1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung tỷ lệ phần trăm bột cám gạo, cám bắp đến sự phát triển sợi tơ của nấm rơm (volvarielle volvacea)

40 571 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, nhu cầu ăn uống của con người ngày càng được nâng cao. Việc lựa chọn các loại thực phẩm đảm bảo an toàn cho sức khoẻ là vấn đề được quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng. Nấm ăn là một trong những loại thực phẩm được nhiều người tin cậy lựa chọn để sử dụng hàng ngày nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nấm ăn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Hàm lượng protein chỉ sau thịt, cá. rất giàu chất khoáng và các axit amin không thay thế. các loại vitamin A. B. C. D. E v.v... Có thể xem nấm án như một loại rau sạch so với trứng. hăm lượng các chất dinh dưỡng trong năm ăn không kém mà có một số chất còn vượt trội hơn. Ngoài giá trị dinh dưỡng nấm ăn còn có nhiều đặc tính của thuốc, y tế, có khả năng phòng và chữa bệnh như làm hạ huyết áp, chóng bệnh béo phì, chữa bệnh đường ruột v.v…1 Trên thế giới có khoảng 2.000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loại nấm ăn ngon và được nuôi trồng nhân tạo. Ở Việt Nam, ngành nấm đang ngày càng phát triển, các loại nấm được trồng phổ biến là: mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm linh chi các loại... 2 Điều kiện khí hậu, thời tiết nước ta đa dạng (lạnh, mát, nóng ẩm), thích hợp cho nhiều loại nấm phát triển quanh năm với năng suất cao, chất lượng tốt. Chu kỳ sinh trưởng của nấm ngắn (nấm rơm từ trồng đế lúc được thu hoạch 10 12 ngày). Nguyên liệu trồng nấm dồi dào (rơm, rạ, mùn cưa, bã mía, thân lõi ngô, thân khoai mì, thân cây gỗ các loại) theo tính toán sản lượng các nguyên liệu đạt 40 triệu tấnnăm, nếu đưa vào sử dụng 10 15% sẽ sản xuất 1 triệu tấn nấm năm và hàng ngàn tấn phân hữu cơ. Nguồn lao động nông thôn dối dào, giá rẻ, vốn đầu tư trồng nấm không cao 2 Trong đó nấm rơm là loại dễ trồng, mau thu hoạch, cho kinh tế cao. Cứ mỗi tấn rơm rạ trồng nấm nói chung trừ chi phí trong thời gian 15 – 20 ngày có thể lãi từ 500.000 – 700.000 đồng. Bã sau khi trồng nấm chế biến thành phân sinh học cao cấp. Ngoài ra, bã nấm còn dùng để nuôi trùn đất, lấy trùn nuôi gia cầm, gia súc và tôm, cá. 8 Nấm rơm được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Nai...) chiếm 90% sản lượng cả nước 2 Bên cạnh đó còn diễn ra thực trạng sản xuất nấm rơm bằng thuốc Trung Quốc. Cụ thể là tại cơ sở sản xuất nấm Trần Khánh Ly, xã Tàm Xá, Đông Anh, Hà Nội khi hoạt động sản xuất nấm, song chưa xuất trình bất cứ hồ sơ pháp lý nào liên quan đến hoạt động sản xuất nấm tại đây. Kiểm tra còn phát hiện cơ sở sử dụng 4 loại thuốc Trung Quốc, ngoài danh mục, không có tem, nhãn phụ bằng tiếng Việt để trồng nấm, gồm 25 lọ, 127 gói thuốc bột và 600 ống thuốc nước 9. Từ tình hình sản xuất nấm rơm bằng thuốc hóa học đã đặt ra một vấn đề về việc đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng làm sao để khi trồng đảm bảo nấm phải sạch. Trong tất cả yếu tố cơ bản như giống nấm, giá thể, chất dinh dưỡng hữu cơ, nước tưới, kỹ thuật trồng, ... trong các yếu tố này đặc biệt là các chất dinh dưỡng phối trộn vào giá thể trồng, làm sao tìm ra nguồn dinh dưỡng bổ sung hữu cơ tốt nhất và nó đã tác động lên quá trình sinh trưởng của nấm rơm như thế nào là một vấn đề được quan tâm. Do đó chọn đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung tỷ lệ phần trăm bột cám gạo, cám bắp đến sự phát triển sợi tơ của nấm rơm (volvarielle volvacea)” nhầm mục đích có thể đưa ra được tỷ lệ phần trăm dinh dưỡng cám bắp nào là phù hợp nhất trong giai đoạn phát triển sợi tơ của nấm rơm

Trang 1

CHƯƠNG 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, nhu cầu ăn uống của con người ngày càng được nâng cao Việc lựa

chọn các loại thực phẩm đảm bảo an toàn cho sức khoẻ là vấn đề được quan tâm

hàng đầu của người tiêu dùng Nấm ăn là một trong những loại thực phẩm được

nhiều người tin cậy lựa chọn để sử dụng hàng ngày nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn

thực phẩm

Nấm ăn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng protein chỉ

sau thịt, cá rất giàu chất khoáng và các axit amin không thay thế các loại vitamin

A B C D E v.v Có thể xem nấm án như một loại "rau sạch" so với trứng hăm

lượng các chất dinh dưỡng trong năm ăn không kém mà có một số chất còn vượt

trội hơn Ngoài giá trị dinh dưỡng nấm ăn còn có nhiều đặc tính của thuốc, y tế, có

khả năng phòng và chữa bệnh như làm hạ huyết áp, chóng bệnh béo phì, chữa bệnh

đường ruột v.v…[1]

Trên thế giới có khoảng 2.000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loại nấm ăn

ngon và được nuôi trồng nhân tạo Ở Việt Nam, ngành nấm đang ngày càng phát

triển, các loại nấm được trồng phổ biến là: mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ, nấm bào

ngư, nấm linh chi các loại [2]

Điều kiện khí hậu, thời tiết nước ta đa dạng (lạnh, mát, nóng ẩm), thích hợp cho

nhiều loại nấm phát triển quanh năm với năng suất cao, chất lượng tốt Chu kỳ sinh

trưởng của nấm ngắn (nấm rơm từ trồng đế lúc được thu hoạch 10 - 12 ngày)

Nguyên liệu trồng nấm dồi dào (rơm, rạ, mùn cưa, bã mía, thân - lõi ngô, thân khoai

mì, thân cây gỗ các loại) theo tính toán sản lượng các nguyên liệu đạt 40 triệu

tấn/năm, nếu đưa vào sử dụng 10- 15% sẽ sản xuất 1 triệu tấn nấm/ năm và hàng

ngàn tấn phân hữu cơ Nguồn lao động nông thôn dối dào, giá rẻ, vốn đầu tư trồng

nấm không cao [2]

Trang 2

Trong đó nấm rơm là loại dễ trồng, mau thu hoạch, cho kinh tế cao Cứ mỗi tấn

rơm rạ trồng nấm nói chung trừ chi phí trong thời gian 15 – 20 ngày có thể lãi từ

500.000 – 700.000 đồng Bã sau khi trồng nấm chế biến thành phân sinh học cao

cấp Ngoài ra, bã nấm còn dùng để nuôi trùn đất, lấy trùn nuôi gia cầm, gia súc và

tôm, cá [8]

Nấm rơm được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông

Cửu Long (Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Nai )

chiếm 90% sản lượng cả nước [2]

Bên cạnh đó còn diễn ra thực trạng sản xuất nấm rơm bằng thuốc Trung Quốc

Cụ thể là tại cơ sở sản xuất nấm Trần Khánh Ly, xã Tàm Xá, Đông Anh, Hà Nội

khi hoạt động sản xuất nấm, song chưa xuất trình bất cứ hồ sơ pháp lý nào liên quan

đến hoạt động sản xuất nấm tại đây Kiểm tra còn phát hiện cơ sở sử dụng 4 loại

thuốc Trung Quốc, ngoài danh mục, không có tem, nhãn phụ bằng tiếng Việt để

trồng nấm, gồm 25 lọ, 127 gói thuốc bột và 600 ống thuốc nước [9]

Từ tình hình sản xuất nấm rơm bằng thuốc hóa học đã đặt ra một vấn đề về việc

đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng làm sao để khi trồng đảm bảo nấm

phải sạch Trong tất cả yếu tố cơ bản như giống nấm, giá thể, chất dinh dưỡng hữu

cơ, nước tưới, kỹ thuật trồng, trong các yếu tố này đặc biệt là các chất dinh

dưỡng phối trộn vào giá thể trồng, làm sao tìm ra nguồn dinh dưỡng bổ sung hữu cơ

tốt nhất và nó đã tác động lên quá trình sinh trưởng của nấm rơm như thế nào là

một vấn đề được quan tâm

Do đó chọn đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung tỷ lệ phần trăm bột

cám gạo, cám bắp đến sự phát triển sợi tơ của nấm rơm (volvarielle volvacea)”

nhầm mục đích có thể đưa ra được tỷ lệ phần trăm dinh dưỡng cám bắp nào là phù

hợp nhất trong giai đoạn phát triển sợi tơ của nấm rơm

Trang 3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Giới thiệu về nấm rơm

Phân loại khoa học [10]

- Tên tiếng Anh: straw mushroom, paddy straw mushroom

- Tên khoa học: Volvariella volvacea (Bulliard ex Fries) Singer

- Tên đồng nghĩa: Volvaria volvacea, Agaricus volvaceus, Amanita

virgata, Vaginata virgata.

Giới (regnum): Nấm (Fungi)

Ngành (divisio): Nấm đảm (Basidiomycota)

Lớp (class): Nấm tán (Agaricomycetes)

Bộ (ordo): Nấm tán (Agaricales)

Họ (familia): Nấm lớn (Pluteaceae)

Chi (genus): Nấm rơm (Volvariella).

Loài (species): Volvariella volvacea

2.1.1 Phân bố [11]

Nấm rơm (Volvariella volvacea) có nguồn gốc ở Đông và Đông Nam Á Phân

bố ở vùng nhiệt đới thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc

2.1.2 Mô tả [3][7]

Nấm rơm hay nấm mũ rơm là một loài nấm trong họ nấm lớn sinh trưởng và phát

triển từ các loại rơm rạ Nấm gồm nhiều loài khác nhau, có đặc điểm hình dạng

khác nhau như có loại màu xám trắng, xám, xám đen… kích thước đường kính “cây

nấm” lớn, nhỏ tùy thuộc từng loại

Trang 4

Về cấu tạo một quả thể của nấm rơm gồm có:

- Bao gốc (volva): Dài và cao lúc nhỏ, bao lấy tai nấm Khi tai nấm trưởng

thành, nó chỉ còn lại phần trùm lấy phần gốc chân cuống nấm, bao nấm là hệ sợi tơ

nấm chứa sắc tố melanin tạo ra màu đen ở bao gốc Độ đậm nhạt tùy thuộc vào ánh

sáng Ánh sáng càng nhiều thì bao gốc càng đen Bao gốc có chức năng:

 Chống tia tử ngoại ánh sáng mặt trời

 Ngăn chặn sự phá hoại của các loại côn trùng

 Giữ nước và ngăn sự thoát hơi nước của các cơ quan bên trong

Do bao nấm đóng vai trò bảo vệ nên thành phần dinh dưỡng của bao gốc rất ít

Hình 1

Trang 5

- Cuốn nấm: thông thường cuống nấm dài từ 3 – 8 cm, có đường kính 0,5 – 1,5

cm Cuống nấm là bó hệ sợ xốp, xếp theo kiểu vòng tròn đồng tâm Thịt của cuống

nấm màu trắng Khi còn non thì mềm và giòn Nhưng khi già xơ cứng và khó bẻ

gãy Vai trò của cuống:

 Đưa mũ nấm lên cao để phát tán bào tử đi xa

 Vận chuyển chất dinh dưỡng để cung cấp cho mũ nấm Vai trò vận

chuyển chất dinh dưỡng của cuống nấm kết thúc khi bào tử nấm chín

- Mũ nấm: khi đã mở bao, mũ nấm nhô lên trên, hình nón Mũ nấm cũng có

melanin, nhưng nhạt dần từ trung tâm ra rìa mép Khi trưởng thành, mũ nấm mở ra

và đường kính có thể đạt tới 8 – 15 cm Tai nấm lúc này có dạng như hình cây dù

Phía dưới mũ nấm là nhiều phiến Số phiến nấm có khoảng 280 – 370 phiến Các

phiến nấm được xếp theo dạng tia kiểu vòng tròn đồng tâm, phiến nấm không dính

liền với cuống, trên phiến nấm có đảm và bào tử đảm Mỗi phiến nấm có khoảng

2.500.000 bào tử Phiến nấm lúc non thì có màu trắng, khi tai nấm trưởng thành thì

phiến chuyển sang màu hồng Mũ nấm cũng là hệ sợi tơ đan chéo vào nhau, rất giàu

dinh dưỡng, giữ vai trò sinh sản

- Chu trình sống

Chu trình sống của nấm rơm bắt đầu từ đảm bào tử

Đảm bào tử có hình trứng bên ngoài có lớp vỏ dày bao bọc Đảm bào tử lúc còn

non có màu trắng sau chuyển sang màu nâu Khi chín có màu hồng do có chứa thêm

chất xetin Vì vậy, khi nấm già, ở phía dưới mũ nấm ta thấy các phiến có màu hồng

thịt Phía đầu của đảm bào tử có một lỗ nhỏ là nơi để lông mầm chui ra phát triển

thành sợi nấm, Bên trong bào tử chứa chất nguyên sinh, nhân bào tử và một số giọt

dầu Đảm bào tử chỉ chứa có một nửa số nhiễm sắc của loài (n nhiễm sắc) Trong

khi các tế bào sợi nấm có đầy đủ số nhiễm sắc (2n)

Trang 6

Đảm bào tử khi nảy mầm tạo ra sợi nấm gồm các tế bào chỉ chứa n nhiễm sắc thể

(đơn bội) Các sợi nấm sơ cấp này kết hợp với nhau tạo thành các sợi nấm thứ cấp

Gồm các tế bào chứa 2n nhiễm sắc thể (nhị bội thể)

Quá trình tạo thành quả thể nấm rơm gồm 6 giai đoạn:

(1)-Đầu đinh ghim (nụ nấm),

Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của nấm rơm rất nhanh chóng (10-12 ngày)

Những ngày đầu nấm nhỏ như hạt tấm có màu trắng (giai đoạn đinh ghim), 2-3

ngày sau lớn rất nhanh bằng hạt ngô, quả táo, quả trứng (giai đoạn hình trứng), lúc

trưởng thành (giai đoạn phát tán bào tử) trông giống như một chiếc ô dù, có cấu tạo

thành các phần hoàn chỉnh

Hình 2 : Chu kỳ sinh trưởng của nấm rơm

Trang 7

Ở các quốc gia vùng nhiệt đới rất thích hợp về nhiệt độ để nấm rơm sinh trưởng

và phát triển Nhiệt độ thích hợp để nấm phát triển từ 30-32oC; độ ẩm nguyên liệu

(cơ chất) 65-70%; độ ẩm không khí 80%; pH = 7, thoáng khí Nấm rơm sử dụng

dinh dưỡng cellulose trực tiếp từ nguyên liệu trồng

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nấm rơm [4]

Nhiệt độ

Nhiệt độ thích hợp cho phát triển của sợi nấm là 30 – 350C và cho sự hình thành

quả thể là 28 – 300C từ 10 – 200C sợi nấm sinh trưởng phát triển yếu, ở 200C sau 12

giờ chết toàn bộ quả thể hình đinh ghim và đình chỉ sinh trưởng quả thể hình cầu

Nhiệt độ dưới 150C và trên 450C không bao giờ xuất hiện quả thể

Độ ẩm

Độ ẩm trong mô nấm: Sợi nấm rơm có thể sinh trưởng trong điều kiện nguyên

liệu có độ ẩm từ 40 – 90% Nhưng tốt nhất à 65 – 70%

Độ ẩm tương đối của không khí: Có tác dụng điều hòa sự bốc hơi từ mô nấm và

quả thể nấm ra không khí Nếu trong hơi nước bão hòa thì sự bốc hơi cân bằng với

hơi nước ngưng tụ ại trên mô nấm làm cho mô nấm luôn luôn ẩm ướt tạo điều kiện

tốt cho nấm rơm sinh trưởng và phát triển

Độ ẩm từ 60 – 70%: Gây chết toàn bộ nấm giai đoạn đinh ghim, đình chỉ sự sinh

trưởng của nấm giai đoạn hình cầu Nếu tiếp tục kéo dài thì gây ra hiện tượng teo

đầu quả thể

Độ ẩm từ 80 – 85%: Gây chết một phần giai đoạn đầu đinh ghim, không ảnh

hưởng đến giai đoạn khác

Độ ẩm từ 90 – 100%: Rất tốt với giai đoạn đầu đinh ghim, nhưng có phần nào

giảm phẩm chất ở một số giai đoạn khác Nếu kèm theo nhiệt độ cao thì nấm sinh

trưởng phát triển nhanh, hàm lượng nước trong nấm nhiều, nở nhanh và dễ bị nứt

khi vận chuyển, giai đoạn hình dù dễ bị thối rữa

Trang 8

Ánh sáng

Nấm rơm không có diệp lục nên không cần ánh sáng để tổng hợp chất hữu cơ

như thực vật màu xanh Do đó thời kỳ sinh trưởng của sợi nấm không cần ánh sáng

Cường độ ánh sáng có thể đình chỉ các quá trình sinh trưởng và gây chết sợi nấm

Ánh sáng như một yếu tố kích thích sự hình thành và phát triển của quả thể

Nấm rơm trồng trong tối sẽ không hình thành quả thể mặc dù có đầy đủ các yếu

tố khác

Nếu cường độ ánh sáng quá mạnh cũng có thể gây chết toàn bộ nấm ở giai đoạn

đầu đinh ghim, gây chết 10 – 30% giai đoạn hình cầu Ánh sáng thừa nếu không đủ

gây chết cũng làm cho nấm xấu đi vì quá đen, bao gốc rất dày, thịt nấm cứng làm

giảm chất lượng của nấm Nấm có màu xám lông chuột là ánh sáng vừa đủ

Không khí

Sự thông khí cần thiết cho quá trình sinh trưởng của sợi nấm và phát triển của

quả thể Thiếu oxy xảy ra khi độ ẩm nguyên liệu quá cáo, nguyên liệu bị nén quá

chặt

Thiếu oxy thường biểu hiện như sau:

Quả thể giai đoạn đầu đinh ghim được hình thành dày đặc nhưng không tiếp tục

sinh trưởng, sau vài ngày toàn bộ quả thể chết và mềm nhũn

Giai đoạn hình cầu không hình thành hoặc hình thành sắc tố đen rất chậm, thời

gian ở giai đoạn hình cầu rất lâu

Quả thể nấm rơm bị thấm dịch từ môi trường làm cho bên trong quả thể biến

thành màu nâu

2.1.4 Thành phần dinh dưỡng [5]

Nấm rơm không chỉ là loại thức ăn ngon mà còn có giá trị dinh dưỡng cao Tính

theo trọng lượng tươi, nấm rơm chứa 2,66 – 5,05% protein, trong protein này có

đầy đủ 19 loại axit amin

Trang 9

Lượng chất béo trong nấm rơm là vào khoảng 3% (tính theo trọng lượng khô),

loại chất béo bão hòa chiếm 41,2%, còn chất béo chƣa bão hòa chiếm 58,8% Nấm

rơm có chứa phong phú các loại vitamin Lượng vitamin có trong 100 gram nấm

tươi như sau: vitamin B1: 0,35 mg, vitamin B2: 1,63 – 2,98 mg, vitamin B5:

64,88mg, vitamin C: 158,44 – 206,27 mg,

Lượng chất khoáng chiếm 3,8% trong nấm rơm khô, trong đó kali chiếm đến

khoảng 45% Tỷ lệ từng nguyên tố trong tổng số muối khoáng ở nấm rơm thay đổi

tùy vào từng giai đoạn phát triển của quả thể nấm

Bảng 1: Tỷ lệ (%) từng nguyên tố trong tổng số muối khoáng ở nấm rơm ở

các giai đoạn phát triển khác nhau

Trang 10

nấm

Hìnhdạngtrứng

Hìnhdạng kéodài

Nấm

nở xòeP

12,7 4,66 45,76 4,17 1,76 0,058 0,118 0,140

12,29 1,80 42,42 3,37 1,60 0,043 0,081 0,110

8,18 1,16 42,60 2,59 1,70 0,036 0,078 0,128 2.2 Giới thiệu về bột cám gạo, bột bắp

2.2.1 Cám [12]

cốc, sau khi thu được sản phẩm chính là hạt thì còn một sản phẩm phụ có giá trị khá

cao đó là cám Từ lâu cám được các nhà máy xay xát thu hồi và bán như là một sản

phẩm chính chỉ sau ngũ cốc đã tinh chế Cám được thu hồi dưới hai dạng là cám

khô và cám ướt Cám khô sẽ được sấy thêm lần nữa để bảo quản được lâu hơn, còn

cám ướt thường được bán cho các cơ sở nuôi cá da trơn sử dụng ngay

2.2.1.1 Cám gạo

Thường có dạng bột, mềm và mịn Cám gạo chiếm khoảng 10-12% khối lượng

lúa chưa xay xát Cám là hỗn hợp của lớp vỏ ngoài của hạt gạo và lớp aloron

Trang 11

Những thành phần được thu hồi khi khi xay xát và chế biến gạo và được gọi chung

là cám

-Thành phần của cám gạo [6]

Hàm lượng Vitamin trong cám gạo rất cao vì trong quá trình xay xát lượng

vitamin của gạo có thể mất đi từ 60-81% tùy theo từng loại gạo Trong cám gạo có

chứa hàm lượng chất béo từ 14-18%, đạm từ 11-16% nhưng hàm lượng lớn chất xơ

và chất bột đường (carbohydrate) cao

2.2.1.2 Bột bắp

Bột bắp hay bột ngô là một loại bột mịn được làm từ các nội nhũ (phần lõi của

hạt) của hạt bắp/ngô khô Bột bắp được sử dụng cho nhiều điều trong nấu ăn, nhưng

phổ biến nhất là sử dụng như một chất kết dính và chất làm đặc trong các món ăn

khác nhau Không giống như bột mì, bột bắp thực sự trở nên định hình rõ ràng khi

nấu chín

- Thành phần dinh dưỡng của bột bắp [7]

Ngô ngọt (hạt) Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz) , Cacbohydrat 19g, đường 3.2g,

protein 3.2g, Vitamin C 7 mg (12%), Sắt 0.5 mg (4%), Magie 37 mg (10%), Kali

270 mg (6%), Chất xơ thực phẩm 2.7 g, Chất béo 1.2g, Vitamin A 10 μg (1%)g (1%)

2.2.2 Rơm

Rơm rạ là nguồn chất hữu cơ khổng lồ, chiếm đến 50% trọng lượng của cây lúa,

mỗi ha trồng lúa có đến 10-12 tấn rơm rạ

2.2.2.1 Thành phần của rơm

Thành phần hóa học của rơm rạ tính theo khối lượng khô gồm xenluloza

(cellulose): 60%, linhin (lignin): 14%, đạm hữu cơ (protein): 3,4%, chất béo (lipid):

1,9% Nếu tính theo nguyên tố thì cácbon (C) chiếm 44%, hyđrô (H) chiếm 5%,

ôxy (O) chiếm 49%, Ni tơ chiếm khoảng 0,92%, một lượng rất nhỏ phốtpho (P),

lưu huỳnh (S) và kali (K)

2.2.3 Phân trùn

Trang 12

Phân trùn là một loại phân bón thiên nhiên giàu dinh dưỡng có tác dụng kích

thích sự tăng trưởng của cây trồng Không giống như phân chuồng, phân trùn được

hấp thụ ngay một cách dễ dàng bởi cây trồng Phân trùn không chỉ kích thích tăng

trưởng cây trồng mà còn tăng khả năng duy trì giữ nước trong đất và thậm chí còn

có thể ngăn ngừa các bệnh về rễ

Phân trùn chứa một sinh vật có hoạt tính cao như vi khuẩn, nấm mốc, đặc biệt là

hệ vi khuẩn cố định đạm tự do (Azotobacter), vi khuẩn phân giải lân, phân giải

cellulose và chất xúc tác sinh học Vì thế hoạt động của các vi sinh vật lại tiếp tục

Đóng mô, cấy giống

Nuôi sợi

Chăm sóc, thu hái

Trang 13

2.3.1 Nguyên liệu

Chọn rơm khô, sạch, có màu vàng sáng

Rơm không bị nhiễm mốc, không bị thấm nước mưa nhiều ngày, nhũn nát

Rơm không bị dính dầu mỡ, hóa chất, thuốc trừ sâu

Tốt nhất sử dụng rơm nếp, rơm trữ sau một mùa

2.3.2 Xây dựng nhà trồng nấm

Chọn nền đất: chọn những nền đất cứng, cao ráo, cao hơn mặt đất bình thường từ

0,3 – 0,5 m Nhà trồng kín bằng nilon trắng trên nóc và xung quanh lợp bằng nilon

Trên vách chừa 2 lỗ có kích thước khoảng 20 x 25 cm để làm mát Ban đêm mở cửa

để nấm thoát khí CO2 Ban ngày có thể che bớt ánh sáng nếu cường độ ánh sáng

quá cao Bên trong nhà trồng nấm làm những dàn kệ cách nhau 70 cm, cao 2 m,

mỗi dàn kệ làm thành từng ngăn, ngăn này cách ngăn kia 40 cm, dày 40 cm

Trang 14

2.3.3 Xử lí nguyên liệu trồng nấm rơm

Bước 1: Pha nước vôi: Nước vôi dùng để xử lý rơm có pH khoảng 12 – 13

- Mang bảo hộ lao động

- Cân vôi tôi hoặc vôi sống cho vào trong thau sạch, lượng vôi phụ thuộc vào

lượng rơm xử lý

- Dùng que khuấy cho vôi hoà tan hoàn toàn trong nước

- Đổ nước vôi vào bể ngâm rơm và thêm nước sạch vào bể ngâm, dùng que

khuấy đều dung dịch nước vôi cho hòa tan hoàn toàn

- Kiểm tra pH nước vôi bằng giấy đo pH Chú ý khi pha nước vôi:

+ Pha đúng pH nước vôi

+ Tuỳ theo lượng rơm, thể tích bể ngâm để hoà nước vôi tránh lãng phí

+ Nếu sử dụng vôi sống để pha vôi tôi: phải cẩn thận để tránh bị bỏng do nước

vôi bắn lên người, không nhìn trực tiếp vào thùng nước vôi khi ta đổ vôi sống vào

thùng hơi nước vôi bay lên gây hại cho mắt

Bước 2: Làm ướt rơm bằng nước vôi

- Mang bảo hộ lao động

- Cân lượng rơm tối thiểu cho 1 lần xử lý là 300 kg

- Dùng cào sắt hoặc tay cho từng bó rơm vào bể nước vôi

- Nhấn ngập rơm trong nước vôi, thời gian 10 – 15 phút để rơm ngấm đủ nước

- Vớt rơm đặt trên vỉ tre để rơm róc bớt nước trong thời gian 3 – 5 phút

Trang 15

- Kiểm tra rơm trước khi ủ đống: Độ ẩm của rơm đạt 70 – 75%, rơm có màu

vàng sáng, có mùi thơm nồng của vôi

Bước 3: Ủ đống rơm lần 1

- Đặt kệ lót đống ủ nơi sạch sẽ, khô ráo và đặt cọc thông khí vào giữa kệ ủ

- Cho từng nắm rơm rạ đã làm ướt lên kệ, xếp các góc trước và nén chặt

- Dẫm đạp đống ủ khi độ dày lớp rơm rạ trên kệ khoảng 15 – 20 cm và tạo khối

đống ủ rơm vuông, cân đối

- Thu nhọn dần phần trên đống ủ cho đến hết lượng rơm cần xử lý

- Một đống ủ chỉ nên cao 1,5 m Trường hợp xử lý lượng rơm lớn nên kéo dài

đống ủ và đặt nhiều cọc thông khí, cách 1,5 m rơm đống ủ tiến hành đặt 1 cọc thông

khí

- Phủ bạt nilon kín quanh đống ủ để hở phần chân đống ủ và phần mặt quanh cọc

thông khí, dùng dây nhựa buộc chặt xung quanh đống ủ Chú ý khi ủ đống:

+ Ghi lại ngày giờ khi hoàn tất đống ủ và bắt đầu tính thời gian ủ đống

+ Đống ủ phải cân đối, không nghiêng đổ, đầu đống ủ nên thu nhọn và đảm bảo

kích thước tối thiểu cho một đống ủ theo yêu cầu

+ Có thể bổ sung thêm hoá chất: bột nhẹ, phân vô cơ (urê, DAP, sunphat magie )

nếu chất lượng rơm không tốt

Bước 4: Đảo và ủ đống rơm lần 2: Sau khi ủ đống lần 1 khoảng 3 – 4 ngày, tiến

hành đảo đống ủ và ủ lần 2:

- Mang bảo hộ lao động

Trang 16

- Tháo dây nhựa, bạt ra khỏi đống ủ

- Kiểm tra nhiệt độ trong đống ủ: dùng nhiệt kế đo các vị trí khác nhau trên đống

ủ, ghi lại và sau đó lấy kết quả trung bình

- Tơi đống ủ bằng cào sắt và chia thành 2 phần: Phần vỏ: gồm lớp rơm rạ phần

đáy, trên bề mặt và xung quanh đống ủ; phần ruột: gồm lớp rơm rạ ở giữa đống ủ

- Để nguội rơm và kiểm tra độ ẩm rơm, tương tự phương pháp kiểm tra độ ẩm

rơm trước khi ủ đống

- Ủ đống rơm lần 2 tương tự đống ủ lần 1, cần chú ý: phần vỏ đưa vào trong,

phần ruột chuyển ra ngoài đống ủ

- Tủ bạt nilon, buộc dây và ghi lại ngày giờ hoàn tất công việc ủ đống tương tự

tiến hành đống ủ lần 1

Bước 5: Làm tơi rơm: Sau khi ủ đống lần 2 khoảng 3 – 4 ngày, tiến hành tơi rơm,

để nguội:

- Dùng cào sắt hoặc tay tơi rơm từ đống ủ để giảm nhiệt khoảng < 350C

- Kiểm tra độ ẩm rơm trước khi đóng mô, cấy giống, đảm bảo từ 70 – 75 %

Đóng mô và cấy giống nấm rơm

2.3.3.1 Chọn giống nấm rơm

- Giống phải đúng độ tuổi, hệ sợi nấm mọc lan kín đến đáy túi

- Bề mặt túi giống xuất hiện các bào tử lấm tấm, màu trắng hồng hoặc chuyển

sang màu hồng thịt

- Không nhiễm nấm mốc như có đốm màu xanh, đen, cam

- Có mùi thơm đặc trưng, không có mùi chua

Trang 17

- Giống rơm hiện nay có thể làm trên 2 loại cơ chất khác nhau: trên rơm và trên

hạt

2.3.3.2 Đóng mô rơm

• Xếp mô và cấy giống theo kiểu mô luống

Phương pháp này có thể trồng ngoài trời như: đồng ruộng hoặc trong vườn nhà

do vậy phụ thuộc rất nhiều điều kiện thời tiết đòi hỏi chúng ta phải cần có những

kinh nghiệm nhất định

Cách tiến hành:

- Kiểm tra vị trí đặt mô nấm: nền đất yêu cầu phải sạch, đã được khử trùng và

không bị ngập nước, có hệ thống thoát nước tốt

- Xác định hướng gió, hướng nắng và điều kiện thời tiết để bố trí xếp mô hợp lý

- Bó rơm thành từng bó có đường kính khoảng 10 – 15 cm, chiều dài bó rơm có

kích thước 40 – 50 cm

- Xếp các bó rơm thành luống, xếp sát vào nhau thành dãy và cắt gọn hai đầu

- Cấy giống theo xung quanh bìa luống, cách bìa luống 5 – 10 cm và các điểm

giống cách nhau 15 cm

- Tiếp tục xếp các lớp rơm tiếp theo tương tự lớp thứ nhất và tiến hành cấy giống

tương tự sao cho một luống nấm đủ 5 lớp rơm và 4 lớp giống, riêng lớp thứ tư cấy

đều meo giống ở giữa luống và dọc theo suốt chiều dài của luống

- Xếp lớp rơm cuối cùng phủ lên lớp meo giống, làm nóc luống mô nấm và xuôi

chiều với chiều dài luống

Trang 18

Xếp mô và cấy giống theo kiểu mô khối

Kiểm tra vị trí đặt mô nấm, xác định hướng gió, hướng nắng và điều kiện thời

tiết (nếu trồng ngoài trời) để bố trí xếp mô hợp lý

- Đặt khuôn lớn vào nền đất theo hướng đã chọn sao cho tiết kiệm diện tích và

thuận tiện trong thao tác

- Dùng tay xốc một nắm rơm và cuộn tròn 2 đầu, sao cho cuộn rơm có chiều dài

bằng chiều ngang đáy lớn khuôn mô, độ dày của cuộn rơm từ 7 – 10cm

- Đặt các cuộn rơm vào sát thành ngang của khuôn cho kín hết chiều dài đáy

dưới của khuôn và dùng tay nén chặt lớp rơm, tạo bề mặt lớp rơm phẳng

- Cấy một đường giống nấm xung quanh mép khuôn, cách mép khuôn 3- 5 cm

- Tiếp tục xếp lớp rơm và cấy đường giống tiếp theo tương tự lớp thứ nhất sao

cho đủ 4 lớp giống riêng lớp thứ 4 giống được rải đều trên bề mặt mô

- Rải lớp rơm bề mặt dày 3 – 4 cm lên trên cùng, ép nhẹ cho phẳng ( nên dùng

rơm có độ ẩm cao hơn vì dễ mất nước làm khô bề mặt mô)

- Hai người nhấc khuôn ra khỏi mô rơm bằng cách 1 tay nén mạnh đầu mô nấm,

một tay nhấc khuôn ra khỏi mô (Mô nấm rơm hoàn thiện phải đủ 4 lớp giống, 5 lớp

rơm, mô vuông cân đối, không bị nghiêng đổ)

- Sau khoảng 5 - 6 giờ (nếu đốt áo mô) hoặc sau 3 - 5 ngày (nếu không đốt áo

mô) tiến hành rải một lớp rơm khô, không bị mốc đều trên bề mặt và xung quanh

mô, độ dày lớp rơm 7 – 10 cm

Chú ý : Vào mùa mưa hoặc trời lạnh nên che thêm tấm vải nhựa (nilon) có đục

lỗ chạy suốt chiều dài mô trước khi đậy áo mô nhằm bảo đảm giữ nhiệt và giữ ẩm

cho toàn bộ các mô nấm

Trang 19

• Đóng gói và cấy giống theo kiểu mô gói

Phương pháp này áp dụng trồng nấm rơm trong nhà

Cách tiến hành:

- Chọn vị trí sạch sẽ ít gió để ngồi đóng gói

- Trải tấm nilon có kích thước: 0,5 x 0,5 m vào vị trí sạch sẽ

- Đặt khuôn lên chính giữa tấm nilon

- Cho rơm vào khuôn và nén chặt khoảng 1/2 khuôn

- Cấy đường giống nấm xung quanh khuôn, cách thành khuôn 3 – 5 cm, các điểm

giống cấy cách nhau khoảng 2 cm

- Cho tiếp lớp rơm trên lớp giống và nén chặt đến khi đầy khuôn

- Nhấc khuôn ra khỏi mô nấm bằng 1 tay, tay kia nén chặt gói mô nấm, tránh làm

trầy xước và vỡ gói mô nấm

- Kéo tấm nilon để gói chặt gói mô nấm

- Dùng dây nilon buộc gói mô nấm

- Chuyển các mô gói nấm và xếp vào nhà nuôi sợi

- Phủ kín khối mô nấm bằng bạt nilon để giữ nhiệt

2.3.3.3 Nuôi sợi

Kiểm tra điều chỉnh nhiệt độ mô khối

Sau 3 – 4 ngày cấy giống, dùng nhiệt kế cắm sâu vào mô nấm khoảng 10 – 15

cm, giữ yên khoảng 3 – 5 phút, rút nhiệt kế ra và đọc kết quả ngay

+ Nếu nhiệt độ trong mô nấm đạt từ 35 - 420C là đạt yêu cầu, tốt nhất nếu nhiệt

độ mô nấm đạt từ 38 – 400C

Trang 20

+ Nếu nhiệt độ mô nấm dưới 350C cần phải đậy thêm áo mô hoặc dùng bạt nilon

cắt lỗ tạo độ thoáng trùm lên toàn bộ các mô nấm để tăng nhiệt

+ Nếu nhiệt độ mô nấm trên 450C cần phải tháo bỏ lớp áo mô để giảm nhiệt độ

trong mô nấm Duy trì chế độ nhiệt trên ổn định trong vòng 5 - 7 ngày để hệ sợi

nấm phát triển tốt nhất và sau đó hạ dần nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn đón quả

thể

Kiểm tra, điều chỉnh độ ẩm mô nấm:

Kiểm tra độ ẩm mô nấm bằng cách tủ một nắm rơm ở giữa mô nấm, dùng hai tay

vắt mạnh nếu:

Không có nước chảy ra ở các kẽ ngón tay và vân tay thiếu nước, cần bổ sung

thêm nước vào mô nấm

Có nước chảy ra ở các kẽ ngón tay là dư nước, cần tháo lớp mô để thoát bớt

nước cho mô nấm

Nước chỉ đủ làm ướt vân tay là độ ẩm mô đạt yêu cầu

Ngày đăng: 30/05/2017, 00:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đường Hồng Dật (2002), Kỹ thuật nuôi trồng nấm mỡ, nấm rơm, nấm sò, nấm hương và mộc nhĩ, Nhà xuất bản Hà Nội, trang 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi trồng nấm mỡ, nấm rơm, nấm sò, nấm hương và mộc nhĩ
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2002
[2] Nguyễn Hữu Hỷ , Nguyễn Duy Trình , Ngô Thị Bích Ngọc , Nguyễn Thị Mỵ (2015), Thực trạng và giải pháp phát triển ngành nấm tại các tỉnh phía nam, Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc, Trung tâm công nghệ sinh học thực vật, trang 2, 3, 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển ngành nấm tại các tỉnh phía nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Hỷ , Nguyễn Duy Trình , Ngô Thị Bích Ngọc , Nguyễn Thị Mỵ
Năm: 2015
[3] Nguyễn Hữu Đống, Đinh Xuân Linh, Huỳnh Thị Dung (2003), Nuôi trồng và sử dụng nấm ăn, nấm dược liệu, Nhà xuất bản Nghệ An, trang 105, 106, 107, 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi trồng và sử dụng nấm ăn, nấm dược liệu
Tác giả: Nguyễn Hữu Đống, Đinh Xuân Linh, Huỳnh Thị Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 2003
[4] Trường Trung học Nông nghiệp và PTNT Quảng Trị (2012), Tài liệu đào tạo nghề kỹ thuật trồng nấm sò, rơm, linh chi, Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Trị, trang 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo nghề kỹ thuật trồng nấm sò, rơm, linh chi
Tác giả: Trường Trung học Nông nghiệp và PTNT Quảng Trị
Năm: 2012
[5] Nguyễn Lân Dũng (2003), Công nghệ nuôi trồng nấm, Tập II, NXB Nông nghiệp, trang 27, 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ nuôi trồng nấm
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
[7] Nguyễn Hữu Đống, Đinh Xuân Linh, Nguyễn Thị Sơn, Zani Federico (2002), Nấm ăn cơ sở khoa học và công nghệ nuôi trồng, NXB Nông nghiệp, trang 59, 60, 61, 62, 63 Tài liệu internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nấm ăn cơ sở khoa học và công nghệ nuôi trồng
Tác giả: Nguyễn Hữu Đống, Đinh Xuân Linh, Nguyễn Thị Sơn, Zani Federico
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w