LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ “Lịch sử cuộc đời nhà khoa học Nguyễn Văn Nhân dưới góc độ văn hóa” là công trình tổng hợp tư liệu và nghiên cứu của riêng tôi.. Nă
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ LIÊM
LỊCH SỬ CUỘC ĐỜI NHÀ KHOA HỌC
NGUYỄN VĂN NHÂN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HÓA
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 60 31 06 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Văn Huy
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể Quý thầy
cô đã và đang giảng dạy, công tác tại Học viện Khoa học xã hội, đặc biệt là Quý thầy cô của khoa Văn hóa học, những người tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Huy, người đã quan tâm, định hướng và có nhiều những góp ý hữu ích giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình Cảm ơn thầy vì đã cho tôi có được một góc nhìn mới trong lĩnh vực nghiên cứu Văn hóa
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam đoàn thể, các tổ chức, cá nhân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin và các tài liệu liên quan
Xin trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 2 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Liêm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ “Lịch sử cuộc đời nhà khoa học Nguyễn Văn Nhân dưới góc độ văn hóa” là công trình tổng hợp tư liệu
và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những ý kiến, nhận định, tư liệu khoa học của các tác giả được ghi chú
xuất xứ đầy đủ
Hà Nội, ngày 26 tháng 2 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Liêm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ CON NGƯỜI VÀ LỰA CHỌN NGÀNH Y CỦA NGUYỄN VĂN NHÂN 6
1.1 Bối cảnh Việt Nam những năm thế kỷ XX 6
1.2 Dòng họ, gia đình Nguyễn Văn Nhân 12
1.3 Đến với ngành Y và những yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách của Nguyễn Văn Nhân 14
Chương 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, KHÁM CHỮA BỆNH VÀ ĐÀO TẠO CỦA NGUYỄN VĂN NHÂN 30
2.1 Các công trình nghiên cứu khoa học của Nguyễn Văn Nhân 30
2.2 Nguyễn Văn Nhân trong công tác khám chữa bệnh, giảng dạy và đào tạo 45 Chương 3: BÀN LUẬN VỀ GIÁ TRỊ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ CUỘC ĐỜI NHÀ KHOA HỌC 54
3.1 Giá trị lịch sử-văn hóa 54
3.2 Giá trị bảo tồn di sản của nhà khoa học 58
3.3 Giá trị giáo dục 64
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤC LỤC 74
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Lịch sử luôn bắt đầu từ mỗi cá nhân, mỗi gia đình Lịch sử đất nước sẽ được nhìn phong phú hơn, đa dạng hơn nếu bắt đầu từ mỗi cá nhân, mỗi gia đình… Mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi dòng tộc nếu có điều kiện và biết cách
kể câu chuyện của mình thì sẽ góp phần làm cho lịch sử của đất nước phong phú hơn, đa dạng hơn”[2, tr.33]
Nghiên cứu lịch sử cuộc đời là một trong những phương pháp tiếp cận nhân học trên thế giới được sử dụng phổ biến Ở Việt Nam cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu về những nhân vật khác nhau về các nhân vật lịch sử như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phan Bội Châu… Trung tâm lưu trữ Quốc gia cũng đang lưu trữ các tài liệu về cuộc đời của một số nhân vật Đây
là công việc hết sức quý giá trong việc gìn giữ, bảo tồn di sản của đất nước
Năm 2008, Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam được thành lập với chức năng nghiên cứu, bảo tồn và lưu giữ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể thông qua tiểu sử, ký ức, tư liệu và hiện vật cá nhân của các nhà khoa học Việt Nam Trong việc nghiên cứu lịch sử cuộc đời của nhà khoa học, Trung tâm đã sử dụng cách tiếp cận - phương pháp nghiên cứu lịch sử cuộc đời để kể các câu chuyện của nhà khoa học Ngay từ những ngày đầu thành lập, các nhà khoa học chuyên ngành y học đã được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu trước, sau đó lan rộng ra các chuyên ngành khác
Trong quá trình nghiên cứu về các nhà khoa học thuộc ngành y, tôi vô cùng ấn tượng với GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân (1924-2013) Mặc dù ông không phải là một vị giáo sư nổi tiếng như GS Tôn Thất Tùng hay GS Hồ Đắc Di nhưng ông lại là hiện tượng hiếm thấy ở Việt Nam khi bảo vệ luận án tiến sĩ (nay gọi là tiến sĩ khoa học) ở tuổi 67 Sinh tại Hội Vũ, Hoàn Kiếm, Hà Nội, ông là nhà khoa học thuộc chuyên ngành phẫu thuật chỉnh hình, nguyên
Trang 6là Chủ nhiệm Khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội
108, được đào tạo ở Liên Xô cũ Khi nghiên cứu, chúng tôi mới biết ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về Chấn thương chỉnh hình quân đội, người lập ngân hàng xương đầu tiên ở Việt Nam, có nhiều sáng kiến, đóng góp trong việc áp dụng các kỹ thuật mới trong phẫu thuật xương
Cũng như với nhiều nhà khoa học khác, việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân là một công việc hết sức cần thiết để thông qua đó có thể hiểu được bối cảnh lịch sử; những đóng góp của GS Nhân đối với ngành Chấn thương chỉnh hình nói riêng và ngành
Y học nói chung; bên cạnh đó cũng thấy được phẩm chất của một thầy thuốc với trái tim nhân hậu, luôn hết lòng vì người bệnh và say mê nghiên cứu khoa học Đây chính là lý do tôi quyết định lựa chọn đề tài “Lịch sử cuộc đời nhà khoa học Nguyễn Văn Nhân dưới góc độ văn hóa” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Văn hóa học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam đã có nhiều ấn phẩm xuất bản nói về câu chuyện cuộc đời
của các nhà khoa học Các ấn phẩm đó có thể là từ các hồi ký như: Nhớ nghĩ
chiều hôm của GS Đào Duy Anh, Hồi ký thời kỳ thanh thiếu niên của GS
Đặng Thai Mai, Đường vào khoa học của tôi của GS Tôn Thất Tùng; các
cuốn sách giới thiệu chân dung, hoạt động, những đóng góp của nhà khoa học
như Giáo sư Nguyễn Xiển - Cuộc đời và sự nghiệp, Đặng Văn Ngữ - Một trí
tuệ Việt Nam, Tạ Quang Bửu - Nhà khoa học tài năng, uyên bác Trung tâm
Di sản các nhà khoa học Việt Nam xuất bản sách tập hợp các bài viết của các nghiên cứu viên trong quá trình nghiên cứu lịch sử cuộc đời của các nhà khoa
học: Di sản ký ức của nhà khoa học(tập 1,2,3,4,5,6,7), Những câu chuyện
hiện vật (tập 1,2,3)
Trang 7Tuy nhiên, chưa có một công trình hay một ấn phẩm nào thể hiện một cách sâu sắc và toàn diện về lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân Câu chuyện về cuộc đời ông được một số tác giả đề cập trong các sách,
tạp chí, trang báo điện tử Trong cuốn Những tấm gương thầy thuốc Việt Nam,
NXB Y học, 2009 trang 560 giới thiệu những thông tin cơ bản của GS Nhân,
đồng thời có hai bài viết: Vị giáo sư già và sứ mệnh “Nâng niu bàn chân
Việt” ở trang 561-564 và Thầy thuốc nhân dân Nguyễn Văn Nhân ở trang 564-568 giới thiệu ứng dụng bộ dụng cụ kết xương bên ngoài của GS.TSKH
Nguyễn Văn Nhân trên những bệnh nhân mổ bàn chân khoèo, kéo dài chi
do ông trực tiếp mổ “Đôi bàn tay vàng cùng với những dụng cụ chỉnh hình sáng chế của ông đã giúp nhiều bệnh nhân thoát khỏi cảnh tật nguyền với chi
phí không quá cao” Tác giả Hương Giang có bài viết Lặng lẽ giúp cho con
người đứng thẳng đưa ra nhận xét: Đề tài “bàn chân khoèo” của ông không
những có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế, đó là
cơ hội cho những người tật nguyền nghèo khó”
Các tài liệu nói về GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân như: Tạp chí Chỉnh
hình, Maitrise Orthopédique, Pháp, 1996 đăng bài phỏng vấn Nguyễn Văn
Nhân Ngay ở lời tựa của bài phỏng vấn có giới thiệu “Giáo sư Nguyễn Văn Nhân là một trong những người tiên phong và là trưởng kíp trong ngành phẫu thuật chỉnh hình và chấn thương ở Việt Nam Từng chứng kiến những cuộc chiến tranh trải dài trên đất nước mình, ông đã cống hiến chuyên ngành của mình để điều trị những nạn nhân và những người bị tai nạn” Trong bài phỏng
vấn, GS Nhân kể về quá trình học tập, công tác, nghiên cứu của mình Cuốn
sách Di sản ký ức của nhà khoa học (tập 2, 3, 4); Câu chuyện hiện vật (tập 1,
2) của Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, đăng các bài viết liên quan đến quá trình học tập, công tác, nghiên cứu, cũng như các tài liệu của
GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân như: Tình đồng đội và niềm tin son sắt (Hoàng
Trang 8Thị Liêm), Hơn 40 năm theo dõi một bệnh nhân (Hoàng Thị Liêm, Lê Thị Hoài Thu), Món quà kỷ niệm của một bênh nhân (Nguyễn Thị Thành) Báo Quảng
Bình - Cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Bình, số 127,
ngày 22-10-1998 có bài phỏng vấn GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân "Một giờ và
một đời" của tác giả Tâm Phùng Cuốn Giáo sư Việt Nam cũng có một trang viết
khái quát thông tin cá nhân,quá trình công tác, hướng nghiên cứu, quá trình
giảng dạy và đào tạo cũng như khen thưởng của GS Nhân
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thông tin về lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân gắn liền bối cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế, thông qua việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử cuộc đời
- Bước đầu đưa ra những nhận định về giá trị của việc nghiên cứu lịch
sử cuộc đời nhà khoa học trong việc bảo tồn di sản của nhà khoa học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhà khoa học Nguyễn Văn Nhân
- Phạm vi nghiên cứu: Lịch sử cuộc đời nhà khoa học Nguyễn Văn Nhân từ năm 1924 đến năm 2013
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu nhân học về lịch
sử cuộc đời một con người Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng:
Phương pháp sử học: Đặt lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân gắn liền với bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế
Phương pháp quan sát tham gia, phỏng vấn trực tiếp GS.TSKH Nhân khi ông còn sống và các đối tượng liên quan như đồng nghiệp, học trò, bệnh nhân Nguồn tư liệu này có được là do sử dụng tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Di sản các
Trang 9nhà khoa học Việt Nam và tác giả luận văn cũng thực hiện phỏng vấn khi công tác tại Trung tâm
Phương pháp phân tích, tổng hợp các thông tin thu được từ việc phỏng vấn; phân tích tổng hợp các văn bản tài liệu bản thảo, thư từ, sách, tạp chí, luận văn của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Qua các câu chuyện về lịch sử cuộc đời của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân, phần nào thấy được bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam và quốc tế giai đoạn ông sinh sống, học tập, công tác; những câu chuyện về nỗ lực học tập, sáng tạo của nhà khoa học trong thời kỳ khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển; góp phần tìm hiểu lịch sử của chuyên khoa Chấn thương chình hình nói chung và ngành Y nói riêng Qua đó thấy được giá trị của việc nghiên cứu lịch sử cuộc đời trong việc bảo tồn di sản của các nhà khoa học
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Khái lược về con người và lựa chọn ngành Y của Nguyễn Văn Nhân
Chương 2: Hoạt động và những đóng góp của Nguyễn Văn Nhân
Chương 3: Bàn luận về giá trị của việc nghiên cứu lịch sử cuộc đời nhà khoa học
Trang 10Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ CON NGƯỜI VÀ LỰA CHỌN NGÀNH Y
CỦA NGUYỄN VĂN NHÂN
1.1 Bối cảnh Việt Nam những năm thế kỷ XX
1.1.1 Về chính trị
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 là dấu mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam Ngay sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo cuộc chiến của nhân dân ta giành được nhiều thắng lợi, để chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám sau này, điển hình là phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh, phong trào đấu tranh dân chủ 1936-1939, và cuộc vận động chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám Tháng 8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã khởi nghĩa giành chính quyền thành công, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945
Đầu năm 1946, nhân dân ta lần đầu tiên được thực hiện quyền làm chủ của mình, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới được tổ chức thành công, với hơn 98% cử tri trong cả nước đi bỏ phiếu Tuy nhiên, vì chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng thực dân Pháp đã phá bỏ trắng trợn hiệp định mà chúng đã ký với ta Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng lên cao, từ đó Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh đã vang đi khắp cả nước, động viên toàn thể dân tộc vào một cuộc chiến lâu dài để tự giải phóng cho ta:
"Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta thêm một lần nữa Không, chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ".1
Sau khi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ra đời, toàn thể dân tộc ta đã bước vào một cuộc chiến trường kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược
Trang 11
Cuộc kháng chiến 9 năm (1945-1954) chống lại sự xâm lược trở lại của Pháp của Việt Nam, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Geneve về Việt Nam năm 1954 Theo Hiệp định này, đất nước tạm thời bị chia làm hai vùng lãnh thổ miền Bắc và miền Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến và sẽ được thống nhất hai năm sau đó (1956) thông qua một cuộc tổng tuyển cử Miền Bắc Việt Nam vào thời kỳ nay mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động với Thủ đô là Hà Nội Miền Nam mang tên Việt Nam Cộng hoà với sự quản lý của chính quyền thân Pháp, rồi thân Mỹ đặt tại Sài Gòn Chính quyền Sài Gòn đã bằng mọi cách ngăn chặn cuộc tổng tuyển cử, đàn áp và loại bỏ những người kháng chiến cũ Tuy nhiên, Chính quyền Sài Gòn đã không thể ngăn cản được nguyện vọng thống nhất đất nước của quần chúng, phong trào đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước đã bùng nổ mạnh mẽ và ngày Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, ngày 20-12-1960
Để duy trì Chế độ Sài Gòn, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự Đặc biệt kể từ giữa thập kỷ 60 Mỹ đã gửi nửa triệu quân Mỹ và đồng minh đến miền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến, và từ ngày 5-8-1964 bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam Nhưng nhân dân Việt Nam, theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập tự do", đã đứng vững và giành nhiều thắng lợi ở cả hai miền Nam và Bắc
Năm 1973, Washington buộc phải ký hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam và rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam Mùa xuân năm 1975, trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc và được sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới, các lực lượng vũ trang yêu nước Việt Nam đã thực hiện cuộc tổng tiến công đập tan Chính quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Ngày 25-4-1976, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được đổi tên thành nước Cộng hoà Xã hội
Trang 12chủ nghĩa Việt Nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam và Bắc Năm
1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc1
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối Đổi mới với trọng tâm là đổi mới kinh tế Đây là một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam thời kỳ mới Đường lối Đổi mới đã tiếp tục được Đảng khẳng định và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội sau đó Trong hơn
20 năm qua, Việt Nam từ một nước nhập khẩu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, nhiều chủng loại hàng hóa được xuất khẩu và nhiều thương hiệu hàng hóa được thế giới biết đến; kinh tế đạt tăng trưởng cao vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, chính sách xã hội được chú trọng hơn hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, quản lý xã hội trên cơ sở luật pháp dần đi vào nề nếp, an ninh quốc phòng được giữ vững, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu
Trang 13
Với âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp bội ước nổ súng đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và đổ bộ hàng nghìn quân lên Đà Nẵng (20-11-1946) Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Đảng
và Chính phủ, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến đầy gian khổ nhưng rất anh hùng Cùng với nhiệm vụ thực hiện cuộc kháng chiến chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, chúng ta đã thực hiện chuyển nền kinh tế tàn tích thực dân, phong kiến và thấp kém thành nền kinh tế dân chủ, độc lập phục vụ nhu cầu kháng chiến kiến quốc1
Trong thời kỳ này (1946-1954) kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng nên cùng với việc động viên nông dân tích cực tăng gia sản xuất, Chính phủ đã từng bước thực hiện các chính sách về ruộng đất, giảm tô, giảm tức Năm 1949, sắc lệnh giảm tô, giảm tức được ban hành, đồng thời tạm cấp ruộng đất thu được của thực dân Pháp và địa chủ bỏ chạy vào vùng địch tạm chiếm chia cho nông dân nghèo Nhờ đó, trong các vùng giải phóng, sản xuất nông nghiệp phát triển, sản lượng lương thực năm
1954 đạt gần 3 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946, tốc độ tăng giá trị sản lượng nông nghiệp ở miền Bắc trong 9 năm kháng chiến đạt 10%/năm Nhiều
cơ sở công nghiệp quan trọng phục vụ quốc phòng và sản xuất hàng hóa tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân được khôi phục và mở rộng.Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kiệt quệ vì sự bóc lột lâu dài của đế quốc và phong kiến, dân tộc ta đã đứng lên kháng chiến 9 năm gian khổ chống thực dân Pháp, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu
Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nước ta đứng trước một tình hình mới, cách mạng Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp
1
Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (cb), Đại cương Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến năm 2000, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2011
Trang 14tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cuộc cách mạng độc lập dân tộc trong cả nước1
Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), sản xuất công nghiệp từng bước được khôi phục và phát triển Trong 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957) và tiếp theo là kế hoạch 5 năm 1961-1965 với đường lối công nghiệp hóa, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được phục hồi và xây dựng
Từ năm 1965 đến 1975, tuy miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nhưng sản xuất công nghiệp vẫn được duy trì
và phát triển Công nghiệp miền Bắc thời kỳ này đã có bước phát triển khá
Từ những cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé, chủ yếu là khai thác nguyên liệu và sửa chữa nhỏ nay đã bắt đầu sản xuất một phần tư liệu sản xuất và phần lớn những vật phẩm tiêu dùng của nhân dân
Có thể nói, miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội xuất phát từ một nền kinh tế hết sức nghèo nàn lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân miền Bắc không những làm tròn sứ mệnh là hậu phương lớn đối với miền Nam ruột thịt, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,
mà còn giành được những thắng lợi to lớn trong công cuộc cải tạo và xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân
Trải qua 21 năm chiến đấu gian khổ và anh hùng, cách mạng miền Nam từng bước lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi to lớn Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
1
Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (cb), Đại cương Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy
Trang 15Tuy nhiên, kết quả sản xuất trong 5 năm 1976-1980 chưa tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra; những mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còn trầm trọng; thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội; thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định; đời sống của nhân dân lao động còn khó khăn Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khoá V (6-1986) đã đánh giá tình hình sau cuộc điều chỉnh giá-lương-tiền (9-1985) và khẳng định chính thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
Đại hội VI của Đảng tháng 12-1986 đã quyết định thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, nhất là đổi mới về mặt tư duy kinh tế Đường lối đổi mới của Đảng đã tác động tích cực đến sự phát triển của các ngành sản xuất và dịch vụ
Cùng với thành tựu trong tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã đạt được những kết quả xuất sắc trong xóa đói giảm nghèo Chủ trương của Đảng và Nhà nước ưu tiên phát triển nông nghiệp và nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã thành công trong việc giải phóng sức sản xuất của dân cư nông thôn và khuyến khích họ tự mình phấn đấu cải thiện cuộc sống
1.1.3 Văn hóa, xã hội
Trước cách mạng tháng Tám nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, nên di sản mà thực dân Pháp để lại cho chúng ta là vô cùng to lớn Thực dân Pháp đã thực hiện một nền giáo dục nô dịch, trên 90% dân số mù chữ Trung bình 1 vạn dân chỉ có 115 học sinh vỡ lòng, 210 học sinh tiểu học, 2 học sinh chuyên nghiệp và đại học Cơ sở y tế thiếu thốn và chủ yếu phục vụ cho quân đội viễn chinh Pháp và bọn tay sai phản động Cả nước chỉ có 213 bác sĩ,
335 y sĩ, 264 nữ hộ sinh, bình quân 1 vạn dân mới có 0,23 bác sĩ và y sĩ
Trang 16Cùng với nỗ lực đẩy mạnh sản xuất, sự nghiệp giáo dục-chống giặc dốt được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, đi đôi với chống giặc ngoại xâm, giặc đói Từ 1946 đến 1954 có 10,5 triệu người thoát nạn mù chữ
Cùng với phát triển kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cũng nâng lên Lấy năm 1957 làm gốc so sánh, Quỹ tiêu dùng của nhân dân tính bình quân đầu người tăng 82,8%; thu nhập bình quân đầu người của gia đình công nhân viên chức tăng 48,5%; của gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp tăng 73,8% Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Đảng và Nhà nước ta
đã tiếp tục lãnh đạo nhân dân xây dựng nền kinh tế, văn hóa giáo dục, và đã đạt được nhiều thành tựu
Sự nghiệp giáo dục đạt nhiều thành tựu Tỷ lệ dân số từ 10 tuổi trở lên biết đọc, biết viết đã tăng từ 88% năm 1989 lên 91% năm 1999 Năm 2000 nước ta đã hoàn thành chương trình mục tiêu chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
Sự nghiệp y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm Hệ thống y tế đã được phát triển từ tuyến cơ sở tới trung ương với nhiều loại hình dịch vụ y tế đã tạo điều kiện cho người dân được lựa chọn các dịch vụ y tế phù hợp Năm 1990, tính bình quân 1 vạn dân có 3,5 bác sĩ; đến năm 2004 là 6,1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi năm 1990 từ 51,5%; đến năm 2004 còn 26,7% Chỉ số về sức khoẻ bà mẹ và trẻ em có nhiều tiến bộ
Tỷ lệ tử vong của trẻ em đã giảm xuống bằng với mức phổ biến ở những nước
có thu nhập đầu người cao gấp 2-3 lần Việt Nam
1.2 Dòng họ, gia đình Nguyễn Văn Nhân
GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân sinh ngày 12-8-1924 tại Hội Vũ, Hoàn Kiếm, Hà Nội Thân phụ ông là cụ Nguyễn Văn Hạnh sinh năm 1899 tại đường Nam Bộ, Hà Nội Năm 1915, cụ Hạnh học lớp y tá nhà binh 7 tháng tại Nhà thương đồn thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108), ra trường
Trang 17bị điều sang Pháp rồi Tân Đảo, đến năm 1922 mới về nước và làm việc ở nhà thương Chũ - Phú Thọ - Việt Trì - Hưng Hoá - Đồn Vàng, cho đến 1937 mới trở lại Bệnh viện Phủ Doãn làm việc cho đến kháng chiến toàn quốc Tháng 12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ Hạnh theo đoàn giải phẫu lưu động của GS Tôn Thất Tùng ra Vân Đình (Hà Đông) cho đến cuối năm 1947 về Ban
Y tế Phú Thọ phụ trách Trạm y tế nông cụ kháng chiến rồi sang trường Trung học quốc dân miền núi đến 1951 nghỉ mất sức Tháng 7-1955, cụ lại ra làm việc phụ trách y tế ở Ty Giao thông Lạng Sơn đến ngày mất (20-6-1968)
Thân mẫu của GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân là cụ Hoàng Thị Chín, quê
ở Thượng Thuỵ, Ước Lễ, Thanh Oai, Hà Tây Cụ Chín có con trai là Nguyễn Đình Quế, sau một thời gian chồng cũ mất, cụ Chín lấy cụ Nguyễn Văn Hạnh Cuộc đời cụ cũng giống như bao phụ nữ thành thị ngày trước: Lấy chồng-sinh con-nuôi dạy con cái-quản lý nhà cửa, nghĩa là cuộc đời của một bà nội trợ
Do công việc của cụ Hạnh đi đây đó khắp nơi nên cụ Chín phải theo chồng đến những vùng cụ Hạnh phải chuyển đến Sau khi cụ Hạnh mất, cụ Chín về
Hà Nội sống cùng với con trai Nguyễn Văn Nhân, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì đổ bệnh, phải vào nằm tại Viện Quân y 108 Lúc này, Hà Nội hết sức căng thẳng vì Mỹ đe doạ ném bom nên BS Nguyễn Văn Nhân phải vào hẳn trong Viện để “trực chiến” Tháng 11-1968, tình hình bệnh của cụ càng xấu
đi, lúc tỉnh lúc mê, BS Nguyễn Văn Nhân lại nhận được lệnh chuẩn bị đi B
BS Nhân vào chiến trường được 10 ngày thì cụ bà mất
Có thể thấy truyền thống gia đình cũng có người theo ngành y, đây là một trong những yếu tố quyết định đến việc lựa chọn ngành Y của Nguyễn Văn Nhân GS Nhân kể: “Sơ học tiểu học tôi học ở trường Tiểu học Đồn Vàng, châu Thanh Sơn, Phú Thọ do khi đó thân phụ ông bị cử biệt phái lên Phú Thọ làm Bệnh xá trưởng ở khu Đồn Vàng Tôi đi theo bố nên học ở những chỗ khỉ ho cò gáy ấy Và cũng vì bố tôi đi làm ở các nơi như thế và
Trang 18mình học ở những nơi không nổi tiếng, không giỏi cho nên trình độ của mình
là xoàng Đến lúc tôi về Hà Nội, tôi học tiểu học ở trường Sinh Từ Tự biết trình độ của mình nên tôi chỉ dám thi vào trường trung học Đỗ Hữu Vị, không dám thi vào trường Bưởi, nhưng cũng không đỗ, thành ra tôi phải đi học trường tư thôi, chứ không được học trường công Trường tư thục tôi học là trường Thăng Long, Hà Nội Tú tài tôi học trường tư thục Louis Parteur, Hà Nội Từ nhỏ, tôi quen đi nhiều, quen được xem bố làm các công việc chuyên môn, tôi thấy thích và tôi tự thấy mình khéo tay, rất thích làm thủ công, làm các phẫu thuật về xương là phù hợp nên sau khi thi đỗ tú tài triết học (năm
1944, kỳ 2), tôi thi vào trường Y ngay khoá đầu tiên sau cách mạng tháng Tám, năm 1945”2
Trang 19
Mafeking Ông đã viết tập chỉ dẫn huấn luyện binh sỹ các điều căn bản về mưu sinh, tìm dấu vết đi rừng, liên lạc thám báo, quan sát địa hình và thoát hiểm
Hai thập kỷ sau (1929-1930) phong trào Hướng đạo mới chớm vào Việt Nam Nhóm thanh niên dân tộc đang trăn trở với vận mệnh đất nước sau việc thực dân Pháp đàn áp tàn khốc các cuộc nổi dậy của phong trào Văn Thân, Đông kinh nghĩa thục và các cuộc khởi nghĩa Xô Viết - Nghệ Tĩnh - Yên Bái
- Nam Kỳ - Đô Lương đã thấy ở Hướng đạo một công cụ thần diệu giúp thực hiện lý tưởng, tạo ra những con người nhiệt tình với đất nước, với dân tộc
Hội hướng đạo Việt Nam được ông Hoàng Đạo Thúy (1900-1994) sáng lập vào năm 1930, trong thời thuộc Pháp Về sau ông Hoàng Đạo Thúy, một nhà mô phạm, lập Tráng Đoàn Lam Sơn quy tụ được những trí thức danh tiếng như BS Tôn Thất Tùng, BS Phạm Biểu Tâm
Trang phục hướng đạo sinh ngày đó là áo sơ mi cộc tay nâu, quần sooc xanh, đầu đội mũ rộng vành, đeo khăn quàng Nguyễn Văn Nhân là một trong
4 người anh lớn tuổi của Đoàn Tây Hồ: Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Văn Nhân, Ngô Văn Chính, Phạm Hướng Có thể nói chính trong thời gian hoạt động trong ở tổ chức hướng đạo sinh là một trong ba yếu tố làm nên thành công của Nguyễn Văn Nhân, bởi từ nhỏ đã được rèn luyện tính tự lập, bản lĩnh
Sau ngày Hà Nội nổ súng, Nguyễn Văn Nhân được biết Bệnh viện Phủ Doãn có một bộ phận chuyển về Vân Đình lập một trạm phẫu thuật cấp cứu ở
đó Đây là bộ phận của GS Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Hoàng Đình Cầu cùng một số sinh viên và nhân viên Ngoại khoa Lúc này, Nguyễn Văn Nhân vẫn phục vụ ở Cục Giao thông liên lạc, chỉ qua lại những trạm giải phẫu và bệnh
xá này vì trường chưa gọi sinh viên về
Sau khi GS Hồ Đắc Di, GS Tôn Thất Tùng lên Việt Bắc thành lập trường Đại học Y khoa ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang), Nguyễn Văn Nhân được tin, xin thôi công tác ở Cục Giao thông liên lạc để về truờng tập trung
Trang 20học tiếp ở Chiêm Hoá vào giữa năm 1947 Nguyễn Văn Nhân tự đi lên tìm trường, qua Tuyên Quang đi lên đường Hà Giang đến cây số 31 rẽ đi chợ Bợ, qua Đèo Gà, lên Chiêm Hoá, vào Ngòi Quẵng Nguyễn Văn Nhân thuộc khoá
1945, sau khi thi lên năm thứ 4 thì trường gửi sinh viên đi thực tập ở các nơi Nguyễn Văn Nhân xin về khu III, nơi có trạm Giải phẫu lưu động A do BS Hoàng Đình Cầu phụ trách, ở thôn Chuôn (Ứng Hoà, Hà Đông)
Trạm giải phẫu A lúc đó (1948) xây dựng trên cơ sở của nhà hộ sinh thôn Chuôn (Chuôn-Tre) nằm ngay trên bờ con sông Đào từ Đồng Quan đi Cống Thần-Chợ Đại Nhà mổ triển khai ở buồng đỡ đẻ cũ của nhà hộ sinh, một nhà gạch nhỏ một tầng Phụ trách nhà mổ này là ông Khang “già” Số nhân viên này ở ngay trong khu nhà hộ sinh và nhóm sinh viên cũng ở nhờ ngay tại đây Hồi đó bộ đội, du kích dân quân và nhân dân bị thương ở một phần Hà Nội đều được đưa về xử trí ngoại khoa ở trạm giải phẫu A Cũng nhờ
có trạm giải phẫu A, nhà hộ sinh Chuôn cũng tập trung những ca đẻ thường,
đẻ khó của cả vùng Giường bệnh là những chõng tre hoặc phản gỗ… nhưng hầu như lúc nào cũng đầy bệnh nhân
Các vết thương chiến tranh đủ các loại rất phong phú: từ sọ - não đến bụng, lồng ngực, gãy xương, dập nát chi… Nhóm sinh viên “nội trú” vì ăn ở ngay trạm nên bao giờ cũng tiếp xúc với thương binh đầu tiên: khám xét, sơ cứu, làm chẩn đoán, dự kiến chỉ định xử trí, ra mệnh lệnh cho nhân viên chuẩn bị rồi mới vào làng báo cáo với các sinh viên khóa trên và BS Hoàng Đình Cầu Các ca điều trị đầu tiên phần lớn là BS Cầu và các sinh viên khóa trên trực tiếp mổ, sinh viên được phụ hoặc đứng xem học tập, ghi chép
BS Cầu và các anh lớp trên ngày ấy thường rất ít giảng giải: ra xem lại chẩn đoán rồi ra lệnh rửa tay và vào mổ Sinh viên Nguyễn Văn Nhân và Đinh Văn Lạc bàn nhau: ai không phải phụ mổ, sẽ đứng ngoài ghi chép, vẽ lại các thì mổ và kỹ thuật mổ …Cứ thế, sau vài ba ca mổ mỗi loại, hai người lại
Trang 21xem lại các ghi chép của mình và tự soạn ra kỹ thuật và các thì mổ cho từng loại phẫu thuật (ví dụ cắt cụt chi ở từng vị trí, mổ nội tạng bụng, mổ vết thương lồng ngực…) rồi cũng tự soạn chỉnh lại thành tài liệu thực hành cho mình
Thời gian này rất thuận tiện cho việc học tập của nhóm nội trú, tuy có khó khăn là thầy và các anh ít giảng giải và thiếu tài liệu sách vở nhưng thuận lợi lại rất lớn là thương binh nhiều, đủ các loại, lại được trực tiếp khám xét, phụ mổ, theo dõi sau mổ
Khi đã ít nhiều học được kinh nghiệm từ BS Cầu và các sinh viên khóa trên, sau khi đợi thầy duyệt lại chẩn đoán, quyết định hướng xử trí, sinh viên được tự làm những phẫu thuật cắt lọc, cắt cụt chi ở chi trên và cẳng tay
Năm 1949, BS Hoàng Đình Cầu chuyển về làm Hiệu trưởng trường Y
sĩ Liên Khu III và IV, BS Nguyễn Hữu từ trạm giải phẫu B ở Ngọc Bài (Sơn Tây) về thay
BS Nguyễn Hữu và gia đình mượn một căn buồng nhỏ, cùng ở ngay trong khu vực nhà hộ sinh Mọi vết thương lớn nhỏ đều được thầy xem và hướng dẫn sinh viên cùng xem
Tác phong của BS Nguyễn Hữu là rất thích hỏi vặn sinh viên và phân tích giảng giải Ngay từ những ngày đầu về trạm giải phẫu A, BS Hữu đã đặt ra nếp học tập lên lớp cho sinh viên về kỹ thuật xử trí các loại vết thương chiến tranh Khi có thương binh, vừa làm, thầy vừa nhắc lại, hướng dẫn thực tế từng thì mổ
Khi phụ mổ cho BS Hữu, sinh viên vừa thích thú, vừa sợ hãi: thích thú
vì được chỉ dẫn, được gợi nhớ lại nhiều, cả về giải phẫu và kỹ thuật ngoại khoa, nhưng sợ hãi vì trước khi chỉ dẫn, bao giờ BS Hữu cũng vặn hỏi và sinh viên rất sợ lòi những chỗ dốt của mình trước mọi người Trong từng bước mổ,
BS Hữu thường hay hỏi: cơ gì đây? nhánh gì đây… rồi khi sinh viên trả lời sai hoặc không đầy đủ thì thầu lại đọc vanh vách như lật sách ra
Trang 22Được gần ở BS Nguyễn Hữu, Nguyễn Văn Nhân mới hiểu vì sao BS Hữu giỏi, biết nhiều? Tất cả là vì chăm học Và trong đối xử với sinh viên,
BS Hữu cũng luôn tỏ ra quan tâm và ưa thích những sinh viên nào chăm học, thích học
Sau thời gian ngắn sau khi về giải phẫu A, BS Hữu đã liên hệ nhờ bên Biệt động thành móc nối với BS Phạm Biểu Tâm (ở lại phụ trách bệnh viện Phủ Doãn) gửi cho tài liệu sách vở mới Khi nhận được bộ sách Traité de Pathologie chirurgicale mới xuất bản, BS Nguyễn Hữu đã nghiền ngẫm và lập tức tổ chức bắt sinh viên cùng học Hình thức tổ chức rất đơn giản mà lại rất hiệu quả, đó là nêu ra một vấn đề chuẩn bị để thuyết trình lại trước lớp trong buổi học, một phần của vấn đề (ví dụ: bệnh lý giải phẫu, triệu chứng và chẩn đoán, biến chứng, phương pháp điều trị ) Đến buổi học, nếu không bận có cuộc mổ, tất cả tập trung và lần lượt từng người trình bày lại, BS Hữu yêu cầu người khác bổ sung, rồi lại tự bổ sung, nhận xét và kết luận
Sau một thời gian, hình thức học tập này đã quen, BS Hữu lại thay đổi: chỉ nêu vấn đề sẽ thuyết trình để mọi người phải cùng đọc và nghiên cứu, không phân công trước cho mỗi người Đến buổi học, BS Hữu viết sẵn mấy mảnh giấy nhỏ ghi các phần phải thuyết trình rồi cho sinh viên tự bốc Sau 10-15 phút chuẩn bị, mỗi người phải theo thứ tự chỉ định, trình bày phần bài ghi trong phiếu mình bốc được
Với những buổi học như vậy, Nguyễn Văn Nhân vừa lo âu, vừa hào hứng Lo âu vì sợ mình quên sót, hoặc chuẩn bị không kỹ Hào hứng vì cách học rất sinh động, dễ nhớ, bắt buộc mỗi người phải chủ động mà học Sách chỉ có một bộ mà ai cũng phải đọc và chuẩn bị, sinh viên đều đóng vở rồi cặm cụi mượn sách ghi chép lại nguyên văn từng bài, từng chương của sách Có hình vẽ thì vẽ lại, không biết vẽ đẹp thì phải căn ke bằng giấy pơ luya Dần dần mỗi sinh viên đều có nhiều tập vở chép tay các môn học tập
Trang 23Ngoài những kiến thức chuyên môn cụ thể đã nêu trên của BS Nguyễn Hữu mà Nguyễn Văn Nhân học được và áp dụng trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ trị bệnh cứu người đối với Nguyễn Văn Nhân, BS Hữu còn là tấm gương sáng về tác phong và phương pháp làm chuyên môn kỹ thuật Nguyễn Văn Nhân học được ở BS Nguyễn Hữu phương pháp ghi chép sổ biên bản phẫu thuật: Sau mỗi ca mổ, bất kể lớn nhỏ, BS Hữu ghi chép rất cụ thể, chi tiết các mô tả thương tổn, cách xử trí Hồi ấy sổ mổ BS Hữu ghi chép chỉ là giấy được sản xuất bằng cây giang, hay những vỏ bao thuốc lá, lật trái ghi mặt sau và những vở học sinh khổ nhỏ nhưng ghi chép đặc kín những phân tích nhận xét, rút kinh nghiệm… Ngày đó chưa có giấy để làm hồ sơ bệnh án, những tình hình diễn biến sau mổ của mỗi bệnh nhân BS Hữu đều ghi thêm ngay vào bên, hoặc dưới phần biên bản phẫu thuật
Học tập kinh nghiệm trên của BS Nguyễn Hữu, sau này Nguyễn Văn Nhân cũng ghi chép và giữ được sổ mổ của bệnh nhân Nhờ đó mà Nguyễn Văn Nhân có thể tổng kết, theo dõi rút kinh nghiệm và thực hiện những đề tài nghiên cứu khoa học Có thể thấy nếu như ở BS Hoàng Đình Cầu, Nguyễn Văn Nhân học được cách học từ thực tiễn, không sách vở thì ở BS Nguyễn Hữu, Nguyễn Văn Nhân là người có tác động nhiều nhất đến ông, tạo cho ông phương pháp nghiên cứu, làm gì cũng phải cặn kẽ tìm hiểu đến tận cùng
Mùa xuân năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta trên cả nước đã bước sang năm thứ 4 Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã vững vàng trong những năm dài gian khổ, chiến đấu trong vòng vây của địch, dựa vào sức mình là chính; đã vượt qua nhiều hy sinh, thử thách và không ngừng trưởng thành Chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ và rộng khắp Từng bước, các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã tiến lên đánh vận động quy mô nhỏ, giữ vững
và mở rộng các căn cứ địa kháng chiến, làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn
Trang 24của một số kẻ địch mạnh hơn ta nhiều lần về quân số và trang bị, vũ khí Ta
đã chủ động tiến công vào những hướng sơ hở và nơi hiểm yếu của địch Lực lượng vũ trang ta, trước hết là bộ đội chủ lực vừa chiến đấu, vừa xây dựng đã liên tục lớn mạnh trưởng thành, đưa cuộc kháng chiến phát triển sang giai đoạn mới-giai đoạn chuẩn bị tổng phản công
Trước sự phát triển và yêu cầu của cuộc chiến tranh nhân dân đòi hỏi phải có những đơn vị vũ trang tập trung, có khả năng cơ động nhanh, đánh địch với quy mô lớn, dài ngày, lại phòng thủ kiên cố trên địa hình phức tạp… nhằm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, nhanh chóng làm thay đổi cán cân lực lượng giữa ta và địch, tiến lên giành toàn thắng
Trong cục diện đó, tiếp theo sự ra đời của Đại đoàn 308 - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta, ngày 10-3-1950, Đại đoàn 304 ra đời, sau này mang tên Sư đoàn Vinh Quang Đại đoàn trưởng đầu tiên là đồng chí Hoàng Minh Thảo và chính ủy đầu tiên là đồng chí Trần Văn Quang
Đi đôi với lực lượng chiến đấu tập trung, lực lượng bảo đảm chiến đấu cũng phải tập trung Tháng 11-1950, Đội điều trị 4 được thành lập trên cơ sở hợp nhất các đơn vị quân y: Đội giải phẫu lưu động, An dưỡng đường và Bệnh xá Nguyễn Văn Nhân là đội trưởng kiêm phẫu thuật viên chính, đội phó là Bùi Thiện Sự, chính trị viên là Trần Ba
Đội điều trị 4 có nhiệm vụ tiếp nhận và cứu chữa cho thương binh, bệnh binh của sư đoàn, kể cả các đơn vị dân công phục vụ cho chiến dịch (thuộc phạm vi phụ trách của sư đoàn), ngoài ra đội còn góp phần phục vụ chữa bệnh cho nhân dân nơi đóng quân trong những trường hợp khẩn cấp bất
kể ngày hay đêm
Nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến, các sinh viên y khoa được huy động phục vụ trong quân đội, kể cả khi chưa tốt nghiệp Trường hợp Nguyễn Văn Nhân đã được học thực hành ở trạm Giải phẫu không phải là ngoại lệ
Trang 25Tháng 3-1950, Nguyễn Văn Nhân nhận được lệnh nhập ngũ, biên chế vào Đại đoàn 304, phụ trách Ban quân y E57, sau đó là Đội trưởng Đội điều trị 4 của Đại đoàn Lúc này bà Đinh Thị Loan - vợ Nguyễn Văn Nhân tuy đang mang bầu đứa con đầu lòng nhưng đã bỏ lại phía sau việc quản lý một xưởng than ở Hà Nội để theo chồng vào Thanh Hóa - nơi đóng quân của Đại đoàn 304 Niềm vui được làm mẹ không át được nỗi lo về trường hợp xấu có thể xảy ra khi sinh con vì bà Loan vốn bị bệnh tim (hẹp van 2 lá); gia đình chồng lại đang ở Phú Thọ, đi lại, ăn ở khó khăn Gần đến ngày sinh, vợ chồng Nguyễn Văn Nhân nghĩ đến việc xin trợ giúp của đơn vị "Để gỡ thế bí, chúng tôi tính nước xin với Đại đoàn cho vợ tôi về ở nhờ nhà chị gái Đinh Thị Hương trong Hà Nội vừa để tiện theo dõi bệnh tim, vừa để chờ sinh con Nguyện vọng và đề nghị của vợ chồng tôi được anh chị em Đội điều trị 4 tán thành và Đại đoàn cho phép Hơn thế Đại đoàn còn cấp Giấy giới thiệu của Khu III và nhờ biệt động thành giúp đỡ việc ra vào"1 Nhờ đó, bà Loan đã dễ dàng trở về Hà Nội và sinh con rất thuận lợi Cậu con trai đầu lòng được đặt tên là Nguyễn Văn Trung Hết thời gian ở cữ, con đã cứng cáp, hai mẹ con bà Loan lại ra vùng tự do đoàn tụ gia đình Trong khối tư liệu hiện vật GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân tặng Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam có một
Giấy giới thiệu được ép plastic cẩn thận Giấy giới thiệu do ông Nguyễn Văn
Xước - Ủy viên thường trực Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu III ký, gửi các Trưởng ty Công an Hà Nam-Hà Đông-Ninh Bình ngày 4-8-1951, có viết: "Về trường hợp đặc biệt, chúng tôi đồng ý cho bà Đinh Thị Loan, vợ y sĩ Nguyễn Văn Nhân, được vào Hà Nội để đem một cháu trai là con của hai ông
bà Nhân ra vùng tự do Y sĩ Nhân hiện đang phục vụ ở ngành Quân y, rất tích cực trong công tác, đủ bảo đảm cho bà Đinh Thị Loan Bà Loan về lưu lại ở
Hà Nội độ hai tháng và khi ra sẽ mang theo một số vật dụng…Yêu cầu các
1
Hoàng Thị Liêm,Phỏng vấn GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân, ngày 3-12-2010
Trang 26ông đồng thời với sự kiểm soát sự đi về theo thường lệ, giúp đỡ bà Loan về mọi phương diện để bà có thể vào đưa cháu bé ra vùng tự do"
Lần thứ hai sinh con (sinh đôi), bà Loan tiếp tục được đơn vị tạo điều kiện về Hà Nội để đảm bảo an toàn Lần chia tay này khá đặc biệt với hai ông
bà, bởi với Nguyễn Văn Nhân ngoài trọng trách của một người chồng đối với
vợ thì còn có thêm sự chọn lựa giữa đi về thành hay ở lại vùng tự do Trong cuốn Hồi ký năm 1996, GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân viết: "Trời đã về chiều tôi và Lê Minh Tường đưa vợ tôi và em Bê đến sát mép nước, bờ bên này để xuống đò Vợ tôi không chèo kéo, nhưng cả 2 chị em nước mắt đầm đìa…bước xuống con đò nhỏ Tất cả chúng tôi lòng nặng trĩu buồn nhưng không dám dùng dằng lâu" [22, tr.4]
Nhớ lại cảnh vợ chồng bịn rịn chia tay ở bến đò vượt qua sông Đáy, khi bà Loan về Hà Nội sinh con lần thứ 2, Nguyễn Văn Nhân vẫn luôn tự đặt câu hỏi: Tại sao lúc đó ông không bước xuống đò "sang ngang" cùng vợ về
Hà Nội? Bởi trước đó, khi về Hà Nội sinh con lần thứ nhất, qua bà Loan các thầy trong nội thành ngỏ ý nếu Nguyễn Văn Nhân về Hà Nội, các thầy sẽ giúp
để được sang Pháp học nâng cao Giáo sư Nhân lý giải: "Lý do xác đáng và
dễ thấy hơn cả là thái độ hoàn toàn tin cậy của tập thể anh chị em ở Đội điều trị 4 và của lãnh đạo-chỉ huy Đại đoàn 304 lúc đó với tôi… Có lẽ chính sự chân thành tin tưởng đó, đã ngầm giúp tôi tự xác định được bước chân quay lại của mình Và có lẽ chính suy nghĩ ấy đã giúp được vợ tôi, tuy trong hoàn cảnh chia ly đau buồn cao độ nhưng vẫn không một lời hoặc một hành động nhỏ để níu kéo tôi cùng sang ngang"1
Sự tin tưởng, giúp đỡ của Đại đoàn là động lực giúp Nguyễn Văn Nhân nguyện đem hết những kiến thức chuyên môn, tâm huyết cứu chữa thương
Trang 27
binh, dù trong điều kiện phương tiện phục vụ cho công tác điều trị, và khám chữa bệnh thiếu thốn rất nhiều
Với cương vị là Đội trưởng Đội điều trị 4, Đại đoàn 304, Nguyễn Văn Nhân trực tiếp phụ trách mổ, điều trị cho thương binh của Đại đoàn trong mỗi chiến dịch Nguyễn Văn Nhân không thể nhớ hết đã mổ cho bao nhiêu thương binh, chỉ biết rằng đôi bàn tay ông dường như không bao giờ được nghỉ Có những chiến dịch thương binh vận chuyển về nhiều, Nguyễn Văn Nhân phải đứng mổ 2-3 đêm liền, chân bị sưng phù Hàng trăm, nghìn bệnh nhân qua Đội điều trị 4 do y sĩ Nguyễn Văn Nhân điều hành đều nhanh chóng phục hồi trở về đơn vị chiến đấu
Trong số các ca mổ y sĩ Nhân đã thực hiện, có một ca mổ bụng đầu tiên
mà ông nhớ nhất Đó là một kỷ niệm ông "không thể quên" GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân kể: “Thời kỳ ấy tôi phục vụ ở Đại đoàn 304, mỗi một chiến dịch có hàng nghìn chiến sỹ bị thương, mà cả Đại đoàn chỉ có một mình tôi lúc bấy giờ là sinh viên năm thứ tư, chưa có bằng cấp nhưng được phong làm y sĩ và phụ trách mổ "từ đầu đến chân" Ca mổ đầu tiên làm tôi nhớ mãi
là ca mổ cho một cậu thương binh trẻ bị nhiều vết đạn vào dạ dày và ruột Sau khi mổ xong, tôi yêu cầu anh em mang chõng của tôi ra để tôi được nằm cạnh thương binh vì tôi lo sợ ca đầu tiên chưa biết sống chết thế nào Vì mổ dạ dày
và ống tiêu hóa nên bệnh nhân không được uống nước trong vòng từ 24-48 tiếng sau mổ, khi bộ máy tiêu hóa chưa làm việc được Tôi cấm không cho bệnh nhân uống nước nhưng do mất máu, khát nước, cậu lính trẻ không kiềm chế được mình đã chửi bới tôi om sòm Trong đình có một hồ trồng sen, nhân lúc tôi không để ý, cậu ấy chạy thẳng ra hồ nhảy xuống để uống nước Ca ấy thì tôi nhớ suốt đời, vừa mổ xong, nước hồ thì đâu có sạch, vớt được cậu ấy lên, làm
Trang 28vệ sinh vết mổ, tôi chắc là cậu ấy sẽ chết, nhưng may mà cậu ấy sống Kể cũng
kỳ lạ Con người ta đôi khi có những sức mạnh khó lý giải được”1
Với những thành tích của Đội điều trị 4, Đội trưởng - y sĩ Nguyễn Văn Nhân vinh dự được Đại đoàn tuyên dương và bầu đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quân lần thứ nhất, tổ chức tại Việt Bắc từ ngày 12 đến 18-4-1952 Dịp đó, Nguyễn Văn Nhân được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến
sĩ hạng Nhất và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng một bức ảnh chân dung có ghi "Thân tặng" và chữ ký của Đại tướng Tấm ảnh nhỏ từ bao năm nay GS Nhân cất giữ trong ví, mang bên mình nên không bị thất lạc, hư hỏng Những năm học ở Liên Xô, mỗi lần có cơ hội, Nguyễn Văn Nhân đều khoe tấm ảnh này với các bạn Mỹ latinh và châu Phi
Ngày 20-11-1953, Đại đoàn 304 (gồm C9 và 54) từ Thanh Hoá hành quân về Ngọc Lạc, Suối Rút rồi theo đường 41 lên Mộc Châu Đến Mộc Châu, đơn vị bỏ lại đường 41 rẽ vào một con đường mới làm, từ đó cứ theo hướng Đông đi mãi Gần một tháng trời, Nguyễn Văn Nhân cùng đội điều trị
cứ đi gấp rút, ngày nghỉ trong rừng, đêm tối hành quân, đi mãi trong rừng vắng không biết mình đi đâu, qua những đâu, vượt qua bao nhiêu núi đèo
Ngày 5-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Đại đoàn tại khu rừng trú quân và trực tiếp ra lệnh cho Đại đoàn 304: điều động Trung đoàn 57 lên Điện Biên Phủ, Trung đoàn 9 tiếp tục đóng quân tại Phú Thọ
Trung đoàn 57 lập tức lên đường và bộ phận của Đội điều trị 4 theo sự chỉ huy cũng vội vã hành quân Dọc đường hành quân, bộ phận này được lệnh hành quân gấp để nhận bàn giao một trạm thương binh ở Tuần Giáo Đến đây lại được lệnh: để lại một bộ phận phụ trách và chăm sóc số thương, bệnh binh đang nằm ở trạm, còn bộ phận phẫu thuật và một số nhân viên tiếp tục hành quân theo Trung đoàn 57 lên Hồng Cúm Đội điều trị 4 gồm bộ phận buồng
Trang 29
mổ và khu trọng thương vội vã hành quân tiếp để đến trung tuần tháng 2
-1954 mới tới được địa điểm phục vụ, đó là ngoại vi vùng cứ điểm Hồng Cúm
Như vậy, tính từ ngày rời hậu phương Thanh Hoá, Đội điều trị 4 đã hành quân dã ngoại hơn 2 tháng Nơi triển khai hoạt động của Đội điều trị 4 cách Hồng Cúm không xa (khoảng vài ba km đường chim bay), trên một triền núi thoai thoải, quay lưng về phía Hồng Cúm Đơn vị phân ra làm ba bộ phận: tổ chọn lọc, phân loại và chuẩn bị phẫu thuật Buồng mổ và khu trung, trọng thương bố trí cách nhau khá xa nhưng được nối với nhau bằng một hào giao liên thông suốt, chiều dài của địa điểm triển khai các bộ phận: một đầu ra thẳng trận địa, một đầu đi về phía sau
Nơi triển khai các bộ phận chuyên môn là những hầm nằm trong lòng núi, giường nằm của các thương, bệnh binh là những “ hàm ếch” khoét sâu trên những vách hầm hào, mặt giường đất trải lá, lát phên nứa phủ một lớp dù
Tổ chọn lọc là nơi tiếp xúc đầu tiên với thương binh, khám vết thương, phân loại ( nặng, nhẹ) để chuyển đến các bộ phận thích hợp Thương binh nặng bị sốc cũng sơ bộ hồi sức tại đây Thương binh cần phẫu thuật được vệ sinh, thay quần áo bẩn, cạo lông tóc (nếu cần thiết), rồi theo nhu cầu chuyển sang
bộ phận phẫu thuật hoặc về khu thu dung trung, trọng thương Khinh thương (bị thương nhẹ) được hướng dẫn đi ngay về thu dung khinh thương do quân y Đại đoàn phụ trách ở ngay mặt trận để nhanh chóng bổ sung quân số
Bộ phận buồng mổ là một hầm rộng, có lối ra vào hai chiều, cũng khoét sâu trong vách núi, đủ chỗ triển khai hai bàn mổ và một nơi rửa tay của phẫu thuật viên Nền buồng mổ lúc đầu lót bằng phên nứa, sau thấy có nhược điểm khó làm vệ sinh nên được thay đổi bằng cách trải một lớp dù hoa để dễ giặt phơi và làm vệ sinh Nhân viên buồng mổ đi chân trần không guốc dép Buồng mổ được trang bị bằng hai lớp dù: lớp ngoài (sát vách đất) là lớp dù
Trang 30hoa, lớp trong là dù trắng Trong buồng mổ đặt hai khung bàn mổ: một để đặt thương binh phẫu thuật, một để chuẩn bị cho thương binh ca sau
Mặt bàn mổ là một mặt chõng, đặt vừa trong khung bàn mổ Ngay từ ở khu chọn lọc - phân loại sau ca mổ, thương binh lại được chuyển trên mặt chõng này về khu điều trị mới phải chuyển sang giường bệnh Đèn mổ là hai đèn pha xe đạp, nguồn điện phát ra từ một dynamo xe đạp (12V) nắp trên khung xe và được một y tá hoặc dân công ngồi quay tay Ánh sáng buồng mổ, ngách rửa tay là mấy chiếc đèn bão (đơn vị có đèn măngsông nhưng thường không đủ mạng đèn nên không sử dụng được thường xuyên) Khu điều trị cũng là một cái hầm rỗng, những giường thương binh cũng chủ yếu khoét dọc trên vách hào, ngang dọc chằng chịt trong phạm vi khu điều trị
Tất cả các nơi làm chuyên môn cũng như nơi nằm của thương binh đều
ở trong lòng đất và thông ra giao thông hào chiến đấu Đầu tháng tư bắt đầu mùa mưa ở Điện Biên Phủ, lòng hào giao thông là một lớp bùn nhão, có chỗ
có lúc ngập hết lòng bàn chân, vấn đề đảm bảo vệ sinh trước, trong và sau phẫu thuật rất khó khăn Một đặc điểm nữa là ở tất cả các nơi triển khai chuyên môn và vách làm giường nằm của thương binh đều được trải lót bằng dù thu nhặt được và chuyển từ mặt trận về Chỉ phẫu thuật khâu vết mổ cũng là dù sợi nhỏ tháo gỡ ra từ những chiếc dù tiếp tế của quân Pháp mà ta thu được
Các thương tích nặng như vết thương bụng, ngực, sọ não, thương tích xương khớp lớn hầu hết được xử trí trong vài ba tiếng đầu sau khi bị thương
Có được thuận lợi này là do thế trận ở Điện Biên Phủ: địch bị ta bao vây trong một thế bất lợi (ở trong lòng chảo), khi pháo của địch bị pháo binh và phòng không của ta khống chế Các cơ sở cấp cứu phẫu thuật của ta tiếp cận được với tuyến chiến đấu và được hầm hào bảo vệ an toàn
Thương binh được đưa về sớm nên ít xảy ra biến chứng “sốc nặng” (do đau đớn, chảy máu, mất máu kéo dài dọc đường vận chuyển) và tình trạng
Trang 31nhiễm trùng nặng cũng hầu như không gặp, kể cả trong những thương tích nội tạng nặng (vết thương tạng rỗng, hoặc xương khớp lớn: gẫy vỏ xương lớn, dập nát chi) Ngoài trang bị thuốc men được tăng cường hơn nhiều chiến dịch trước, Đội điều trị 4 trong thời gian hoạt động ở Hồng Cúm cũng được tiếp tế khá nhiều thuốc quý như thuốc kháng sinh, huyết thanh khô, huyết thanh chống uốn ván, dụng cụ phẫu thuật, bông băng, bột bó gẫy xương do địch thả
dù rơi sang trận đại ta hay do ta lấy được, ngay cả khi dù rơi trong hàng rào thép gai của vị trí địch Nhờ đó nên diễn biến sau những phẫu thuật lớn, như phẫu thuật nội tạng bụng, ngực (phẫu thuật cắt đoạn ruột, khâu vết thương gan, khâu vết thương nhu mô phổi, các phế mạc, cắt lọc vết thương xương khớp lớn), phẫu thuật sọ não , hầu hết đã qua khỏi mặc dù kỹ thuật ngoại khoa, so với các chiến dịch trước không có tiến bộ gì đột xuất Đáng ghi nhận nhất là, một số ít vết thương đại tràng nhỏ gọn được xử trí sớm đã được mạnh dạn khâu kín kỳ đầu và thận trọng cách ly miệng khâu ra túi phúc mạc cũng diễn biến an toàn, không bục mạc, không sợ rò
Kỹ thuật xử trí lúc đó là cắt lọc, mở rộng lớp da đầu, gặm mở rộng lỗ
vỡ xương sọ, nhẹ nhàng bơm rửa ống thương tích trong não bằng huyết thanh
ấm cho các dị vật nhỏ, chất não dập nát, cục máu bị dồn ra ngoài Có hôm huyết thanh tiếp tế không đủ đã phải đun sôi kỹ tuyệt trùng nước muối thường
để nguội dùng thay thế X-quang hồi đó chưa có để tìm thấy mảnh xương, mảnh đạn nhỏ nằm sâu trong não, vì vậy không có cách nào khác là nhẹ nhàng luồn ngón tay theo ống thương tích vào sâu trong vết thương và bằng cảm giác đụng chạm mà xác định vị trí của mảnh xương, mảnh đạn và cũng nhẹ nhàng khều gạt những dị vật đó ra bằng động tác của đầu ngón tay Trước khi chiến dịch mở màn, Cục quân y và Bộ Quốc phòng đã tổ chức một cuộc tập huấn ngắn về xử trí vết thương sọ não ở Đội điều trị 4 cho tất cả các phẫu
Trang 32thuật viên phục vụ tại mặt trận, do Giáo sư Tôn Thất Tùng - cố vấn Ngoại khoa của Bộ Quốc phòng phụ trách
Một số cán bộ của Đội điều trị 4 vào Hồng Cúm tiếp nhận các hầm chứa thương binh địch Hình ảnh đầu tiên là một khung cảnh “ kinh hoàng” là các hầm sâu lờ mờ ánh sáng, nồng nặc mùi hôi thối của phân rác, của bông băng đẫm máu mủ của các vết thương nhiễm khuẩn quện lẫn mùi ê-te được tưới vội lên các vết thương để chống ruồi bọ Thương binh địch nằm trên những giường cánh lắp 2-3 tầng, tất cả thân trần, chỉ mặc trên người một mảnh xilíp Mặt đất trong hầm là lớp bùn nhão, trong góc các hầm, dưới gầm các giường cáng là đống bông băng, những mảnh bột bó cắt tháo bỏ, những vỏ đồ hộp
Nguyễn Văn Nhân nhớ mãi buổi mổ cắt chi cho một lính da đen bị biến chứng hoại thư Đang lúc cưa chiếc xương đùi vừa to, vừa cứng bằng cái cưa cùn duy nhất của bộ đồ mổ thì nghe xôn xao ở ngoài cửa hầm Một chiến sĩ báo cáo: một sỹ quan da trắng phản đối vì ta mổ cho lính da đen trước mà không mổ cho sỹ quan của chúng Với vốn kiến thức tiếng Pháp thông thạo, Nguyễn Văn Nhân giải thích: Đây là chính sách nhân đạo của Quân đội Nhân dân Việt Nam, với quy định người bệnh nặng mổ trước, người nhẹ mổ sau không phân biệt cấp bậc, màu da, lần lượt các trường hợp cần thiết sẽ được mổ hết, thì nổ vang lên tiếng reo hò vui mừng của binh lính địch Một số lính da đen hét to: chúng tôi tình nguyện dẫn các ông đi thu hồi những hầm thuốc men mà chúng tôi cất giấu Nhiệm vụ chăm sóc thương binh địch hoàn thành sau gần một tháng Đội điều trị 4 đã chuyển hết toàn bộ số thương binh địch lên Mường Thanh không để xẩy ra sự cố nào cho đến khi trao trả cho phía Pháp
Trang 33Tiểu kết chương 1
Như vậy, con đường đến với ngành Y của Nguyễn Văn Nhân xuất phát
từ truyền thống gia đình cũng như từ những sở thích cá nhân của ông Khi đã
có sẵn những định hướng về nghề nghiệp, Nguyễn Văn Nhân quyết tâm theo đuổi học tập để trở thành người thầy thuốc cứu chữa cho các thương bệnh binh Có được những kiến thức chuyên môn, Nguyễn Văn Nhân không quên
sự dìu dắt của các thầy đầu ngành, đặc biệt là hai người thầy ảnh hưởng tới ông nhất là BS Hoàng Đình Cầu và BS Nguyễn Hữu Và cũng chính trong thời gian hoạt động trong tổ chức Hướng đạo sinh và ảnh hưởng từ hai người thầy lớn, rồi qua quá trình hoạt động trong quân đội đã hun đúc bản lĩnh của người bác sĩ quân y Nguyễn Văn Nhân
Trong hoàn cảnh chiến tranh, việc vừa học, vừa làm để đáp ứng yêu cầu thực tế là hết sức cần thiết Chính những năm tháng phục vụ các chiến dịch đã giúp Nguyễn Văn Nhân trau dồi kiến thức chuyên môn, đứng vững trên bàn mổ Ý chí và lòng quyết tâm theo đuổi nghề nghiệp đã được định hình rõ trong Nguyễn Văn Nhân từ giai đoàn này Những công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Nhân chủ yếu được thực hiện từ sau khi hòa bình lập lại
ở miền Bắc (1954), cụ thể sẽ giới thiệu ở chương 2
Trang 34Chương 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, KHÁM CHỮA BỆNH VÀ ĐÀO TẠO CỦA NGUYỄN VĂN NHÂN 2.1 Các công trình nghiên cứu khoa học của Nguyễn Văn Nhân
Theo GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân: “Hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển kỹ thuật là niềm ham mê suốt đời và là sở trường của tôi!" [21,tr.2]
Quan điểm của GS Nhân trong nghiên cứu khoa học ngay từ những công trình đầu tay, ông đã luôn thể hiện phương pháp nghiên cứu có phân tích
- phê phán, mạnh dạn ủng hộ và áp dụng những đường hướng kỹ thuật tiến bộ; luôn có phương pháp nghiên cứu sáng tạo; luôn tìm tòi để có những đóng góp mới, có những đóng góp cá nhân Dưới đây là các công trình nghiên cứu tiêu biểu của GS Nhân
* Đề tài: Điều trị Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương cẳng
chân bằng phương pháp phẫu thuật
Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của Nguyễn Văn Nhân Sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, năm 1955, BS Nguyễn Văn Nhân cùng các bác sĩ thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau được nhà nước chọn lựa cử đi học ở Liên Xô để nâng cao tay nghề và học tập các chuyên khoa Đây là đoàn thực tập sinh Việt Nam đầu tiên về y tế theo chương trình Nghiên cứu sinh ở Liên Xô do BS Hoàng Đình Cầu làm Trưởng đoàn
Ấn tượng đầu tiên khi ông đặt chân tới Liên Xô đó là tình cảm của con người xứ sở Bạch Dương dành cho các bác sĩ trẻ Việt Nam "Họ rất quý chúng tôi Trong đoàn có BS Hoàng Đình Cầu là lớn tuổi nhất, lên tàu điện ngầm còn được một bà người Nga nhường chỗ Họ gọi chúng tôi
là mantrick vì chúng tôi còn rất trẻ"1
Sang Liên Xô, thời gian đầu các ông được học tiếng Nga, chủ yếu học tiếng Nga thông qua tiếng Pháp Khi làm Thực tập sinh, ông cùng BS Vũ Tam
Trang 35
Hoán và BS Vũ Trọng Kính được phân công học về ngành Phẫu thuật xương Khi có chiến tranh, số thương binh có thể chiếm đến 60-70% nên bản thân ngành phẫu thuật xương cũng rất quan trọng
Qua việc tra cứu các y văn của Liên Xô và thế giới, Thực tập sinh Nguyễn Văn Nhân thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề điều trị Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương Tuy nhiên, đa số công trình
đã công bố tập trung vào vấn đề điều trị Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương thời chiến, còn về loại Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương ở thời bình, đặc biệt về nguyên nhân phát sinh những di chứng này thì còn ít được đề cập đến Trong khi đó, Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương ở cẳng chân lại phổ biến nhất so với các vị trí khác và điều trị cũng khó khăn nhất do một số đặc điểm giải phẫu sinh lý đặc thù của đoạn cẳng chân
Và cũng từ thực tế của đất nước cần giải quyết các di chứng vết thương chiến tranh ở thời bình, BS Nguyễn Văn Nhân đã lựa chọn đề tài "Điều trị Không liền xương-Khớp giả-Mất đoạn xương cẳng chân bằng phương pháp phẫu thuật" mà ông được phân công thực hiện khi làm Thực tập sinh, để phát triển thành luận án Phó Tiến sĩ
Luận án được BS Nguyễn Văn Nhân thực hiện tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Viện Hàn lâm Y học Liên Xô dưới sự hướng dẫn của Viện sĩ hàn lâm Y học Liên Xô GS.N.N Priorov-Giám đốc SITO Bên cạnh đó ông cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, tận tụy của bà Mari Ivan Panova-Chủ nhiệm Khoa Bà còn trẻ nhưng chuyên môn rất giỏi và cũng rất nghiêm khắc
Mong muốn cập nhật những tri thức mới để về phục vụ đất nước, Nguyễn Văn Nhân đã học tập một cách nghiêm túc, dày công nghiên cứu và tra cứu các tư liệu Số liệu và kết quả của luận án dựa trên phân tích 208 bệnh
án của bệnh nhân có khớp giả-mất đoạn xương cẳng chân tại SITO (những bệnh án được SITO lưu trữ từ sau năm 1945), có 51 bệnh nhân do ông
Trang 36trực tiếp theo dõi, điều trị Trong số đó, có một bệnh nhân do ông chữa trị, đến bây giờ ông vẫn còn nhớ Ông xúc động kể: "Có một ông làm việc trong lĩnh vực điện ảnh, bị gãy chân, đã đi mổ nhiều bệnh viện ở Liên Xô nhưng không may là không khỏi Đến lúc tôi học điều trị ở Viện Chấn thương Chỉnh hình thì họ xếp bệnh nhân đó cho tôi Tôi đã chữa cho ông ấy khỏi Hôm tôi bảo vệ luận án, ông bệnh nhân ấy tìm cách viết thư gửi lên cho Hội đồng bảo
vệ Luận án, một thành viên trong Hội đồng đọc thư đó rồi giao lại cho tôi"1
Sau 2 năm học tập, nghiên cứu, tháng 1-1960, BS Nguyễn Văn Nhân
đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ tại Viện Chấn thương Chỉnh hình Trung ương Liên Xô Bản Luận án được Hội đồng đánh giá rất cao "Thầy phản biện chính-Fridland M.O phát biểu một câu mà tôi vẫn nhớ: “Tôi không ngờ một nghiên cứu sinh trẻ như thế mà làm được một luận án như vậy”2
Đóng góp của đề tài luận án:
- Đã phân tích - phê phán đường hướng kinh điển điều trị không liền xương - khớp giả theo nguyên tác cũ, phải cắt đoạn xương đông đặc, phải cắt lọc mô sơ ở kẽ khớp giả, phải khoan mở ổng tuỷ bị bịt kín có nhiều nhược điểm và đề nghị thay thế bằng đường hướng tiến bộ của Talưshin ski- Phémester: Không can thiệp vào ổ khớp giả nếu không phải chỉnh các di lệch lớn của hai đoạn xương!
- Đã phân tích - phê phán kết xương, ghép xương trên mặt trước trong xưong chấy và đề nghị làm kết xương, ghép xương ở mặt trước – ngoài hoặc mặt sau xương chầy
- Đã tham khảo kỹ y văn, phân tích nêu rõ ưu điểm và khích lệ đường hướng “ kết xương nén ép” cả bên trong và bên ngoài trong điều trị gãy xương mới như trong điều trị kết xương nén ép như nẹp kết xương nén ép
1
Phạm Kim Ngân, Trần Ngọc Ánh, Phỏng vấn GS.TSKH Nguyễn Văn Nhân ngày 10-12-2009
Trang 37Danis, kết xương nén ép bên ngoài bằng dụng cụ cố định ngoài như khung Goudoushaouri!
Về nước, những kết quả nghiên cứu của luận án được PTS.BS Nguyễn Văn Nhân ứng dụng tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, giải quyết những di chứng vết thương về xương ở thời bình Đồng thời, là tiền đề để ông đề xuất các ý tưởng thành lập Ngân hàng xương; Sáng tạo các dụng cụ Kết xương; Phương pháp Kết xương tạm thời
* Mẫu dụng cụ nâng xương
Trong quá trình thực hiện đề tài luận án Phó tiến sĩ, BS Nguyễn Văn
Nhân đã sáng tạo ra một dụng cụ nâng xương bảo vệ phần mềm dùng trong
phẫu thuật kết xương, ghép xương ở cẳng chân Tại thời điểm đó ông được biết phương pháp chủ đạo để điều trị khớp giả, mất đoạn xương chày của Viện Chấn thương Chỉnh hình Trung ương Liên Xô là phương pháp ghép xương Albee, một phương pháp mang tên nhà phẫu thuật chỉnh hình rất nổi tiếng người Mỹ Fred Houdlette Albee Phương pháp này có lợi là khai thác được
dễ dàng mảnh xương ghép tại chỗ, ở mặt trước-trong rộng phẳng của xương chày (bằng đục hoặc cưa đĩa) mà không phải lấy xương ghép ở nơi nào khác…và không đòi hỏi phương tiện cố định nào ngoài bó bột Mặt khác, kỹ thuật này gọn nhẹ, đơn giản không cần phương tiện kết xương bên trong, đã áp dụng nhiều năm tại SITO và được đánh giá tốt Vì vậy, khi thực hiện đề tài, BS Nguyễn Văn Nhân đã tìm hiểu rất kỹ về phương pháp ghép xương kiểu Albee
Thông qua các tài liệu y văn của Liên Xô và quốc tế, đối chiếu, phân tích tư liệu của Viện SITO, Nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Nhân tìm hiểu sâu hơn về phương pháp Albee và phát hiện nhược điểm của phương pháp này:
Thứ nhất: Đường rạch ra qua mặt trước-trong cẳng chân, trong hầu hết
các trường hợp khớp giả, mất đoạn xương chày mặt da bị rối loạn dinh dưỡng,
Trang 38xơ sẹo, dính sát xương, thời gian liền sẹo kéo dài có trường hợp biến chứng hoại tử sẹo làm lộ mặt xương
Thứ hai: Mảnh ghép theo phương pháp Albee xẻ trên mặt trước-trong
xương chày và nằm ngay dưới lớp da bệnh lý-đây là môi trường không lý tưởng cho miếng ghép diễn biến và phát triển
Tham khảo một số tài liệu khác, ông thấy nhiều nhà y học khi can thiệp vào xương chày thì họ lựa chọn các đường rạch da ở mặt trước-ngoài cẳng chân để vào xương và sử dụng mặt trước - ngoài xương chày, hoặc sử dụng đường rạch da mặt sau - trong cẳng chân để vào xương và sử dụng mặt sau xương chày Sự lựa chọn này giúp xương chày khỏi chấn thương, khắc phục được sự rối loạn nuôi dưỡng, không bị viêm rò… trong quá trình nhiễm khuẩn của ổ gãy xương chày, lại được các khối cơ dày bảo vệ và nuôi dưỡng tốt Với đặc điểm giải phẫu và sinh lý này các mặt xương nói trên là vị trí thuận lợi cho phẫu thuật kết ghép xương điều trị khớp giả, mất đoạn xương chày
Tuy nhiên, lại một lần nữa NCS Nguyễn Văn Nhân nhận ra trong quá trình phẫu thuật chính các khối cơ dày để bảo vệ và nuôi dưỡng này sẽ gây trở ngại cho thao tác kỹ thuật kết ghép xương, khi cưa xẻ xương lấy xương ghép, đặt nẹp, bắt vít Mà tại thời điểm đó để banh tách, nâng kéo các đầu xương gãy ở các buồng mổ chỉ có dụng cụ nâng xương nhỏ hẹp, kiểu dáng không thích hợp
Một câu hỏi được đặt ra trong đầu vị bác sĩ trẻ tuổi lúc này là làm sao
“tận dụng được những điều kiện sinh lý lý tưởng trong phẫu thuật kết ghép xương điều trị khớp giả, mất đoạn xương chày qua can thiệp vào các thành sau hoặc thành trước ngoài xương chày…vừa phải banh tách được rộng các đoạn xương và bảo vệ được các khối cơ to khỏe ở các mặt xương nói trên”
BS Nguyễn Văn Nhân nhận thấy rằng dụng cụ nâng xương hẹp bản hoặc hình bầu dục…có kích thước hẹp ngang sẽ tạo nên khe hở làm thân cơ bị
đè ép căng phồng và phòi lên ở những khe hở Từ thực tế này một ý tưởng
Trang 39chế tạo dụng cụ nâng xương mới đã lóe sáng trong suy nghĩ của ông về một mẫu nâng xương có bề ngang rộng hình chữ nhật khi áp sát nhau chúng không tạo ra khe hở vì vậy thân cơ sẽ không bị phồng lên Điều này giúp cho phẫu thuật không bị trở ngại và các thân cơ được che chắn kín
BS Nhân nhận định: Dụng cụ nâng xương này nếu kết hợp với việc đặt chi mổ ở tư thế thích hợp làm trùng dãn các thân cơ khi banh tách, đè nén thì
có khả năng khống chế hoàn toàn các thân cơ bị căng phồng
Để chứng minh cho nhận định này, tại Viện SITO, khi thử nghiệm trên
tử thi, ông đã dùng 2 miếng nhôm cứng rộng bản gấp 3-4 lần các kiểu banh xương thông thường và thấy việc banh tách và bảo vệ các vạt cơ được dễ dàng và hiệu quả hơn trước nhiều
Sau khi lựa chọn phương pháp phẫu thuật và dụng cụ nâng xương phù hợp và hiệu quả, ông phối hợp với Xưởng Cơ khí sửa chữa và Nghiên cứu sản xuất dụng cụ phẫu thuật của Viện SITO để thiết kế và sản xuất thử mẫu nâng xương này Sau nhiều lần thay đổi sửa chữa, một mẫu dụng cụ nâng xương mới ra đời, dụng cụ này được làm bằng thép không gỉ dày 15mm, có bề rộng 8x6cm, hình chữ nhật, một đầu có móc cong (3x2cm), một đầu là tay cầm dài 12x3cm, tray cầm và thân dụng cụ tạo một góc 150 độ Thân dụng cụ rộng và hình chữ nhật, banh tách và che chắn an toàn cho mô cơ trên suốt trường mổ, tay cầm bẻ góc 150 độ làm tay người phụ mổ tách xa trường mổ, tăng độ an toàn, thoải mái Dụng cụ ra đời đã được sử dụng thử nghiệm tại SITO Cuộc thử nghiệm thành công cho những trường hợp không liền xương, khớp giả, mất đoạn xuơng ở cẳng chân Hội đồng nghiên cứu sáng kiến cải tiến của Viện SITO nhận xét: Mẫu dụng cụ mới thực sự có tác dụng tốt: bảo đảm an toàn cho cuộc mổ và tạo điều kiện thuận tiện cho phẫu thuật viên Và dụng cụ nâng xương này được đưa vào sử dụng ở SITO từ năm 1958
Trang 40Tháng 3-1960, Hội đồng xét duyệt sáng kiến-phát minh trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã công nhận Mẫu dụng cụ nâng xương là một cải tiến mới và cấp bằng sáng chế, công nhận quyền tác giả cho BS Nguyễn Văn Nhân Và năm 1962 dụng cụ này được phép sản xuất hàng loạt, đồng thời xếp vào danh mục “Dụng cụ y tế xuất khẩu của Liên Xô” Năm 1962 Liên Xô sản xuất 59 chiếc, năm 1963: 661 chiếc, năm 1964: 240 chiếc, năm 1965: 386 chiếc, năm 1966: 511 chiếc, năm 1967: 900 chiếc
* Ngân hàng xương
Từ những năm còn làm nghiên cứu sinh tại Liên Xô, Nguyễn Văn Nhân
đã áp dụng phương pháp sử dụng xương đông lạnh ở nhiệt độ -250
C trong công trình nghiên cứu và cho kết quả thực nghiệm khả quan với những miếng ghép đồng loại cả dưới hình thức đơn độc (Không liền xương mới và đơn giản), phối hợp Không liền xương (Không liền xương, khớp giả) hoặc phối hợp cả với những miếng ghép tự thân và Kết xương kim loại (Mất đoạn
xương lớn, khớp giả) khó giải quyết đã xử trí thất bại nhiều lần
Sau khi bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ năm 1960 ông về nước, với mong muốn đưa một số thành tựu kỹ thuật đã được nghiên cứu toàn diện
về phương pháp sử dụng xương đồng loại trong Chấn thương - Chỉnh hình để
áp dụng vào điều kiện thực tế của nước ta trong công tác điều trị gẫy xương
Ở miền Bắc, xương đồng loại được sử dụng lâm sàng đầu tiên ở khoa Chấn thương-Bệnh viện Việt Đức, nhưng phương pháp bảo quản ở độ lạnh -
100C còn mang những nhược điểm cơ bản là không sử dụng được những miếng ghép lớn và thời hạn bảo quản chỉ được không quá 3 tuần
Để đáp ứng nhu cầu tạo hình ngày càng lớn mà ghép xương tự thân không thỏa mãn được, từ tháng 2-1962, tại khoa Chấn thương-Quân y viện
108, PTS Nguyễn Văn Nhân và đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện đầu tiên phương pháp trữ xương đồng loại ở độ lạnh sâu: -250
C, -200C và