Mục Lục ĐẶT VẤN ĐỀ CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về nấm Linh chi 1.1.1 Vị trí phân loại 1.1.2 Môi trường sống 1.1.3 Đặc điểm sinh học 1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Linh chi 1.1.5 Thành phần hóa học của nấm Linh chi 1.1.6 Dược tính của nấm Linh chi 1.1.7 Tình trạng nhiễm nấm bệnh và biện pháp phòng trừ 1.1.8 Tình hình trồng nấm Linh chi trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.9 Tiềm năng về nguồn nhân lực CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu 2.1.1 Địa điểm và thời gian làm thí nghiệm 2.1.2 Vật liệu và hóa chất 2.1.3 Dụng cụ và thiết bị 2.2 Phương pháp nghiên cứu 2.2.1 Quy trình nuôi trồng 2.2.2 Thí nghiệm 1: Khảo sát tỉ lệ phối trộn giữa mùn cưa và bã mía ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Linh chi. CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát sự ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng (mùn cưa, bã mía) đến ngày bắt đầu lan tơ của nấm linh chi 3.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát sự ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng (mùn cưa, bã mía) đến Độ lan tơ của nấm linh chi 3.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát sự ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng (mùn cưa, bã mía) đến ngày hình thành quả thể của nấm linh chi 3.4 Thí nghiệm 4: khảo sát sự ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng (mùn cưa, bã mía) đến kích thước quả thể của nấm linh chi 3.5 Thí nghiệm 5: khảo sát sự ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng (mùn cưa, bã mía) đến trọng lượng quả thể của nấm linh chi CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1 Kết luận 4.2 Đề nghị 4.3 Kiến nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC ẢNH Hình 1.1 Cổ linh chi Hình 1.2 Nấm Linh chi Hình 1.3 Sáu loại linh chi Hình 1.5 Chu trình sống của nấm Linh chi Hình 1.6 mùn cưa cao su Hình 1.7 Bã mía Hình 1.9 Túi nấm bị nhiễm mốc xanh Hình 1.10 Túi nấm bị nhiễm mốc đen 17 Hình 1.11 Túi nấm bị nhiễm nấm cam Hình 2.1 Meo nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) Hình 2.2: Khu vực nghiên cứu và trồng nấm Hình 2.3 Đống ủ mùn cưa Hình 2.4 Máy cưa bã mía Hình 2.5 Đống ủ bã mía Hình 2.6 Túi phôi đã đóng Hình 2.7 nồi hấp khử trùng Hình 2.8 Quả thể nấm linh chi sắp thu hoạch Hình 3.1 Độ lan tơ ở các nghiệm thức trong lần đo thứ 2 Hình 3.2 Độ lan tơ ở các nghiệm thức trong lần đo thứ 3 DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Thành phần một số chất có trong mùn cưa cao su Bảng 1.2 Thành phần của bã mía sau khi rửa sạch và sấy khô Bảng 1.3 Thành phần dinh dưỡng trong cám gạo và bột bắp Bảng 1.4: Thành phần các chất có trong Linh chi và hoạt tính của chúng Bảng 1.6 công dụng của 6 loại linh chi Bảng 1.7 Một số bài thuốc chữa bệnh có nấm Linh chi Bảng 3.1: Các nghiệm thức thí nghiệm và tỉ lê phối trộn Bảng 3.1 Kết quả thời gian bắt đầu lan tơ Bảng 3.3 Kết quả ngày hình thành quả thể Bảng 3.4 Kết quả kích thước quả thể nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) Bảng 3.5 Kết quả trọng lượng quả thể nấm Linh chi (G. Lucidum) sau thu hái DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Tóm tắt quy trình trồng nấm Sơ đồ 2.2 : Quy trình xử lý mùn cưa Sơ đồ 2.3: Quy trình xử lý bã mía Sơ đồ 4.1 Quy trình phối trộn giá thể trồng nấm Linh chi
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nhu cầu về nấm ăn và nấm dược liệu trên thế giới làrất lớn, có thể xem nấm ăn là một loại “rau sạch”, “thịt sạch” Cònnấm dược liệu được nghiên cứu và sử dụng như biệt dược mang lạikhả năng phòng và chữa nhiều loại bệnh như bệnh tăng huyết áp,chống béo phì, chữa bệnh đường ruột,… có nhiều nghiên cứu về yhọc xem nấm Linh chi như một loại thuốc có khả năng chống ung thư[18]
Vấn đề nghiên cứu và sản xuất nấm trên thế giới ngày càngđược phát triển mạnh mẽ, ở nhiều nước phát triển như Hà Lan, Pháp,
Ý, Nhật Bản, Mỹ,… nghề trồng nấm được cơ giới hóa cao toàn bộ cáckhâu sản xuất từ xử lý nguyên liệu đến thu hái và chế biến đều domáy thực hiện [18]
Trong số hơn 2000 loài nấm đã được biết đến trên thế giới cókhoảng trên 300 loài được sử dụng để làm dược liệu [1] Nấm dượcliệu được biết đến và được nghiên cứu nhiều nhất có thể nhắc đến
nấm Linh chi tên khoa học là Ganoderma lucidum Trong nhiều sách
dược thảo của nhiều triều đại ở Trung Quốc đều có ghi nhận về côngdụng làm thuốc của nấm Linh chi [6] Một số dược tính của Linh chi
có tác dụng nâng cao hệ miễn dịch của cơ thể, có ảnh hưởng nhấtđịnh đối với hệ thần kinh trung ương, hệ hô hấp, tim mạch, tiêu hóa
và hệ bài tiết, giúp giải cảm, giải độc cho cơ thể và còn giúp tăngtuổi thọ [1] [6] Với những công dụng đó nấm Linh chi đã trở thànhmột loại dược liệu đa chức năng, đáp ứng được nhu cầu của nhiềuđối tượng khác nhau, rất có tiềm năng tiêu thụ và hứa hẹn mang lạilợi ích kinh tế cao
Việt Nam là một nước nông nghiệp với nguồn phụ phế phẩmgiàu chất xơ (cellulose) và chất gỗ (lignin) [1] Với những nguồnnguyên liệu trồng nấm đa dạng lại giàu cellulose như rơm rạ, mùn
Trang 2cưa của các loại gỗ mềm không có tinh dầu và độc tố, bã mía, cácthân cây gỗ, cây thuốc họ thân thảo,…[6]
Tuy nguồn nguyên liệu đa dạng nhưng trước giờ người dân thườngtrồng Linh chi trên mùn cưa là chính, tuy nhiên, nguồn mùn cưakhông phải địa phương nào cũng có Mặt khác, bã mía từ các nhàmáy đường hoặc các xe nước mía thải ra hàng ngày là nguồn chấtthải vô cùng lớn Tuy có những nghiên cứu sử dụng bã mía để sảnxuất ván ép, hoặc xăng sinh học Nhưng chủ yếu lượng lớn bã míavẫn được đổ đi, hoặc chôn lấp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,kéo theo việc làm gia tăng chi phí cho công tác xử lý rác thải, cải tạomôi trường Do vậy, nếu chúng ta biết cách tận dụng nguồn phếphẩm này thì đó chính là một biện pháp giảm ô nhiễm môi trường,giảm chi phí cho nhà nước và cho chính người trồng nấm đem lạinguồn lợi không nhỏ cho nhà nông
Trong nước cũng đã có nghiên cứu về phối trộn bã mía và mùn cưalàm giá thể cho trồng nấm như theo nghiên cứu của Hà Cẩm Thu(2015) [19] Tuy nhiên vẫn chưa tìm thấy nghiên cứu nào nói vềphối trộn mùn cưa và bã mía làm giá thể trồng nấm Linh chi
(Ganoderma lucidum) Nên vấn đề cần thiết là tận dụng những phế
phẩm giàu cellulose để trồng nấm Linh chi đạt yêu cầu, đưa ra quytrình làm giá thể mới nhưng vẫn có thể tiết kiệm chi phí sản xuấtmang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng và người tiêu dùng vì vậychúng tôi thực hiện đề tài:
Khảo sát sự ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng (mùn
cưa, bã mía) đến sự phát triển của nấm Linh chi (Ganoderma
lucidum) tại cơ sở 3 Bình Dương, trường Đại học Mở thành
phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu: Xác định được tỉ lệ phối trộn giữa mùn cưa và bã mía
thích hợp nhất cho sự phát triển của nấm Linh chi (Ganoderma lucidum ).
Trang 4Nấm Linh chi có vị trí phân loại:
Giới: Mycota hay Fungi
Chúng phân bố khắp nơi trên thế giới từ rừng nhiệt đới cho đến rừng
ôn đới, mọc trên các loài cây lá rộng đến lá kim, kể cả trên tre, trúc,dừa, cau, nho, [7] Tuy nhiên thường tìm thấy Linh chi trên vỏ câyđại thụ sần sùi, trên gốc hoặc rễ cây nổi trên mặt đất Linh chi có thểmọc được trên cây còn sống hoặc cây đã chết [18]
Nấm Linh chi được phân thành hai nhóm lớn đó là: Cổ Linh chi và Linh chi
Trang 51.1.2.1 Cổ Linh chi
Có tên khoa học là Ganoderma applanatum (Pers) Past, còn gọi
là Linh chi đa niên nhiều tầng Là các loài nấm gỗ không cuống hoặc
có cuống rất ngắn.Có nhiều tầng hằng năm thụ tầng lại phát triển thêm một lớp mới chồng lên lớp cũ Mũ nấm có hình quạt, màu từ nâu nhạt đến đen sẫm, mặt trên sần sùi và thô ráp, rất cứng
Cổ Linh chi mọc hoang từ đồng bằng đến miền núi ở khắp nơi trên thế giới Trong rừng rậm, độ ẩm cao, cây to thì chúng phát triểnmạnh Có đến hàng chục loài khác nhau [20]
1.1.2.2 Linh chi
Hình 1.1 Cổ linh chi [22]
Hình 1.2 Nấm Linh chi
Trang 6Có tên khoa học là Ganoderma lucidum (Leyss ex Fr) Kart, Linh
Chi có rất nhiều loài khác nhau Linh chi là loại nấm gỗ hằng năm mọc hoang ở những vùng núi cao Quả thể nấm Linh chi gồm hai phần cuống nấm và mũ nấm Cuống nấm có thể dài hoặc ngắn, ít phân nhánh, có khi uốn khúc, cong, cuống có màu (mỗi loài đều màuriêng như nâu, đỏ vàng, đỏ cam,…) Mũ nấm có nhiều hình dạng, phổ biến là hình quạt, hình tròn, mặt trên trơn, bóng Phần dưới mũ nấm là thụ tầng, thụ tầng màu trắng ngà hoặc màu vàng Nấm hơi xốp cứng và dai [1], [5]
Theo sách Bản thảo cương mục là quyển sách bàn về mọi thứ
có liên quan đến các loại dược vật, (hoàn thành năm 1578) do đạidanh y Trung Quốc Lý Thời Trân viết theo ông thì Linh chi được phânloại theo màu sắc, phân thành 6 loại hay còn gọi là “Lục bảo Linhchi”, mỗi loại có công dụng chữa bệnh khác nhau [20]
- Linh chi màu vàng gọi là Hoàng chi hay Kim chi
- Linh chi màu xanh gọi là Thanh chi hay Long chi
- Linh chi màu trắng gọi là Bạch chi hay Ngọc chi
- Linh chi màu hồng, màu đỏ gọi là Hồng chi, Xích chi hay Đơnchi
- Linh chi màu đen gọi là Huyền chi hay Hắc chi
- Linh chi màu tím gọi là Tử chi hay Mộc chi
1.1.3 Đặc điểm sinh học
Trang 71.1.3.1 Hình dạng màu sắc quả thể
Nấm Linh chi có chung một đặc điểm là quả thể nấm sẽ hoá gỗtheo thời gian [7] Quả thể gồm 2 phần chính là: cuống nấm và mũnấm
- Cuống nấm hình trụ, có đường kính với kích cỡ khác nhau, từ0,3 - 2,0 cm có thể lên đến 3,5 cm, ít phân nhánh, dài từ 2 - 22 cm,đôi khi uốn khúc, cong, chiều dài và kích thước tùy thuộc vào điềukiện sống mà hình thành, đầu cuống lệch một bên mũ nấm, hoặc đôikhi nằm giữa trung tâm mũ nấm Lớp vỏ bao ngoài cuống trơn lángmàu đỏ, nâu đỏ hoặc nâu đen, bóng, không có lông, phủ suốt lên bềmặt tán nấm [6]
- Mũ nấm non có dạng hình trứng gần tròn, khi trưởng thànhxòe ra tạo hình quạt hoặc dị dạng tạo thành nhiều kiểu dáng khácnhau Trên bề mặt mũ nấm có các vân gạch đồng tâm, lượn sóng vàvân tán xạ màu sắc tăng cấp từ ngoài vào trong theo sự phát triểncủa quả thể, từ vàng nhạt như vỏ chanh sang vàng đậm như nghệ,đến vàng nâu, vàng cam rồi đỏ nâu sau cùng là màu nâu sậm nhẵn
và bóng như tráng qua một lớp vecni Khi nấm trưởng thành có màusẫm, toàn bộ mũ nấm có màu nâu đen, khi nấm phun bào tử bề mặt
Hình 1.4 Quả thể linh chi cắt đôi [23]
Hình 1.3 Sáu loại linh chi [24]
Trang 8mũ nấm được bám một lớp bào tử dày, mịn như bột phấn màu nâu.Kích thước mũ nấm dao động từ 5 đến 20 cm, dày mỏng không đồngnhất từ 0,8 đến 3,3 cm Phần mũ nấm dính với cuống có thể nhô lênhoặc lõm xuống [6].
- Thụ tầng còn gọi là tầng sinh sản, nằm bên dưới mũ nấm, cómàu trắng, kem, hoặc màu nâu nhạt Là một lớp ống dày từ 0,2 đến1,8 cm, trông bằng mắt thường thì như những lỗ nhỏ li ti - đây là nơisản sinh và phun bào tử nấm [7]
- Bào tử nấm khi chín có màu nâu, có kích thước rất nhỏ,khoảng 9-12 x 5,5-8 µm vì vậy chỉ có thể quan sát dưới kính hiển vi.Bào tử hình elip, có chỗ lõm, một đầu tròn lớn, một đầu tròn nhỏ có
lỗ là nơi khuẩn ty mọc ra khi bào tử nảy mầm Khuẩn ty của nấmLinh chi là những sợi nấm trắng, có enzyme để phá vỡ các thànhphần gỗ như lignin và cellulose [21]
1.1.3.2 Sự hình thành của quả thể nấm Linh chi
A: Quả thể; B: Mặt ngoài phiến nấm; C: Đảm; D: Sự phối nhân trong đảm; E: Đảm và bào tử đảm; F: Bào tử đảm nảy mầm; G: Sợi nấm
Hình 1.5 Chu trình sống của nấm Linh chi [1]
Trang 9đơn nhân; H: Sự phối chất của 2 sợi nấm đơn nhân; I: Sợi nấm song nhân
Sự sống của nấm Linh chi bắt đầu bằng bào tử, bào tử nẩy mầm theo nhiều hướng khác nhau tạo thành sợi nấm, sợi nấm phân nhánh nhiều lần tạo thành mạng sợi nấm Ở Linh chi hay ở ngành phụ Nấm đảm nói chung thường có 3 cấp sợi nấm [8]
- Sợi nấm cấp 1 (sơ sinh): lúc đầu không có vách ngăn và cónhiều nhân, dần dần vách ngăn được hình thành và tạo thành sợinấm có các tế bào đơn nhân
- Sợi nấm cấp 2 (thứ sinh): sợi nấm cấp 2 hình thành do sự phốitrộn nguyên sinh chất (chất phối – plasmogamy) giữa hai sợi nấmcấp 1 khác dấu Tuy nhiên 2 nhân lúc này vẫn đứng riêng nên tế bàolúc này có 2 nhân do vậy người ta gọi sợi nấm này là sợi nấm songnhân (dicaryolic hyphae) Quá trình phối trộn nguyên sinh chất nàyxảy ra khá sớm nên ở Linh chi hay ngành phụ Nấm đảm nói chungthì sợi nấm song nhân là hình thái chủ yếu của sợi nấm
- Sợi nấm cấp 3 (tam sinh): hình thành bởi sự phát triển của sợi nấm cấp 2
Các sợi nấm liên kết chặt chẻ với nhau tạo thành mạng lưới cácsợi nấm, khi gặp được điều kiện thuận lợi các sợi nấm sẽ tạo thành
nụ nấm, nụ phát triển thành chồi, theo thời gian chồi sẽ hình thànhnên tán nấm và cuối cùng là thành quả thể nấm trưởng thành Saukhi trưởng thành, mặt dưới quả thể - thụ tầng, lại sản sinh ra bào tử
và phóng bào tử vào môi trường ngoài tiếp tục một chu trình sốngmới.[8]
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Linh chi 1.1.4.1 Giống
- Bao gồm các dạng trung gian, chứa đựng sinh khối nấm Linhchi, sinh khối nấm thường ở dạng hệ sợi tơ nấm thứ cấp, có khi là
Trang 10bào tử nấm Nguyên liệu làm meo có thể ở dạng hạt (như lúa, bo bo,các hạt ngũ cốc khác), dạng cây (như thân mì), dạng phế liệu (nhưrơm, rạ, trấu, bông phế thải, ,…) là các dạng cơ chất dễ dàng chonấm mọc cũng dễ phân tán khi cấy giống vào giá thể trồng Điềuthiết yếu là giống phải thuần, không bị nhiễm các loại vi khuẩn, nấmmốc hoặc bất kỳ loài nào khác [18]
1.1.4.2 Nhiệt độ
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến trực tiếp đến phản ứng sinh hóa bêntrong tế bào nấm, kích thích hoạt động của các chất sinh trưởng, cácenzyme, chi phối toàn bộ hoạt động sống của các loại nấm Nhiệt độthích hợp cho nấm Linh chi nuôi sợi là 20oC - 30oC, nhiệt độ thíchhợp cho giai đoạn phát triển quả thể nấm là 22oC - 28oC [1]
cả sự phát triển bình thường của quả thể [18] Độ ẩm không khí 80%
- 95% là thích hợp cho Linh chi phát triển [9]
1.1.4.4 Độ thoáng
Trang 11Nhà trồng nấm cần được giữ ẩm nhưng cũng phải thôngthoáng, đảm bảo cho nấm hô hấp tốt, tránh phát sinh nấm mốc hoặcnguồn bệnh [18].
1.1.4.5 O 2 và CO 2
Nấm luôn hô hấp nên sự có mặt của O2 và CO2 là không thểthiếu Tuy nhiên nồng độ CO2 trong không khí không được vượt quá0,1% vì cao hơn có thể ức chế việc hình thành quả thể [1]
1.1.4.6 Ánh sáng
Nấm không có khả năng quang hợp như thực vật, nên nhu cầuánh sáng không cần nhiều Giai đoạn nuôi sợi linh chi không cần ánhsáng Giai đoạn ra quả thể Linh chi cần ánh sáng tán xạ (ánh sáng
có thể đọc sách) khoảng 450 – 650 lux cường độ ánh sáng đều từmợi phía [1], [9]
1.1.4.7 pH
Nấm trồng nói chung đều bị ảnh hưởng rất lớn bởi độ pH củamôi trường mỗi loài có khả năng phát triển trong khoảng pH xácđịnh Linh chi thích nghi trong môi trường trung tính đến acid yếu pH
từ 6 đến 7 Nếu pH thấp thì quả thể nấm không hình thành được vàngược lại, pH quá kiềm thì quả thể nấm bị dị hình [9]
mà Linh chi cần như glocose, đạm, vitamin và các khoáng [1]
Nấm Linh chi có khả năng sử dụng nguồn cellulose trực tiếp, vì nấm Linh chi tiết ra hệ enzyme lignocellulose ngoại bào (gồm
Trang 12cellulase, xylanase, lignin peroxidase, proxidase, ) có thể thủy phân cấu trúc của cellulose thành các phân tử đường glucose,
xylose,… đơn giản mà Linh chi có thể sử dụng được [10] Nhờ vậy, nguồn nguyên liệu để trồng nấm Linh chi khá đa dạng: mùn cưa, thân gỗ, các loại cây thân thảo, bã mía,…
- Mùn cưa cao su
Cao su là cây trồng phổ biến ở miền nam Việt Nam, được trồng để
thu nhựa cây Nhưng sau 1 thời gian, cây bị giảm năng suất người tathường cưa cây để làm gỗ hoặc củi đốt, sau khi cưa thải ra rất nhiều mùn cưa
Bảng 1.1 Thành phần một số chất có trong mùn cưa cao su [3]
- Bã mía
Hình 1.6 mùn cưa cao su
Thành phần Hàm lượng (%)Cellulose và lignin 71,20Hydratcacbon có thể
Trang 13Mía là cây trồng phổ biến ở Việt Nam để sản xuất đường hoặc
ép lấy nước uống giải khát Thân mía sau khi ép lấy nước còn lại phụphẩm là bã mía Tùy theo loại mía và đặc điểm nơi trồng mía mà thành phần hoá học các chất có trong bã mía có thể biến đổi, thành phần chung của mía được tổng hợp tại bảng 1.2
Hình 1.7 Bã mía
Trang 14Bảng 1.2 Thành phần của bã mía sau khi rửa sạch và sấy khô [1]
và đạm hữu cơ quan trọng cho Linh chi phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn đầu sinh trưởng của chúng [25]
Bảng 1.3 Thành phần dinh dưỡng trong cám gạo và bột bắp [1]
Hydratcarbon có thể hòa tan 45,00 69,60
Một trong những thành phần không thể thiếu đối với việc trồngnấm Linh chi là khoáng, các chất khoàng cần cho sự phát triển củaLinh chi như: P, K, Na, Mg, Mo, Zn,…được bổ sung trong giá thể trồngvới lượng rất ít Việc bổ sung khoáng làm thay đổi pH của giá thể
Trang 15hoặc thúc đẩy một số quá trình sinh trưởng của nấm, một số muốikhoáng được sử dụng là super lân (Ca(H2PO4)2.H2O + CaSO4), canxicacbonat (CaCO3) còn gọi là bột nhẹ, magie sunphat (MgSO4.7H2O)[25].
2.1.1 Thành phần hóa học của nấm Linh chi
Theo phân tích của Viện nghiên cứu dược liệu Quảng Đông, thànhphần của Linh chi như sau[18]:
Trang 16Bảng 1.4: Thành phần các chất có trong Linh chi và hoạt tính
của chúng[25]
Nucleic acid ARN Kích thích hệ miễn dịch, chống
virusAlcaloid Không xác đinh Trợ tim
Glycoprotein Không xác định Ức chế khối u
Nucleotide Adenosin Tăng sự lưu thông máu.
Thư giãn cơ, giảm cơn đau
Polysaccharid β – D - Glucans
Chống ung thư, tăng tính miễndịch, hạ đường huyết, tăng tổnghợp protein, tăng chuyển hóa
acid nucleicTriterpenoid
Ganorderic acidsGanordermadiolGanodermic acid T-
O
Chống dị ứng, bảo vệ gan, ức chếtổng hợp cholesterol, hạ huyết
ápNucleosite Uridine, uracil Phục hồi sự dẻo dai
Protein Lingzhi -8 Chống dị ứng phổ rộng, điều hóa
miễn dịch
Steroid Ganodosterone Giải độc gan
Acid béo Oleic acid Ức chế giải phóng histamin –
chất gây dị ứng
2.1.2 Dược tính của nấm Linh chi
2.1.2.1 Một số công dụng của linh chi
Từ những thập niên đầu của thế kỷ 20, với sự tiến bộ của y họcLinh chi được nghiên cứu, nuôi trồng và chế biến, dùng để bồi bổ sứckhoẻ và điều trị một số bệnh như: Huyết áp, tim mạch,tiểu đường,
Trang 17thiểu năng tuần hoàn não, chống mỡ máu, suy nhược cơ thể,suynhược thần kinh, bệnh gan, thận, đặc biệt Linh Chi chứa thành phầnpolysarccharides có tác dụng khống chế sự phát triển của các tế bàobất thường (tác nhân gây ung thư, ung bướu) do đó Linh Chi cònđược sử dụng trong việc ngăn ngừa ung thư, ung bướu và được sửdụng để hỗ trợ điều trị sau hóa trị, xạ trị… [26]
Bộ tài liệu về dược vật được xem là hoàn chỉnh nhất và lâu đời nhất trong lịch sử đông y, nói được tương đối tác dụng trị liệu của Linh chi là bộ Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, theo ông, lục bảo Linh chi mỗi loại có công dụng khác nhau
Bảng 1.6 công dụng của 6 loại linh chi [25]
Tên gọi Màu sắc Đặc tính dược lý
Thanh chi Xanh Vị chua, tính bình, không độc chữa trị sáng
mắt,bổ gan khí, an thần, tăng trí nhớ
Xích chi Đỏ Vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí
nhớ,dưỡng tim, bổ trung, trị tức ngực
Hoàng chi Vàng Vị ngọt, tính bình, không độc, an thần, ích tì
khí
Bạch chi Trắng Vị cay, tính bình, không độc, ích phổi,thông
mũi, an thần, chữa ho ngịch hơi
Hắc chi Đen Vị ngọt, tính bình, không độc, trị bí tiểu, ích
Trang 18+ Kiện não (làm sáng suốt, minh mẫn).
+ Bảo can (bảo vệ gan)
+ Cường tâm (thêm sức cho tim)
+ Kiện vị (củng cố dạ dày và hệ tiêu hoá)
+ Cường phế (thêm sức cho phổi, hệ hô hấp)
+ Giải độc (giải toả trạng thái nhiễm độc)
+ Giải cảm (giải toả trạng thái bị cảm)
+ Trường sinh (sống lâu, tăng tuổi thọ)
- Qua phân tích các hoạt chất về mặt dược tính, dược lý và sửdụng nấm Linh chi, người ta thấy Linh chi có tác dụng rất tốt với cácbệnh:
- Đối với bệnh về hệ tim mạch: Nấm Linh chi có tác dụng điềuhoà, ổn định huyết áp Giảm cholesterol toàn phần, giảm nồng độ
mỡ trong máu, giảm co tắc mạch, giải tỏa cơn đau thắt tim và loạnnhiupj tim [12]
- Đối với các bệnh về hô hấp: Nấm Linh chi đem lại kết quả tốt,nhất là với những ca điều trị viêm phế quản dị ứng, hen phế quản tới80% có tác dụng giảm và làm nhẹ bệnh theo hướng khỏi hẳn [12]
- Đối với các bệnh về thần kinh: Nấm Linh chi giúp dưỡng tâm
an thần khi có triệu chứng mạch đập hỗn loạn, mất ngủ, thần kinhsuy nhược [18]
- Đối với bệnh viêm gan: Nấm Linh chi có tác dụng tiêu viêm,làm viêm gan thuyên giảm Chất triterpen có trong Linh chi làmphục hồi các tế bào gan [12]
Trang 19- Khả năng miễn dịch: Linh chi có khả năng thanh lọc cơ thểtoàn diện, có tác dụng lợi tiểu và lợi mật, đồng thời kích thích nhiềuchuỗi phản ứng sinh hóa trong cơ thể nhờ vai trò xúc tác của khoáng
tố vi lượng, làm tăng sức đề kháng của cơ thể để từ đó điều chỉnhcác rối loạn chức năng, làm lành các tổn thương cơ quan, phục hồi
hệ miễn dịch của cơ thể [26]
- Hiệu quả chống ung thư: Việc kết hợp các phương pháp xạ trị,hóa trị, giải phẫu và sử dụng nấm Linh chi đúng cách đúng lượng cóthể kéo dài thời gian sống của bệnh nhân bị ung thư hơn 5 năm, tạiĐài Loan có nghiên cứu cho thấy nếu dùng Linh chi trồng trên gỗlong não để điều trị cho các bệnh nhân ung thư cổ tử cung có thểmang lại kết quả tốt, khối u có thể tiêu biến [25]
- Khả năng antioxydant (chống oxy hóa): nhiều thực nghiệmchỉ ra vai trò của các saponine và triterpenoid, mà trong đóGanoderic acid được coi là hiệu quả nhất Những nghiên cứu gần đâyđang đẩy mạnh theo hướng làm giàu Selenium - một yếu tố khoáng
có hoạt tính antioxydant rất mạnh – vào nấm Linh chi Chính vì vậycon người có thể chờ đợi vào một dược phẩm tăng tuổi thọ, trẻ hoá
từ nấm Linh chi nói chung và Linh chi Việt Nam nói riêng [25]
2.1.2.2 Cách sử dụng nấm Linh chi để chữa bệnh [9], [27]
- Ngâm rượu: Nấm Linh chi thái mỏng, ngâm trong rượu mạnh
40o - 45o, sau 20 ngày có thể sử dụng (ngày uống 2 lần, mỗi lần mộtchén con)
- Sắc nước uống: lấy một khối lượng Linh chi khoảng 3 - 16gam cho 1 lần sắc (Đổ 3 bát nước đun sôi cô đặc để lấy một bát, làm
3 lần như vậy Sau đó đổ trộn lẫn 3 bát với nhau để uống)
- Uống dạng trà: Sấy khô nấm Linh chi, nghiền nát thành bột,mỗi lần uống
Trang 203 - 7 gam cho vào 200ml nước sôi để một lúc khoảng 10 phút rồiuống.
- Kết hợp linh chi với một số dược liệu khác như đan sâm, tamthất, ngũ vị tử, phụ linh, đơn bì uất kim,… theo công thức của đông ysắc nước uống nhằm chuyên trị một số bệnh nhất
Trang 21Bảng 1.7 Một số bài thuốc chữa bệnh có nấm Linh chi [25]
Tác dụng điều trị Pha chế Cách dùng
Suy nhược thần kinh,
nhức đầu, chóng mặt,
ngứa ban đêm
Linh chi 1 – 3g Sắc uống mỗi ngày 3
lầnViêm gan mãn tính,
Nghiền bột 9 – 15guống với
nước sôi, ngày uống 3lần
Cao huyết áp, viêm
Ngâm rượu 14 ngày,ngày
uống 2 lần, mỗi lần15ml
2.1.3 Tình trạng nhiễm nấm bệnh và biện pháp phòng trừ 2.1.3.1 Nấm mốc xanh
- Biểu hiện:
+ Mốc xanh có hệ sợi mảnh, mọc sát vào cơ chất Vết bệnh trảirộng nhanh, bào tử tạo thành dề, mịn, ban đầu có màu trắng, sauchuyển sang màu xanh lục hoặc xanh lam
+ Chúng cạnh tranh dinh dưỡng với nấm Linh chi, đồng thời tiết
ra độc tố ức chế và tiêu diệt sợi nấm Linh chi
Trang 22- Nguyên nhân:
+ Khử trùng giá thể chưa đạt yêu cầu
+ Giá thể quá ẩm
+ Quá trình cấy giống bị nhiễm bào tử mốc từ không khí
+ Phòng nuôi sợi có nhiệt độ cao, ẩm ướt, vệ sinh chưa đạt yêu cầu
- Cách khắc phục:
+ Thực hiện hấp khử trùng các túi giá thể đúng yêu cầu
+ Kiểm tra độ ẩm cơ chất cẩn thận trước khi đóng túi
+ Vệ sinh nhà cấy giống sạch sẽ, che chắn để tránh gió
+ Kiểm tra lại điều kiện của nhà nuôi sợi nấm
+ Cách ly các túi nấm bị nhiễm bệnh ra xa khu vực nuôi trồng
2.1.3.2 Nấm mốc đen
- Biểu hiện:
+ Giống như mốc xanh, hệ sợi mốc đen mọc sát vào cơ chất Bào
tử ban đầu có màu trắng, sau chuyển sang màu đen hoặc màu nâu.+ Chúng cạnh tranh dinh dưỡng và nguồn oxy với nấm Linh chi,đồng thời tiết ra độc tố ức chế và tiêu diệt sợi nấm Linh chi
- Nguyên nhân:
+ Khử trùng giá thể chưa đạt yêu cầu
Hình 1.10 Túi nấm bị nhiễm mốc đen [17]
Trang 23+ Giá thể quá ẩm ướt.
+ Quá trình cấy giống bị nhiễm bào tử mốc từ không khí
+ Phòng nuôi sợi có nhiệt độ cao, ẩm ướt, vệ sinh chưa đạt yêu cầu
- Cách khắc phục:
+ Thực hiện hấp khử trùng các túi giá thể đúng yêu cầu
+ Kiểm tra độ ẩm cơ chất cẩn thận trước khi đóng túi
+ Vệ sinh nhà cấy giống sạch sẽ, che chắn để tránh gió
+ Kiểm tra lại điều kiện của nhà nuôi sợi nấm
+ Cách ly các túi nấm bị nhiễm bệnh ra xa khu vực nuôi trồng
2.1.3.3 Nấm cam
+ Biểu hiện: Nấm cam có hệ sợi màu trắng, mỏng hơn tơ nấm Linh chi, lan rất nhanh, sau 3 – 4 ngày là có thể ra quả thể, và phát tán bào tử
+ Chúng cạnh tranh dinh dưỡng với nấm Linh chi, đồng thời tiết ra độc tố ức chế và tiêu diệt sợi nấm Linh chi
- Nguyên nhân:
+ Khi thay giấy báo hơ trên ngọn đèn cồn chưa đủ lâu để diệt được nguồn bệnh
+ Trong lúc thay không cẩn thận để giấy báo bị ướt
Hình 1.11 Túi nấm bị nhiễm nấm cam
Trang 24+ Quá trình cấy giống bị nhiễm bào tử nấm cam từ không khí.
+ Phòng nuôi sợi có nhiệt độ cao, ẩm ướt, vệ sinh chưa đạt yêu cầu
- Cách khắc phục:
+ Khi thay giấy báo cần hơ kỹ dưới ngọn đèn cồn
+ Cần kiểm tra kỹ sau khi thay xong, nếu bị ướt lập tức bỏ và thaybằng giấy mới
+ Vệ sinh nhà cấy giống sạch sẽ, che chắn để tránh gió
+ Kiểm tra lại điều kiện của nhà nuôi sợi nấm
+ Cách ly các túi nấm bị nhiễm bệnh ra xa khu vực nuôi trồng
2.2 Tình hình trồng nấm Linh chi trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình nuôi trồng nấm Linh chi trên thế giới
Công nghệ nghiên cứu nuôi trồng và bào chế nấm Linh chi
Ganoderma lucidum (Leyss Ex Fr.) Karst làm thuốc quý và sản xuất
dược phẩm Linh chi phát triển mạnh ở vùng Đông Á và khắp nơi trênthế giới, thông qua sự kiện vào tháng 7 năm 1994, hội nghị Nấm họcthế giới được tổ chức tại Vancouver (Canada), đã dành riêng một cuộc hội thảo về nấm Linh chi, qua cuộc hội thảo, các nhà khoa học thống nhất ý kiến thành lập Viện nghiên cứu Linh chi quốc tế đặt trụ
sở tại New York [12] Trung Quốc hiện là quốc gia trông nấm Linh chinhiều nhất, có rất nhiều viện, và trung tâm nghiên cứu nấm Linh chi lớn được xem là đầu tàu để phát triển nghề nấm với sản lượng mỗi năm khoảng 3000 tấn (Tổng sản lượng thế giới là 4300), mỗi năm thu về hàng tỷ USD từ việc xuất khẩu nấm [28] Các quốc gia Hàn Quốc, Ðài Loan, Nhật Bản, Thái Lan, Hoa Kỳ, Malaysia, Việt Nam, Indonesia,… cũng đang nghiên cứu đưa việc trồng nấm Linh chi trở thành một ngành phổ biến tuy nhiên vẫn không thể so sánh với
Trung Quốc [18] Hàn Quốc nổi tiếng là quốc gia xuất khẩu nấm Linhchi, với doanh thu mỗi năm thu về hàng trăm triệu USD [28], Nhật
Trang 25Bản tuy là nước tìm ra cách trồng Linh chi nhưng đến nay sản lượng mỗi năm chỉ khoảng 500 tấn, đứng sau Trung Quốc [18]
2.2.2 Tình hình nuôi trồng nấm Linh chi ở Việt Nam và những thuận lợi về ngành nuôi trồng nấm
- Tình hình nuôi trồng nấm ở Việt Nam
Ngành nuôi trồng nấm dược liệu trong những năm gần đây mớiđược phát triển và được trồng ở một số tỉnh, thành phố như Hà Nội,Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Đồng Nai, Bình Dương, Tp, Hồ ChíMinh, Long An, Tiền Giang,… sản lượng hơn 300 tấn trên năm [28].Trong một vài năm gần đây con người đã tìm kiếm và phát hiện mộtlượng khá lớn cổ linh chi tại một số vùng núi cao ở nước ta Đây làmột kho tàng sản phẩm quí của y dược Việt Nam, cần được nghiêncứu sâu để ứng dụng vào khai thác, sản xuất nấm Linh chi ở nước ta[18] Nhu cầu tiêu thụ nấm Linh chi những năm gần đây tăng mạnh,nhiều cơ sở đã tiến hành nghiên cứu nuôi trồng, chế biến nấm thànhcác sản phẩm bán trên thị trường trong và ngoài nước Các tỉnh phíaBắc đã có nhiều cơ sở quốc doanh, tập thể, hộ gia đình trồng nấm[28]
- Những thuận lợi của nghề trồng nấm ở Việt Nam
Nuôi trồng nấm cần ít vốn yêu cầu kỹ thuật trồng không phức tạp,diện tích nhỏ vẫn có thể sản xuất Thời gian trồng nấm ngắn, nấmLinh chi khoảng 50 – 70 ngày [1] Vì vậy, khi gặp thiên tai hay biếnđộng của thị trường vẫn kịp thời dừng sản xuất hoặc chuyển hướngcanh tác, điều này không đơn giản ở các loại cây trồng khác
Điều kiện thiên nhiên ưu đãi, nhất là các tỉnh miền Nam Chênhlệch nhiệt độ giữa tháng nóng và tháng lạnh ít nên có thể trồng nấmquanh năm Vị trí gần biển lại có nhiều sông và kênh rạch nên độ ẩmkhông khí tương đối cao rất thích hợp cho trồng nấm Thành phố HồChí Minh có độ ẩm thấp nhất, trung bình không dưới 80% [29]
Trang 26Nguồn nguyên liệu dồi dào, trên 60 triệu tấn rơm rạ (nếu lấytrung bình tối thiểu 1 tấn rơm rạ / 1ha) Lượng gỗ khai thác bìnhquân hàng năm là 3,5 triệu m3, nếu chế biến thành sản phẩm như đồ
gỗ mĩ nghệ, gỗ, củi đốt,… sẽ thải ra một lượng mạt cưa khổng lồcung cấp cho trồng nấm, chưa kể các phế liệu khác cũng chiếm sốlượng rất lớn như cùi và thân cây bắp, bã mía, bông vải,… [18]
2.2.3 Tiềm năng về nguồn nhân lực
Lực lượng lao động trong nông nghiệp nước ta chiếm 80% dân
số, lực lượng lao động này thường nhàn rỗi sau những vụ mùa trồng cây lương thực Nếu tham gia vào trồng nấm, thì sản lượng nấm sẽ tăng lên rất nhiều và mang lại nguồn thu nhập không nhỏ có thể giúpcho người nông dân thoát nghèo
Nhiều nơi có truyền thống trồng nấm lâu đời như Bình Chánh,Long An hoặc những nơi đang phát triển như Cần Thơ, Sóc Trăng, HậuGiang, Long Khánh, Củ Chi với một đội ngũ kỹ thuật được rèn luyệntrong thực tế ngày càng nhiều, những đối tượng đó sẽ là những nhân
tố quan trộng thúc đẩy ngành trồng nấm lan rộng
Ngành chế biến và xuất khẩu nấm tươi, nấm khô, nấm được bàochế thành dược phẩm, đang bước đầu thuận lợi Thị trường tiêu thụnấm trong nước và trên thế giới tăng nhanh do sự phát triển chungcủa xã hội và dân số [18]
Nhìn chung, phát triển trồng nấm ở nước ta là điều tất yếu Nókhông chỉ giải quyết vấn đề lao động mà còn đem lại của cải cho xãhội Tuy nhiên để trồng nấm nhanh chóng phát triển ở nước ta cần cónhiều đầu tư về khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng giống, kỹthuật trồng và nhất là có chính sách ưu đãi cho người trồng nấm.[18]
Trang 27CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu
3.1.1 Địa điểm và thời gian làm thí nghiệm
- Địa điểm: Tại cơ sở 3 Trường Đại học Mở thành phố Hồ ChíMinh, số 68 đường Lê Thị Trung, phường Phú Lợi, thị xã Thủ Dầu Một,tỉnh Bình Dương
- Thời gian từ tháng 10/2016 – 12/2016
3.1.2 Vật liệu và hóa chất
- Giống: Nấm Linh chi (Ganoderma lucidum).
- Meo nấm: Chọn lựa các bịch giống có sự đồng nhất, tơ nấm ăn
đều cả bịch giống Sợi tơ khỏe, không có hiện tượng bị tạpnhiễm Được mua tại công ty Nấm Việt 224A Tổ 92B, ấp PhúBình – xã Phú Hòa Đông, Củ Chi
- Giá thể: mùn cưa đã qua xử lý
- Bột cám, bột bắp
- Vôi nông nghiệp (CaCO3)
Hình 2.1 Meo nấm Linh chi (Ganoderma lucidum)
Trang 28- Nước
3.1.3 Dụng cụ và thiết bị
- Bịch nilon chịu nhiệt: kích thước 20 x 30 cm
- Cân: cân 20 kg, hiệu cân Nhơn Hòa
để giữ độ ẩm, hạn chế côn trùng giúp cho nấm phát triển tốt Xử lý
Hình 2.2: Khu vực nghiên cứu và trồng nấm
Trang 29vôi bột trong và ngoài nhà nấm Xông Formaldehyd và trung hòabằng dung dịch NH3 một tuần trước và sau mỗi đợt trồng
3.2.1.2 Tóm tắt quy trình trồng nấm
Mùn cưa
Phối trộn(Độ ẩm hỗn hợp 60 –
70%)
Đóng bịch
Hấp khử trùng(1210C, 1h, 1atm)
Cấy giống
Nuôi ủChăm sóc
Trang 303.2.1.3 Cách tiến hành
Bước 1: Xử lý nguyên liệu
Trang 31Quy trình xử lý mùn cưa:
Sau khi mua về mùn cưa sẽ được sàng để loại bỏ hết mảnh gỗ vụn, dăm bào, các loại mạt cưa thô, lá cây, nhựa cây,
Sau đó làm ẩm với nước vôi nồng độ 1% , sao cho độ ẩm đạt 60 – 70
% là được Kế đến đem mùn ủ đống, chính giữa đống ủ thường được cắm một cột nhựa rỗng để thoát hơi nước Trong quá trình ủ, nhiệt
độ tăng cao có thể lên đến 600 - 700 C Nhiệt độ tăng cao góp phần diệt nhiều loại nấm mốc và vi sinh vật gậy hại đồng thời tạo điều kiện cho vi sinh vật ưa nhiệt phân hủy đống ủ Thời gian ủ 7 ngày,
cứ cách 3 ngày phải đảo đống ủ một lần, yêu cầu đảo đều, trong đảo
ra ngoài, trên đảo xuống dưới và ngược lại Tác dụng của việc đảo nhằm giúp đống ủ luôn đồng đều về đồ ẩm và nhiệt độ tạo điều kiện
Hình 2.3 Đống ủ mùn cưa
Ủ đống trong 7 ngày
Trộn đều với nước vôi 1%
Sàng Mùn cưa
Sơ đồ 2.2 : Quy trình xử lý mùn cưa
Trang 32sinh nhiệt tốt, diệt tối đa mầm bền và giúp nguyên liệu được phân hủy đồng đều.
- Chỉ tiêu đánh giá: Mùn cưa sau khi xử lý có kích thước đều
kích thước hạt khoảng 0,5 – 1,0 mm, có màu nâu đậm, không bịnhiễm các loại nấm mốc
- Quy trình xử lý bã mía: Bã mía sau khi gom về phơi khô
trong 3 ngày nhằm diệt bớt nấm mốc, làm khô cấu trúc mía, dễdàng cho khâu xử lý tiếp theo là xay Tiếp theo xay nhỏ, việc xaynhỏ giúp giảm kích thước bã mía, hạn chế việc rách bịch khi đóng vàtạo môi trường có độ thông thoáng thích hợp cho tơ nấm phát triển.Tiếp theo rửa qua nước sạch 2 lần, kế đến ngâm với nước vôi 1%
Ủ đống trong 7 ngày
Rửa qua nước 2 lần
Ngâm vôi 1% trong 24h
Xay nhỏ
Phơi khô (3 ngày)
Bã mía
Sơ đồ 2.3: Quy trình xử lý bã mía
Rửa nước lại 1 lần