Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2012 đến tháng 06/2012, tại trại thực nghiệm khoa Nông học, trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh nhằm khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của nấm li
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA NẤM LINH CHI
(Ganoderma lucidum (Leyss.Ex Fr.) Karst) TRỒNG
CÓ BỔ SUNG MỘT SỐ CHẤT DINH DƯỠNG
Trang 2KHẢO SÁT SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA NẤM LINH CHI
(Ganoderma lucidum (Leyss.Ex Fr.) Karst) TRỒNG
CÓ BỔ SUNG MỘT SỐ CHẤT DINH DƯỠNG
Tác giả
NGUYỄN TRƯỜNG DUY
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng kỹ sư ngành Nông học
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS PHẠM THỊ NGỌC
Tp Hồ Chí Minh, tháng 07/2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn nghiên cứu “Khảo sát sự tăng trưởng của
nấm linh chi (Ganoderma lucidum (Leyss.Ex Fr.) Karst) trồng trên cơ chất các loại cây
xâm thực có bổ sung một số chất dinh dưỡng” ngoài sự cố gắng, phấn đấu hết mình của bản thân, em còn nhận được sự khích lệ, giúp đỡ thiết thực từ gia đình, nhà trường, thầy cô và bạn bè
Từ tận sâu trong đáy lòng con khắc ghi công ơn sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ
và tất cả những gì ba mẹ đã hy sinh để con được trưởng thành như ngày hôm nay
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Nông học, Ban quản lý trại khoa Nông học, trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã luôn tạo điều kiện rất tốt cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh
đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, luôn quan tâm, dìu dắt và luôn giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, cũng như trong quá trình thực hiện đề tài Đặc biệt, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Phạm Thị Ngọc, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Xin cảm ơn bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận
Dù đã cố gắng hoàn thành khóa luận văn trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn rằng còn những thiếu sót, em kính mong nhận được sự tận tình chỉ bảo của thầy cô và bạn bè
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát sự tăng trưởng của nấm linh chi (Ganoderma lucidum
(Leyss.Ex Fr.) Karst) trồng trên cơ chất các loại cây xâm thực có bổ sung một số chất dinh dưỡng” do Nguyễn Trường Duy thực hiện với sự hướng dẫn của Th.S Phạm Thị Ngọc Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2012 đến tháng 06/2012, tại trại thực nghiệm khoa Nông học, trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh nhằm khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của nấm linh chi trên giá thể cây mai dương và cây keo dậu, xác định tỷ lệ phối trộn dinh dưỡng cho nấm linh chi phát triển tốt
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên hai yếu tố, 3 lần lặp lại
Yếu tố A (Giá thể): gồm 2 loại cơ chất
Cơ chất K: cây keo dậu
Cơ chất M: cây mai dương
Yếu tố B (Dinh dưỡng): gồm 4 mức
Trang 5MỤC LỤC
trang
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH xi
DANH SÁCH ĐỒ THỊ xii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về biến dưỡng và sinh lý của nấm 3
2.1.1 Biến dưỡng của nấm 3
2.1.2 Sự phát triển của nấm ăn 4
2.2 Tổng quan về nấm linh chi 5
2.2.1 Phân loại 5
Trang 62.2.2 Đặc điểm sinh học của nấm linh chi 6
2.2.3 Điều kiện sinh trưởng phát triển của nấm linh chi 7
2.2.4 Công dụng của nấm linh chi 8
2.3 Khái quát về cây mai dương và cây keo dậu giá thể trồng nấm linh chi 9
2.3.1 Cây mai dương: tên khoa học: Mimosa pigra L 10
2.3.2 Cây keo dậu: tên khoa học: Leucaena leucocephala (Lam.) De Wit 11
2.4 Các chất dinh dưỡng 12
2.4.1 Cám gạo 13
2.4.2 Cám bắp 13
2.5 Một số nấm mốc và côn trùng gây hại trên nấm linh chi 14
2.5.1 Nấm mốc 14
2.5.2 Côn trùng gây hại 14
2.6 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm linh chi 15
2.6.1 Ở trong nước 15
2.6.2 Ở nước ngoài 15
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 17
3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm 17
3.1.1 Thời gian 17
3.1.2 Địa điểm 17
3.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết 17
Trang 73.3.1 Giống 18
3.3.2 Giá thể 18
3.3.3 Dinh dưỡng phối trộn 18
3.3.4 Dụng cụ thí nghiệm 18
3.4 Phương pháp thí nghiệm 18
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 20
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 21
3.7 Quy trình thực hiện 21
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Kết quả về chỉ tiêu sinh trưởng 24
4.1.1 Tăng trưởng chiều dài tơ nấm 24
4.1.2 Tốc độ tăng trưởng của sợi tơ nấm 30
4.1.3 Ngày bắt đầu xuất hiện tơ nấm linh chi 32
4.1.4 Thời gian tơ ăn đầy bịch nấm 33
4.1.5 Tỷ lệ số bịch nấm có tơ phủ kín ở giai đoạn kết quả thể (%) 35
4.2 Kết quả về hình thái quả thể 36
4.3 Kết quả về chỉ tiêu năng suất 38
4.4 Tỷ lệ sâu bệnh hại 39
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
Trang 85.2 Đề nghị: 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CV Coefficent of variation (hệ số biến động)
NSLT Năng suất lý thuyết
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Điều kiện ngoại cảnh cần thiết cho sự phát triển của nấm linh chi 8
Bảng 2.2: Thành phần hóa dược của nấm linh chi 9
Bảng 2.3: Tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong cám gạo (%) 13
Bảng 2.4: Tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong cám bắp (%) 13
Bảng 3.1: Điều kiện khí hậu, thời tiết tại Thành phố Hồ Chí Minh 17
Bảng 3.2: Quy trình thực hiện trồng nấm linh chi 21
Bảng 4.1: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ của nấm linh chi ở các nghiệm thức (cm) ở giai đoạn 10 ngày sau cấy 25
Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ của nấm linh chi ở các nghiệm thức (cm) ở giai đoạn 15 ngày sau cấy 26
Bảng 4.3: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi của các nghiệm thức (cm) ở giai đoạn 20 ngày sau cấy 27
Bảng 4.4: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi của các nghiệm thức (cm) ở giai đoạn 25 ngày sau cấy 28
Bảng 4.5: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi của các nghiệm thức (cm) ở giai đoạn 30 ngày sau cấy 29
Bảng 4.6: Tốc độ tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi của các nghiệm thức qua các giai đoạn (cm/ngày) 30
Bảng 4.7: Thời gian bắt đầu xuất hiện tơ nấm linh chi của các nghiệm thức (ngày sau cấy) 32
Bảng 4.8: Thời gian tơ nấm linh chi ăn đầy bịch của các nghiệm thức (ngày) 34
Trang 11Bảng 4.9: Tỷ lệ số bịch nấm có tơ phủ kín ở giai đoạn kết quả thể của các nghiệm thức
(%) 35
Bảng 4.10: Hình thái quả thể nấm linh chi 36
Bảng 4.11: Năng suất lý thuyết (g/1000 bịch nấm) và năng suất thực thu (g) 38
Bảng 4.12: Tỷ lệ sâu bệnh hại nấm linh chi của các nghiệm thức (%) 39
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Chu trình sống của nấm linh chi 6
Hình 1: Chuẩn bị giá thể 45
Hình 2: Bịch giá thể đã được phối trộn dinh dưỡng 45
Hình 3: Bịch giá thể đã được đậy nút bông 46
Hình 4: Hấp khử trùng 46
Hình 5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 47
Hình 7: Tơ ăn đầy bịch nấm 48
Hình 8: Giai đoạn hình thành quả thể 48
Hình 9: Bịch nấm ở giai đoạn ra quả thể 49
Hình 10: Quả thể nấm linh chi 49
Hình 11: Bịch nấm nhiễm nấm mốc xanh 50
Hình 12: Quả thể bị côn trùng gây hại 50
Trang 13DANH SÁCH ĐỒ THỊ
Biểu đồ 4.1: Tốc độ tăng trưởng chiều dài tơ nấm của các nghiệm thức 51Biểu đồ 4.2: Năng suất thực thu của các nghiệm thức 51Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ sâu bệnh hại của các nghiệm thức 52
Trang 14Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Nấm linh chi là một loại thảo dược quý, được gọi là “Lingzhi” trong tiếng Trung Quốc và “Reishi” trong tiếng Nhật Bản Nấm linh chi được sử dụng để chữa bệnh ở các nước phương Đông cách nay hơn 2000 năm Ngày nay chúng được dùng
để điều trị các bệnh như: mệt mỏi, suy nhược thần kinh, tiểu đường, tăng huyết áp, loét
dạ dày, ung thư, các bệnh về gan và nhiều chứng thuộc hệ thống đề kháng của cơ thể
Từ lâu nguồn linh chi được sử dụng trong dược liệu chủ yếu dựa vào khai thác nguồn nấm mọc hoang dại trong tự nhiên Tuy nhiên, nguồn nấm trong tự nhiên ngày càng cạn kiệt và khan hiếm Vì vậy, cần phải nuôi trồng nấm linh chi trong điều kiện môi trường nhân tạo, sử dụng các nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên hoặc các phế phẩm nông nghiệp làm cơ chất nuôi trồng nấm
Hiện nay với tốc độ xâm lấn của các loại cây xâm thực ngày càng nhanh, đó là mối đe dọa nguy hiểm nhất đến sự suy giảm về đa dạng sinh học, do đó cần phải có những giải pháp nhằm tiêu diệt những loại cây này
Nếu sử dụng được thân của các loài cây xâm thực làm giá thể trồng nấm linh
chi ngoài việc có thể ngăn chặn sự phát triển của các loại cây này mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng nấm Tuy nhiên, đây là loại giá thể mới nên cần phải xác định tỷ lệ phối trộn các dinh dưỡng sao cho phù hợp để nấm linh chi có thể phát triển tốt nhất
Trang 15Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài “Khảo sát sự tăng trưởng của nấm linh
chi (Ganoderma lucidum (Leyss.Ex Fr.) Karst) trồng trên cơ chất các loại cây xâm thực có bổ sung một số chất dinh dưỡng” được thực hiện
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về biến dưỡng và sinh lý của nấm
2.1.1 Biến dưỡng của nấm
Nấm không có khả năng quang hợp như cây xanh do đó chúng không có đời sống tự dưỡng mà chỉ có đời sống dị dưỡng, sống nhờ trên các chất hữu cơ có sẵn nhờ chúng có khả năng tiết ra các enzyme ngoại bào để phân giải các chất phức tạp thành các chất đơn giản dễ hấp thu
Theo Lê Duy Thắng (2001), dựa theo cách dinh dưỡng của nấm, có thể chia thành ba nhóm:
Hoại sinh: Thức ăn của nhóm nấm này là xác bã động vật hay thực vật Chúng tiết ra enzyme tương đối mạnh có thể phân giải các chất phức tạp thành đơn giản để nấm có thể hấp thụ
Ký sinh: Thức ăn của nhóm nấm này là các chất lấy từ cơ thể ký chủ, làm suy yếu hoặc tổn thương ký chủ, nhóm này chủ yếu là nấm gây bệnh
Cộng sinh: Thức ăn lấy từ cơ thể vật chủ nhưng không làm chết hoặc tổn thương vật chủ
Trang 172.1.2 Sự phát triển của nấm ăn
2.1.2.1 Nhu cầu dinh dưỡng của nấm ăn
Nguồn cacbon: Nguồn cacbon hữu cơ như cellulose, hemicellulose, lignin, tinh bột, các chất này được enzyme phân giải thành các chất đơn giản hơn thì nấm mới có thể hấp thụ (Trần Văn Mão, 2008)
Nguồn cacbon là nguồn nguyên liệu để nấm tổng hợp các thành phần cấu tạo nên sợi nấm và các hợp chất liên quan đến sự sống (Lê Duy Thắng, 2001)
Nguồn đạm: Theo Lê Duy Thắng (2001), đạm là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu của nấm Đạm là nguyên liệu để nấm tổng hợp nên protein là thành phần cấu tạo chính của tế bào, đồng thời là cấu trúc của enzyme Nguồn đạm được cung cấp ở dạng nitrat hay amon Tuy nhiên, dạng đạm thích hợp cho nấm phát triển là amon hay acid amin
Khoáng: Các nguyên tố khoáng rất cần thiết cho sự phát triển của nấm, chúng chiếm 5 – 10% trọng lượng khô Các chất cần cho nấm bao gồm: P, K, Mg, S, Cu, Fe,
Co, Mn, Zn Tùy từng loại nấm mà hàm lượng các khoáng khác nhau nhưng trong đó
ba nguyên tố P, K, Mg là cần thiết nhất (Trần Văn Mão, 2008)
Theo Lê Duy Thắng (2001), các khoáng có vai trò quan trọng trong việc hoạt hóa enzyme, tổng hợp vitamine, hấp thụ các chất trao đổi của nấm
2.1.2.2 Điều kiện sinh thái của nấm ăn
Sự phát triển của nấm ăn được quyết định bởi đặc tính di truyền và chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường Điều kiện môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm ăn bao gồm nhiều yếu tố nhưng trong đó các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm không khí, ánh sáng, pH của môi trường gây ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng phát triển của nấm ăn
Nhiệt độ: Ảnh hưởng trực tiếp đến các phản ứng sinh hóa bên trong tế bào
Trang 18Theo Trần Văn Mão (2008), nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nấm biểu hiện trên hai mặt:
Khi nhiệt độ tăng, tốc độ sinh hóa tăng nhanh, nên sự sinh trưởng của nấm tăng nhanh nhưng khi nhiệt độ tiếp tục cao sẽ làm cho protein và acid nucleic bị phá hủy, tốc độ sinh trưởng bị giảm xuống, thậm chí làm nấm chết
Khi nhiệt độ quá thấp thì nấm sinh trưởng chậm nhưng không bị chết
Ánh sáng: Nấm không có diệp lục như cây xanh nên không cần ánh sáng liên tục Giai đoạn hình thành và phân hóa quả thể nấm là lúc cần ánh sáng Tuy nhiên, tùy theo từng loài cường độ và chất lượng ánh sáng khác nhau (Trần Văn Mão, 2008)
Theo Lê Duy Thắng (2001), ở giai đoạn tơ nấm nếu có ánh sáng chiếu trực tiếp vào bịch phôi, tơ nấm sẽ tiết ra nước màu vàng, ảnh hưởng đến năng suất sau này
Độ ẩm: Các loài nấm ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau có nhu cầu về độ
ẩm khác nhau Ầm độ trong giai đoạn sinh trưởng của sợi nấm là 60 – 70%, độ ẩm không khí trong giai đoạn hình thành quả thể là 85 – 95% (Trần Văn Mão, 2008)
Độ ẩm không khí cao giúp tơ nấm kết nụ và tạo điều kiện cho quả thể phát triển bình thường (Lê Duy Thắng, 2001)
pH: Theo Trần Văn Mão (2008), các loài nấm ăn yêu cầu pH khoảng 3 – 8 Nếu pH thấp thì có thể thêm CaCO3, pH quá thấp sẽ ức chế sinh trưởng của nấm
2.2 Tổng quan về nấm linh chi
2.2.1 Phân loại
Nấm linh chi có tên la tinh là: Ganoderma lucidum (Leyss.Ex Fr.) Karst
Nấm linh chi mọc trong rừng lá rậm,trên gốc và rễ cây nổi trên mặt đất Có thể mọc trên trên cây sống lẫn cây chết Hiện nay, ở Việt Nam đã nhận thấy 15 loài linh chi (Nguyễn Hữu Đống, 2000)
Theo Nguyễn Hữu Đống (2000), nấm linh chi được phân loại như sau:
Trang 192.2.2 Đặc điểm sinh học của nấm linh chi
2.2.2.1 Đặc điểm hình thái của nấm linh chi: (Ganoderma lucidum (Leyss.Ex Fr.)
Karst)
Lê Xuân Thám (1998) cho rằng hình thái của nấm linh chi ít khác biệt Quả thể
có cuống dài hoặc ngắn, thường hình trụ hoặc thanh mảnh (kích thước: 0,3 – 0,8 cm), lớp cuống nấm láng nâu đỏ, không có lông Tán nấm có kích thước 2 – 36 cm, dày 0,8 – 3,3 cm
Theo Trần Văn Mão (2008), quả thể nấm linh chi gồm cuống, tán và bào tầng Quả thể chín gỗ hóa, mô vỏ da hóa, có ánh bóng màu đỏ Tán nấm hình quả thận hoặc bán nguyệt Dưới tán nấm có cuống mọc lệch và có vô số những lỗ nhỏ tạo thành ống nấm màu vàng đến nâu nhạt gọi là bào tầng
2.2.2.2 Chu trình sống của nấm linh chi (Trần Văn Mão, 2008)
Sợi song nhân
Bện kết Chồi nấm
Trang 202.2.3 Điều kiện sinh trưởng phát triển của nấm linh chi
2.2.3.1 Dinh dưỡng của nấm linh chi
Nấm linh chi là nấm mọc trên gỗ Trong quá trình sinh trưởng, phát triển yêu cầu cung cấp các hợp chất cacbon, đạm, chất khoáng và chất sinh trưởng Nguồn cacbon chủ yếu là các loại đường đa, đường đơn Đối với các chất cao phân tử như lignin, cellulose và tinh bột thì chúng không thể sử dụng trực tiếp mà phải tiết ra các enzyme ngoại bào để phân giải thành các chất đơn giản để hấp thụ (Trần Văn Mão, 2008)
Theo Nguyễn Hữu Đống (2000), nấm linh chi hoại sinh rộng khắp trên các loài cây lá rộng đến lá kim, thậm chí ở các tre trúc, dừa, cau, cọ dừa và nho Nấm linh chi tiết ra các enzyme phân giải màng tế bào endopolygalacturonase (endo – PG) và endopectin methyl – translinase (endo – PMTE) có tác dụng làm nhũn tế bào thực vật rất mạnh làm cho các loại gỗ và rễ cây bị mùn ra
Theo Lê Xuân Thám (1998), các loại bột ngũ cốc, bột cám gạo, bột bánh dầu được xem là nguồn dinh dưỡng cơ bản cho nấm, hàm lượng bổ sung của chúng khá cao: từ 15 – 20% so với tổng lượng cơ chất vì nấm linh chi đòi hỏi tỷ lệ C/N nhỏ
Theo Trần Văn Mão (2008), nếu bổ sung nhiều đạm sợi nấm sẽ mọc nhiều khó hình thành quả thể Trong quá trình sinh trưởng sợi nấm tỷ lệ C/N là 25/1 và giai đoạn hình thành quả thể tỷ lệ C/N là 30/1 hoặc 40/1
Sự sinh trưởng của nấm linh chi còn cần các nguyên tố vi lượng như Ca, P, Mg,
K (Trần Văn Mão, 2008)
Trang 212.2.3.2 Điều kiện ngoại cảnh
Bảng 2.1: Điều kiện ngoại cảnh cần thiết cho sự phát triển của nấm linh chi
Ánh sáng Không cần Cần ánh sáng tán xạ
(Nguồn: Nguyễn Lân Dũng, 2003)
Ẩm độ giữa hai giai đoạn chính của nấm linh chi có sự khác biệt đáng kể nên trong quá trình nuôi trồng cần chú ý việc đảm bảo ẩm độ cho nấm
2.2.4 Công dụng của nấm linh chi
Nấm linh chi được các nước trên thế giới nghiên cứu từ hơn 30 năm nay, chủ yếu là nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng dược liệu của nấm
2.2.4.1 Nhóm có bản chất protein
Trong các nhóm hoạt chất, nhóm có bản chất protein nổi bật là Lingzhi – 8 có khả năng chống dị ứng phổ rộng và điều hòa miễn dịch, đồng thời duy trì tạo kháng thể chống lại các kháng nguyên viêm gan B
2.2.4.2 Nhóm polysaccharide
Nhóm polysaccharide cũng rất phong phú ở các nấm linh chi và phổ hoạt lực mạnh Nhiều polysaccharide có hoạt lực hạ đường huyết, đó là cơ sở để điều trị cho bệnh nhân bị bệnh tiểu đường
Trang 22Các phương pháp cổ điển trước đây đã phân tích thành phần hóa dược tổng hợp của nấm linh chi cho thấy:
Bảng 2.2: Thành phần hóa dược của nấm linh chi
2.3 Khái quát về cây mai dương và cây keo dậu giá thể trồng nấm linh chi
Theo Thông tư ban hành danh mục các loài ngoại lai xâm hại thì “Tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại là chúng đã thiết lập quần thể đang lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, có xu hướng hoặc đang gây mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện hoặc qua khảo nghiệm bộc lộ khả năng xâm hại”
Cây mai dương (Mimosa pigra L.) và cây keo dậu (Leucaena leucocephala (Lam.) De
Wit.) là hai loại cây ngoại lai xâm hại đã biết ( Thông tư ban hành danh mục các loài ngoại lai xâm hại)
Trang 232.3.1 Cây mai dương: tên khoa học: Mimosa pigra L
Cây mai dương còn được gọi là cây trinh nữ nâu, trinh nữ đầm lầy Chúng có khả năng xâm lấn rất mạnh
2.3.1.2 Tình hình xâm lấn của cây mai dương
Chi Mimosa có khoảng 400 – 600 loài, hầu hết đều có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ Chi Mimosa lần đầu tiên được miêu tả vào năm 1759 bởi Linnaeus ở Châu
Mỹ
Trang 24Ở nước ta, cây mai dương có mặt ở hầu hết các nơi từ miền núi đến đồng bằng
Ở miền Bắc mức độ phổ biến ít, phân tán ở các tỉnh Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Tây, Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Giang Ở Miền Trung cũng phân bố rãi rác, riêng tám tỉnh Nam Trung Bộ có khoảng 680 ha bị nhiễm cây mai dương Ở Miền Nam, diện tích nhiễm nặng tập trung ở các vùng hồ Trị
An (khoảng 700.000 ha), lưu vực sông La Ngà, những nơi đất trống thuộc vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) Hàng năm, mùa lũ hạt cây mai dương trôi từ Campuchia, Lào sang vùng đồng bằng sông Cửu Long, chúng mọc dày tạo thành những vành đai trinh nữ rộng lớn và tạo thành loài cỏ dại nguy hiểm khó phòng trừ, gây ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng tới cảnh quan và môi trường (Nguồn: Đỗ Thị Phương Kiều, 2007)
2.3.2 Cây keo dậu: tên khoa học: Leucaena leucocephala (Lam.) De Wit
Cây keo dậu thường được gọi là cây bình linh, bọ chét có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, sau được mở rộng sang các vùng nhiệt đới khác như Việt Nam, Lào, Ấn Độ Phân loại
Trang 25Nhóm Hawaii: gồm 50 giống, cây bụi thấp hơn 5 m Nhóm này chủ yếu cung cấp gỗ nhỏ và chất xanh để chế biến thức ăn gia súc Đây là nhóm phổ biến có nguồn gốc từ Mexico
Nhóm Peru: cao đến 15 m, cành nhánh nhiều Thích hợp chăn nuôi, trồng cải tạo đất
Nhóm Salvador: cao đến 20 m, phân bố ở Trung Mỹ, phát triển mạnh, năng suất
gỗ cao (Phạm Thị Hạnh, 1993)
2.3.2.2 Đặc điểm sinh thái và công dụng của cây keo dậu
Keo dậu là cây nhiệt đới ẩm, mọc tốt ở nơi có ánh sáng đầy đủ, chịu hạn tốt Cây có thể chịu được nhiệt độ lên đến 450C nhưng chết khi gặp khí hậu sương gió, phát triển tốt ở vùng có lượng mưa khoảng 600 – 1700 mm, có thể chịu được nhiều loại đất khác nhau, phát triển tốt trên đất có sa cấu trung bình đến nhẹ với pH khoảng 8,5, chậm phát triển trên đất acid
Công dụng của keo dậu:
- Được trồng để làm cây che bóng, làm thức ăn gia súc, phủ đất chống xói mòn
- Cung cấp chất hữu cơ, dinh dưỡng từ phần thân, lá Rễ cây có khả năng cố định đạm trong không khí
- Gỗ cứng, thớ dày được sử dụng làm than, đồ gỗ
2.4 Các chất dinh dưỡng
Việc bổ sung vào giá thể trồng các loại dinh dưỡng như phân khoáng, các chất hữu cơ, cám gạo chính là tạo điều kiện cân bằng vật chất giữa nguyên liệu sản xuất và sản phẩm thu được Khi dinh dưỡng được bổ sung vào giá thể thì sợi nấm phát triển nhanh và năng suất cao Tuy nhiên, đó cũng là điều kiện để các nấm khác phát triển (Nguyễn Lân Dũng, 2003)
Do đó tỷ lệ phối trộn dinh dưỡng phải phù hợp để nấm linh chi có thể phát triển tốt nhất
Trang 262.4.1 Cám gạo
Là phụ phẩm của quá trình xay xát gạo Trong hạt lúa bình quân có 10% cám, 10% trấu, khi hạt gạo được xay xát thì trung bình 100 kg gạo cho 6 kg cám gạo Theo Nguyễn Lân Dũng (2003), cứ 1170 kg mùn cưa trồng nấm linh chi thì cần phối trộn 70
Các carbonhydrat có thể hòa tan 45
(Nguồn: Nguyễn Lân Dũng, 2003)
Các carbonhydrat có thể hòa tan 69,6
(Nguồn: Nguyễn Lân Dũng, 2003)
Trang 272.5 Một số nấm mốc và côn trùng gây hại trên nấm linh chi
2.5.1 Nấm mốc (Lê Duy Thắng, 2001)
Cơ chất dùng để nuôi trồng nấm cũng có thể là thức ăn cho nhiều loại vi sinh vật khác Trong đó, vi khuẩn và nấm mốc có tốc độ sinh sản nhanh, bào tử nấm mốc phát tán rộng nên khả năng lây nhiễm của chúng tương đối nhiều hơn Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì nấm trồng có khả năng ức chế một phần mầm bệnh, thậm chí bao chụp lên vết bệnh và có thể ra quả thể bình thường nhưng sản lượng sẽ giảm sút Điển hình một số nấm mốc thường thấy trong nuôi trồng nấm:
Nấm mốc cam (Monilia spp.) là loại nấm hoại sinh, xuất hiện trong giai đoạn
đầu cấy giống Nấm cam ức chế tăng trưởng của tơ nấm, tơ không mọc được Nguyên liệu phủ trắng chuyển sang vàng và cam
Nấm mốc xanh (Trichoderma spp, Penicillium spp) gây hại bịch nấm có tơ phủ
đầy, thậm chí ở giai đoạn ra quả thể cũng có thể bị gây hại Tơ nấm mọc sát cơ chất,
co cụm lại, giá thể chuyển sang màu lục lam
2.5.2 Côn trùng gây hại (Lê Duy Thắng, 2001)
Ngoài vấn đề nấm mốc thì vấn đề căng thẳng hiện nay của người trồng nấm là côn trùng gây hại Chúng không những cắn phá quả thể mà còn gây hại giai đoạn tơ nấm Côn trùng gây hại ở nấm chủ yếu là bọ nhảy, kiến, cuốn chiếu và gián Đặc điểm của chúng là sinh sản nhanh, di chuyển rộng và rất khó phòng trừ
Bọ nhảy: đây là đối tượng phá hại mô nấm rất nhiều Chúng khoét mô, đục khoét chân, mũ nấm để đẻ trứng, chúng ăn tơ, làm rối loạn sinh trưởng của nấm, gây
chết hàng loạt nấm non
Kiến, cuốn chiếu và gián: Các loài này gây hại cho nấm hoặc ăn tơ hoặc cắn phá tai nấm, nhưng mức độ không đáng kể Thiệt hại chính do chúng gây nên là việc lây truyền mầm nhiễm (nhiễm trùng hoặc mốc) Đối với những nấm hóa gỗ như nấm linh chi, quá trình hình thành tai nấm kéo dài hơn 60 ngày và nhất là lúc nấm phóng thích bào tử (khoảng 30 ngày kể từ ngày kết nụ) Tai nấm thường tỏa ra hương thơm
và các giọt đường ở mặt dưới mũ nấm, nên thu hút rất nhiều côn trùng Chúng đến và
Trang 28mang bào tử đi gieo khắp nơi, nhưng tai hại là trứng của chúng gởi lại Trứng này nở thành sâu và chui vào tai nấm đục khoét, tạo hang lổ trong mũ nấm Cuối cùng chúng tạo kén là những tua dạng chùm ở mặt dưới mũ nấm trước khi thành con trưởng thành bay đi Côn trùng hại nấm linh chi phổ biến là bọ cánh cứng
2.6 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm linh chi
2.6.1 Ở trong nước
Những năm 80 và 90 của thế kỷ XX ở Việt Nam nấm linh chi đã được quan tâm
và nghiên cứu nhiều về thành phần hóa học cũng như tác dụng dược lý và quy trình sản xuất ra các chế phẩm Hiện nay, các chế phẩm của nấm linh chi được con người ưa chuộng và sử dụng ngày càng rộng rãi
Ở Việt Nam, viện dược liệu đã trồng nấm linh chi thành công vào năm 1978 Năm 1987, Việt Nam đã chọn được giống nấm linh chi mọc hoang ở rừng núi Lâm Đồng
Năm 2004, Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam đã nuôi trồng thành công nấm linh chi trên giá thể bã mía và cho năng suất cao hơn trên mùn cưa từ 10 – 15%
Lê Duy Thắng và Nguyễn Minh Thư (2008), đã xây dựng quy trình trồng nấm linh chi trên giá thể cây mai dương nhằm hạn chế sự phát triển của loài cây xâm thực này và tạo ra sự đa dạng về cơ chất trồng nấm linh chi
Theo Trương Văn Minh Hiển (2011), nấm linh chi có thể phát triển trên giá thể mai dương và có bổ sung KCl 2‰ cho kết quả tốt nhất
2.6.2 Ở nước ngoài
Theo Wang thì từ đầu thế kỷ 17 nấm linh chi đã được nuôi trồng tại Trung Quốc, chính bởi giá trị dược liệu cao của chúng Tuy nhiên, Hàn Quốc chiếm thị phần đáng kể và được đặc biệt chú trọng là loài cổ linh chi Ganoderma applanatum có hiệu lực chống khối u cao (Trích của Lê Xuân Thám, 1998)
Trang 29Hằng năm thế giới sản xuất khoảng 4300 tấn nấm linh chi, riêng Trung Quốc khoảng 3000 tấn Trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan thì từ lâu nấm linh chi đã được nghiên cứu và sử dụng vào việc phòng và điều trị bệnh Đến nay công nghệ nuôi trồng nấm ở các quốc gia này phát triển ở quy mô công nghiệp hiện đại và đem lại nguồn thu khá lớn trong kim ngạch xuất khẩu
Trên thế giới, các nghiên cứu về dược tính và lâm sàng của nấm linh chi đã được công bố rất nhiều Tháng 7/1994, Hội nghị Nấm học thế giới tai Vancouver, Canada đã thành lập viện nghiên cứu linh chi quốc tế, đặt trụ sở tại NewYork
Kamal Hossain và ctv (2009) đã sử dụng tám loại mùn cưa gỗ của các loại cây để
nuôi trồng nấm linh chi và kết quả cho thấy mùn cưa gỗ cây xoài (Mangifera indica)
cho năng suất nấm linh chi cao nhất
Theo Erkel (2009), khi bổ sung cám lúa mì sẽ cho năng suất nấm linh chi cao hơn khi sử dụng cám gạo
Trang 303.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết
Bảng 3.1: Điều kiện khí hậu, thời tiết tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng Nhiệt độ (o
lượng mưa (mm)
Ẩm độ không khí (%)
Tổng số giờ nắng (giờ) Trung bình Tối cao Tối thấp
Trang 313.3 Vật liệu thí nghiệm
3.3.1 Giống
Thí nghiệm sử dụng meo giống cấp hai nấm linh chi (Ganoderma lucidum
(Leyss.Ex Fr.) Karst) do trại nấm An Nhơn cung cấp
3.3.2 Giá thể
Thân cây mai dương (Mimosa pigra L.) và thân cây keo dậu (Leucaena
leucocephala (Lam.) De Wit.) được cưa khúc dài 12 – 15 cm, chẻ nhỏ với đường kính 0,5 – 2 cm và phơi khô Giá thể được cho vào bịch nylon kích thước 9.8 * 32,7 cm, mỗi bịch có trọng lượng 500 g
3.3.3 Dinh dưỡng phối trộn
Nền: bổ sung 2% đường saccharose
Tỷ lệ cám bắp và cám gạo được phối trộn theo phần trăm trọng lượng của giá thể và tùy theo từng nghiệm thức
Trang 32Cơ chất M: Thân cây mai dương
Cơ chất K: Thân cây keo dậu
Yếu tố B ( tỷ lệ phối trộn dinh dưỡng) có 4 mức:
Trang 33Số nghiệm thức: 2*4 = 8 nghiệm thức
Mỗi nghiệm thức gồm 8 bịch nấm, mỗi bịch nấm có trọng lượng 500g
Tổng số bịch nấm thí nghiệm: 8 nghiệm thức * 8 bịch nấm * 3 lần lặp lại = 192 bịch nấm
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi
Các chỉ tiêu sinh trưởng: Theo dõi năm bịch nấm ngẫu nhiên trong mỗi nghiệm thức
- Thời gian bắt đầu xuất hiện tơ (ngày): Tính từ ngày cấy giống đến ngày đầu tiên xuất hiện tơ
- Động thái tăng trưởng chiều dài của sợi tơ nấm (cm): Theo dõi chiều dài của tơ nấm
từ lúc cấy meo vào bịch phôi đến khi tơ nấm ăn trắng bịch phôi Đo từ cổ túi đến sợi tơ dài nhất Đo năm ngày một lần
- Tốc độ tăng trưởng của sợi tơ nấm (cm/ngày): Theo dõi chiều dài của tơ nấm từ lúc cấy meo vào bịch phôi đến khi tơ nấm ăn trắng bịch phôi Đo năm ngày một lần, chia
lấy trung bình từng ngày
- Thời gian tơ ăn đầy bịch nấm (ngày): Tính từ lúc cấy meo giống đến lúc tất cả các bịch theo dõi chỉ tiêu sợi tơ ăn đầy bịch nấm
- Tỷ lệ số bịch nấm có tơ phủ kín ở giai đoạn kết quả thể (%): Tính số bịch nấm tơ ăn đầy bịch trên tổng số bịch nấm ở giai đoạn kết quả thể
Các chỉ tiêu hình thái quả thể: Theo dõi ba quả thể ngẫu nhiên trong mỗi nghiệm thức
- Chiều dài của cuống nấm (cm): Đo từ gốc cuống đến nơi tiếp giáp với mũ nấm
- Đường kính của cuống nấm (cm): Đo bề mặt cắt ngang nơi tiếp giáp với mũ nấm của cuống nấm
- Đường kính của mũ nấm (cm): Đo chỗ rộng nhất của mũ nấm
- Độ dày của mũ nấm (cm): Đo bề mặt cắt dọc nơi giao nhau giữa cuống nấm và mũ nấm
Trang 34Tỷ lệ túi nhiễm (%): (Tổng số túi nhiễm trong mỗi nghiệm thức/tổng số túi trên mỗi nghiệm thức) *100
Các chỉ tiêu năng suất:
- Năng suất thực thu (g): trọng lượng nấm thu được của nghiệm thức
- Năng suất lý thuyết (g/1000 bịch nấm): được tính theo công thức:
NSLT (g/1000 bịch nấm) = Trọng lượng trung bình của mỗi nghiệm thức (g/bịch nấm) * 1000
3.6 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý thống kê bằng phần mềm MSTATc ( phân tích biến lượng ANOVA và trắc nghiệm phân hạng) và chương trình Microsoft Excel
3.7 Quy trình thực hiện
Bảng 3.2: Quy trình thực hiện trồng nấm linh chi
10 – 20/02/2012 Chuẩn bị giá thể
- Mai dương và keo dậu được cưa khúc 12 – 15cm
- Chẻ nhỏ với đường kính 0,5 – 2 cm
- Khi chẻ xong phơi khô
21 – 23/02/2012 Ngâm khử trùng giá thể
- Ngâm giá thể trong nước vôi 2%, ngâm trong 2 ngày
- Mỗi ngày thay nước 1 lần
24 – 25/02/2012 Rửa sạch giá thể Sau khi vớt giá thể ra rửa
sạch bằng nước, để ráo
Trang 35- Sau khi hấp xong để nguội
30/02/2012 Đưa bịch nấm ra nhà cấy
nấm để chuẩn bị cấy nấm
31/02/2012 Cấy meo giống nấm
Chuẩn bị phòng cấy nấm sạch sẽ, vệ sinh trước khi cấy
01 – 20/03/2012 Chăm sóc và theo dõi tốc
độ lan tơ nấm linh chi
17/03/2012 Tháo nút bông và treo bịch
nấm linh chi
Khi tơ ăn đầy bịch nấm, tháo nút bông và treo lên dây
30/03/2012 Quả thể nấm bắt đầu xuất
hiện
01/04 – 10/05/2012
Chăm sóc và theo dõi các
số liệu về tăng trưởng Và phát triển của quả thể nấm
20/05/2012 Thu hoạch nấm linh chi lần
1
- Thu hoạch khi vành trắng trên quả thể biến mất
Trang 36- Dùng dao cắt sát phần gốc quả thể nấm, sau đó dung nước vôi 2% bôi lên vết cắt
26/06/2012 Kết thúc thí nghiệm
Trang 37Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả về chỉ tiêu sinh trưởng
Trong quá trình thực hiện đề tài đã tiến hành thực hiện trồng, chăm sóc, theo dõi và đo đạc các chỉ tiêu, đã thu được một số kết quả sau:
4.1.1 Tăng trưởng chiều dài tơ nấm
Sự tăng trưởng về chiều dài tơ là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự sinh trưởng và mức độ thích nghi của chúng với giá thể Yếu tố này phụ thuộc chủ yếu vào sự di truyền, tuy nhiên các điều kiện môi trường như giá thể, dinh dưỡng, điều kiện khí hậu cũng có ảnh hưởng rất lớn sự tăng trưởng của tơ nấm
Ở bảng 4.1 cho thấy:
Đối với yếu tố giá thể thì chiều dài tơ nấm của các mức ở giai đoạn 10 ngày sau cấy có sự khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê, trong đó giá thể mai dương (2,43 cm) khác biệt rất có ý nghĩa với giá thể keo dậu (2,02 cm)
Đối với yếu tố dinh dưỡng thì chiều dài tơ nấm của các mức ở giai đoạn 10 ngày sau cấy không có khác biệt về mặt thống kê Tuy nhiên, khi bổ sung 2% cám gạo + 1% cám bắp thì chiều dài tơ nấm cao nhất (2,32 cm) và bổ sung 1% cám gạo thì chiều dài tơ nấm thấp nhất (2,17 cm)
Đối với sự tương tác của các mức giá thể và dinh dưỡng thì chiều dài tơ nấm ở giai đoạn 10 ngày sau cấy có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê Trong đó, các
Trang 38nghiệm thức mai dương kết hợp với các mức dinh dưỡng đều sinh trưởng phát triển tốt
và nghiệm thức mai dương bổ sung 1% cám gạo + 1% cám bắp có chiều dài tơ nấm cao nhất (2,67 cm), ngược lại nghiệm thức keo dậu có bổ sung 1% cám gạo + 1% cám bắp có chiều dài tơ nấm thấp nhất (1,7 cm)
Bảng 4.1: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ của nấm linh chi ở các nghiệm thức (cm)
ở giai đoạn 10 ngày sau cấy
Yếu tố B
(Dinh dưỡng)
Yếu tố A (Giá thể)
Trung bình (B) Keo dậu
(K)
Mai dương (M)
Ghi chú: **: khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 0,01 Các trị số cùng các mẫu ký
tự thì sự khác biệt không có ý nghĩa trong thống kê
Trang 39Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ của nấm linh chi ở các nghiệm thức (cm)
ở giai đoạn 15 ngày sau cấy
Ghi chú: **: khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 0,01
*: khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 0,05
Các trị số cùng các mẫu ký tự thì sự khác biệt không có ý nghĩa trong thống kê
Tiếp tục theo dõi chiều dài tơ nấm linh chi ở các nghiệm thức giai đoạn 15 ngày sau cấy qua bảng 4.2 nhận thấy có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa các nghiệm thức của yếu tố A (giá thể) và tương tác AB Tơ nấm vẫn phát triển tốt trên giá thể mai dương (3,99 cm) và khác biệt rất có nghĩa với giá thể keo dậu (2,98 cm)
Đối với yếu tố dinh dưỡng thì chiều dài tơ nấm linh chi của các mức ở giai đoạn
15 ngày sau cấy khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê Trong đó, mức dinh dưỡng 2% cám gạo + 1% cám bắp cho chiều dài tơ nấm cao nhất (3,57 cm) và mức dinh dưỡng 1% cám bắp cho chiều dài tơ nấm thấp nhất (3,42 cm)
Trong các nghiệm thức tương tác AB thì nghiệm thức mai dương có bổ sung 1% cám gạo + 1% cám bắp tiếp tục phát triển tốt nhất (4,62 cm) và nghiệm thức keo dậu có bổ sung 1% cám gạo + 1% cám bắp cho chiều dài tơ nấm thấp nhất (2,44 cm)
Trang 40Bảng 4.3: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi của các nghiệm thức (cm) ở
giai đoạn 20 ngày sau cấy
Yếu tố B
(Dinh dưỡng)
Yếu tố A (Giá thể)
Trung bình (B) Keo dậu
(K)
Mai dương (M)
Ghi chú: **: khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 0,01.Các trị số cùng các mẫu ký
tự thì sự khác biệt không có ý nghĩa trong thống kê
Ở bảng 4.3 cho thấy:
Đối với yếu tố giá thể thì chiều dài tơ của nấm linh chi ở giai đoạn 20 ngày sau
cấy có sự khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê Trong đó, mức giá thể mai dương (6,03 cm) khác biệt rất có ý nghĩa với mức giá thể keo dậu (4,39 cm)
Đối với yếu tố dinh dưỡng thì chiều dài tơ của nấm linh chi ở giai đoạn 20 ngày sau cấy khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê Trong đó, mức dinh dưỡng 2% cám gạo + 1% cám bắp cho chiều dài tơ cao nhất (5,74 cm) và mức dinh dưỡng 1% cám gạo cho chiều dài tơ thấp nhất (4,73 cm)
Đối với sự tương tác của các mức giá thể và dinh dưỡng thì chiều dài tơ nấm ở giai đoạn 20 ngày sau cấy khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê Trong đó, nghiệm thức mai dương với mức dinh dưỡng 1% cám gạo + 1% cám bắp cho chiều dài