, DNTN, công ty đối nhân, công ty TNHH, CTCP, doanh nghiệp liên doanh để tạo thêm cơ hội cho dân cư và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư vào sản xuất kinh doanh Việc quy định tất cả các loại hình doanh nghiệp đều áp dụng Luật Kinh doanh nhằm mục đích tập trung vào các quy định riêng lẻ, tản mạn đơn hành vào một văn bản chung thống nhất tạo tiền đề cho việc xây dựng một khuôn khổ pháp luật chung cho các loại doanh nghiệp thuộc các thành phần sở hữu khác nhau

Sau khi áp dụng một thời gian, nền kinh tế - xã hội Lào có sự thay đổi, trong

đó phải kể đến sự gia nhập và trở thành thành viên chính thức của ASEAN, cũng như các mục tiêu phát triển trong thiên nhiên ký mới, Luật Kinh doanh Lào (1994)

đã bộc lộ những thiếu sót nghiêm trọng, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện mới Trong bối cảnh đó, Luật Doanh nghiệp đầu tiên của Lào

Trang 17

được Quốc hội thông qua ngày 23/12/2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/1/2001 Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, và những non kém trong kỹ thuật lập pháp, sau 4 năm áp dụng, Luật Doanh nghiệp Lào (2000) đã tỏ ra

có nhiều bất cập, không đáp ứng được nhu cầu thực tế, thí dụ như: thời gian thành lập doanh nghiệp còn dài, cơ cấu tổ chức công ty chưa rõ ràng, không thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh, các quy định về tổ chức lại doanh nghiệp chưa được quan tâm… Những điều đó dẫn tới những khó khăn cho quá trình thành lập và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp Vì vậy, dưới sự tác động của hội nhập kinh tế, để đáp ứng yêu cầu của việc gia nhập WTO, việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Doanh nghiệp Lào (2000) là vô cùng cần thiết

Chính điều kiện kinh tế xã hội, yêu cầu hội nhập thế giới và chủ trương đường lối của Đảng đã tác động thúc đẩy sự ra đời nhanh chóng của Luật Doanh nghiệp Lào (2005) Luật Doanh nghiệp Lào (2005) đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp ở Lào, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Đồng thời, điều đó là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của các doanh nghiệp ở Lào, thể hiện việc từng bước hội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế giới Các chế định cơ bản trong Luật Doanh nghiệp Lào (2005) bao gồm: Đối tượng, phạm vi điều chỉnh; Các loại hình doanh nghiệp; Quản lý nhà nước về doanh nghiệp… Trong đó, các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp nói riêng, tổ chức lại doanh nghiệp nói chung đã được quan tâm ghi nhận với các điều khoản cụ thể Theo đó, Pháp luật về doanh nghiệp có cấu trúc bên trong bao gồm những chế định cơ bản sau: Các quy định về DNNN; Các quy định về DNTN; Các quy định về các loại hình công ty; Các quy định về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nội dung của từng chế định nêu trên đều chứa đựng những quy định về tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp, thể hiện ở những nội dung cơ bản sau: Xác lập tư cách pháp lý của doanh nghiệp; Tổ chức quản lý (nội bộ) của doanh nghiệp; Chế độ pháp lý về vốn và phân chia lợi nhuận; Quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp; Tổ chức lại doanh nghiệp; Chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp Ngoài ra,

để thực hiện có hiệu quả các văn bản pháp luật quy định về doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành với

Trang 18

nhiều cấp độ hiệu lực và phạm vi nội dung khác nhau Trong đó, chủ yếu và quan trong nhất là các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành (nghị định, nghị quyết) Ngoài ra, các vấn đề về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp còn được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành

Tuy nhiên, thực tế áp dụng cho thấy, Luật Doanh nghiệp Lào (2005) vẫn không tránh khỏi những hạn chế, bất cập, chưa thực sự phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, phần nào gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh Lào đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp Lào (2005) cho phù hợp với xu hướng hiện nay là vô cùng cần thiết, cấp bách để bảo đảm môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp

Trong bối cảnh Lào chính thức trở thành thành viên WTO, mở của hội nhập kinh tế quốc tế một cách mạnh mẽ, Lào đã tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp Lào (2005) Kế thừa những thành tựu của Luật Doanh nghiệp Lào (2005) và khắc phục những nhược điểm, bất cập của nó, năm 2013, Luật Doanh nghiệp (sửa đổi, bổ sung) đã được ban hành Đạo luật này đã thiết lập được các yêu cầu về môi trường pháp luật kinh doanh cụ thể, rõ ràng hơn, thông thoáng hơn, đồng bộ hơn, minh bạch hơn, công khai hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế hơn Các quy định của đạo luật này đảm bảo sự bình đẳng và tính cạnh tranh cao hơn nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của nền kinh tế là thúc đẩy tăng trưởng nhanh, ổn định trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển bền vững như đã đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược tăng trưởng xanh và Chiến lược phát triển bền vững đã được đề ra và phê duyệt

Luật Doanh nghiệp Lào (2013) được ban hành với ba mục tiêu chủ đạo là: (i) Các quy định phù hợp với thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp; (ii) Quy định

rõ ràng, cụ thể hơn về các quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp; (iii) Tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp Đồng thời, Luật Doanh nghiệp Lào (2013) kế thừa và phát huy có chọn lọc những mặt tích cực, cũng như khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật trước đây về doanh nghiệp như mở rộng và phát huy quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp, áp dụng thống nhất các thủ tục của Luật Doanh nghiệp về thành lập doanh nghiệp, mua

Trang 19

cổ phần, phần vốn góp đối với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Chính vì vậy, các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp được ghi nhận một cách cụ thể và rõ ràng hơn, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động này

1.2.2 Quá trình hình thành, phát triển của chế định chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam

Đến cuối năm 1990, đời sống kinh doanh của người Việt Nam chính thức thay đổi, mốc lịch sử này được đánh dấu bằng việc Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật Công ty điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, hoạt động và giải thể của CTCP và công ty TNHH

Sự ra đời của Luật Công ty (1990) đã đánh dấu sự ra đời của chế định chuyển đổi doanh nghiệp trong hệ thống pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam Tuy nhiên, đây chỉ là sự khỏi đầu, có thể nói là mang tính hình thức Việc chuyển đổi doanh nghiệp không có khả năng thực hiện được trên thực tế, bởi lẽ quy định tại Điều 10 Luật Công ty (1990) cho thấy rằng, về hình thức, nhà làm luật đã mở cửa cho tự do kinh doanh, tạo điều kiện và cơ hội cho thành viên công ty tự do thoả thuận và dự liệu các trường hợp chuyển đổi hình thức công ty Quy đinh tại Điều

27, mặc dù không chi tiết về tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định chuyển đổi doanh nghiệp và không có văn bản hướng dẫn hoặc giải thích của cơ quan có thẩm

quyền Tuy nhiên, câu chữ trong điều luật là “tất cả các thành viên phải được tham

gia quyết định” đã phần nào làm sáng tỏ ý chí của nhà làm luật rằng: việc chuyển

đổi doanh nghiệp phải do tất cả các thành viên biểu quyết tán thành Với điều kiện này, có lẽ việc chuyển đổi doanh nghiệp khó có thể được thực hiện, bởi lẽ sự đồng thuận của tất cả các thành viên trong một doanh nghiệp về một vấn đề rất khó khăn bởi xuất phát từ tư duy lợi ích giữa các thành viên hoặc các nhóm lợi ích Hơn nữa, Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 222/HĐBT ngày 23 tháng 7 năm 1991 ban hành quy định cụ thể hoá một số điều trong Luật Công ty cũng không có bất kỳ quy định nào hướng dẫn về trình tự thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp Ngày 22 tháng 6 năm 1994, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua Luật sửa đổi bổ sung Luật Công ty (1990) Tuy nhiên, Luật sửa đổi cũng không đề cập gì đến việc chuyển đổi doanh nghiệp Sau khi được sửa đổi, Luật Công ty (1990) được áp dụng đến ngày 01 tháng 01 năm 2000 cho đến khi Luật Doanh

Trang 20

nghiệp (1999) có hiệu lực Khoảng thời gian này không có văn bản nào quy định về chuyển đổi doanh nghiệp Như vậy, Luật Công ty (1990), Luật DNTN (1990) mới chỉ đi đầu mà không dẫn lối cho việc chuyển đổi doanh nghiệp, do đây là những văn bản luật đầu tiên về doanh nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho những CTCP, công ty TNHH đầu tiên ra đời

Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, các văn bản pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp lần đầu tiên được ban hành là các văn bản pháp luật về cổ phần hoá DNNN Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định

số 143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990 lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa

đề thí điểm chuyển đổi thành CTCP Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại ra Quyết định số 202/CT-HĐBT ngày 8 tháng 6 năm 1992 về thí điểm chuyển đổi một

số DNNN thành CTCP Có thể coi, các văn bản pháp luật về cổ phần hoá là các văn bản pháp luật đầu tiên về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam

Đối với khu vực đầu tư tư nhân, sau khi chấm dứt hiệu lực của Luật Công ty (1990), pháp luật về công ty của Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới, với nhiều đổi mới đáng kể Cụ thể, ngày 12 tháng 6 năm 1999, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X đã ban hành Luật Doanh nghiệp thay thế Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21 tháng 12 năm 1990 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công ty, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 22 tháng 6 năm 1994 Trong đó, Luật Doanh nghiệp năm (1999) quy định về chuyển đối doanh nghiệp tại Điều 109 và Điều 110, theo đó i) công ty TNHH có thể được chuyển đổi thành CTCP hoặc ngược lại; ii) công ty TNHH một thành viên được chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên khi trở thành chủ sở hữu công ty chuyển một phần vốn điều lệ cho tổ chức, cá nhân khác; ii) đặc biệt chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành DNTN với quy định như sau: Trường hợp chủ sở hữu công ty chuyển toàn bộ vốn điều lệ cho một cá nhân thì trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục chuyển nhượng, chủ sở hữu công ty phải yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên công

ty trong sổ đăng ký kinh doanh theo hình thức DNTN theo quy định của luật này Người nhận chuyển nhượng tiếp nhận tất cả các nghĩa vu, được hưởng tất cả các quyền và lợi ích hợp pháp của công ty TNHH, trừ trường hợp chủ sở hữu công ty,

Trang 21

người nhận chuyển nhượng và chủ nợ của công ty có thỏa thuận khác

Sau hơn sáu năm thực hiện, Luật Doanh nghiệp (1999) đã được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp (2005) có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 Đạo luật này, cùng với những văn bản hướng dẫn thi hành và một số văn bản khác như Nghị định 101/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006, đã thể hiện bước phát triển mới của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của Việt Nam Với đạo luật này, vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp được quy định tại Điều 154, 155 về chuyển đổi công ty Theo đó: Công ty TNHH có thể được chuyển đổi thành CTCP hoặc ngược lại; CTCP có thể được chuyển đổi thành công ty TNHH; Chuyển đổi công ty TNHH một thành viên thành công ty TNHH có từ hai thành viên; Chuyển đổi công ty TNHH có từ hai thành viên thành công ty TNHH một thành viên Thủ tục chuyển đổi công ty cũng được Luật Doanh nghiệp (2005) quy định một cách cụ thể Cùng trong Luật Doanh nghiệp (2005), cổ phần hóa DNNN lần đầu tiên được ghi nhận Tuy nhiên cũng giống như Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp (2005) chưa có quy định về chuyển đổi DNTN

Sau gần 10 năm thi hành, Luật Doanh nghiệp năm (2005) được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp (2014), có sự sửa đổi, bổ sung nhất định các quy định về tổ chức và hoạt động của các loại công ty cho phù hợp với bối cảnh thực tế Đây được coi là cuộc đột phá thể chế lần hai, thể hiện đúng tinh thần của Hiến pháp (2013) về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì pháp luật không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do kinh doanh, đầu tư Quy định về các hình thức chuyển đổi doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp (2014) có phạm vi rộng hơn, cụ thể hơn, đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp

1.3 Các tiêu chí so sánh pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp

Nội dung của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp bao gồm nhiều nhóm quy định pháp luật về các khía cạnh: quy định về các hình thức chuyển đổi doanh nghiệp; quy định về trình tự thủ tục tiến hành chuyển đổi doanh nghiệp; quy định về điều kiện để doanh nghiệp được tiến hành chuyển đổi doanh nghiệp; quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trước và sau khi chuyển đổi với bên thứ ba Chính vì vậy, việc so sánh pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp cũng chính là so

Trang 22

sánh các khía cạnh trên của pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp Trong đó:

Thứ nhất, quy định về các hình thức chuyển đổi doanh nghiệp

Như đã nói ở trên, chuyển đổi doanh nghiệp bao gồm các phương án tổ chức lại doanh nghiệp sao cho hiệu quả và phù hợp Thông thường, chuyển đổi doanh nghiệp gồm các hình thức chuyển đổi sau:

Một là, việc chuyển đổi công ty TNHH thành CTCP, do đó, công ty TNHH

có thể là TNHH một thành viên hoặc TNHH hai thành viên trở lên Trong loại hình công ty TNHH một thành viên có thể là do tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu nhưng đều được chuyển đổi thành CTCP

Hai là, chuyển đổi CTCP thành công ty TNHH một thành viên, trong quy

định này bắt buộc phải thực hiện khi chỉ còn một cổ đông duy nhất hoặc các cổ đông không muốn chuyển nhượng toàn bộ cổ phần cho một cá nhân hoặc tổ chức

Ba là, chuyển đổi CTCP thành công ty TNHH hai thành viên trở lên, trong

trường hợp này chỉ cần giới hạn thành viên tối thiểu là 2 thì sẽ chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên

Bốn là, chuyển đổi công ty TNHH hai thành viên chuyển đổi thành công ty

TNHH một thành viên khi chuyển nhượng hoặc thay đổi phần vốn góp của các thành viên dẫn đến chỉ còn một thành viên trong công ty

Năm là, chuyển đổi DNTN thành công ty TNHH Như vậy, DNTN do một

cá nhân làm chủ có thể chuyển thành công ty TNHH một thành viên hoặc công ty TNHH hai thành viên trở lên nhưng chủ sở hữu DNTN bắt buộc phải là chủ sở hữu hoặc thành viên công ty

Thứ hai, so sánh về điều kiện chuyển đổi doanh nghiệp

Pháp luật mỗi quốc gia, tùy thuộc điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội, có những quy định khác nhau về điều kiện chuyển đổi doanh nghiệp Nhưng tựu chung lại, có thể thấy, các điều kiện chuyển đổi doanh nghiệp bao gồm:

Một là, việc chuyển đổi doanh nghiệp phải xem xét lợi ích và quyền quyết

định của các thành viên Trước khi doanh nghiệp chuyển đổi, thành viên doanh nghiệp, tùy thuộc vào loại hình mà họ có thể có tên gọi khác nhau hoặc có quyền và nghĩa vụ khác nhau Ví dụ: Một người là cổ đông phổ thông CTCP có quyền lợi và nghĩa vụ khác với người là thành viên công ty TNHH Khi CTCP chuyển đổi thành

Trang 23

công ty TNHH, cổ đông này có thể trở thành thành viên công ty TNHH, theo đó, đã

bị hạn chế về việc chuyển nhượng phần vốn góp của mình, bị thiệt thòi trong việc xác định giá trị của công ty được chuyển đổi, việc quy đổi giữa phần vốn góp thành

cổ phần và ngược lại Hơn nữa, đối với trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp theo lựa chọn mà việc quyết định không theo nguyên tắc nhất trí mà theo một tỷ lệ nhất định thì thành viên, cổ đông có thể buộc phải chấp nhận việc chuyển đổi mặc dù không biểu quyết thông qua Bởi lẽ, quyết định của Đại hội đồng cổ đông chính là một sự thỏa thuận tạo lập nên một hậu quả pháp lý, mà thỏa thuận này không cần có

sự thống nhất ý chí của tất cả những người sở hữu cổ phần – tính chất của loại hợp đồng cộng đồng Hiệu lực của hợp đòng này phụ thuộc vào quy định của pháp luật

về tỷ lệ biểu quyết trong Đại hội đồng cổ đông Theo đó, pháp luật cần quy định về

tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định chuyển đổi doanh nghiệp đối với trường hợp chuyển đổi tự nguyện Hiện tại, nhiều nước quy định tỷ lệ này là 75% số cổ phần có quyền biểu quyết hoặc đại diện của thành viên sở hữu 75% số vốn điều lệ đồng ý thông qua Cụ thể, như ở Việt Nam, trường hợp chuyển đổi DNTN thành công ty TNHH thì sẽ do chủ sở hữu DNTN toàn quyền quyết định Tùy thuộc vào loại hình công ty tỷ lệ này được quy định tại Điều 60, 79, và 144 Luật Doanh nghiệp Ở các nước như Singapore, Malaysia cũng có quy định tương tự Đặc biệt, theo báo cáo nghiên cứu so sánh Luật công ty ở bốn quốc gia Đông Nam Á, do viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương thực hiền năm 1999, thì tỷ lệ biểu quyết thông qua việc thay đổi tình trạng hoạt động của doanh nghiệp ở Thái Lan là 50%

Hai là, việc chuyển đổi doanh nghiệp phải đảm bảo số lượng thành viên hoặc

cổ đông tối thiểu theo quy định đối với hình thức công ty chuyển đổi đến Hiện tại, pháp luật các nước có quy định khác nhau về số lượng thành viên/cổ đông tối thiểu

áp dụng cho từng loại hình công ty Có quốc gia không quy định vấn đề này như

Mỹ, Anh… theo pháp luật các quốc gia này, thì một người có thể lựa chọn hình thức công ty đã được luật hóa để thành lập Có quốc gia quy định số lượng thành viên tối thiểu như Việt Nam, Trung Quốc… Mặc dù quy định này không được lý giải theo học thuyết nào hoặc theo nguyên lý nào, nhưng các chủ thể buộc phải tuân thủ khi thực hiện việc chuyển đổi Nói một cách đơn giản là, khi muốn chuyển đổi thành loại hình doanh nghiệp nào, thì doanh nghiệp chuyển đổi cần đáp ứng các

Trang 24

điều kiện thành lập của doanh nghiệp đó

Ba là, việc chuyển đổi doanh nghiệp cần đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ

Với điều kiện này, pháp luật các nước đều quy định vấn đề kế thừa quyền và nghĩa

vụ của doanh nghiệp sau chuyển đổi Đối với doanh nghiệp có chủ đầu tư chịu trách nhiệm vô hạn, việc quy định phạm vi trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp trước chuyển đổi cần được quan tâm thận trọng trong pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp

Thứ ba, so sánh quy định về thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp

Việc đặt ra các thủ tục là cần thiết, thực hiện theo thủ tục luật định chính là việc công khai hóa việc chuyển đổi đối với người thứ ba và đặc biệt là để xác định tính hợp pháp của việc chuyển đổi, qua đó, đặt ra các chế tài phù hợp Để quy định thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp một cách phù hợp, nhà làm luật cần: (i) xác định chính xác căn cứ pháp lý chuyển đổi doanh nghiệp - chuyển đổi tự nguyên hay chuyển đổi bắt buộc theo quy định của pháp luật, bởi lẽ, việc chuyển đổi doanh nghiệp xuất phát từ một căn cứ cụ thể (ii) các văn bản chứng minh đã đảm bảo các điều kiện luật định; và (iii) văn bản thể hiện ý chí chuyển đổi doanh nghiệp Đồng thời, tùy thuộc bối cảnh, mỗi quốc gia cũng có những quy định khác nhau về thủ tục chuyển đổi Do đó, một trong những tiêu chí để so sánh pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp chính là thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp

Thứ tư, quy định về bảo vệ người thứ ba từ sự tác động của chuyển đổi doanh nghiệp

Người thứ ba trong quan hệ chuyển đổi doanh nghiệp là các chủ nợ doanh nghiệp chuyển đổi Kể từ thời điểm doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng

ký thành lập cho đến khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, xung quanh doanh nghiệp luôn không ngừng phát sinh, duy trì và phát triển các quan hệ dân sự, quan

hệ thương mại với nhiều chủ thể khác nhau Đi kèm theo đó, doanh nghiệp phải có trách nhiệm tài sản cũng như nghĩa vụ trả nợ đối với các chủ thể trong trường hợp không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình Hay nói cách khác, các chủ thế

đó đương nhiên trở thành chủ nợ và doanh nghiệp trở thành con nợ Trong pháp luật

về chuyển đổi doanh nghiệp, doanh nghiệp trước và sau khi tiến hành chuyển đổi đều có trách nhiệm tài sản và nghĩa vụ trả nợ như nhau với cùng một chủ nợ

Trang 25

Do đó, việc so sánh quy định về chuyển đổi doanh nghiệp, cần so sánh các điểm tương đồng, khác biệt trong vấn đề Quy định về bảo vệ người thứ ba từ sự tác động của chuyển đổi doanh nghiệp để đưa ra cách đánh giá toàn diện nhất trong độ hoàn thiện của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều hình thức pháp lý khác nhau Cũng chính vì vậy, trong quá trình thành lập, hoạt động của doanh nghiệp, việc tổ chức lại doanh nghiệp xuất hiện như một nhu cầu tất yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển Để tạo cơ sở lý luận nền tảng cho việc nghiên cứu nội dung của pháp luật Lào về chuyển đổi doanh nghiệp, trên cơ sở đó, so sánh với pháp luật Việt Nam về vấn đề này, tác giả, trong chương này, đã đi sâu phân tích và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chủ yếu của đề tài, như: khái niệm, đặc điểm, bản chất của chuyển đổi doanh nghiệp; quá trình hình thành và phát triển chế định chuyển đổi doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Lào và pháp luật doanh nghiệp Việt Nam; vấn đề pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp và các tiêu chí so sánh pháp luật về chuyển đối doanh nghiệp Những nội dung này, là tiền đề cơ bản

để tiến hành so sánh những quy định của pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam về chuyển đối doanh nghiệp trong Chương 2 dưới dây

Trang 26

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

2.1 Những điểm tương đồng trong các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp giữa pháp luật Lào và Việt Nam

2.1.1 Đối tượng chuyển đổi

Như phần khái niệm đã chỉ rõ, chuyển đổi doanh nghiệp là việc các doanh nghiệp chuyển từ loại hình doanh nghiệp này sang loại hình doanh nghiệp khác để phù hợp hơn với quy mô, sự phát triển và sự định hướng của doanh nghiệp Như vậy, đối tượng duy nhất của chuyển đổi doanh nghiệp là các loại hình doanh nghiệp Trong đó:

Thứ nhất, pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam có những điểm tương đồng nhất định trong quy định về khái niệm và bản chất của doanh nghiệp

Theo đó, hiện nay, Luật doanh nghiệp Lào quy định doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Trong khi đó, Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014) cũng có quy định “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”

Trên cơ sở quy định của hai nước, có thể thấy, hai nước đều có quy định khá tương đồng nhau về mặt tổ chức, tính chất, mục đích của doanh nghiệp Từ đó, cũng

có thể thấy, doanh nghiệp, theo quy định của hai nước, có những đặc điểm sau:

Căn cứ vào quy định này thì doanh nghiệp có những đặc điểm sau:

- Là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thương trường, có trụ sở giao dịch ổn định, có tài sản;

- Đã được đăng ký kinh doanh

Trong đó, về điều kiện thành lập doanh nghiệp, theo quy định của pháp luật hai nước, chỉ trừ những đối tượng không có quyền thành lập và quản lý công ty TNHH, các đối tượng khác đều được quyền thành lập và quản lý công ty Với cách tiếp cận này, Luật Doanh nghiệp cả hai nước đã tạo lập được các công cụ pháp lý nhằm tập trung huy động vốn trong kinh doanh, huy động được các nguồn lực cho

Trang 27

phát triển kinh tế Luật Doanh nghiệp cả hai nước đã mở rộng tối đa phạm vi chủ thể

có nguồn lực đóng góp được vào hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Luật Doanh nghiệp của hai nước cũng đã quy định loại trừ các đối tượng không có quyền thành lập và quản lý công ty TNHH trên cơ sở khoa học, thực tiễn, xuất phát từ các yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như đặc điểm của các đối tượng bị cấm Mặc dù có sự khác nhau về các đối tượng cụ thể bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp, nhưng nghiên cứu các điều luật cho thấy, pháp luật của cả hai nước đều quy định các đối tượng sau không có quyền thành lập và quản lý công ty TNHH bao gồm:

(i) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;

(ii) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

(iii) Người đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án

Về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp: pháp luật cả hai nước quy định khá tương đồng về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp Trong đó, với việc quy định về thời gian đăng ký ngắn, lệ phí hợp lý, đã tạo điều kiện cho mọi công dân thực hiện quyền tự kinh doanh của mình một cách dễ dàng hơn Hơn nữa, Luật Doanh nghiệp của cả hai nước đều nhằm mục đích nâng cao ý thức trách nhiệm của người đăng ký doanh nghiệp bằng cách quy định người đăng ký doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và người thứ ba về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh

- Hoạt động kinh doanh: Kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Thứ hai, pháp luật cả hai nước đều quy định chỉ có một số loại hình doanh nghiệp được phép tổ chức lại theo hướng chuyển đổi doanh nghiệp

Như đã biết, chuyển đổi doanh nghiệp là một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp Khi đầu tư vốn kinh doanh, nhà đầu tư có quyền lựa chon quy mô

và hình thức kinh doanh Trong quá trình kinh doanh, các chủ đầu tư lại có quyền

Trang 28

mở rộng, thu hẹp quy mô hoặc chuyển đổi hình thức kinh doanh phù hợp với khả năng kinh doanh của họ ở từng giai đoạn kinh doanh khác nhau Tổ chức lại doanh nghiệp là những biện pháp nhằm thay đổi quy mô hoặc loại hình, theo quyết định của chủ doanh nghiệp phù hợp với từng giai đoạn kinh doanh Tổ chức lại doanh nghiệp bao gồm chia, tách, hợp nhất, sát nhập và chuyển đổi loại hình được quy định cụ thể từ Điều 192 đến Điều 199 Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014)

Trên cơ sở nghiên cứu các Điều từ 196 - Điều 199 Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014), và Điều 13 Luật Doanh nghiệp Lào (2013), có thể thấy nhưng nét tương đồng sau trong đối tượng chuyển đổi doanh nghiệp:

Một là, quy định giới hạn đối tượng được chuyển đổi nằm trong phạm vi các

loại doanh nghiệp: DNTN, công ty TNHH, CTCP

Điều đó cũng có nghĩa là, pháp luật cả hai nước, đều loại trừ các trường hợp sau:

- Không cho phép Công ty Hợp danh không được phép chuyển đổi thành bất

kỳ doanh nghiệp nào;

- Không doanh nghiệp nào từ Công ty TNHH, CTCP, DNTN được chuyển thành công ty hợp danh;

- CTCP không được chuyển thành DNTN;

- Công ty TNNH kể cả là TNHH 1 thành viên hay TNHH từ 2 thành viên trở lên cũng không được chuyển đổi thành DNTN

Hai là, về bản chất, pháp luật Lào và Việt Nam đều ghi nhận các loại chuyển

đổi doanh nghiệp sau:

(1) Loại thứ nhất - Chuyển đổi doanh nghiệp có liên quan đến thay đổi chế

độ trách nhiệm tài sản:

Loại chuyển đổi doanh nghiệp này bao gồm việc Chuyển đổi DNTN thành công ty TNHH theo pháp luật Việt Nam và chuyển đổi DNTN thành CTCP theo pháp luật Lào Loại chuyển đổi này dẫn đến thay đổi chế độ trách nhiệm tài sản của chủ đầu tư; từ trách nhiệm vô hạn thành TNHH hoặc ngược lại

Mặc dù, khi thành lập DNTN, chủ doanh nghiệp có đăng ký vốn đầu tư hoặc được tăng giảm vốn đăng ký trong quá trình hoạt động Tuy nhiên, số vốn đó không

tự động được xác định là phần vốn góp như trong công ty TNHH Trong chuyển đổi

Trang 29

DNTN, bên giao dịch với chủ doanh nghiệp thường quan tâm đến nghĩa vụ phát sinh trước khi chuyển đổi, vì đó là nghĩa vụ luật định và vô hạn của chủ doanh nghiệp cũng như các vấn đề quan trọng nhất mà các bên quan tâm là việc chuyển giao các tài sản như: quyền sử dụng đất, các đối tượng sở hữu công nghiệp… Do vậy, các bên khi giao kết hợp đồng góp vốn phải tiến hành định giá các tài sản của DNTN và thỏa thuận rõ các loại tài sản góp vốn của DNTN Trên cơ sở định giá xác định được giá trị, các bên lượng hóa được phần vốn góp của chủ doanh nghiệp trong công ty chuyển đổi, đồng thời thỏa thuận rõ phạm vi trách nhiệm tài sản mà chủ DNTN phải kế thừa Các bên tiếp tục phải xác lập quyền sở hữu cho công ty chuyển đổi đối với số tài sản góp vốn, đặc biệt là những tài sản phải đăng ký sử dụng hoặc sở hữu

(2) Loại thứ hai: Chuyển đổi hình thức giữa các doanh nghiệp có chế độ

trách nhiệm hữu hạn với nhau

Hiện tại có nhiều quan điểm về tính chịu trách nhiệm hữu hạn của công ty:

Có những cách gọi lâu rồi thì thành quen chứ bản thân công ty và cổ đông của nó đều không chịu trách nhiệm hữu hạn Công ty chịu trách nhiệm đối với mọi chủ nợ bằng tất cả mọi thứ tài sản mà nó có - có nghĩa là vô hạn và đến cùng

Quan điểm khác xác định tính chịu trách nhiệm hữu hạn và phân loại công ty TNHH theo bản chất nghĩa vụ pháp lý của các thành viên đối với các khoản nợ của

công ty Maurice và Alain Viandier giải thích: “Trách nhiệm ở đây là trách nhiệm

cá nhân của hội viên” 2

Tính chịu trách nhiệm hữu hạn không còn mới lạ đối với Lào và Việt Nam Các mô hình công ty chịu trách nhiệm hữu hạn theo pháp luật Lào và Việt Nam hiện hành là CTCP, công ty TNHH Ở đây cần nhấn mạnh rằng các công ty này phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản đối với các khoản nợ của mình, còn các thành viên của nó chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp vào công ty Theo Luật Công ty của Úc, các công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn gồm: công ty TNHH bởi cổ phần (by shares); công ty TNHH bởi bảo đảm (guarantee); công ty TNHH bởi cổ phần và bảo đảm (by shares ang guarantee) (Điều 133) Việc chuyển đổi giữa các loại hình công ty này với nhau khá dễ dàng, bởi lý do rất đơn giản là

Trang 30

các thành viên của công ty không phải chịu trách nhiệm gì đối với các khoản nợ của chúng, có nghĩa là dù công ty đó là công ty TNHH hay CTCP, thì khi bị phá sản, toàn bộ tài sản có của công ty đều được đem ra trả nợ và các thành viên không phải

bỏ tài sản cá nhân của mình để trang trải cho các khoản nợ của công ty, có mất chăng chỉ là mất phần vốn góp vào công ty Như vậy, việc chuyển đổi không gây ảnh hưởng xấu tới các chủ nợ

Chình vì vậy, pháp luật cả hai nước đều ghi nhận các hình thức chuyển đổi doanh nghiệp sau:

+) Việc chuyển đổi Công ty TNHH thành CTCP, do đó Công ty TNHH có thể là TNHH 1 thành viên hoặc TNHH 2 thành viên, trong loại hình TNHH 1 thành viên có thể là do tổ chức hoặc do cá nhân làm chủ sở hữu nhưng đều được phép chuyển đổi thành CTCP

+) Chuyển CTCP thành Công ty TNHH 1 thành viên, điều này bắt buộc là phải chuyển thành 1 thành viên khi chỉ còn 1 cổ đông duy nhất hoặc các cổ đông muốn chuyển thành 1 thành viên là tổ chức hoặc 1 cá nhân

+) Chuyển CTCP thành Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên, trong trường hợp này chỉ cần giới hạn thành viên tổi thiểu là 2 thì sẽ chuyển thành công ty TNHH từ hai thành viên trở lên

+) Chuyển đổi công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH một thành viên

Trường hợp này, mặc dù không được ghi nhận cụ thể trong phương thức chuyển đổi doanh nghiệp, nhưng thông qua các quy định về chuyển nhượng hoặc thay đổi phần góp vốn của các thành viên trong công ty dẫn đến chỉ còn một thành viên trong công ty, công ty phải tổ chức hoạt động theo loại hình công ty TNHH một thành viên và đồng thời thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời gian luật định, đã cho thấy, đây có thể được coi là quy định về chuyển đổi doanh nghiệp đặc biệt nhất được pháp luật thừa nhận

Thứ ba, riêng về vấn đề chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước cũng được pháp luật Việt Nam và Lào quy định khá giống nhau

Theo đó, đối với những ngành, lĩnh vực không quan trọng, Nhà nước Lào chuyển đổi sở hữu DNNN Việc chuyển đổi này dưới hình thức cổ phần hóa DNNN

Trang 31

hoặc giao DNNN cho tập thể người lao động Cổ phần hóa DNNN được hiểu là việc chuyển DNNN từ chỗ nó chỉ thuộc sở hữu của Nhà nước thành CTCP thuộc sở hữu của nhiều cổ đông Cổ phần hóa DNNN thực chất là bán toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp thông qua hình thức bán cổ phần doanh nghiệp Giao DNNN cho tập thể người lao động trong công ty là việc chuyển công ty nhà nước và tài sản công ty thành sở hữu của tập thể người lao động có điều kiện ràng buộc

Như vậy, nói một cách ngắn gọn nhất, pháp luật cả hai nước đều quy định, những loại hình doanh nghiệp có thể chuyển đổi lẫn nhau khi chúng cùng là loại hình doanh nghiệp có trách nhiệm hữu hạn (chịu trách nhiệm trong phần vốn góp) hoặc chuyển từ trách nhiệm vô hạn sang trách nhiệm hữu hạn (tuy nhiên chỉ áp dụng với trường hợp chuyển từ DNTN sang công ty TNHH một thành viên hoặc hai thành viên, còn hình thức khác không được chấp nhận, ví dụ chuyển từ công ty hợp danh sang công công ty TNHH là không được áp dụng…) Việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sẽ không diễn ra trong trường hợp chuyển từ trách nhiệm hữu hạn (chịu trách nhiệm trong phần vốn góp) sang trách nhiệm vô hạn (chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân)

2.1.2 Điều kiện chuyển đổi

Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sẽ làm thay đổi một cách cơ bản tính chất pháp lý của doanh nghiệp Do đó, việc chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp này phải đảm bảo một số điều kiện nhất định Mặc dù vậy, tùy từng trường hợp khác nhau mà các điều kiện này có sự khác nhau

Như phần lý luận đã phân tích, việc chuyển đổi doanh nghiệp, phải lưu ý đến các điều kiện sau:

- Việc chuyển đổi doanh nghiệp phải xem xét lợi ích và quyền quyết định của các thành viên Trước khi doanh nghiệp chuyển đổi, thành viên doanh nghiệp, tùy thuộc vào loại hình mà họ có thể có tên gọi khác nhai hoặc có quyền và nghĩa

vụ khác nhau

- Việc chuyển đổi doanh nghiệp phải đảm bảo số lượng thành viên hoặc cổ đông tối thiểu theo quy định đối với hình thức công ty chuyển đổi đến Hiện tại, pháp luật các nước có quy định khác nhau về số lượng thành viên/cổ đông tối thiểu

áp dụng cho từng loại hình công ty

Trang 32

- Việc chuyển đổi doanh nghiệp cần đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ Với điều kiện này, pháp luật các nước đều quy định vấn đề kế thừa quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp sau chuyển đổi Đối với doanh nghiệp có chủ đầu tư chịu trách nhiệm vô hạn, việc quy định phạm vi trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp trước chuyển đổi cần được quan tâm thận trọng trong pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp

Để chỉ ra được những điểm tương đồng trong quy định của pháp luật hai nước về điều kiện chuyển đổi, phải nghiên cứu, so sánh quy định pháp luật trong từng trường hợp chuyển đổi Trong đó, nghiên cứu các quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014) và Luật Doanh nghiệp Lào (2013) cho thấy các nét tương đồng trong từng trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất, pháp luật cả hai nước đều có các quy định cụ thể về điều kiện chuyển đổi DNTN thành công ty TNHH (đối với Việt Nam) và điều kiện chuyển đổi DNTN thành CTCP (đối với Lào) Trong khi đó, lại không có ghi nhận về khả năng chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp khác

Khoản 3, Điều 3 Luật Doanh nghiệp Lào (2013) và Điều 183 Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014) đều có những quy định khá tương tự nhau về DNTN, theo

đó “DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng

toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” Với tư cách là một

doanh nghiệp, nên DNTN cũng tự thụ hưởng các quyền quy định của Luật Doanh nghiệp, trong đó có thể kể đến:

- Tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích

- Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp

- Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng theo quy định của Luật

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Với các quyền năng luật định đặc biệt là quyền “Chiếm hữu, sử dụng, định

đoạt tài sản của doanh nghiệp” với quy định tại Điều 4, khoản 7 Luật Doanh

nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được

Trang 33

đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” thì

DNTN đương nhiên được hiểu là một chủ thể kinh doanh Tuy nhiên, với quy định

tại Điều 185 khoản 3 Luật doanh nghiệp Việt Nam (2014) “Chủ DNTN là nguyên

đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà

án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp” thì bản chất DNTN của một

khối tài sản - không được coi là một chủ thể của quan hệ pháp luật; thực tiễn áp dụng luật cũng có cơ quan nhà nước không chấp nhận DNTN là chủ thể của quan

hệ pháp luật Ví dụ: cơ quan đăng ký doanh nghiệp không đồng ý với việc DNTN là thành viên công ty Tuy nhiên, có nhiều cơ quan chấp nhận DNTN là một chủ thể của quan hệ pháp luật, ví dụ: Cục sở hữu trí tuệ xác định DNTN là chủ sở hữu những nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp…, cơ quan công an giao thông xác định DNTN là chủ sở hữu Tàu, thuyền, ô tô… Trong quá trình hoạt động, khi tham gia giao dịch DNTN vẫn xuất hiện với tên gọi riêng Mặt khác, chủ DNTN cũng thường xuyên nhân danh cá nhân để giao kết và thực hiện các giao dịch mua bán, cho tặng… Nhưng cũng có quan điểm cho rằng DNTN và chủ DNTN là một.3

Mặc dù vậy, pháp luật doanh nghiệp hiện hành của hai nước vẫn cho phép DNTN được chuyển đổi thành công ty Cùng với đó, pháp luật hai nước cũng quy định về điều kiện để một DNTN được phép chuyển đổi Điều kiện chuyển đổi DNTN của Lào được quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp Lào (2013), còn điều kiện chuyển đổi DNTN của Việt Nam được quy định trong Điều 199 Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014) Trong đó, nghiên cứu các điều kiện này cho thấy, cả pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam đều nhấn mạnh đến vấn đề trách nhiệm đối với các khoản nợ chưa của DNTN và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn

Trong khi đó, pháp luật cả hai nước đều không có ghi nhận về điều kiện chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp khác như CTCP và công ty TNHH Việc pháp luật chỉ có quy định về điều kiện chuyển đổi đối với chuyển đổi DNTN thành công ty mà không có quy định về điều kiện chuyển đổi đối với các trường hợp

chuyển đổi khác xuất phát từ lý do: Một là, cấm sự kiểm soát chặt chẽ khi chuyển

đổi từ chế độ trách nhiệm vô hạn sang chế độ trách nhiệm hữu hạn, bảo vệ tốt nhất

3 Hoàng Anh Tuấn (2011), “Bàn về việc chuyển đổi hình thức các công ty trách nhiệm hữu hạn”, Tạp chí

Trang 34

quyền lợi của chủ nợ Hai là, các trường hợp chuyển đổi khác có chung chế độ

trách nhiệm tài sản hữu hạn của doanh nghiệp chuyển đổi nên chủ yếu kiểm soát vấn đề kế thừa và chuyển giao nghĩa vụ và thông qua đó là có thể bảo vệ quyền lợi của chủ nợ Do vậy, pháp luật không cần quy định điều kiện chuyển đổi doanh nghiệp và cho phép việc này do chủ doanh nghiệp quyết định phù hợp với quyền

tự do kinh doanh

Thứ hai, về điều kiện chuyển đổi công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH một thành viên, xuất phát từ việc trường hợp này không được ghi nhận cụ thể, nên điều kiện chuyển đổi cũng không được pháp luật hai nước ghi nhận rõ ràng

Như đã nói, đây là trường hợp không được ghi nhận cụ thể trong các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp, nhưng thông qua các quy định trong việc tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên cho thấy, đây cũng là một trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

Nghiên cứu quy định pháp luật hai nước cho thấy, về nguyên tắc, theo quy định hiện hành về số lượng tối thiểu cổ đông và thành viên, đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên khi có sự kiện pháp lý làm giảm số lượng thành viên xuống dưới mức cho phép thì công ty TNHH hai thành viên buộc phải tiến hành thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp Việc chuyển đổi công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH một thành viên được thực hiện theo Điều 53, khoản 3 Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014) và Điều 90 Luật Doanh nghiệp Lào (2013)

Trên cơ sở các quy định này cho thấy, pháp luật cũng chỉ ghi nhận về phương thức chuyển đổi công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH

1 thành viên mà không ghi nhận về điều kiện chuyển đổi loại hình công ty này

(Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014) quy định: Trường hợp chuyển nhượng hoặc

thay đổi phần góp vốn của các thành viên dẫn đến chỉ còn một thành viên trong công ty, công ty phải tổ chức hoạt động theo loại hình công ty TNHH một thành viên và đồng thời thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển nhượng)

Nhưng, thông qua quy định này, ta có thể thấy được điều kiện chuyển đổi công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH một thành viên, đó là, việc

Trang 35

chuyển đổi công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty TNHH một thành viên chỉ có thể thực hiện sau khi chuyển nhượng hoặc thay đổi phần vốn góp của các thành viên dẫn đến chỉ có một thành viên trong công ty Việc ban hành quy định này, không những không làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác mà còn giúp các nhà đầu tư chuyển đổi doanh nghiệp một cách thuận tiện hơn Cụ thể, đối với trường hợp này mục đích của chủ sở hữu công ty đó là muốn giảm số lượng thành viên xuống

Và để đạt được mục đích đó, các thành viên công ty phải giao kết hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ phần vốn cho mọt cá nhân hoặc một tổ chức nhất định

2.1.3 Thủ tục chuyển đổi

Việc hợp nhất, sáp nhập làm tăng quy mô doanh nghiệp, nhưng đều giữ nguyên hình thức pháp lý của doanh nghiệp Còn chuyển đổi doanh nghiệp không tăng cũng không giảm quy mô doanh nghiệp nhưng lại làm thay đổi hình thức pháp

lý ban đầu của doanh nghiệp: Doanh nghiệp chuyển từ loại hình này sang loại hình khác Do đó, việc chuyển đổi doanh nghiệp phải tuân theo những thủ tục nhất định Trong đó, thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp của nước CHDCND Lào được ghi nhận trong Điều 13 Luật Doanh nghiệp Lào (2013), còn thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp của nước CHXHCN Việt Nam được ghi nhận trong các Điều từ

169 - Điều 199 Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014)

Nghiên cứu quy định của hai nước, cho thấy những điểm tương đồng sau về thủ tục chuyển đổi:

Thứ nhất, tùy tùng loại hình doanh nghiệp sẽ có những phương thức chuyển

đổi doanh nghiệp khác nhau Pháp luật hai nước đều có sự tách bạch giữa các phương thức này với nhau, và giữa DNTN và các loại hình doanh nghiệp khác

Thứ hai, việc chuyển đổi doanh nghiệp phải do cơ quan có thẩm quyền cao

nhất của doanh nghiệp quyết định Ví dụ, Công ty TNHH một thành viên thì do chính thành viên đó quyết định

Thứ ba, Công ty chuyển đổi phải đăng ký với Cơ quan kinh doanh trong thời

hạn Luật định Trong trường hợp công ty TNHH từ một thành viên chuyển sang hai thành viên trở lên phải đăng ký việc thay đổi số lượng thành viên với cơ quan đăng

ký kinh doanh, sau khi đăng ký hoạt động theo mô hình công ty TNHH nhiều thành viên Nếu chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên là tổ chức chuyển toàn bộ vốn

Trang 36

cho một cá nhân thì cá nhân phải đăng ký thay đổi chủ sở hữu và tổ chức lại công

ty, quản lý công ty theo loại hình một thành viên là cá nhân

2.1.4 Quy định về bảo vệ người thứ ba từ sự tác động của chuyển đổi doanh nghiệp

Bản chất pháp lý của chuyển đổi doanh nghiệp đã được làm rõ là việc chuyển

từ hình thức doanh nghiệp này sang hình thức doanh nghiệp khác Doanh nghiệp chuyển đổi ra đời không phải là doanh nghiệp mới hoàn toàn như khi khởi nghiệp Doanh nghiệp được chuyển đổi mặc dù chấm dứt hoạt động, nhưng đây là trường hợp chấm dứt hoạt động rất đặc biệt, bởi nó không làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ mà

nó đã tạo lập trong quá trình hoạt động Maurice Cozian và Alain Viandier ví von hậu quả của việc chuyển đổi doanh nghiệp như hình ảnh dã tràng sống trong vỏ ốc, chui

ra từ vỏ ốc này sang vỏ ốc khác trong quá trình sinh trưởng của mình Tuy nhiên, việc chuyển đổi doanh nghiệp có thể có tác động đến các chủ thể mà pháp luật cần bảo vệ Việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và các chủ thể pháp luật khác là nhiệm

vụ của nhà nước Nhiệm vụ này trước hết mang tính hiến định Điều 10 Hiến pháp Lào (2015) cũng như Điều 15, Hiến pháp Việt Nam (2013) quy đinh: “Việc thực hiện quyền lợi con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc giam dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Điều này được luật hóa ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, chẳng hạn Khoản 1, Điều 2 Bộ Luật Dân sự Việt Nam (2015) quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân

sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Hơn nữa, Lào và Việt Nam là những Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải được tôn trọng và bảo vệ

Mục đích chính của việc quy định các điều kiện, thủ tục chuyển đổi như đã nêu đã bảo vệ các đối tượng, các giá trị nhất định đặt ra các điều kiện, thủ tục, thì nhà làm luật phải tính đến việc kiểm tra, kiểm soát Tuy nhiên, đối với lĩnh vực đăng ký kinh doanh, thì người đăng ký phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp Và theo suy luận thông thường thì họ có thể nói dối hoặc chủ nợ không phát hiện ra Do vậy, bên cạnh những giải pháp nhằm bảo vệ công đồng và các chủ nợ, cũng như người lao động bằng cách

Trang 37

đưa ra các điều kiện chuyển đổi doanh nghiệp và áp đặt thủ tục buộc doanh nghiệp chuyển đổi phải tuân thủ, pháp luật còn đưa ra các chế tài và cơ chế áp dụng chế tài với tính cách là các biện pháp bảo vệ người thứ ba trong chuyển đổi doanh nghiệp

Người thứ ba trong quan hệ chuyển đổi doanh nghiệp là các chủ nợ doanh nghiệp chuyển đổi Kể từ thời điểm doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng

ký thành lập cho đến khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, xung quanh doanh nghiệp luôn không ngừng phát sinh, duy trì và phát triển các quan hệ dân sự, quan

hệ thương mại với nhiều chủ thể khác nhau Đi kèm theo đó, doanh nghiệp phải có trách nhiệm tài sản cũng như nghĩa vụ trả nợ đối với các chủ thể trong trường hợp không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình Hay nói cách khác, các chủ thế

đó đương nhiên trở thành chủ nợ và doanh nghiệp trở thành con nợ Trong pháp luật

về chuyển đổi doanh nghiệp, doanh nghiệp trước và sau khi tiến hành chuyển đổi đều có trách nhiệm tài sản và nghĩa vụ trả nợ như nhau với cùng một chủ nợ

Để bảo vệ quyền lợi của người thứ 3 trong quan hệ chuyển đổi, pháp luật quy định rõ về các vấn đề:

(i) Chuyển giao quyền và nghĩa vụ giữa hai doanh nghiệp;

(ii) Kế thừa quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp chuyển đổi vì sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp cũ sẽ mất đi;

(iii) Công khai hóa việc kế thừa quyền và nghĩa vụ này

Trong đó, nghiên cứu quy định của hai nước, dù ở các mức độ khác nhau, nhưng pháp luật hai nước đã có những ghi nhận cụ thể để bảo vệ quyền lợi người thứ ba trong quan hệ chuyển đổi doanh nghiệp

2.2 Những điểm khác biệt trong các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp giữa pháp luật Lào và Việt Nam

2.2.1 Đối tượng chuyển đổi

Bên cạnh các điểm tương đồng về đối tượng chuyển đổi, các quy định của pháp luật Việt Nam và Lào về đối tượng chuyển đổi cũng có sự khác nhau cơ bản

về các loại hình doanh nghiệp có thể chuyển đổi lẫn nhau Trong đó, nghiên cứu quy định pháp luật Lào và Việt Nam có thể thấy như sau:

Thứ nhất, pháp luật Việt Nam quy định một cách chi tiết, cụ thể hơn pháp luật Lào về các loại hình doanh nghiệp có thể chuyển đổi Trong khi Luật Doanh

Trang 38

nghiệp Lào (2013) quy định khá chung chung

Theo đó, các loại hình doanh nghiệp Việt Nam có thể chuyển đổi được quy định từ Điều 196 đến Điều 199 Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014), trong đó quy định rất rõ ràng các loại hình doanh nghiệp được chuyển đổi như sau:

- Chuyển đổi công ty TNHH thành CTCP (Điều 196)

- Chuyển đổi CTCP thành công ty TNHH một thành viên (ĐIều 197)

- Chuyển đổi CTCP thành công ty TNHH hai thành viên trở lên (Điều 198)

- Chuyển đổi DNTN thành công ty TNHH (Điều 199)

Trong khi đó, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp tại Lào chỉ được quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp Lào (2013), trong đó quy định một cách chung chung rằng: DNTN có thể chuyển đổi thành CTCP, công ty TNHH có thể chuyển đổi thành CTCP và ngược lại Quy định chung chung này, khiến cho người đọc, phải nghiên cứu đến các quy định có liên quan để xác định xem, công ty TNHH bao gồm những loại hình nào và CTCP được xác định bao gồm những loại hình nào

Thứ hai, về loại hình doanh nghiệp mà DNTN có thể chuyển đổi có sự khác nhau trong quy định giữa hai nước

Theo đó, pháp luật Việt Nam quy định, DNTN được phép chuyển đổi thanh công ty TNHH

Trên cơ sở quy định của Luật doanh nghiệp Việt Nam (2014), Công ty

TNHH, được hiểu là, “Công ty TNHH là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong

đó, thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không quá năm mươi; thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty; phần vốn góp của thành viên bị hạn chế chuyển nhượng cho người ngoài công ty Công ty TNHH bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”, với các đặc điểm chung là:

- Công ty TNHH là một pháp nhân – một thực thể pháp lý trừu tượng và độc lập (trong tiếng Anh gọi là artificial legal person hay Separate legal entity4) Công

Pháp luật dân sự, tại địa chỉ: di%CC%89m-c%C6%A1-ba%CC%89n-cu%CC%89a-cng-ty-tra%CC%81ch-nhi%CC%A3m-

https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/11/16/ca%CC%81c-da%CC%A3c-h%C6%B0%CC%83u-ha%CC%A3n-truy%CC%80n-th%CC%81ng/ ngày truy cập 16/11/2010

Trang 39

ty độc lập và tách bạch hoàn toàn với các chủ thể đã tạo lập ra nó và đưa tài sản taọ lập nên tài sản của nó về mặt pháp luật Địa vị pháp lý này quyết định chế độ trách nhiệm của công ty

- Thành viên công ty không nhiều, thường bị giới hạn ở mức tối đa và thường

là những người quen biết nhau Các nhà làm luật thường không chấp nhận mô hình

công ty này có số lượng thành viên quá lớn Bên cạnh đó, các thành viên của mô hình công ty này thường có mối quan hệ với nhau về nhân thân: có thể là người trong dòng họ, gia đình hay bạn bè, thân thiết ở mức độ có thể tin cậy và chia sẻ Tính chất của các mối quan hệ này gần giống như của công ty đối nhân (mà điển

hình là các hợp danh – partnership)

- Bản chất của loại công ty này mang tính đóng chứ không mở như CTCP

Đặc tính này có liên quan chặt chẽ đến việc huy động vốn từ công chúng của loại công ty này trong sự so sánh với CTCP Các loại công ty này thường không được quyền huy động vốn từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng một cách công khai Tuy nhiên, vấn đề cụ thể của việc phát hành chứng khoán có khác nhau ở các quốc gia Có quốc gia cấm công ty TNHH phát hành mọi loại chứng khoán, có quốc gia cho phép nó phát hành giấy nhận nợ - trái phiếu

(debenture) để vay vốn từ bên ngoài… Tuy nhiên, tất cả các nước đều không cho nó phát hành cổ phiếu (Shares) để huy động vốn từ công chúng vì nếu cho phép nó

phát hành cổ phiếu vì nếu cho phép nó phát hành cổ phiếu, khi đó nó sẽ trở thành CTCP Dù khả năng huy động vốn từ công chúng đến đâu, tất cả đều không thể làm thay đổi tư cách và số lượng thành viên bằng việc phát hành chứng khoán Về cơ bản, chứng khoán có hai loại: các chứng chỉ đầu tư ở dạng cổ phiếu để trở thành cổ đông công ty và loại thứ hai là các trái phiếu ghi nợ, ai là chủ sở hữu thì họ là chủ

nợ của công ty Tính khép kín, tính đóng của loại công ty này không cho phép nó phát hành cổ phiếu vì phát hành cổ phiếu là huy động thêm vốn điều lệ, người mua

nó sẽ trở thành chủ sở hữu, trở thành thành viên của công ty Cũng chính vì vậy, việc tổ chức và quản lý công ty TNHH đơn giản hơn so với CTCP

- Khả năng thay đổi thành viên của loại hình công ty này khó khăn hơn so với CTCP Nếu các cổ đông trong CTCP có thể chuyển nhượng cổ phần một cách

dễ dàng thì điều đó lại bị hạn chế hơn trong công ty TNHH Như đã phân tích, công

Trang 40

ty TNHH là mô hình công ty “nằm giữa” CTCP và công ty đối nhân, các thành viên

công ty thường là những người quen biết, tin cậy nhau, vì vậy nếu các thành viên được tự do chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác thì sẽ có khả năng công ty

sẽ tiếp nhận những thành viên mới hoàn toàn xa lạ, không quen biết Vì thế, thông thường điều lệ của công ty TNHH có các quy định mang tính hạn chế việc tự do chuyển nhượng vốn cho người bên ngoài Chẳng hạn như việc chuyển nhượng vốn

ra bên ngoài phải được ba phần tư (¾) thành viên đồng ý, hay thành viên muốn chuyển nhượng phải ưu tiên chào bán phần vốn của mình cho các thành viên công

ty, nếu các thành viên còn lại không mua hoặc mua không hết, lúc đó mới có thẻ bán cho người bên ngoài Đây cũng là đặc điểm thể hiện tính khép kín của loại hình công ty này Tuy nhiên, xu hướng pháp luật thế giới và Việt Nam hiện nay có sự thay đổi theo hướng dễ dàng hơn đối với việc chuyển nhượng vốn góp của các thành viên công ty TNHH Pháp luật của nhiều nước theo truyền thống Common Law như Anh, Australia để việc xác định điều kiện chuyển nhượng cho các thành viên công ty thông qua bản điều lệ của họ

- Vốn điều lệ được chia thành từng phần Mỗi thành viên có thể góp vốn

nhiều, ít khác nhau và bắt buộc phải góp đủ khi công ty thành lập Phần vốn góp không thể hiện dưới hình thức cổ phiếu và rất khó chuyển nhượng ra bên ngoài Các thành viên, dù đã góp đủ phần vốn góp của mình, vẫn không được cấp một thứ chứng khoán nào; phần vốn góp của các thành viên có thể được chuyển nhượng ra bên ngoài trong khuôn khổ những điều kiện do luật định

- Trong quá trình hoạt động, công ty TNHH không được phép công khai huy

động vốn trong công chúng (không được phát hành cổ phiếu…)

Trong khi đó, pháp luật Lào lại quy định về hình thức chuyển đổi của loại

hình DNTN là thành CTCP

Theo Khoản 4, Điều 3, và Điều 37 Luật Doanh nghiệp của Lào (2013) thì CTCP là doanh nghiệp:

- Có tư cách pháp nhân;

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều thành phần bằng nhau gọi là cổ phần;

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng tối thiểu là hai và không giới hạn tối đa;

Ngày đăng: 03/11/2018, 15:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN