1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TIẾT 77 78 hầu TRỜI

8 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 35,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Tản Đà 1889-1939: là “con người của hai thế kỷ” về các phương diện: - Học vấn: Hán học đang tàn tạ / Tây học mới hình thành, sáng tác bằng quốc ngữ; - Lối sống: xuất thân gia đìn

Trang 1

Ngày soạn : 17/01/2017

Ngày dạy : 19/01/2017

Tiết : 77, 78

HẦU TRỜI

(Tản Đà)

A MỤC TIÊU BÀI HỌC

I Mức độ cần đạt

- Hiểu được ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm mới về nghề văn của Tản Đà

- Thấy được những cách tân nghệ thuật trong bài thơ

II Trọng tâm kiến thức, kĩ năng

1 Kiến thức

- Ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm mới về nghề văn của Tản Đà

- Những cách tân nghệ thuật trong bài thơ: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự

do, giọng điệu thoải mái, tự nhiên, ngôn ngữ sinh động

2 Kĩ năng

- Đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

- Bình giảng những câu thơ hay

3 Thái độ Có thái độ trân trọng những giá trị văn chương và người nghệ sĩ.

B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN VÀ CÁCH THỨC TIẾN HÀNH

I Phương tiện thực hiện

- Giáo viên: SGK, SGV, Chuẩn kiến thức kĩ năng ngữ văn 11, giáo án

- Học sinh: SGK, vở ghi, vở soạn

II Cách thức tiến hành Kết hợp phát vấn, thảo luận với diễn giảng cuả giáo viên.

C TIẾN TRÌNH LÊN LỚP

I Ổn định lớp Kiểm tra sỉ số

II Kiểm tra bài cũ Nghĩa của câu bao gồm những thành phần nào? Thế nào là

nghĩa sự việc của câu? Nghĩa sự việc thường được biểu hiện dựa vào những yếu tố nào?

III Bài mới

HOẠT ĐỘNG 1: HƯỚNG DẪN HS TÌM

HIỂU CHUNG

TT1 Tìm hiểu tác giả

* GV hỏi: Họ và tên thật của TĐ? Giải thích ý

nghĩa bút danh TĐ Vì sao nói TĐ là người của

hai thế kỉ, người dạo khúc nhạc mở đầu cho

cuộc hòa nhạc tân kì đang sắp sửa (Hoài

Thanh)?

* HS theo nội dung Tiểu dẫn (SGK tr 12), suy

luận để trả lời

* Định hướng: Tản Đà mang đầy đủ tính chất

“con người của hai thế kỉ” kể cả về học vấn,

lối sống và sự nghiệp văn chương Ông xuất

thân trong một gia đình quan lại phong kiến

nhưng lại sống theo phương thức của lớp tiểu

tư sản thành thị “Bán văn buôn chữ kiếm tiền

I.TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả Tản Đà (1889-1939): là “con

người của hai thế kỷ” về các phương

diện:

- Học vấn: Hán học (đang tàn tạ) /

Tây học (mới hình thành), sáng tác bằng quốc ngữ;

- Lối sống: xuất thân gia đình quan

lại phong kiến/ ít chịu khép mình trong khuôn khổ Nho gia;

- Sự nghiệp văn chương: thuộc lớp

người đầu tiên của Việt Nam sống bằng nghề viết văn, làm báo, sáng tác văn

Trang 2

tiêu”; học chữ Hán từ nhỏ nhưng lại sớm

chuyển sang sáng tác bằng chữ quốc ngữ và rất

ham học hỏi để tiến kịp thời đại; là nhà nho

nhưng ít chịu khép mình trong khuôn phép nho

gia; sáng tác văn chương chủ yếu vẫn theo ảnh

hưởng không nhỏ đến cá tính sáng tạo của thi

sĩ Thơ văn ông có thể xem như là một gạch

nối giữa hai thời đại ăn học của dân tộc: trung

đại và hiện đại

TT2 Tìm hiểu tác phẩm

GV dẫn: Thơ Tản Đà thường hay nói về cảnh

trời Điều đó đã trở thành mô típ nghệ thuật có

tính hệ thống trong thơ ông Ông tự coi mình

là một trích tiên, tức là vị tiên trên trời bị đầy

xuống hạ giới vì tội “ngông” Có lúc chán đời,

ông “muồn làm thằng Cuội” để cùng chị Hằng

“Tựa nhau trông xuống thế gian cười” Có lúc

mơ màng, ông muốn theo gót Lưu Thần,

Nguyễn Triệu lạc bước vào chốn “Thiên thai”

Táo bạo hơn, ông còn muốn mình được lên

thiên đình, hội ngộ với những mĩ nhân cổ kim

như Tây Thi, Chiêu Quân, Dương Quý Phi,

cùng đàm đạo chuyện văn chương, chuyện thế

sự với các bậc tiền bối như Nguyễn Trãi, Hàn

Thuyên, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương,…

thậm chí với cả cụ Khổng Tử, ông Lư Thoa

(Ru-xô) Ông còn “viết thư hỏi Giời” và bị

“Giời mắng”,… Bài “Hầu Trời” là một khoảnh

khắc trong cả chuỗi cảm hứng lãng mạn đó

* HS đọc Tiểu dẫn

* GV nhấn mạnh: tác phẩm trích trong tập Còn

chơi, cùng với các bài thơ nổi tiếng khác: Còn

chơi, Lo văn ế, Tống biệt…; GV giới thiệu về

hoàn cảnh sáng tác

* HS phát biểu về thể thơ, bố cục

* Định hướng:

- Thể thơ: Thất ngôn trường thiên: 4 câu/7

tiếng/khổ, kéo dài không hạn định; vần nhịp

tương đối tự do, phóng khoáng Có khổ vần

bằng, có khổ vần trắc, ví dụ khổ 7-8; có khổ 6

câu, 10 câu…

- Thơ tự sữ - trữ tình: có cốt truyện, mở đầu,

phát triển, kết thúc, có các nhân vật, tình tiết…

nhưng được kể bằng thơ và thấm đẫm chất

cảm xúc trữ tình

- Bố cục (Có thể chia thành 3 hoặc 4 phần theo

chương chủ yếu vẫn theo các thể loại

cũ nhưng tình điệu cảm xúc lại rất mới mẻ;

 Tất cả có ảnh hưởng không nhỏ đến

cá tính sáng tạo của thi sĩ

* Tác phẩm : xem SGK.

2 Bài thơ Hầu trời:

- Thể thơ: thất ngôn trường thiên

- Xuất xứ: Được in trong tập Còn chơi,

xuất bản lần đầu năm 1921, tuyển tập gồm thơ và văn xuôi

- Hoàn cảnh sáng tác: đầu những năm

20 của thế kỷ XX, thời điểm mà:

+ Lãng mạn đã là điệu tâm tình chủ yếu của thời đại;

+ Xã hội thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau Người trí thức có lương tri không thể chấp nhận nhập cuộc, nhưng chống lại nó thì không phải

ai cũng có dũng khí để làm

- Tóm tắt nội dung: Bài thơ có cấu tứ

là một câu chuyện nhỏ Đó là chuyện thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu, tức Tản Đà lên hầu Trời, đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.Trời và chư tiên tấm tắc khen hay và hỏi chuyện Tác giả đã đem những chi tiết rất thực về thơ và chuyện cuộc đời mình, đặc biệt là cảnh nghèo khó của người sáng tác văn chương hạ giới kể cho Trời nghe Trời cảm động,

Trang 3

thời gian và diễn biến sự việc): (1) khổ thơ

đầu: nhớ lại cảm xúc đêm qua – đêm được lên

tiên; (2) Sáu khổ tiếp (in chữ nhỏ): kể chuyện

theo hai cô tiên lên Thiên môn gặp Trời; (3) 12

khổ tiếp theo: Kể chuyện TĐ đọc thơ văn cho

Trời và chư tiên nghe; cảm xúc của Trời và

chư tiên khi văn thơ TĐ và những lời hỏi thăm

của Trời, những lời bộc bạch của thi nhân; (4)

Còn lại (chữ nhỏ): Cảnh và cảm xúc trên

đường về hạ giới; tỉnh giấc và lại muốn đêm

nào cũng được mơ lên hầu trời

HOẠT ĐỘNG 2: HƯỚNG DẪN HS ĐỌC –

HIỂU

TT1 Tìm hiểu khổ thơ đầu – cách vào đề

* HS đọc diễn cảm khổ thơ, chú ý điệp thật và

nhịp thơ ở các câu 1, 2, 3, 4

* GV hỏi:

- Nhận xét cách mở đầu bài thơ Mở đầu câu

chuyện mơ tiên của tác giả như thế nào?

- Câu đầu gợi ra không khí gì? Đến câu 3-4,

với điệp từ thật nhằm khẳng định ý gì?

* HS thảo luận, trả lời

* Định hướng: Cách mở đầu câu chuyện rất

duyên và đầy sáng tạo Chuyện kể về một giấc

mơ nên không khí hư ảo không phải là mơ mà

là thật, sự thật tác giả đã trải qua Điệp từ thật

được sử dụng tới 4 lần trong 2 câu 3-4: thật

hồn, thật phách, thật thân thể, thật được lên

tiên ý muốn nói không còn điều gì phải nghi

ngờ nữa! Cái bàng hoàng vì lạ lùng, đột ngột

bị át đi bởi cái sướng lạ lùng vì được lên Trời,

gặp tiên Vậy cuộc lên tiên, lên Trời trong

mộng ấy đã diễn ra như thế nào? Đó là lôgic

tiếp nối của các khổ thơ tiếp theo

TT2 Tìm hiểu đoạn 2 – diễn biến

* HS đọc nối nhau từ câu Chư tiên ngồi quanh

đã tĩnh túc đến Đọc xong mỗi bài cũng vỗ tay.

* GV hỏi:

- Cách tả cảnh thi sĩ hạ giới đọc văn thơ cho

Trời và chư tiên nghe như thế nào? Qua cách

đọc ấy thấy điều gì ở nhà thơ (con người và

tính cách)?

- Thái độ và tình cảm của người nghe (Trời và

chư tiên) khi nghe thơ văn của Tản Đà như thế

nào?

* HS lần lượt phân tích, trả lời

thấu hiểu tình cảnh, nỗi lòng thi sĩ

- Bố cục: Bài thơ có thể chia thành ba

đoạn:

- 7 khổ đầu: Kể chuyện thi sĩ được mời lên Thiên đình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe;

- Phần giữa: Phần trọng tâm, dài nhất: Diễn biến cảnh đọc thơ và đối thoại với Trời;

- 4 khổ cuối: Ra về, cảm xúc và ý nghĩ

II ĐỌC - HIỂU

1 Cách vào đề bài thơ

- Khổ thơ mở đầu gồm 4 câu có tác dụng gây nghi vấn, gợi tò mò cho người đọc: Chuyện có vẻ như mộng mơ, bịa

đặt “chẳng biết có hay không", nhưng

dường như lại là thật:

- Điệp từ “thật”: 4 lần / 2 câu;

- Câu cảm thán, ngắt nhịp 2/2/3: khẳng định chắc chắn, củng cố niềm tin, gây

ấn tượng là chuyện có thật hoàn toàn:

Trang 4

* Định hướng:

- Cách kể tả, rất tỉ mỉ, cụ thể:

- Trời sai pha nước để nhấp giọng rồi mới

truyền đọc

- Thi sĩ trả lời trịnh trọng, đúng lễ nghi (Dạ

bẩm lạy Trời con xin đọc).

- Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng và có phần

tự hào, tự đắc vì văn thơ của chính mình Điệp

từ hết, và các ngữ, câu: cơn đắc ý, đọc đã

thích văn dài hơi tốt ran cung mây tưởng

tượng cảnh chính mình đọc thơ cho những đối

tượng đặc biệt (Trời, tiên) nghe, tác giả đã vẽ

lại chính bản thân tâm hồn và tư cách nghệ sĩ

của mình trước bạn đọc Nhiệt hứng nghệ sĩ

khi tìm bạn đọc, bạn nghe tri âm thực sảng

khoái, hết mình

- Thái độ cảm xúc, tình cảm của người nghe

vừa khâm phục vừa sợ hãi, như hòa cùng dòng

cảm xúc trong văn thơ của tác giả: ( Trời

cũng lấy làm hay – Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi

– Hằng Nga Chức Nữ chau đôi mày, cùng vỗ

tay ).

- Trời khen văn thơ phong phú, giàu có, lại lắm

lối đa dạng Những câu: Nhời văn chuốt đẹp

như sao băng – Khí văn hùng mạnh như mây

chuyển – Êm như gió thoảng tinh như sương –

Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết đã tự cực tả

cái tự hào, tự nhận thức của nhà thơ về tài

năng sáng tạo nghệ thuật của mình

* HS đọc đoạn tiếp (Dạ bẩm lạy trời con xin

thưa đến Lòng thông chớ ngại chi sương

tuyết).

* GV hỏi: Qua cảnh Trời hỏi và TĐ xưng tên

tuổi, quê quán, đoạn Trời xét sổ nhận ra trích

tiên Khắc Hiếu bị đày vì tội ngông, tác giả

muốn nói điều gì về bản thân?

* HS trả lời, giải thích từ ngông.

* Định hướng:

- Niềm tự hào và tự khẳng định tài năng của

bản thân

- Phong cách lãng mạn, tài hoa độc đáo, tự ví

mình như một vị tiên bị trời đày (học Lí Bạch)

* GV hỏi: Tản Đà tự cho mình đã lĩnh nhận

nhiệm vụ cao quý gì của người nghệ sĩ? Giải

nghĩa từ thiên lương (Nhớ lại nhân vật Huấn

Cao và quản ngục trong truyện ngắn Chữ

“Vào đột ngột câu đầu, cũng ra vẻ đặt vấn đề cho nó khách quan, nghi ngờ theo khoa học, để ba câu sau toàn là khẳng định, ăn hiếp người ta” (Xuân Diệu, Lời giới thiệu - Tuyển tập Tản

Đà, NXB Văn học, Hà Nội, 1986)

 Lối vào đề có sức hấp dẫn, gây ấn tượng mạnh mẽ, gợi trí tò mò, độc đáo

và có duyên

2 Diễn biến câu chuyện:

a Cảnh đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe (trọng tâm)

- Thái độ của thi sĩ khi đọc thơ:

+ Cao hứng: Đương cơn đắc ý, đọc thơ ran cung mây

+ Tự đắc, tự khen: Văn đã giàu thay lại lắm lối

- Thái độ của chư tiên khi nghe thơ:

+ Mỗi tiên nữ một phản ứng khác nhau:

Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi,…

+ Phản ứng chung: rất xúc động; tán

thưởng và hâm mộ: cùng vỗ tay

- Thái độ của Trời:

+ Đánh giá cao;

+ Không tiếc lời tán dương: Văn thật tuyệt, Văn trần được thế chắc có ít / Nhời văn chuốt đẹp như sao băng ! / Khí văn hùng mạnh như mây chuyển! /

Êm như gió thoảng, tinh như sương! / đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!”

 Câu chuyện hư cấu, tưởng tượng được kể một cách chân thực y như chuyện có thật

Trang 5

người tử tù).

* HS hồi tưởng, phân tích, so sánh, phát biểu

* Định hướng:

- Qua những lời kể, tả mang giọng điệu riêng

vừa vui, vừa hóm mà phóng túng, tài hoa, thấy

hiện rõ chân dung tâm hồn, tài hoa, tính cách

của Tản Đà:

+ Trước hết là sự tự ý thức về cái “tôi” nghệ sĩ

của nhà thơ quê hương núi Tản, sông Đà Ông

rất tự hào về quê hương bản quán, đất nước

của mình Ông khai với Trời trịnh trọng mà

không giấu nỗi niềm tự hào

+ Ngông: là cách sống, cách viết, cách nói

năng, ăn uống, cư xử khác người, khác đời của

một nhà nho tài hoa nào đấy trong vòng lễ giáo

phong kiến kiềm tỏa chặt chẽ (Nguyễn Công

Trứ, Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, ) và giờ

đây là Tàn Đà Không muốn chấp nhận sự

bằng phẳng đơn điệu, thích phá cách, tự đề

cao, phóng đại cá tính của mình (uống rượu, ăn

thịt, ăn rau, ăn cá, tịch cốc, múa kiếm là

những thói quen và cách sống mà Tản Đà từng

thể nghiệm

- Hành động lên trời đọc thơ, trò chuyện với

Trời và tiên, còn định mang gánh văn lên để

bán chợ trời của Tản Đà thật khác thường, thật

ngông Đó chính là bản ngã, tính cách, là nét

độc đáo của tâm hồn lãng mạn đầy bản lĩnh

của Nguyên Khắc Hiếu

- Khao khác khẳng định tài năng của mình

trước cuộc đời bằng cách riêng của minh Bán

văn ở hạ giới rẻ như bèo thì lên trời bán cho

Trời, cho tiên là những người tri âm, tri kỉ

- Xác định thiên chức nghệ sĩ là đánh thức,

khơi dậy, phát triển cái thiên lương hướng hiện

vốn có của mỗi con người

* GV hỏi: Việc chen vào đoạn thơ giàu màu

sắc hiện thực trong bài thơ lãng mạn có ý

nghĩa gì?

* HS phát biểu

* Định hướng: Cuộc đời người nghệ sĩ trong

xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ hết

sức cơ cực, tủi hổ (không tấc đất cắm dùi, thân

phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn, bị o ép nhiều

chiều,…) TĐ đã vẽ lên một bức tranh rất sinh

chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình

b Đoạn thơ đối thoại với Trời: Giọng

thơ hào hứng, lai láng tràn trề:

- Tâm hồn thi sĩ Tản Đà:

+ Ý thức rất rõ về tài năng của mình, tự giới thiệu rất cụ thể về mình: tên họ, quê hương, bản quán, đất nước, châu lục;

+ Táo bạo, đường hoàng bộc lộ bản ngã

“cái tôi”;

+ Tìm lên đến tận Trời để khẳng định tài năng của mình trước Ngọc Hoàng Thượng đế và chư tiên, thể hiện cái

“ngông” trong tâm hồn thi sĩ

 Niềm khát khao chân thành trong tâm hồn thi sĩ không bị kiềm chế đã biểu hiện một cách thoải mái, phóng

Trang 6

và cuộc đời nhiều nhà văn khác… Hôm qua

chửa có tiền nhà – Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra

câu nào – Đi ra rồi lại đi vào – Quẩn quanh

chỉ tốn thuốc lào vì thơ … Về cuối đời, ông

từng phải mở cửa hàng xem tướng số để kiếm

ăn nhưng không có khách, mở lớp dạy Hán

văn và quốc văn nhưng không có học trò Cuối

cùng ông chết trong cảnh nghèo đói, nhà cửa,

đồ đạc bị chủ nợ tịch biên, chỉ còn một cái

giường mọt, cái ghế ba chân, chồng sách nát

và một be rượu Bức tranh hiện thực đó giúp

chúng ta hiểu thêm vì sao TĐ thấy đời đáng

chán, vì sao ông phải tìm cõi tri âm tận trời

cao, phải tìm đến chị Hằng Nga, Ngọc Hoàng

Thượng đế, chư tiên,… để thỏa niềm khao

khát Hai nguồn cảm hứng lãng mạn và hiện

thực thường đan cài khăng khít trong thơ ông

như thế

 Tản Đà không chỉ muốn thoát li cuộc đời

bằng những cuộc mơ ước lên trăng, lên tiên

Ông vẫn sống và viết cho đến chết giữa cuộc

đời nghèo khổ, đen bạc Những lời giãi bày

chân thật với Trời về hoàn cảnh sống của ông

dưới trần là hoàn toàn chân thực TĐ vẫn

muốn giúp đời, cứu đời Đời với ông là đáng

chán nhưng chỉ đáng chán có một nửa mà thôi

Vì vậy, mới có đoạn thơ giàu tính hiện thơ xen

vào bài thơ lãng mạn

TT3 Tìm hiểu đặc sắc nghệ thuật

* HS thảo luận về những đặc sắc nghệ thuật

của bài thơ (thể thơ, ngôn ngữ thơ, giọng thơ,

…)

* GV nhận xét, nâng cao: Tác giả tưởng tượng,

hư cấu nên cả một câu chuyện như muốn đưa

thơ trữ tình thoát dần sứ mênh “thi dĩ ngôn

chí” của thơ xưa  Những dấu hiệu đổi mới

của thơ ca Việt Nam theo hướng hiện đại hoá

Đó là lý do khiến Tản Đà được đánh giá là

“dấu gạch nối giữa hai thời đại thi ca” (Hoài

Thanh)

HOẠT ĐỘNG 3: HD HS TỔNG KẾT

* HS dựa vào bài học, nêu những nét chính về

nội dung và nghệ thuật

* GV nhận xét, bổ sung

túng

 Tình huống “Hầu Trời” quả đã cho nhà thơ một cơ hội tuyệt vời để phô bày một cách sảng khoái tài năng của bản thân

Trang 7

* HS đọc phần Ghi nhớ.

- Thực tế phũ phàng: Văn chương hạ

giới rẻ như bèo, thân phận nhà văn bị rẻ

rúng Ý thức về thân phận: thi sĩ không tìm được tri kỷ, tri âm, phải lên đến Thượng giới mới được thoả nguyện,

như đã từng “Muốn làm thằng Cuội”,

muốn hoá thân thành Lưu Thần, Nguyễn Triệu nhập Thiên Thai rồi chia

tay với người vợ tiên trong “Tống biệt”.

- Nhiệm vụ mà Trời giao cho nhà thơ:

thiên lương của nhân loại: sứ mệnh,

thiên chức cao cả, thiêng liêng

- Tự nguyện ghé vai vào gánh vác trách nhiệm lớn lao: tự tin vào tài

năng, phẩm chất của mình, đồng thời có

ý thức trách nhiệm về vai trò của cá nhân mình đối với xã hội.

- Bày tỏ thực trạng cuộc sống của mình: nghèo khó, cùng quẫn (Tản Đà còn nhiều bài thơ khác nói về tình cảnh của

mình: Cảnh vui của nhà nghèo, )

 Đây cũng chính là thực tế đời sống của lớp văn nghệ sĩ nói chung thời bấy giờ: Tản Đà, Nam Cao, Vũ Trọng

Phụng, Xuân Diệu (Nỗi đời cơ cực ).

Bức tranh chân thực và cảm động về đời sống tầng lớp văn nghệ sĩ đương thời

Trang 8

3 Đặc sắc nghệ thuật: Bài thơ có

nhiều yếu tố nghệ thuật mới mẻ:

- Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự

do, không bị trói buộc bởi khuôn mẫu;

- Ngôn ngữ thơ: ít tính cách điệu, ước lệ

mà gần với tiếng nói đời thường;

- Giọng thơ: tự sự hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc;

- Tác giả hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể chuyện, đồng thời là nhân vật chính -> Cảm xúc biểu hiện phóng túng, tự do, không hề gò ép

 Những dấu hiệu đổi mới của thơ ca Việt Nam theo hướng hiện đại hoá

III TỔNG KẾT

* Ghi nhớ/ SGK

IV Củng cố HS chọn một đoạn thơ mà mình thích và trình bày cảm nhận về đoạn thơ

đó (nội dung, nghệ thuật)

V Hướng dẫn học bài

- Đọc lại bài thơ, nắm được những nét chính về nội dung và nghệ thuật

- Soạn bài Vội vàng (Xuân Diệu)

D RÚT KINH NGHIỆM

Ngày đăng: 28/05/2017, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w