Đề tài được thực hiện 03/2013 đến tháng 08/2013, tại trại thực hiện khoa Nông học, trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh nhằm khảo sát sự phát triển và sinh trưởng của nấm linh chi trên
Trang 1KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC
PHỐI TRỘN GIÁ THỂ ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG
CỦA NẤM LINH CHI (Ganoderma lucidum)
Trang 2KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC
PHỐI TRỘN GIÁ THỂ ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG
CỦA NẤM LINH CHI (Ganoderma lucidum)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Con xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến ba mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng con để con
có thể khôn lớn Người đã luôn theo sát và tạo mọi điều kiện thuận lợi tốt nhất trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Em xin chân thành cảm ơn ThS Phạm Thị Ngọc và đã tận tình hướng dẫn, động viên em trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Nông học, Ban quản lý trại khoa Nông học, trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã luôn tạo điều kiện rất tốt cho em thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, luôn quan tâm, dìu dắt và luôn giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, cũng như trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn tập thể lớp DH09NH và cô giáo chủ nhiệm Nguyễn Thị Thúy Liễu đã giúp đỡ, chia sẽ, động viên tôi trong suốt quá trình thực tập
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của một số công thức phối trộn giá thể đến sự
tăng trưởng của nấm linh chi Ganoderma lucidum tại Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh”
do Nguyễn Hồng Lĩnh thực hiện với sự hướng dẫn của ThS Phạm Thị Ngọc Đề tài được thực hiện 03/2013 đến tháng 08/2013, tại trại thực hiện khoa Nông học, trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh nhằm khảo sát sự phát triển và sinh trưởng của nấm linh chi trên một số công thức phối trộn cơ chất, loại giá thể, xác định tỷ lệ phối trộn dinh dưỡng cho nấm linh chi phát triển tốt nhất
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên một yếu tố, 5 nghiệm thức, 4 lần lặp lại
Các nghiệm thức trong thí nghiệm:
NT1: Mùn cưa 100%
NT2: Mùn cưa 70% + trấu 15% + bã mía 15%
NT3: Rơm 70% + mùn cưa 15% + bã mía 15%
NT4: Bã mía 70% + mùn cưa 15% + xơ dừa 15%
Về hiệu quả kinh tế, giá thể bã mía 100% cho hiệu quả kinh tế cao nhất, giá thể
có công thức phối trộn mía 70% + mùn cưa 15% + xơ dừa 15% cho hiệu quả kinh tế cao thứ hai, nghiệm thức rơm 70% + mùn cưa 15% + bã mía 15% cho hiệu quả kinh tế thấp nhất
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ ix
Chương 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
Chương 2 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Nấm trồng 3
2.1.1 Khái quát về nấm 3
2.1.2 Sinh lý và biến dưỡng của nấm 4
2.1.2.1 Biến dưỡng của nấm 4
2.1.3 Các giai đoạn phát triển của sợi nấm 5
2.1.3.1 Giai đoạn sinh trưởng 5
2.1.3.2 Giai đoạn phát triển 5
2.1 Nấm linh chi 5
2.2.1 Khái quát chung 5
2.2 Phân loại 6
Trang 62.3 Đặc điểm sinh học của nấm linh chi 6
2.3.1 Hình dạng, màu sắc 7
2.3.2 Điều kiện sống của nấm linh chi 7
2.3.3 Dinh dưỡng 7
2.4 Thành phần hóa học và công dụng của nấm linh chi 8
2.5 Khả năng chữa bệnh của nấm linh chi 11
2.6 Giới thiệu sơ lược về hoạt chất sinh học có trong nấm linh chi 13
2.6.1 Ganoderma polysaccharide (GLPs) 13
2.6.2 Ganoderic Acid 14
2.6.3 Ganoderma Adenosine 14
2.6.4 Alcaloid 15
2.6.4.1 Định nghĩa 15
2.6.4.2 Tính chất 15
2.6.4.3 Công dụng 15
2.6.5 Hợp chất Saponin 15
2.6.5.1 Khái niệm chung về Saponin 15
2.6.5.2 Công dụng 16
2.6.6 Germanium hữu cơ 16
2.7.1 Chuẩn bị dịch chiết 17
2.7.2 Phương pháp ngâm 17
2.8 Tình hình nghiên cứu nấm linh chi trên thế giới và Việt Nam 18
2.8.1 Thế giới 18
2.8.2 Việt Nam 19
2.9 Tổng quan về cơ chất trồng nấm linh chi 20
Chương 3 22
VẬT LIỆU PHƯƠNG PHÁP 22
3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm 22
3.2 Vật liệu thí nghiệm 22
Trang 73.2.1 Giống 22
3.2.2 Giá thể 22
3.2.3 Dụng cụ thí nghiệm 22
3.3 Phương pháp thí nghiệm 22
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.6 Phương pháp xử lí số liệu 25
3.7 Tiến độ thực hiện 25
Chương 4 27
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Kết quả về chỉ tiêu sinh trưởng 27
4.1.1 Tăng trưởng chiều dài tơ nấm 27
4.1.2 Ngày bắt đầu xuất hiện tơ nấm linh chi 28
4.1.3 Thời gian ăn đầy bịch nấm 29
4.2 Kết quả hình thái quả thể 30
4.2.1 Kết quả hình thái quả thể lần thu thứ nhất 30
4.2.2 Hình thái quả thể qua lần thu thứ hai 31
4.3 Kết quả năng suất lí thuyết và năng suất thực thu 33
4.3.1 Kết quả năng suất lí thuyết và năng suất thực thu qua lần thu thứ nhất 33
4.3.2 Kết quả năng suất thực tế và năng suất lý thuyết trong lần thu hoạch thứ hai 34
4.4 Hiệu quả kinh tế 36
Chương 5 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 41
Trang 8DANH SÁCH CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT
Cv Coefficient of variation (hệ số biến động)
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.2: Điều kiện môi trường cần thiết cho sự phát triển nấm linh chi 7
Bảng 2.3: Thành phần hóa học của nấm 8
Bảng 2.4: Các hoạt chất sinh học và dẫn xuất trong nấm linh chi (Ganoderma lucidum) (theo Lê Xuân Thám, 1996) 9
Bảng 2.5: Một số bài thuốc chữa bệnh của nấm linh chi (theo Trần Văn Mão, 2004) 13
Bảng 2.6: Các hoạt chất triterpenoid có tác dụng chữa bệnh trong nấm linh chi (Ganoderma lucidum) (Lê Xuân Thám, 1996) 14
Bảng 2.7: Thành phần các chất có trong mùn cưa 20
Bảng 2.8 Thành phần dinh dưỡng trong cám 20
Bảng 3.2: Quy trình trồng nấm linh chi 25
Bảng 4.1: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ của nấm linh chi ở các nghiệm thức theo thời gian từ 10 – 25 ngày sau cấy (cm) 27
Bảng 4.2: Thời gian bắt đầu xuất hiện của tơ nấm linh chi của các nghiệm thức (ngày sau cấy) 28
Bảng 4.3: Thời gian tơ nấm linh chi lan đầy bịch của các nghiệm thức (ngày sau cấy) 29
Bảng 4.4: Hình thái quả thể nấm linh chi qua lần thu thứ nhất 30
Bảng 4.5: Hình thái quả thể qua lần thu thứ hai 31
Bảng 4.6: Năng suất thực thu và năng suất lý thuyết qua lần thu thứ nhất 33
Bảng 4.7: Năng suất thực tế và năng suất lí thuyết trong lần thu hoạch thứ hai 34 Bảng 4.8: Năng suất thực tế và năng suất lý thuyết trung bình hai lần thu hoạch 35
Bảng 4.9: Hiệu quả kinh tế các nghiệm thức thí nghiệm 36
Trang 11Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây ngành nuôi trồng nấm phát triển mạnh mẽ trên cả nước Tổng các loại nấm ăn và nấm dược liệu trong năm 2006 ước tính đạt khoảng 1,5 triệu tấn Nghề nuôi trồng nấm ra đời đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân và làm giàu cho rất nhiều hộ gia đình Với nguồn nguyên liệu chủ yếu là phế thải nông nghiệp và công nghiệp, do đó ngành nuôi trồng nấm đã góp phần giải quyết nạn ô nhiễm môi trường đang xảy ra trên toàn cầu Đặc biệt hơn nữa, nấm không chỉ là nguồn dinh dưỡng an toàn cho con người mà nấm còn được xem như là một trong những nguồn dược liệu quí mà hiện nay đang được sử dụng để chữa bệnh ngày càng phổ biến
Trong đó, nấm linh chi (còn gọi là nấm trường thọ, đoạn thảo, nấm linh, thuốc thần tiên) là loại nấm dùng làm thuốc, là biệt dược, dùng chữa nhiều thứ bệnh Điều đó
đã được minh chứng như: được xếp là “Thượng dược” trong sách “Thần nông bản thảo” cách đây 2000, và được nhà Y dược nổi tiếng Trung Quốc Lý Thời Trân phân thành “ Lục bảo linh chi” (khoảng 1590) thời nhà Minh với các khái quát công dụng dược lý khác nhau, ứng theo từng màu Từ đó đến nay, linh chi vẫn thể hiện giá trị siêu dược liệu xếp trên cả nhân sâm (theo Lê Xuân Thám, 1996) Vì lí do đó, nhiều nhà nấm học đã kỳ công nghiên cứu và người ta đã tìm được cách trồng chúng, thu lợi hằng năm hàng năm hàng triệu USD
Ở Việt Nam trong gần chục năm gần đây, nấm linh chi đã được một số viện, trung tâm nghiên cứu thủ nghiệm cách trồng, nay đã đưa lại quy trình trồng rộng rãi trong cả nước, đem lại lợi nhuận khá lớn tạo ra nghề trồng nấm dược liệu cho nông dân nhiều vùng giúp xóa đói giảm nghèo
Rơm, bã mía, mùn cưa, trấu là những nguyên liệu dễ kiếm và giá rẻ nên có thể dùng làm giá thể trồng nấm linh chi, góp phần giảm chi phí đầu tư cho việc trồng nấm
và tăng thu nhập cho người trồng nấm Nhưng tỉ lệ giữa các thành phần cơ chất cho ra
Trang 12năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất vẫn đang là câu hỏi lớn và được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học
Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Nông học Đại học Nông Lâm Tp Hồ
Chí Minh, tôi tiến hành đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của một số công thức phối trộn
cơ chất đến sự tăng trưởng của nấm linh chi Ganoderma lucidum”
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nấm trồng
2.1.1 Khái quát về nấm
Nấm khác với những thực vật xanh: không có lục lạp, không có sự phân hóa thành rễ, thân, lá, không có hoa, phần lớn không chứa cellulose trong thành tế bào, không có một chu trình phát triển chung như thực vật Nấm chỉ có thể hấp thu chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể từ cơ thể khác hay từ đất qua bề mặt của tế bào hệ sợi nấm Chính vì thế, tất cả hệ thống phân loại sinh giới hiện nay đều coi nấm là một giới riêng, tương đương với giới thực vật và động vật Năm 1969 nhà khoa học người Mỹ R.H.Whitaker đã đưa ra hệ thống phân loại 5 giới (Kingdom):
- Giới khởi sinh (Monera): Gồm vi khuẩn và tảo lam
- Giới nguyên sinh (Protista): Gồm một số tảo đơn bào, nấm đơn bào có khả
năng di động nhờ lông roi (tiên mao) và các động vật nguyên sinh
- Giới nấm (Fungi hay Mycetalia, Mycota)
- Giới thực vật (Plantae hay Vegetabilia)
- Giới động vật (Animalia)
Năm 1973 nhà khoa học A.L.Takhtadjan đưa ra hệ thống phân loại như sau:
- Giới Mycota: gồm vi khuẩn và vi khuẩn lam
- Giới vi khuẩn thật (Eubacteria)
- Giới vi khuẩn cổ (Archaebacteria)
và ông đã gộp nấm, thực vật, động vật thành một giới chung gọi là sinh vật có nhân thật (Eukaryota) Hiện nay, các nghiên cứu về nấm người ta thường dựa vào hệ thống
Trang 14phân loại của R.H.Whitaker (1969) và hệ thống phân loại của A.L.Takhtadjan (1973) (theo Nguyễn Lân Dũng, 2002)
Khóa phân loại nấm hiện đại bao gồm các ngành và ngành phụ như sau (Allexopolous, 1962):
- Ngành nấm nhầy (Exomycotina): Loài nấm này có cả hai tính chất động vật và
thực vật, chúng sinh sản bằng bào tử, nhưng tế bào lại là khối sinh chất không có vách ngăn bao bọc, di chuyển và nuốt thức ăn như động vật (amib)
- Ngành nấm thật (Eumycotina): Chiếm số lượng lớn, bao gồm các tế bào với
nhân tương đối hoàn chỉnh Tế bào nấm có vách bao bọc như tế bào thực vật, đa số cấu tạo bởi chitin Nhiều tế bào nấm còn tích trữ đường ở dạng glycogen, giống như động vật Một số loài sinh sản theo lối tạo những giao tử có lông roi để di động (động bào tử), nhưng hợp tử lại phát triển theo 1 kiểu chung của nấm Dựa theo sự sinh sản hữu tính, các nhà phân loại đã chia chúng thành các ngành phụ như sau:
- Ngành phụ nấm tiên mao (Mastigomycotina)
- Hoại sinh: Thức ăn là xác bã thực vật hay động vật Ở nhóm nấm này, chúng có khả năng biến đổi những chất khó phân hủy thành những chất đơn giản dễ hấp thu, nhờ hệ men ngoại bào
- Ký sinh: Chủ yếu các loài nấm gây bệnh, chúng sống bám vào cơ thể sinh vật khác để hút thức ăn của sinh vật chủ
Trang 15- Cộng sinh: Lấy thức ăn từ cơ thể sinh vật chủ nhưng không làm tổn hại sinh vật
chủ, ngược lại còn giúp cho chúng phát triển tốt hơn (như nấm Tuber hay
Boletus cộng sinh với cây thông sồi…)
2.1.3 Các giai đoạn phát triển của sợi nấm
2.1.3.1 Giai đoạn sinh trưởng
Giai đoạn này thường dài, nấm ở giai đoạn này chủ yếu là dạng sợi Sợi nấm (hypha) mỏng manh và gồm 2 nhân, có nguồn gốc từ 2 bào tử khác nhau nẩy mầm và phối hợp lại Hệ sợi nấm (mycelium), còn gọi là hệ sợi dinh dưỡng (vegetative mycelium), len lỏi trong cơ chất để rút lấy thức ăn Thức ăn muốn vào tế bào sợi nấm phải thông qua màng tế bào Khi khối sợi đạt đến mức độ nhất định về số lượng, gặp điều kiện thích hợp, sẽ bện kết lại tạo thành quả thể nấm Trong trường hợp bất lợi, sẽ hình thành các bào tử tiềm sinh hay hậu bào tử (chlamydospore)
2.1.3.2 Giai đoạn phát triển
Giai đoạn này thường ngắn, lúc bấy giờ sợi nấm đan vào nhau, hình thành 1 dạng đặc biệt, gọi là quả thể nấm hay tai nấm (fruit body) Quả thể thường có kích thước lớn và là cơ quan sinh sản của nấm Trên quả thể có 1 cấu trúc, nơi tập trung các đầu ngọn sợi nấm, đó là thụ tầng (hymenium) Chính ở đây 2 nhân của tế bào sẽ nhập lại thành 1 Sau đó sẽ chia thành 4 nhân con hình thành các bào tử hữu tính (sexual spore), đảm bào tử (basidiospore) hoặc nang bào tử (ascospore) Khi tai nấm trưởng
thành, bào tử được phóng thích, chúng nẩy mầm và chu trình lại tiếp tục
2.1 Nấm linh chi
2.2.1 Khái quát chung
Nấm linh chi được xếp vào “Thượng Dược“, trong sách “Thần nông bản thảo“ cách đây khoảng 2000 năm thời nhà Châu và sau đó được nhà dược học nổi tiếng Trung Quốc Lý Thời Trân phân ra thành “Lục Bảo Linh Chi“ thời nhà Minh với các khái quát công dụng dược lý khác nhau, ứng theo từng màu Theo Lý Thời Trân thì nấm linh chi có 6 màu khác nhau:
- Xích chi (linh chi đỏ còn gọi Hồng chi)
- Hắc chi (linh chi đen còn gọi Huyền chi)
- Thanh chi (linh chi xanh còn gọi Long chi)
- Bạch chi (linh chi trắng còn gọi Ngọc chi)
Trang 16- Hoàng chi (linh chi vàng còn gọi Kim chi)
- Tử chi (linh chi tím)
Nấm linh chi (Ganoderma lucidum) có nhiều tên gọi khác nhau như Bất lão
thảo, Vạn niên thảo, Thần tiên thảo, Chi linh, Đoạn thảo, Nấm lim,… Mỗi tên gọi của linh chi gắn liền với một giá trị dược liệu của nó Tên gọi linh chi bắt nguồn từ Trung
Quốc, hay theo tiếng Nhật gọi là Reishi hoặc Mannentake Ở các nước Châu Á, đặc
biệt Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…, việc nghiên cứu phát triển và sử dụng Linh chi đang được công nghiệp hóa với quy mô lớn về phân loại, nuôi trồng chủ động, chế biến và bào chế dược phẩm Đồng thời nghiên cứu hóa dược các hoạt chất
có tác dụng dược lý và phương pháp điều trị lâm sàng
Trong số các loài linh chi tìm thấy cho đến nay thì xích chi (Ganoderma
lucidum) được nghiên cứu y dược chi tiết nhất Loài chuẩn Ganoderma lucidum có
thành phần hoạt chất sinh học phong phú và hàm lượng nhiều nhất
2.2 Phân loại
Nấm linh chi có tên la tinh là: Ganoderma lucidum (Leyss.Ex Fr.) Karst
Theo Nguyễn Hữu Đống (2000) thì nấm linh chi được phân loại như sau:
2.3 Đặc điểm sinh học của nấm linh chi
Nấm linh chi mọc trong rừng lá rậm, trên gốc và rễ cây nổi trên mặt đất Có thể
mọc trên cây sống lẫn cây chết Ganoderma lucidum gặp nhiều ở vùng lạnh Tứ Xuyên,
Quảng Đông Trung Quốc Ở Việt Nam đã biết 15 loài linh chi mọc hoang ở rừng Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Gia Lai, Đăklăk
Nấm linh chi đỏ (xích chi, đơn chi, hồng chi) Ganoderma lucium (Leyss.ex Fr.)
Karst – hiện nay có 10 chủng (xuất xứ khác nhau) được nuôi trồng khá phổ biến ở Việt Nam
Trang 172.3.1 Hình dạng, màu sắc
Nấm linh chi (quả thể) gồm 2 phần: cuống nấm và mũ nấm
- Cuống nấm dài hoặc ngắn, đính bên, có hình trụ, đường kính 0,5 – 3cm Cuống nấm
ít phân nhánh đôi khi uốn khúc Lớp vỏ cuống màu nâu, nâu đỏ, nâu đen, không có lông, bóng
- Mũ nấm dạng thận – gần tròn đôi khi xòe hình quạt hoặc ít nhiều bị dị dạng Trên mặt mũ nấm có vân sợi đồng tâm có tia rãnh phóng xạ Màu sắc từ vàng chanh – vàng nghệ - vàng nâu – đỏ nâu – nâu tím – nâu đen, nhẵn bóng, láng như vecni Thường sậm màu dần khi già, kích thước tán biến động lớn từ 2 – 36cm, dày từ 0,8 – 3,3cm Phần đỉnh cuống hoặc gồ lên hoặc lõm xuống Phần thịt nấm dày từ 0,4 – 2,2cm chất lie, màu vàng kem, nâu nhợt – trắng kem, phân chi kiểu lớp trên lớp dưới
- Tầng sinh sản là một lớp ống dày từ 0,2 – 1,8cm màu kem – nâu nhạt gồm các ống nhỏ thăng, miệng gần tròn, màu trắng, miệng gần tròn, màu trắng – vàng chanh nhạt, khoảng 3 – 5 ống/mm (Lê Xuân Thám,1998) Khi trưởng thành thì nấm phát tán bào tử
2.3.2 Điều kiện sống của nấm linh chi
Linh chi phân bố khắp nơi trên thế giới, ký sinh và hoại sinh rộng khắp ở các loài cây lá rộng đến lá kim, thậm chí ở các tre trúc, dừa, cau, cọ dừa và nho Nấm linh chi tiết ra các men phân giải màng tế bào endopolygalacturonase (endo – PG) và endopectin methyl – translinase (endo – PMTE) có tác dụng làm nhũn tế bào thực vật rất mạnh gây nên tình trạng các loại gỗ và rễ cây bị mùn ra
Bảng 2.2: Điều kiện môi trường cần thiết cho sự phát triển nấm linh chi
Ánh sáng Không cần Cần ánh sáng tán xạ từ mọi phía
Nhiệt độ không nên thay đổi quá lớn, nếu thay đổi nấm Linh chi khó phát triển
thành tán mà ở dạng sừng hươu, đuôi gà
2.3.3 Dinh dưỡng
Linh chi là loài nấm phá gỗ mạnh, có khả năng sử dụng trực tiếp nguồn cellulose Do đó, nguyên liệu nào có cellulose thì nấm Linh chi có thể sống và phát triển
Trang 18Trong quá trình sinh trưởng và phát triển yêu cầu cung cấp các hợp chất cacbon, đạm, chất khoáng và chất dinh dưỡng Nguồn cacbon chủ yếu là các loại đường đơn, đường đa Đối với các chất cao phân tử như lignin, cellulose và tinh bột thì nấm không thể sử dụng trực tiếp mà phải tiết ra các enzyme ngoại bào để phân giải các chất đơn giản để hấp thụ
Tại Đài Loan, linh chi được trồng trên gỗ họ long não để điều trị ung thư, khối
u Nhiều nơi khác đã dùng mùn cưa tươi, mùn cưa khô của các loại gỗ mềm, không có tinh dầu và độc tố Ngoài ra có thể trồng linh chi trên rơm, rạ, bã mía,…Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, giàu phế liệu cellulose đặc biệt là mùn cưa cây
cao su, tạo điều kiện cho nghề trồng nấm phát triển mạnh
2.4 Thành phần hóa học và công dụng của nấm linh chi
Thành phần hóa học nấm linh chi:
Nấm linh chi được các nước trên thế giới nghiên cứu từ hơn 30 năm nay, chủ yếu là nghiên cứu thành phần hóa học và giá trị dược liệu của nấm.Các phương pháp
cổ điển trước đây đã phân tích thành phần hóa học của nấm linh chi cho thấy:
(theo “Nấm linh chi cây thuốc quý” của Lê Xuân Thám, 1998)
Từ những năm 1980 đến nay, bằng các phương pháp hiện đại: phổ kế UV (tử ngoại), IR (hồng ngoại), phổ kế khối lượng - sắc ký khí (GC – MS), phổ cộng hưởng
từ hạt nhân và đặc biệt là kỹ thuật sắc ký lỏng cao áp (HPLC) cùng phổ kế plasma (ICP), đã xác định chính xác gần 100 hoạt chất và dẫn xuất trong nấm linh chi
Trang 19Bảng 2.4: Các hoạt chất sinh học và dẫn xuất trong nấm linh chi (Ganoderma
lucidum) (theo Lê Xuân Thám, 1996)
Thành phần hoạt
chất
Nhóm chất Hoạt tính dược lý Loại mô nấm
Chống virút
Adenosine Nucleotide Tăng sự lưu thông máu Quả thể
Thư giản cơ, giảm đau Beta – D - glucans Polysaccharide Chống khối u Quả thể
Kích thích hệ miễn dịch Giảm lượng đường huyết
Bổ tim Ganoderic Acids Triterpenoid Chống dị ứng Quả thể
Bảo vệ gan
Ức chế tổng hợp cholesterol
Ức chế ACE Adenosine Nucleotide Tăng sự lưu thông máu Hệ sợi nấm
Thư giản cơ, giảm đau Beta – D -glucans Polysaccharide Chống khối u Hệ sợi nấm
Kích thích hệ miễn dịch Tăng sản suất kháng thể Uridine, Uracil Nucleoside Phục hồi sự dẻo dai Hệ sợi nấm
Ling Zhi – 8 Protein Chống dị ứng quang phổ Hệ sợi nấm
Điều hoà huyết áp
Năm 2001, Masao Hattori đã ly trích được 10 triterpene mới, bao gồm lucidumol A và B, các ganoderic acid: A, B, E, F, H, K, Y và R Trong đó kiểu Lanostane triterpene có thành phần chính là lipophilic Có khoảng 130 hợp chất được
ly trích từ quả thể, hệ sợi và bào tử nấm linh chi Thành phần và hàm lượng triterpene phụ thuộc vào nguồn giống, yếu tố môi trường Vai trò của triterpene có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống căn bệnh HIV Hàng loạt các nghiên cứu của Shufeng Zhou
Trang 20chứng minh rằng polysaccharide và triterpene của nấm Linh chi có khả năng chữa trị bệnh viêm gan mãn tính Ganopoly ức chế quá trình dịch mã của ADN polymerase của virút gây bệnh HBV, ngăn chặn sự hoạt động của virút Ngoài ra polysaccharide và triterpene tác động hữu hiệu trong việc điều trị bệnh đái đường loại 2 (type II diabetes mellitus) cho các bệnh nhân Năm 1994, Lin Zhibin và Lei Lin Sheng đã xác định
được trọng lượng phân tử của Polysaccharide từ G.lucidum là khoảng 7.100 – 9.300
Những tổng kết về vai trò sinh dược học của nhóm polysaccharide ở các loài nấm linh chi đã được giới thiệu tại Hội thảo Bắc Kinh với các báo cáo của các tác giả Đài Loan, Trung Quốc, Hoa kỳ: đã khảo cứu các BN3B - gồm 4 polycaccharide đồng nhất có hoạt tính tăng miễn dịch Trong đó BN3B1 được xác định là glucan (chỉ chứa glucose)
và BN3B3 là một arabinogalactan mang các liên kết glycoside Hikino, H.et al từ 1985 đến 1989 chứng minh hoạt lực hạ đường huyết của nhiều polysaccharide Đó là các heteroglycan có cả hoạt tính chống ung thư Các ganoderan B có tác dụng làm tăng mức insuline trong huyết tương, giảm sinh tổng hợp glycogen và giảm hàm lượng glycogen trong gan Đây chính là cơ sở trị liệu trên các bệnh nhân đái tháo đường(theo
lệ ¾ ở các loài G.lucidum và G.applanatum (Takashi, 1985; Liu G.T, 1993) Có lẽ đa
dạng nhất và có tác dụng dược lý mạnh nhất là nhóm Saponine, triterpenoide và các acid ganoderic Vai trò của các chất này chủ yếu là ức chế giải phóng histamine, ức chế Angiotensine Conversino emzyme (ACE), ức chế sinh tổng hợp Cholesterol và hạ huyết áp (Lê Xuân Thám, 1998)
Trang 212.5 Khả năng chữa bệnh của nấm linh chi
Linh chi được dùng như một thượng dược khoảng từ 4000 năm nay ở Trung Quốc và người ta chưa thấy tác dụng xấu hay độc tính của Linh chi Đa số các loài linh chi điều có vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, dưỡng tim, chữa trị tức ngực,
bổ gan khí, an thần,… Theo cách diễn đạt truyền thống của người phương Đông, các tác dụng lớn của nấm linh chi như sau:
- Kiện não (làm sáng suốt, minh mẫn)
- Bảo can (bảo vệ gan)
- Cường tâm (thêm sức cho tim)
- Kiện vị (củng cố dạ dày và hệ tiêu hoá)
- Cường phế (thêm sức cho phổi, hệ hô hấp)
- Giải độc (giải tỏa trạng thái dị cảm)
- Trường sinh (tăng tuổi thọ)
Qua phân tích các hoạt chất về mặt dược lý và sử dụng nấm linh chi, người ta thấy linh chi có tác dụng với một số bệnh: Đối với các bệnh tim mạch: Hàng loạt các hoạt chất của linh chi được chứng tỏ có tác dụng kìm hãm sinh tổng hợp cholesterol, kìm hãm quá trình kết tụ tiểu cầu Các nghiên cứu này được cũng cố để có kết quả trị liệu cho các bệnh nhân cao huyết áp, nhiễm mỡ xơ mạch, bệnh mạch vành tim, Hầu hết các bệnh nhân có chuyển biến tốt sau một vài tuần, huyết áp ổn định dần, không xảy ra các tác dụng phụ như các loại thuốc tân dược Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra vai trò của các nguyên tố khoáng vết hiếm Vanadium (V) có tác dụng chống tích đọng cholesterol trên thành mạch Germanium giúp lưu thông khí huyết, tăng cường vận chuyển oxy vào mô Hiện nay, chỉ số Ge trong các dược phẩm linh chi được xem như
là một chỉ tiêu quan trọng, có giá trị trong điều trị tim mạch và giảm đau trong trị liệu ung thư Hiệu quả chống ung thư: Bằng việc kết hợp các phương pháp xạ trị, hoá trị, giải phẫu với trị liệu nấm trên các bệnh nhân ung thư phổi, ung thư vú và ung thư dạ dày có thể kéo dài thời gian sống trên 5 năm cao hơn nhóm không dùng nấm Nhiều thông tin ở Đài Loan cho biết nếu dùng nấm linh chi trồng trên gỗ long não điều trị cho các bệnh nhân ung thư cổ tử cung đạt kết quả tốt - khối u tiêu biến hoàn toàn Công trình của Zhibin Lin (1994) đã chỉ ra nguyên lý hiệu dụng là tăng khôi phục hệ miễn dịch, nhờ đó các phác đồ trị liệu: xạ trị, hóa trị, giải phẩu đạt kết quả cao hơn
Trang 22Đối với các bệnh về hô hấp: Nấm cinh chi đem lại kết quả tốt, nhất là những
ca điều trị viêm phế quản dị ứng – hen phế quản tới 80%, có tác dụng làm giảm và nhẹ bệnh theo hướng khỏi hẳn
Khả năng kháng HIV: Để khảo sát khả năng kháng HIV của các hợp chất
trong nấm Ganoderma lucidum, người ta đã sử dụng dịch chiết từ quả thể trong thử
nghiệm kháng virút HIV – 1 trên các tế bào lympho T ở người Sự nhân lên của virút được xác định qua hoạt động phiên mã ngược trên bề mặt các tế bào lympho T đã được gây nhiễm HIV – 1 Kết quả cho thấy có sự ức chế mạnh mẽ hoạt động sinh sản của loại virút này Do đó, nhiều quốc gia đã đưa linh chi vào phác đồ điều trị tạm thời, nhằm tăng cường khả năng miễn dịch và nâng đỡ thể trạng cho các bệnh nhân trong khi AZT, DDI, DDC, còn hiếm và rất đắt Các nghiên cứu tại Nhật Bản đã chứng minh các hoạt chất từ nấm linh chi có tác dụng như sau:
- Ganoderiol F và ganodermanontirol có hoạt tính chống HIV – 1
- Ganoderderic acid B và lucidumol B có tác động ức chế hữu hiệu protease HIV – 1
- Ganodermanondiol và lucidumol A ức chế phát triển tế bào Meth – A (mouse sarcoma) và LLC (mouse lung carcinoma)
Ngoài ra các ganoderma alcohol là lanostane triterpene với nhóm hydroxol OH) ở vị trí C25 có khả năng chống HIV – 1, Meth – A và LLC ở chuột
(-Khả năng antioxydant: Nhiều thực nghiệm chỉ ra vai trò của các saponine và
triterpenoid, mà trong đó Ganoderic acid được coi là hiệu quả nhất Những nghiên cứu gần đây đang đẩy mạnh theo hướng làm giàu Selenium - một yếu tố khoáng có hoạt tính antioxydant rất mạnh – vào nấm linh chi Chính vì vậy con người có thể chờ đợi vào một dược phẩm tăng tuổi thọ, trẻ hoá từ nấm linh chi nói chung và linh chi Việt Nam nói riêng Các hoạt chất sinh học trong nấm linh chi có khả năng khử một số gốc
tự do sinh ra trong quá trình lão hóa cơ thể hay sau khi bị nhiễm xạ Chúng làm phục hồi các tổ chức bị tổn thương và không gây hiệu ứng phụ nào cho cơ thể Ngoài ra nấm linh chi còn có tác dụng chữa trị chứng bí tiểu, bổ thận khí chữa trị đau nhức khớp xương, gân cốt,… (theo Nguyễn Như Quỳnh, khóa luận tốt nghiệp khoa công nghệ sinh học, 2006)
Trang 23Bảng 2.5: Một số bài thuốc chữa bệnh của nấm linh chi (theo Trần Văn Mão, 2004)
Suy nhược thần kinh, nhức
đầu chóng mặt, ngứa ban
đêm
Linh chi 1 – 3 gam Sắc uống mỗi ngày 3 lần
Viêm gan mãn tính, suyễn
phế quản, viêm thận
Linh chi 50 gam Nghiền bột uống mỗi lần 1 – 1,5
gam, ngày uống 3 lần Bệnh tim dài Bột linh chi 30 gam,
bột đậu 90 gam Nghiền bột 9 – 15 gam uống với nước sôi, ngày uống 3 lần Cao huyết áp, viêm gan
mãn tính
Linh chi 10 gam Sắc uống mỗi ngày 3 lần
rượu vang 250 gam Ngâm rượu 14 ngày, ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 ml
2.6 Giới thiệu sơ lược về hoạt chất sinh học có trong nấm linh chi
2.6.1 Ganoderma polysaccharide (GLPs)
Có trên 200 loại polysaccharide được ly trích và thu nhận từ nấm linh chi Hầu hết các GLPs hình thành từ 3 chuỗi monosaccharide, có cấu trúc xoắn ốc 3 chiều, giống cấu trúc của ADN và ARN Cấu trúc xoắn này tựa trên khung sườn cacbon, lượng khung sườn từ 100,000 – 1000,000, đa số chúng tồn tại phía trong vách tế bào (CWM) Một phần polysaccharide phân tử nhỏ không tan trong cồn cao độ, nhưng tan trong nước nóng Ngoài polysaccharide từ quả thể, polysaccharide cũng được thu nhận
từ quá trình nuôi cấy trong môi trường dịch lỏng và rắn, chúng vẫn có hoạt tính sinh học trong việc chữa trị Một trong 4 loại polysaccharide có đặc tính chống khối u mạnh nhất là beta – D glucan, trọng lượng phân tử 3,12 * 105 hoặc 1,56 * 106, có tác dụng chống ung thu và tăng tính miễn dịch cho cơ thể Vai trò dược học của polysaccharide:
- Kích thích hệ miễn dịch cơ thể
- Gia tăng khả năng dung nạp oxygen
- Giảm gốc tự do hydroxyl
- Ức chế khối u phát triển
- Bảo vệ cơ thể chống lại tia bức xạ
- Tăng chức năng gan
- Duy trì khả năng tái sinh tủy và cơ một cách bình thường
- Tham gia tổng hợp ADN, ARN và protein
Trang 242.6.2 Ganoderic Acid
Ganoderic acid được định hướng là một cyclopropene hoặc cyclopentene Hàm lượng G.acid thay đổi theo giống linh chi, môi trường nuôi trồng, giai đoạn bào tử ganodermal Chính sự thay đổi này làm cho mức độ đắng bị ảnh hưởng Hàm lượng G.acid cao thì có nhiều vị đắng
Triterpenoid là những hợp chất được tổng hợp từ 6 đơn vị isopren Các triterpen
có bộ khung chính từ 27 – 30 nguyên tử carbon (C38H48) rất thường gặp trong thực vật Các triterpenoid tồn tại dưới dạng tự do (không có phần đường), có cấu trúc vòng, mang một số nhóm chức như: -OH; -Oac; eter -O-; Carbanil C=O; nối đôi C=C Đặc tính chung là có tính thân dầu (tan tốt trong eter dầu hỏa, hexan, eter ethyl, cloroform),
ít tan trong nước ngoại trừ khi chúng kết hợp với đường để tạo thành glycosid
Bảng 2.6: Các hoạt chất triterpenoid có tác dụng chữa bệnh trong nấm linh chi
(Ganoderma lucidum) (Lê Xuân Thám, 1996)
Ganoderic acid R,S Ức chế giải phóng histamin
Ganoderic acid B, D, F, H, K, S, Y Hạ huyết áp
Ganodermic acid Mf Ức chế tổng hợp cholesterol
Ganodermic acid T.O Ức chế tổng hợp cholesterol
Ganodermic acid Ức chế tổng hợp cholesterol
Ngoài ra các nghiên cứu cho thấy rằng Ganoderic acid còn có tác dụng:
- Giảm độ nhớt máu
- Ức chế kết dính tiểu cầu
- Ngăn chặn hình thành cục nghẽn
- Tăng lượng lipoprotein 2 – 3 phosphricglycerin
- Gia tăng khả năng vận chuyển oxygen, tăng lưu lượng máu cung cấp cho não
- Lọc máu và tăng tuần hoàn máu trong cơ thể
Trang 252.6.4.2 Tính chất
Đa số alcaloid không màu, ở trạng thái kết tinh rắn Một vài alcaloid ở dạng nhựa vô định hình, một vài alcaloid ở dạng lỏng và có màu Alcaloid là những hợp chất có tính baz yếu, do sự có mặt nguyên tử nitơ Tính baz của các alcaloid khác nhau tùy theo nhóm thế (R-) gắn trên nguyên tử nitơ Các alcaloid tính baz yếu thì phải cần môi trường acid mạnh để tạo thành muối, tan trong nước
Các alcaloid ở dạng tự do hầu như không tan trong nước, nhưng thường tan trong dung môi hữu cơ: cloroform, eter diethyl, alcol bậc thấp Các muối của alcaloid thì tan trong nước, alcol và hầu như không tan trong dung môi hữu cơ như: cloroform, eter, benzen Chính vì thế, tính hòa tan của các alcaloid đóng vai trò quan trọng trong việc ly trích alcaloid ra khỏi nguyên liệu và trong kỹ nghệ dược phẩm điều chế dạng thuốc để uống
2.6.4.3 Công dụng
Alcaloid là những chất có hoạt tính sinh học, nhiều ứng dụng trong ngành y dược và nhiều chất rất độc Các alcaloid có tác dụng rất khác nhau phụ thuộc vào cấu trúc của alcaloid
- Tác dụng lên hệ thần kinh
- Tác dụng lên huyết áp
- Tác dụng trị ung thư
2.6.5 Hợp chất Saponin
2.6.5.1 Khái niệm chung về Saponin
Saponin là một loại glycosid, có cấu trúc gồm hai phần: phần đường gọi là glycon và phần không đường gọi là aglycon Saponin có tính chất đặc trưng: khi hòa tan vào nước sẽ có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch và tạo nhiều bọt;
Trang 26làm vỡ hồng cầu Saponin thường ở dạng vô định hình, có vị đắng Saponin rất khó tinh chế, có điểm nóng chảy cao từ 2000C trở lên và có thể trên 3000C Saponin bị tủa bởi chì acetat, hidroxid barium, sulfat amonium nên lợi dụng tính chất này để cô lập saponin
Saponin triterpenoid: Phần aglycon của saponin triterpenoid có 30 cacbon,
cấu tạo bởi 6 đơn vị hemiterpen và chia làm 2 nhóm:
- Saponin triterpenoid pentacyclic: phần aglycon của nhóm này có cấu trúc gồm 5 vòng và phân ra thành các nhóm nhỏ: olean, ursan, lupan, hopan Phần lớn các saponin triterpenoid trong tự nhiên đều thuộc nhóm olean
- Saponin triterpenoid tetracyclic: phần aglycon có cấu trúc 4 vòng và phân thành 3 nhóm chính: dammanran, lanostan, cucurbitan
Saponin steroid: Gồm các nhóm chính: spirostan, furostan, aminofurostan,
2.6.6 Germanium hữu cơ
Gemanium là nguyên tố hiếm, do nhà khoa học người Đức khám phá vào năm
1885 Germanium có thể cung cấp một lượng lớn oxygen và thay thế chức năng của oxygen Nó kích thích khả năng vận chuyển oxygen tuần hoàn máu trong cơ thể lên đến 1,5 lần Vì thế, làm tăng mức độ trao đổi chất và ngăn chặn quá trình lão hóa Cơ thể con người là thành phần của các electron Khi mức năng lượng tăng hoặc giảm thấp, dẫn đến sự xáo trộn cân bằng và biểu lộ tình trạng bệnh lý Gemanium hữu cơ sẽ duy trì mức năng lượng một cách bình thường trong cơ thể và bảo vệ sức khoẻ Khi tế bào ung thư xuất hiện, chúng làm xáo trộn quá trình trao đổi chất Gemanium sẽ điều hoà và kiểm soát quá trình này, từ đó ngăn chặn tế bào ung thư phát triển Chức năng của Germanium:
- Tăng cường khả năng mang oxygen và giảm nguy cơ xuất hiện ung thư
Trang 27- Giảm nguy hiểm từ kết quả trị liệu phóng xạ
- Ngăn chặn bệnh thiếu máu cục bộ
2.7 Phương pháp ổn định dược liệu
Muốn bảo quản dược liệu được lâu, tránh hiện tượng lên meo mốc, hoạt chất trong dược liệu bị biến đổi thì dược liệu phải có độ ẩm không quá 1 giới hạn nào đó Giới hạn này gọi là độ ẩm an toàn, độ ẩm đạt tốt nhất là 13% Thông thường sự hoạt động của men xảy ra ngay sau khi nguyên liệu bị cắt khỏi cây Vấn đề xử lý nguyên liệu sau khi thu hái nhằm ức chế hoạt động của men để đảm bảo cấu trúc ban đầu của hợp chất trong cây và nâng cao hiệu suất chiết là cần thiết Bản thân men là những protein không tan trong cồn, tan trong nước, bị tủa bởi một số muối vô cơ có nồng độ cao Men hoạt động ở nhiệt độ thích hợp từ 20 – 450C và bị phá hủy trên 600C Có nhiều phương pháp ổn định dược liệu, phương pháp thông thường là sấy ở nhiệt độ thấp trong khoảng thời gian dài
2.7.2 Phương pháp ngâm
Ngâm là một phương pháp chiết gián đoạn trong đó toàn bộ lượng dung môi được tiếp xúc đồng thời với toàn bộ lượng dược liệu trong dụng cụ thích hợp Quá trình chiết xuất xảy ra mọi điểm trong thiết bị chiết là như nhau và dịch chiết được rút
Trang 28khỏi thiết bị cùng một lúc Quá trình ngâm này có thể được lặp lại thêm 1 hay vài lần
để chiết kiệt hoạt chất trong dược liệu Sự khuấy trộn, yếu tố phụ trợ như nhiệt độ, siêu âm…, được dùng làm tăng quá trình chiết
- Phương pháp ngâm lạnh: Dược liệu được ngâm với dung môi ở nhiệt độ phòng Thời gian ngâm không dưới 12 giờ với các dược liệu mỏng manh hay dược liệu
đã xay nhỏ để đảm bảo quá trình chiết được hoàn tất
- Phương pháp ngâm nóng: Là phương pháp ngâm ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ phòng nhưng dưới nhiệt độ sôi của dung môi Do có sự gia nhiệt nên quá trình chiết xảy ra nhanh hơn, dịch chiết thu được có nồng độ cao hơn và ít tốn dung môi hơn
2.8 Tình hình nghiên cứu nấm linh chi trên thế giới và Việt Nam
2.8.1 Thế giới
Từ đầu thế kỉ 17 (1621) các nấm linh chi đã được nuôi trồng ở Trung Quốc chính bởi giá trị dược liệu cao của chúng Gần đây người ta cũng tìm thấy trên núi Maiji, tỉnh Gansu, một tấm bia đá khắc năm 1124 ghi chép việc nuôi trồng 38 loại nấm linh chi Đến năm 1936 Dật Kiến Vũ và Trực Tính Hạnh Hùng Thị đã nuôi trồng đại trà thành công nấm linh chi Ganoderma lucidum, ở Đại học Nông nghiệp Tokyo, Nhật Bản
Ở Đài Loan, Peng (1990) Hseu (1992) báo cáo đã sưu tâm, nuôi trồng tới hơn
10 loài Ganaderma khác nhau Song Trung Quốc vẫn được thừa nhận là trung tâm lớn nhất thế giới về nuôi trồng và sản xuất linh chi Hàn Quốc cũng chiếm một thị phần
đáng kể, và đặc biệt chú trọng đến loài Cổ linh chi Ganoderma applanatum với hiệu
lực chống khối u cao do đó nghiên cứu lai Protoplast giữa các loài đang được đẩy mạnh
Vùng Đông Nam Á gần đây cũng bắt đầu công nghệ linh chi Malaysia chú trọng cải tiến trồng linh chi ngắn ngày trên các phế thải giàu chất sơ, thậm chí thu hoạch quả thể sau 40 ngày
Gần đây do giá trị dược liệu cao của nấm linh chi đã được xác định trên các thực nghiệm khoa học, quy mô nuôi trồng công nghiệp bắt đầu xuất hiện ở Hoa Kỳ, việc thành lập viện nghiên cứu linh chi Quốc Tế ở NewYork là 1 bước tiến quan trọng Đáng chú ý là Adaskavegvagilbertsoong(1986) Nobles ở Canada (1948) nghiên cứu trồng nấm linh chi G.lucidum và nhiều loại khác và đánh giá đặc tính phá gỗ phân hủy
Trang 29cellulose và vận dụng vào định loại các nhóm loài, đặc biệt là nhóm G.lucidum (Lê Xuân Thám, 1998)
Viện Thí nghiệm Nông nghiệp Đài Loan đã bắt tay nghiên cứu về hình thái nấm linh chi cùng khả năng chữa bệnh của loài Ganoderma ở Aukland (New Zealand), Hansnain, G.meredithae ở New Orleands (Hoa Kỳ) (Trích Nguyễn Hữu Đống 2000)
2.8.2 Việt Nam
Ở Việt Nam, Hải Thượng Lãng Ông Lê Hữu Trác đã nói về Linh Chi từ lâu và
Lê Quý Đôn đã chỉ rõ đó là “nguồn sản vật quý hiếm của rừng Đại nam” trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” và “Vân Đoài loại ngư” Song gần đây, chủng G Lucidum mới được nuôi trồng thành công trong phòng thí nghiệm (1978) và vào thập niên 90, Linh Chi mới bùng nổ ở TP Hồ Chí Minh sản lượng hằng năm đạt khoảng 10 tấn Năm 1994 Phạm Quang Thu đã đưa nấm Lim – một chủng nấm linh chi đỏ đặc sắc của rừng Lim miền BắcViệt Nam vào nuôi trồng chủ động
Với công nghệ sản xuất nấm linh chi sinh khối, Nguyễn Thị Chính là người đầu tiên ở nước ta sản xuất thành công sinh khối linh chi dạng sợi và được nhận giải thưởng VIFOTEC 2012 Nó đã được phân tích một số thành phần quan trọng như: protein, lipit, đường, vitamin, nguyên khoáng, đặc biệt thành phần polysacharide (chính thành phần này được các tác giả trên thế giới khẳng định có hoạt tính chống u) Việc nghiên cứu và sản xuất loại sinh khối linh chi theo hướng thực phẩm chức năng của bà có chức năng hỗ trợ trong việc chữa bệnh tăng sức khỏe cho con người
Qua thực nghiệm ở một số bệnh nhân cho thấy sinh khối linh chi mà Nguyễn Thị Chính đang nghiên cứu có tác dụng như: điều hòa hệ miễn dịch cơ thể, chống lão hóa, hỗ trợ chữa trị bệnh gan Đặc biệt viêm gan nhiễm độc, chuyển hóa mỡ cao, bệnh cao huyết áp, ( Việt báo 2005)
Nhìn chung nghề trồng nấm linh chi phát triển mạnh và rộng khắp, đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn nhất là trong 20 năm gần đây Trong sinh học nhờ phát triển của khoa học kỹ thuật trong nghề trồng nấm, về kỹ thuật nuôi trồng, và sự bùng nổ thông tin nghề trồng nấm đã và đang phát triển trên toàn thế giớ trong đó có Việt Nam được coi là nghề xóa đói giảm nghèo hợp với cùng nông thôn miền núi
Trang 302.9 Tổng quan về cơ chất trồng nấm linh chi
Linh chi sử dụng nguyên liệu chủ yếu là mùn cưa tươi, khô của các loại gỗ mềm, không có tinh dầu và độc tố Hoặc có thể trồng linh chi từ nguyên liệu là thân
gỗ, các cây thuốc họ thân thảo Ngoài ra có thể trồng linh chi trên rơm, rạ, bã mía…Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, giàu phế liệu cellulose đặc
biệt là mùn cưa cây cao su, tạo điều kiện cho nghề trồng nấm phát triển mạnh
Hydrat cacbon hòa tan 25,4
Các loại bột cám ngũ cốc, bột bánh dầu được xem là nguồn dinh dưỡng cơ bản cho nấm, hàm lượng bổ sung của chúng khá cao, từ 15 – 20% so với tổng lượng cơ chất Đây là nguồn cung cấp vitamine và đạm hữu cơ quan trọng cho nấm linh chi – loại nấm đòi hỏi tỉ lệ C/N nhỏ, nhất là trong những giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng
Hydrocarbon có thể hòa tan 45 69,6
Trong sản xuất người ta bổ sung thêm vào cơ chất chủ yếu là đạm Tùy từng loại nấm, đạm cho vào phải cân đối với cacbon thì nấm mới phát triển tốt Mối liên hệ giữa nguồn đạm (N) và cacbon (C) được biểu thị bằng tỉ lệ C/N Thường tỉ lệ C/N trong giai đoạn nuôi tơ là 25/1 và trong thời kỳ ra quả thể là 30/1 – 40/1
Một thành phần không thể thiếu nữa đó là khoáng: P, K Na, Mg, Ca, Mo, Zn…với lượng rất ít Việc bổ sung muối khoáng sẽ làm thay đổi pH hoặc gây các tác dụng ngược khác và làm tăng giá thành sản phẩm Các muối khoáng được sử dụng
- Super lân (Ca(H2PO4)2.H2O + CaSO4), có chứa 14 – 20% P2O5
- Calxi cacbonate (CaCO3)
Trang 31- Magie sunphate (MgSO4.7H2O)
Việc sử dụng phân bón hóa học làm tăng lượnng đạm đáng kể nhờ sử dụng các amon có chứa nitơ Khi nitơ được nấm biến dưỡng thì thành phần còn lại của hợp chất
bị biến đổi và làm thay đổi pH của cơ chất Ngoài ra, người ta còn trộn cám gạo hoặc
ám bắp chứa 1,18% nitơ (theo Nguyễn Như Quỳnh, khóa luận tốt nghiệp khoa Công nghệ sinh học, trường ĐH Nông lâm Tp Hồ Chí Minh, 2006)
Trang 32Chương 3 VẬT LIỆU PHƯƠNG PHÁP
3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm
Rơm, mùn cưa cao su , bã mía, trấu, xơ dừa phối hợp trộn theo tỉ lệ
Giá thể được cho vào bịnh nilon kích thước 9,8 x 32,7 cm, mỗi bịch có trọng lượng 1000g
NT2: Mùn cưa 70% + trấu 15% + bã mía 15%
NT3: Rơm 70% + mùn cưa 15% + bã mía 15%
Trang 33NT4: Bã mía 70% + mùn cƣa 15% + xơ dừa 15%
Mỗi ô nghiệm thức gồm 10 bịch nấm, trọng lƣợng mỗi bịch là 1000g
Tổng số bịch nấm thí nghiệm: 5 nghiệm thức x 4 lần lặp lại x 10 bịch nấm =
Trang 343.5 Các chỉ tiêu theo dõi
Lấy ở mỗi ô nghiệm thức 5 bịch nấm ngẫu nhiên để tiến hành theo dõi chỉ tiêu
- Thời gian tơ ăn đầy bịch nấm (ngày): tính từ lúc cấy meo giống đến khi tơ nấm
ăn trắng hết bịch nấm theo dõi
- Thời gian hình thành quả thể (ngày): tính từ lúc rút nút bông đến khi có 5 bịch hình thành quả đầu tiên
Kích thước quả thể:
Theo dõi 5 quả thể ngẫu nhiên trong mỗi nghiệm thức
- Chiều dài cuống nấm (cm): đo từ gốc cuống nấm đến nơi tiếp giáp với mũ nấm
- Đường kính của cuống nấm (cm): đo mặt cắt ngang rộng nhất của cuống nấm
- Đường kính của mũ nấm (cm): đo phần rộng nhất của mũ nấm
Trang 35- Độ dày của mũ nấm (cm): đo từ mặt trên xuống mặt dưới của mũ nấm ở vị trí qua cuống nấm
- Trọng lượng tai nấm (g): trọng lượng tươi và khô của 5 tai nấm ngẫu nhiên
- Tỷ lệ túi nhiễm (%): (Tổng số túi nhiễm trong mỗi nghiệm thức/ Tổng số túi trên mỗi nghiệm thức)x100
Các chỉ tiêu năng suất:
- Năng suất thực thu (kg/NT) = năng suất ô thí nghiệm
- Năng suất lý thuyết (kg/1000 bịch nấm) = Trọng lượng trung bình/bịch
(kg)x1000
- Tổng thu nhập = Năng suất thực thu x Giá bán 1kg nấm
- Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Các chi phí đầu tư ban đầu
3.6 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu thu thập được xử lí bằng phần mền MSTATC ( phân tích biến lượng ANOVA và trắc nghiệm phân hạng) và chương trình Microsoft Excel
3.7 Tiến độ thực hiện
Bảng 3.2: Quy trình trồng nấm linh chi
02/03/2013 –
07/03/2013
Chuẩn bị giá thể Rơm, mùn cưa, bã mía, trấu
08 -10/03/2013 Xử lí giá thể Ngâm giá thể trong nước vôi 2%,
phun nước sạch ủ thành đống với mùn cưa cho trương nở Sau 24h tiến hành phối trộn nguyên liệu theo từng nghiệm thứ và thêm chất phụ gia
Sau đó ủ thành đống
11-03-2013 Đóng túi Đóng bịch giá thể, mỗi bịch nặng
1000g
Trang 3612 - 13/03/2013 Hấp thanh trùng Hấp khử trùng bịch nấm trong lò hấp
ở nhiệt độ 1000
C trong 8 tiếng 14-03-2013 Đƣa bịch vào nhà cấy
meo
15-03-2013 Cấy meo Phòng cấy phải đảm bảo tiêu chuẩn,
thao tác đúng kỹ thuật để giảm tỉ lệ nhiễm
15 – 30/03/2013 Chăm sóc và theo dõi
tốc độ lan tơ nấm linh chi
trắng trên quả thể biến mất
Trang 37Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả về chỉ tiêu sinh trưởng
Trong quá trình thực hiện đề tài đã tiến hành trồng chăm sóc, theo dõi và đo đạc các chỉ tiêu, đã thu được một số kết quả sau:
4.1.1 Tăng trưởng chiều dài tơ nấm
Sự tăng trưởng chiều dài tơ nấm là một tiêu chí quan trọng để đánh giá sư sinh trưởng và mức độ thích nghi của chúng với giá thể Yếu tố này phụ thuộc chủ yếu vào
sự di truyền, tuy nhiên các điều kiện môi trường như giá thể, dinhdưỡng, điều kiện khí hậu cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của tơ nấm
Bảng 4.1: Động thái tăng trưởng chiều dài tơ của nấm linh chi ở các nghiệm thức theo
thời gian từ 10 – 25 ngày sau cấy (cm)
Trang 38Qua bảng 4.1 cho thấy:
Ở giai đoạn 10 NSC (ngày sau cấy) có sự khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống
kê, trong đó sợi tơ nấm dài nhất ở NT2 (2,47 cm) không có sự khác biệt với NT4 (2.26 cm) và khác biệt có ý nghĩa với NT1 đối chứng , và có sợi tơ nấm ngắn nhất (1,58cm)
Ở giai đoạn 15 NSC có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê, trong đó NT có sợi tơ nấm dài nhất là NT2 (4,93cm) khác biệt có ý nghĩa với NT1 đối chứng (4,57cm)
và 3 NT còn lại NT5 có sợi tơ nấm ngắn nhất (3,98cm) khác biệt có ý nghĩa với NT đối chứng và 3 NT còn lại
Ở giai đoạn 20 NSC có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê, trong đó nghiệm thức có chiều dài sợi nấm dài nhất là NT2 (12,29 cm) có sự khác biệt về mặt thống kê với NT đối chứng và 3 NT còn lại Nghiệm thức có chiều dài sợi tơ ngắn nhất
là NT1 đối chứng (10,64 cm) không có sự khác biệt về mặt thống kê với NT5
Ở giai đoạn 25 NSC có sự khác biệt về mặt thống kê rất có ý nghĩa, trong đó NT2 có chiều dài sợi tơ dài nhất (18,33 cm) khác biệt không có ý nghĩa về mặt thông
kê với NT4, khác biệt có nghĩa về mặt thống kê với NT1 đối chứng (16,48 cm) và 2
NT còn lại NT5 (16,33 cm) có chiều dài sợ tơ ngắn nhất, không có sự khác biệt về mặt thống kê với NT1 đối chứng và có sự khác biệt về mặt thống kê với 3 NT còn lại
Qua đó ta thấy, NT2 có môi trường thích hợp để sợi nấm linh chi sinh trưởng và thích nghi tốt nhất qua các nghiệm thức trong giai đoạn 0 – 25 NST NT5 và NT1 đối chứng cho tơ nấm linh chi sinh trưởng và thích nghi kém nhất qua các nghiệm thức thí nghiệm ở giai đoạn 0 – 25 NST
4.1.2 Ngày bắt đầu xuất hiện tơ nấm linh chi
Ngày bắt đầu xuất hiện tơ cho thấy khả năng thích ứng của meo nấm với môi trường nuôi cấy
Bảng 4.2: Thời gian bắt đầu xuất hiện của tơ nấm linh chi của các nghiệm thức (ngày
sau cấy)
Trang 392 Mùn cưa 70% + trấu 15% + bã mía 15% 5,20
3 Rơm 70% + mùn cưa 15% + bã mía 15% 6,05
4 Bã mía 70% + mùn cưa 15% + xơ dừa 15% 5,75
Ghi chú: ns : không có sự khác biệt về mặt thống kê
Qua bảng 4.2 cho thấy:
Thời gian xuất hiện tơ nấm của các nghiệm thức không có ý nghĩa về mặt thống
kê Trong đó NT2 có thời gian xuất hiện tơ nấm sớm nhất (5,20 NSC) Nghiệm thức 3
có thời gian xuất hiện tơ nấm lâu nhất (6,05 NSC)
4.1.3 Thời gian ăn đầy bịch nấm
Thời gian ăn đầy bịch nấm cho thấy tốc độ sinh trưởng và sức sống của nấm Bịch nấm sẽ cho quả thể sớm hơn khi ăn đầy bịch sớm, sợ tơ trắng mãnh Ngoài yếu tố giống thì điều kiện ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất lớn
Bảng 4.3: Thời gian tơ nấm linh chi lan đầy bịch của các nghiệm thức (ngày sau cấy)
2 Mùn cưa 70% + trấu 15% + bã mía 15% 27,25c
3 Rơm 70% + mùn cưa 15% + bã mía 15% 27,13c
4 Bã mía 70% + mùn cưa 15% + xơ dừa 15% 28,70b