Qua quá trình theo dõi, ghi nhận, phân tích, đánh giá và tìm hiểu đã thu được kết quả như sau: Cả 2 loại nấm linh chi và nấm bào ngư đều sinh trưởng tốt trên giá thể từ thân cây mai dươn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG KCL LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG
CỦA NẤM LINH CHI (Ganoderma lucidum) VÀ NẤM BÀO NGƯ (Pleurotus sp.) TRỒNG TRÊN NGUYÊN LIỆU
THÂN CÂY MAI DƯƠNG (Mimosa pigra L.)
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRƯƠNG VĂN MINH HIỂN
TP Hồ Chí Minh, Tháng 7/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA: NÔNG HỌC
TRƯƠNG VĂN MINH HIỂN
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG KCL LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG
CỦA NẤM LINH CHI (Ganoderma lucidum) VÀ NẤM BÀO NGƯ (Pleurotus sp.) TRỒNG TRÊN NGUYÊN LIỆU
THÂN CÂY MAI DƯƠNG (Mimosa pigra L.)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn nghiên cứu “Khảo sát sự tăng trưởng của
nấm linh chi (Ganoderma lucidum) và nấm bào ngư (Pleurotus spp.) trên nguyên liệu thân cây mai dương (Mimosa pigra L.)” ngoài sự cố gắng, phấn đấu hết mình của bản
thân, em còn nhận được rất nhiều sự khích lệ, giúp đỡ thiết thực từ gia đình, nhà trường, thầy cô và bạn bè
Hơn hết con xin chân thành cảm ơn cha mẹ đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện tốt cho con học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Nông học, Ban quả lý trại khoa Nông học, trường Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh đã luôn tạo điều kiện rất tốt cho
em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trường Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh
đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, luôn quan tâm, dìu dắt và luôn giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, cũng như trong quá trình thực hiện đề tài Đặc biệt, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Phạm Thị Ngọc, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Xin cảm ơn bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận
Dù đã cố gắng hoàn thành luận văn trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn rằng còn những thiếu sót, em kính mong nhận được sự tận tình chỉ bảo của thầy cô và bạn bè
Trang 4và xác định mức KCl thích hợp bổ sung vào giá thể trồng nấm bào ngư và nấm linh chi
để có hiệu quả kinh tế cao
Đề tài gồm 2 thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Trồng nấm linh chi trên giá thể thân cây mai dương có bổ sung KCl (0‰, 2‰ và 4‰) Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố với 3 nghiệm thức (LC0, LC2 và LC4) và 3 lần lặp lại
Thí nghiệm 2: Trồng nấm bào ngư trên giá thể thân cây mai dương có bổ sung KCl (0‰, 2‰ và 4‰) Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố với 3 nghiệm thức (BN0, BN2 và BN4) và 3 lần lặp lại
Qua quá trình theo dõi, ghi nhận, phân tích, đánh giá và tìm hiểu đã thu được kết quả như sau:
Cả 2 loại nấm linh chi và nấm bào ngư đều sinh trưởng tốt trên giá thể từ thân cây mai dương Hai thí nghiệm đều cho thấy khi bổ sung KCl vào giá thể ở mức 2‰
sẽ cho năng suất thực thu (226,19 kg/1000 bịch (nấm bào ngư), 36,19 kg/1000 bịch (nấm linh chi)) và hiệu quả kinh tế (6.316.650 VND/1000 bịch (nấm bào ngư), 15.795.000 VND/1000 bịch (nấm linh chi)) là cao nhất
Trang 5
MỤC LỤC
trang
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ x
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Phạm vi đề tài 2
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu sơ lược về nấm linh chi 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm sinh học nấm linh chi 3
2.1.3 Công dụng của nấm linh chi 5
2.1.4 Một số cách sử dụng nấm linh chi 9
2.2 Giới thiệu sơ lược về nấm bào ngư 10
2.2.1 Phân loại 10
2.2.2 Đặc điểm sinh học 10
2.2.3 Công dụng của nấm bào ngư 11
2.3 Một số nấm mốc và côn trùng gây hại trên nấm bào ngư và nấm linh chi 13
2.3.1 Nấm mốc 13
2.3.2 Côn trùng và nhện hai nấm trồng 15
2.4 Một số nghiên cứu nấm Linh Chi, nấm Bào Ngư trong nước và trên thế giới 17
2.4.1 Một số nghiên cứu trong ngước 17
2.4.2 Một số nghiên cứu nước ngoài 18
Trang 62.5 Giới thiệu sơ lược về cây mai dương làm giá thể 19
2.5.1 Giới thiệu chung về cây mai dương 19
2.5.2 Tình hình xâm thực của cây mai dương ở Việt Nam 19
2.5.3 Nghiên cứu về cây mai dương 20
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm 22
3.1.1 Thời gian 22
3.1.2 Địa điểm 22
3.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết 22
3.3 Vật liệu thí nghiệm 22
3.3.1 Giống 22
3.3.2 Giá thể 22
3.3.3 Dụng cụ thí nghiệm 22
3.4 Phương pháp thí nghiệm 23
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 23
3.6 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.6.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng 24
3.6.2 Chỉ tiêu năng suất 24
3.7 Quy trình thực hiện 25
Chương 4: KẾT QUẢ 28
4.1 Kết quả chỉ tiêu sinh trưởng 28
4.1.1 Tăng trưởng chiều dài tơ nấm 28
4.1.2 Thời gian tơ ăn đầy bịch phôi 32
4.1.3 Ngày hình thành quả thể 33
4.1.4 Số chùm quả thể trên bịch 33
4.1.5 Số quả thể/chùm 34
4.1.6 Trong lượng quả thể trên chùm 35
4.1.7 Đường kính tán nấm linh chi 35
4.2 Kết quả về chỉ tiêu năng suất 36
4.3 Tỷ lệ nhiễm bệnh 38
Trang 7Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.1.1 Nấm bào ngư 39
5.1.2 Nấm linh chi 39
5.2 Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BN Nấm Bào Ngư
CV Coefficent of variation (hệ số biến động)
DAP Di Amino Phosphate
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần hóa dược tổng quát của Linh Chi 5
Bảng 2.2 Thành phần hoạt chất cơ bản ở nấm linh chi 6
Bảng 2.3 Lục bảo linh chi và tác dụng trị liệu 8
Bảng 2.4 Một số bài thuốc chữa bệnh có nấm linh chi 9
Bảng 2.5 Sự giảm lignin trên các cơ chất khác nhau 11
Bảng 2.6 Tỷ lệ các acid amin trong 3 loai nấm sò 12
Bảng 2.7 Lượng chứa một số vitamin của 2 loại nấm sò 12
Bảng 2.8 Lượng chứa một số nguyên tố vi lượng của 3 loại nấm sò 13
Bảng 2.9 Những côn trùng và nhện hại nấm thường gặp trong nuôi trồng 16
Bảng 3.1: điều kiện khí hậu, thời tiết tại Thành phố Hồ Chí Minh 22
Bảng 3.2 Các nghiệm thức của thí nghiệm 1 23
Bảng 3.3 Các nghiệm thức của thí nghiệm 2 23
Bảng 3.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 23
Bảng 3.5 Quy trình thực hiện đề tài cuối khóa 23
Bảng 4.1 Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi ở các nghiệm thức 28
Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm bào ngư ở các nghiệm thức 29
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi ở các nghiệm thức 30
Bảng 4.4 Tốc độ tăng trưởng chiều dài tơ nấm bào ngư ở các nghiệm thức 31
Bảng 4.5 Thời gian tơ nấm bào ngư và linh chi ăn đầy bịch phôi 32
Bảng 4.6 Thời gian hình thành quả thể của nấm linh chi và nấm bào ngư 33
Bảng 4.7 Số chùm quả thể/bịch phôi 34
Bảng 4.8 Số quả thể trên một chùm quả thể 34
Bảng 4.9 Trọng lượng trung bình của một chùm quả thể 35
Bảng 4.10 Động thái tăng trưởng đường kính tán nấm linh chi 36
Bảng 4.11 Năng suất thực thu của mỗi nghiệm thức 36
Bảng 4.12 Năng suất lý thuyết của mỗi nghiệm thức 37
Bảng 4.13 Phân tích giá trị kinh tế của thí nghiệm 37
Bảng 4.14 Tỷ lệ nhiễm bệnh ở nấm linh chi và nấm bào ngư 38
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Ruồi và ấu trùng ruồi (giòi) hại nấm 15
Hình 1 Bình tưới, cân và bịch nilon đựng giá thể 43
Hình 2 Bịch giá thể và bộ đo nhiệt độ 43
Hình 3 Bịch phôi trong thời gian nuôi ủ tơ 44
Hình 4 Bịch phôi trong thời gian ra quả thể 44
Hình 5 Bịch nấm bào ngư 10 NSC 45
Hình 6 Nấm bào ngư phun bào tử vào lúc sáng sớm 45
Hình 7 Quả thể nấm bào ngư 46
Hình 8 chùm nấm Bào Ngư hoàn chỉnh 47
Hình 9 Sơ đồ thí nghiệm nấm Linh Chi 48
Hình 10 Sinh trưởng của quả thể nấm linh chi 49
Hình 11 Quả thể nấm linh chi 55 NSC 50
Hình 12 Quả thể Nấm Linh Chi Lần 1 51
Hình 13 Nhiễm nấm mốc đen 51
Hình 14 Nhiễm nấm mốc cam 51
Hình 15 Quả thể nấm linh chi bị côn trùng gây hại 52
Hình 16 Triệu chứng gây hại của côn trùng 52
Hình 17 Bịch nấm bị nhiễm nấm mốc xanh 53
Hình 18 Bịch nấm bị nhiễm nấm nhầy 53
Trang 11DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi 54
Đồ thị 4.2 Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm bào ngư 54
Đồ thị 4.3 Đường kính tán nấm linh chi 55
Biểu đồ 4.1 Tốc độ tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi 55
Biểu đồ 4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài tơ nấm bào ngư 56
Biểu đồ 4.3 Thời gian tơ nấm bào ngư và linh chi ăn đầy bịch phôi 56
Biểu đồ 4.4 Thời gian hình thành quả thể của nấm linh chi và nấm bào ngư 57
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Nấm được xem là loại dược phẩm, thực phẩm có giá trị cao, trong đó nấm bào ngư
và nấm linh chi rất được thị trường ưa chuộng bởi chúng ăn ngon, dễ chế biến cùng các thực phẩm khác, thành phần dinh dưỡng cũng rất cao và có nhiều đặc tính dược liệu quý như hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột, bệnh về gan, phổi… Nấm linh chi và nấm bào ngư thuộc nhóm phá hoại gỗ, chúng có khả năng sử dụng các phế phẩm của nông nghiệp như rơm rạ, vỏ đậu phụng, thân cây bông vải, mùn cưa tạp, mùn cưa cao su và các loài cây xâm hại để sinh trưởng
Trong khi đó cây mai dương được xem là một trong những loài cây xâm hại nguy hiểm đối với các vùng đất ngập nước nhiệt đới và được xếp vào danh sách 100 loài ngoại lai nguy hiểm nhất Chúng có khả năng mọc cành non rất nhanh, cây trưởng thành khó bị đốt cháy, hạt có khả năng tồn tại rất lâu trong đất, chúng có khả năng xâm lấn rất mạnh và thường có rất ít cây cỏ mọc chung Với những đặc tính đó cây mai dương đã mọc tràn lan và chiếm các bãi cỏ, vùng đất trống và làm suy thoái hệ sinh thái
Nếu chúng ta có thể sử dụng thân cây mai dương làm nguyên liệu cho trồng nấm bào ngư và linh chi thì ngoài trừ việc giải quyết vấn đề môi trường chúng ta còn có thêm một nguồn thu nhập đáng kể từ sản xuất nấm
Với vấn đề trên và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Nông học trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh cùng với sự hướng dẫn của ThS Phạm Thị Ngọc, tôi đã xác định thực hiện đề tài “Khảo sát sự tăng trưởng của nấm linh chi
(Ganoderma lucidum) và nấm bào ngư (Pleurotus spp.) trên nguyên liệu thân cây mai dương (Mimosa pigra L.)“
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu sơ lược về nấm linh chi
2.1.1 Phân loại
Nấm linh chi có nhiều tên gọi khác nhau như bất lão thảo, vạn niên thảo, trần tiên thảo, chi linh, đoạn thảo, nấm lim…Mỗi tên gọi của nấm linh chi gắn liền với giá trị dược liệu của nó Tên gọi của nấm linh chi bắt nguồn từ Trung Quốc, phiên âm theo tiếng Trung Quốc là lingzhi, theo tiếng Nhật là reishi hoặc mannentake, tên khoa học:
Tên khoa học : Ganoderma lucidum
2.1.2 Đặc điểm sinh học nấm linh chi (Lê Xuân Thám, 1998)
¾ Đặc điểm hình thái
Thể quả có cuống dài hoặc ngắn, thường đính bên, đôi khi trở thành đính tâm do quá trình liền tán mà thành Cuống nấm thường hình trụ hoặc thanh mảnh (đường kính 0,3 – 0,8 cm), ít khi phân nhánh (từ 2,7 – 22 cm), đôi khi có uốn khúc cong quẹo Lớp
vỏ cuống láng đỏ, nâu đỏ, nâu đen, bóng không có lông phủ suốt lên bề mặt tán nấm
Mũ nấm dạng thận hay gần tròn, đôi khi xòe hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng Trên mặt mũ có vân gợn đồng tâm và có tia rãnh phóng xạ Màu sắc từ vàng chanh, vàng nghệ, vàng nâu, vàng cam, đỏ nâu, nâu tím, nâu đen, nhẵn bóng, láng như verni Thường xẫm màu khi già, lớp vỏ láng phủ kín trên mặt mũ, đôi khi có lớp phấn ánh
Trang 15xanh tím Kích thước tán biến động lớn từ 2 – 36 cm, dày khoảng 0,8 – 3,3 cm Phần đính cuống hoặc gồ lên, hoặc lõm xuống như lõm rốn Phần thịt nấm dày từ 0,4 – 2,2
cm chất lie màu vàng kem, nâu nhạt, kem trắng, phân chia kiểu lớp trên và lớp dưới, thấy rõ ở các lớp trên các tia sợi hướng lên Trên lát cắt giải phẩu hiển vi chỉ thấy đầu các sợi phình hình chùy, máng rất dày, đan khít vào nhau, tạo thành lớp vỏ láng (dày khoảng 0,2 – 0,5 mm) bởi sự tiết ra các chất laccate (tan mạnh trong cồn) Nhờ lớp laccate láng bóng không tan trong nước nhờ đó mà nấm chịu được mưa, nắng Ở lớp dưới, hệ sợi tia xuống đều đặn, tiếp giáp vào tầng sinh bào tử
Tầng sinh sản (bào tầng, thụ tầng – Hymenium) là một lớp vồng dày từ 0,2 – 18
cm màu kem, nâu nhạt gồm các ống nhỏ thẳng, miệng gần tròn màu trắng hay màu chanh nhạt, khoảng 3 – 5 ống/mm
¾ Đặc điểm sinh thái
Nấm linh chi thường mọc trên cây gỗ (sống hay đã chết), thể quả rộ vào mùa mưa (tháng 5 - 11 dương lịch), có thể ở trên thân cây (cuống thường ngắn, tai nấm nhỏ), quanh gốc cây hoặc từ các rễ cây (nổi hoặc ngầm gần mặt đất), khi ấy cuống nấm thường dài và có thể phân nhánh và đôi khi tán nấm rất lớn (gần 30 cm) Nấm thường mọc tốt dưới bóng rợp, ánh sáng khuếch tán nhẹ Do có lớp vỏ láng đỏ, không thấm nước, linh chi có thể chịu được ánh sáng chiếu trực tiếp và có thể chịu được mưa nhiều
Ở những vùng thấp (thấp hơn 500 m) có lẽ ưu thế là các giống chịu nhiệt độ cao (28 – 35 0C) như ở vùng Đồng Bằng Sông Hồng và đồi núi Trung du Bắc Việt Nam, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (quanh thành phố Hồ Chí Minh) Ở các vùng đồi vĩ
độ cao (hơn 1000 m) thường có các chủng ôn hòa, thích hợp nhiệt độ thấp hơn (20 –
26 0C) như Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo, Tây Nguyên…Ở nước ta, nếu theo các tư liệu cổ thì nấm linh chi đỏ của vùng rừng sâu, núi cao được coi là linh thiêng, quý giá Phải chăng chất lượng hoạt chất (thành phần và hàm lượng) của các chủng ưa mát ở vùng núi khí hậu trong lành có liên quan tới quan niệm và ghi chép đó
Trang 162.1.3 Công dụng của nấm linh chi
¾ Thành phần hóa dược cơ bản của nấm linh chi (Lê Xuân Thám, 1998)
Số lượng các chủng loài nấm linh chi được sử dụng trong công nghệ dược liệu,
dược phẩm ngày càng tăng và đó cũng là bí quyết của các quốc gia Á Đông Các nước
Châu Á dẫn đầu về nghiên cứu hóa dược, nuôi trồng và bào chế các loại linh chi Thực
tế một số tác giả cũng quan tâm phân tích thành phần cấu tạo lớp vỏ láng ở các loài
Ganoderma và Amauroderma vào thập niên 20, phát hiện các ergosterol các enzym
phenoloxydase, peroxydase,… ở G.lucidum (dẫn theo tài liệu Trung Quốc, 1976) Vào
thập niên 70 – 80, bắt đầu một trào lưu khảo cứu hóa dược học các nấm linh chi Chủ
yếu ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam Gần đây một số
phòng thí nghiệm ở Hoa Kỳ và vùng Đông Nam Á cũng bắt đầu tham gia vào tiến
trình này
Với các phương pháp cổ điển trước đây người ta đã phân tích các thành phần
hóa dược tổng quát của linh chi, cho thấy:
Bảng 2.1 Thành phần hóa dược tổng quát của Linh Chi
(Theo Bùi Chí Hiếu, 1993 Trích từ “nấm Linh Chi cây thuốc quý” của Lê Xuân Thám, 1998)
Từ những năm 1980 đến nay, bằng các phương pháp hiện đại phổ kế tử ngoại
(UV), hồng ngoại (IR)…, phổ kế khối lượng – sắc ký khí (GC – MS), phổ kế cộng
hưởng từ hạt nhân (đánh dấu với 3H và 13C) (NMR) và đặc biệt là biện pháp sắc ký
lỏng cao áp (HPLC) và phổ kế plasma (ICP), đã xác định chính xác gần 100 hoạt chất
và dẫn xuất trong nấm linh chi
Trang 17Bảng 2.2 Thành phần hoạt chất cơ bản ở nấm linh chi
Cyclootasulfur ức chế giải phóng histamine
Adenosine dẫn xuất Nucleotide ức chế kết dính tiểu cầu, thư giản cơ, giảm
đau Lingzhi – 8 Protein Chống dị ứng phổ rộng, điều hòa miễn dịch Ganodosterone Steroide Giải độc gan
Lanosporeric acid A Steroide Ức chế tổng hợp Cholesterol
Lanosterol Steroide Ức chế tổng hợp Cholesterol
II, III, IV, V Steroide Ức chế tổng hợp Cholesterol
Ganoderans A, B, C Polysaccharide Hạ đường huyết
Beta – D – Glucan Polysacc Chống ung thư, tăng tính miễn dịch
BN -3B: 1, 2, 3 Polysacc
D – 6 Polysacc Tăng tính tổng hợp protein, tăng tính chuyển
háo acid nucleic Ganoderic acid R, S Triterpenoide Ức chế giải phóng hiostamine
Ganoderic acid B, D, F,
H, K, Y
Triterpen Hạ huyết áp, ức chế ACE
Ganoderic acid Triterpen Ức chế tổng hợp cholesterol
Ganodermadiol Triterpen Hạ huyết áp, ức chế ACE
Ganoderic acid M, F Triterpen Ức chế sinh tổng hợp cholesterol
Ganoderic acid T, O Triterpen Ức chế sinh tổng hợp cholesterol
Lucidone A Triterpen Bảo vệ gan
Lucidenol Triterpen Bảo vệ gan
Ganosporelacton A Triterpen Chống khối u
Ganosporelacton B Triterpen Chống khối u
Oleic acid dẫn xuất Acid béo Ức chế giái phóng histamine
(Theo Lê Xuân Thám, 1998)
Trang 18Trong số các nhóm hoạt chất, nhóm có bản chất protein nổi bật với Lingzhi – 8
do các nhà khoa học Nhật Bản tìm ra (Kino K et al, 1989, 1991…), được chứng minh
là một tác nhân chống dị ứng phổ rộng và điều hòa miễn dịch rất hữu hiệu, đồng thời
duy trì tạo kháng thể chống các khuyên viêm gan B ( Trích từ “nấm Linh Chi cây thuốc quý” của Lê Xuân Thám, 1998)
Riêng nhóm nucleoside nổi bật trong Ganoderma lucidum và G.capense có các
dẫn xuất của adenosine với tác dụng thư giản cơ, giảm đau và ức chế sự dính kết tiểu cầu
Nhóm alcaloide còn ít được khảo cứu, mặc dù với tác dụng trợ tim là rõ ràng
Dẫn liệu về nấm lim (G lucidum) cho thấy hàm lượng alcaloide tổng số rất đáng kể có
vẻ mâu thuẫn với ý kiến của G Paris (1948) cho rằng nấm lim không có alcaloide và
không độc ( Trích từ “nấm Linh Chi cây thuốc quý” của Lê Xuân Thám, 1998)
Nhóm steroid khá phong phú ở nấm linh chi với tác dụng chủ đạo ức chế tổng
hợp Cholesterol Đặc biệt từ bào tử đảm G lucidum ngoài 2 lacton A, B còn có 5 hợp
chất sterol đã được Chen – Ry và Yu, 1991 xác định được chính xác công thức phân
tử ( Trích từ “nấm Linh Chi cây thuốc quý” của Lê Xuân Thám, 1998)
Nhóm Polysaccharide cũng rất phong phú ở nấm lim và hoạt lực mạnh Hikino
H từ 1985 – 1989 chứng minh hoạt lực hạ đường huyết của nhiều polysaccharide Đó
là heteroglycan có cả hoạt tính chống ung thư, ganoderan B có tác dụng làm tăng mức insulin huyết tương, làm giảm sinh tổng hợp glycogen và hàm lượng glycogen trong gan, và đó là cơ sở trị liệu của bệnh nhân đái đường Đặc biệt các phức hợp polysaccharide – protein có hoạt tính chống khối u và tăng miễn dịch đã được chỉ ra từ
lâu (Ukai S et al, 1983) ( Trích từ “nấm Linh Chi cây thuốc quý” của Lê Xuân Thám, 1998)
¾ Giá trị dược liệu
Ở các nước Đông Nam Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan ) việc nghiên cứu, phát triển và sử dụng cây nấm linh chi đang được công nghiệp hóa với quy mô lớn về phân loại, nuôi trồng chủ động, chế biến và bào chế dược phẩm, đồng thời nghiên cứu hóa dược các hoạt chất, tác dụng dược lý và phương pháp điều trị lâm sàn Giá trị dược lý của linh chi ngày càng được khẳng định khi hội nghị nấm học thế giới thành lập viện nghiên cứu linh chi quốc tế tại New York
Trang 19Bảng 2.3 Lục bảo linh chi và tác dụng trị liệu
Thanh chi (long chi)
Xanh - Vị chua, tính bình, chữa trị sáng mắt, bổ
Trắng - Vị cay, tính bình, không độc, ích phổi,
thông mũi, an thần, chữa ho
Hắc chi (huyền chi)
Đen - Vị ngọt, tính bình, không độc, trị bí tiểu,
ích thận khí
Tứ chi
Tím - Vị ngọt, tính ôn, không độc, trị đau
nhức xương khớp, gân cốt
(Theo Lý Thời Trân, 1590 Trích từ “nấm Linh Chi cây thuốc quý” của Lê Xuân Thám,1998)
Theo cách diễn đạt truyền thống của người phương đông các tác dụng cụ thể của nấm linh chi được tập hợp vào những mặt lớn sau:
¾ Kiện não (làm sáng suốt, minh mẫn)
¾ Bảo can (bảo vệ gan)
¾ Cường tâm, cường phế (thêm sức cho tim, phổi)
¾ Kiện vị (củng cố dạ dày và hệ tiêu hóa)
¾ Giải độc (giải tỏa trạng thái nhiễm độc)
¾ Giải cảm (giải tỏa trạng thái bị cảm)
¾ Trường sinh (sống lâu, tăng tuổi thọ)
Qua phân tích các hoạt chất về mặt dược tính, dược lý và sử dụng nấm linh chi, người ta thấy nấm linh chi có tác dụng rất tốt với các bệnh như:
¾ Bệnh về tim mạch: Tác dụng điều hòa, ổn định huyết áp
¾ Đối với các bệnh về hô hấp: Nấm linh chi đem lại kết quả tốt, nhất là với những ca điều trị viêm phế quản dị ứng, hen phế quản tới 80% có tác dụng giảm và làm nhẹ bệnh theo hướng khỏi hẳn
Trang 20¾ Khả năng miễn dịch: Nấm linh chi có chứa một lượng lớn germanium
hữu cơ, polysaccharides và triterpenes Những thành phần này đã được chứng minh là
tốt hơn cho hệ miễn dịch và cải thiện hệ miễn dịch của chúng ta
¾ Chữa gan: Điều trị từ 2 – 15 tuần thì tỷ lệ chữa bệnh hiệu quả từ 70,7 –
98%
¾ Hiệu quả chống ung thư: Nấm linh chi có thể ngăn chặn sự bám dính và
di căn của những tế bào ung thư tuyến vú và tuyến tiền liệt
2.1.4 Một số cách sử dụng nấm linh chi
- Ngâm rượu: Nấm linh chi thái mỏng, ngâm trong rượu mạnh từ 40 – 450, sau
20 ngày có thể sử dụng
- Sắc nước uống: Lấy một khối lượng linh chi khoảng 3 – 16 gram cho một lần
sắc (đổ 3 chén nước đun sôi cô đặc để lấy một chén, làm như vậy 3 lần) sau đó trộn lẫn
với nhau để uống
- Uống dạng trà: Sấy nấm linh chi, nghiền nát thành bột, mỗi lần uống 3 – 7
gram (cho vào 200ml nước sôi) hãm lại sau 10 phút rồi uống
Bảng 2.4 Một số bài thuốc chữa bệnh có nấm linh chi
Suy nhược thần kinh, nhức
đầu, chóng mặt, ngứa ban
đêm
Linh chi 1 – 3 gram Sắc uống mỗi ngày 3 lần
Viêm gan mạn tính, suyễn
phế quản, viêm thận
Linh chi 50 gram Nghiền bột uống mỗi lần
1-1,5 gram, ngày uống 3 lần
Bệnh tim dài Bột linh chi 30 gram, bột
đậu 90 gram
Nghiền bột 9 – 15 gram uống nước sôi ngày uống 3 lần
Cao huyết áp, viêm gan
Trang 212.2 Giới thiệu sơ lược về nấm bào ngư
2.2.1 Phân loại (Nguyễn Lân Dũng, 2002)
Tên khoa học : Pleurotus spp
Tên khác : nấm sò, nấm dai, nấm huơng chân ngắn
2.2.2 Đặc điểm sinh học (Lê Duy Thắng, 2006)
Nấm bào ngư là tên dùng chung cho các loài thuộc giống Pleurotus Theo Singer (1975) có tất cả 39 loài và chia làm 4 nhóm Trong đó có hai nhóm lớn là:
¾ Nhóm “ưa nhiệt trung bình” kết quả thể ở nhiệt độ từ 10 - 200C
¾ Nhóm “ưa nhiệt” kết quả thể ở nhiệt độ từ 20 - 300C
Ở Việt Nam, nấm bào ngư trước đây mọc chủ yếu hoang dại và có nhiều tên gọi: nấm sò, nấm hương trắng, chân ngắn và nấm dai Nấm bào ngư có đặc điểm chung là tai nấm dạng phểu lệch, phiến nấm mang bào tử kéo dài xuống đến chân, cuống nấm gần gốc có lớp lông nhỏ mịn, tai nấm bào ngư còn non có màu sắc sậm hơn hoặc tối nhưng khi trưởng thành màu trở nên sáng hơn
Chu trình sống của nấm bào ngư cũng như các loài nấm đảm khác, bắt đầu từ bào tử hữu tính, nẩy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng và kết thúc bằng việc hình thành
cơ quan sinh sản là tai nấm, tai nấm sinh ra các đảm bào tử và chu trình lại tiếp tục Quả thể nấm bào ngư phát triển qua nhiều giai đoạn dựa theo hình dạng tai nấm mà có tên gọi cho từng giai đoạn
¾ Dạng san hô: Quả thể mới tạo thành, dạng sợi mảnh hình chùm
¾ Dạng dùi trống: Mũ xuất hiện dưới dạng khối tròn, còn cuống phát triển cả về chiều ngang và chiều dài nên đường kính cuống và mũ không khác nhau bao nhiêu
¾ Dạng phễu: Mũ mở rộng, trong khi cuống còn ở giữa
¾ Dạng bán cầu lệnh: Cuống lớn nhanh một bên và bắt đầu lệnh so với
vị trí trung tâm của mũ
Trang 22¾ Dạng lá lục bình: Cuống ngừng tăng trưởng, trong khi mũ nấm vẫn tiếp tục phát triển, bìa mép thẳng đến dợn sóng
Từ giai đoạn phểu sang giai đoạn bán cầu lệnh có sự thay đổi về chất, từ giai
đoạn bán cầu lệnh sang dạng lá lục bình có sự nhảy vọt về khối lượng, sau đó giảm
dần Vì vậy thu hái nấm bào ngư nên chọn lúc tai nấm vừa chuyển sang dạng lá lục
bình
Nấm bào ngư thuộc nhóm phá hoại gỗ, sống chủ yếu hoại sinh nên chúng có
khả năng sử dụng cellulose và sử dụng lignin mạnh, nhất là thời gian khởi đầu của việc
(Theo Lê Duy Thắng, 2001) 2.2.3 Công dụng của nấm bào ngư
¾ Giá trị dinh dưỡng (Nguyễn Lân Dũng, 2002)
Nấm sò không chỉ ăn ngon mà còn có giá trị dinh duỡng cao Trong nấm sò
khô, lượng chứa protein là khoảng 20%, có đầy đủ các acid amin không thay thế,
vitamin và nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết
Trang 23Bảng 2.6 Tỷ lệ các acid amin trong 3 loai nấm sò (g/100 protein thô)
Histidin 1,025 1,122 4,203 Alanin 10,273 9,124 7,775
(Theo Nguyễn Lân Dũng, 2002)
Bảng 2.7 Lượng chứa một số vitamin của 2 loại nấm sò
Trang 24Bảng 2.8 Lượng chứa một số nguyên tố vi lượng của 3 loại nấm sò
Nấm sò Nguyên tố vi lượng (mg/100g nấm khô)
P.ostreatus 11 5 174 1406 5,0 1,6 9,1 0,0013
P.cornucopiae 28 5 209 1840 21,4 1,0 9,9 0,0010
P.porrigens 89 79 94 985 12,4 3,6 7,8 0,0014
(Theo Nguyễn Lân Dũng, 2002)
¾ Giá trị dược liệu
Thử nghiệm về ung thư trên chuột bạch cho thấy dùng nước nóng chiết xuất
nấm sò (loài nấm sò Pleurotus ostreatus) có thể làm tiêu hoàn toàn khối u với tỷ lệ 50% chuột Nghiên cứu của S.C Tam (1986) cho thấy nấm sò phượng vĩ (P.sajor- caju) có tác dụng làm hạ huyết áp (trích từ “Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ khoáng DAP đến sinh trưởng của hai loài nấm bào ngư Pleurotus sajor-caju và Pleurotus egyngii” của Nguyễn Thị Thúy)
Theo nghiên cứu của nhà khoa học Trung Quốc – Phó Liên Giang (1985) thì nếu ăn nấm sò với lượng 2,5g/kg sau 40 ngày lượng cholesterol trong máu đã giảm từ 253,13mg xuống chỉ còn 193,12 mg Nếu ăn nấm sò với lượng cao hơn gấp đôi (5g/kg) thì sau 40 ngày lượng cholesterol trong máu giảm xuống chỉ còn 128,57mg
(trích từ “Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ khoáng DAP đến sinh trưởng của hai loài nấm bào ngư Pleurotus sajor-caju và Pleurotus egyngii” của Nguyễn Thị Thúy)
2.3 Một số nấm mốc và côn trùng gây hại trên nấm bào ngư và nấm linh chi
2.3.1 Nấm mốc (Lê Duy Thắng, 2008)
Trong quá trình nuôi trồng nấm thì các cơ chất ủ đống như rơm rạ, bông phế liệu, mùn cưa cao su…đều có rất nhiều loại nấm dại khác luôn xâm nhiễm vào môi trường trồng nấm Các loại nấm dại gồm cả vi nấm và nấm lớn luôn luôn có bào tử phát triển tự do trong không khí và sẵn sàng xâm nhập vào môi trường trồng nấm ăn
để phát triển, chúng thường cạnh tranh chất dinh dưỡng chèn ép sự mọc của sợi nấm
ăn, thậm chí còn tiêu diệt cả sợi nấm Điển hình trong nhiễm nấm mốc chúng ta thường thấy một số loại như:
Trang 25¾ Nấm mốc cam
Nấm mốc cam là loại nấm mốc hoại sinh, xuất hiện giai đoạn đầu sau cấy giống, chúng sinh trưởng ở nơi ẩm ướt, mọc và lan truyền rất nhanh, ở nhiệt độ 25oC chỉ hơn 20 giờ đã mọc đầy bề mặt môi trường và sinh ra nhiều bào tử màu hồng (ta thường gọi là mốc hoa cau) Loại mốc này thường thấy nhiều ở nút bông ướt, ở những túi bị vỡ hoặc rách túi nilon khi trồng nấm trên bịch mùn cưa
¾ Nấm mốc xanh (giống Trichoderma spp., giống Penicillium, Verticillium fungicola)
Nhóm mốc này thuộc nhóm mốc ký sinh, chúng tấn công trên bịch đã có
tơ ăn đầy, thậm chí trên cả tai nấm và khả năng gây hại rất lớn Nguyên nhân do quá trình di chuyển làm dập tơ nấm hoặc do khí hậu thời tiết không thuận lợi làm nấm yếu
dễ phát sinh bệnh
¾ Nấm nhầy (Lê Duy Thắng, 2008)
Nấm nhầy là sinh vật chưa phải là nấm và gồm hai giai đoạn:
- Giai đoạn động vật: Nấm có dạng amib, nhưng nhìn bằng mắt thường như một đám bọt và nhầy nhớt
- Giai đoạn thực vật: Nấm tạo dạng rễ tre và bắt đầu sinh ra cấu trúc đặc biệt là những cọng râu tua tủa màu nâu đen hoặc những bọc nhỏ, như quả cà tím, màu vàng đến cam
Nguyên nhân: Do vệ sinh kém, nơi trồng ẩm ướt, nhà trồng hoặc dàn kệ bằng
gỗ hay nguyên liệu xử lý không tốt Bệnh biểu hiện dạng bọt trắng hay đục sữa, nhưng phổ biến vẫn là những vết lan thành hình rễ cây màu trắng hoặc vàng Thể sinh sản gồm các túi mang bào tử Bệnh làm giảm chất lượng nấm và cạnh tranh một phần thức
ăn, nhưng nấm vẫn có thể tái tạo và phát triển bình thường
¾ Nấm dại (Lê Duy Thắng, 2008)
Nấm dại thực ra là một trong những loài nấm lớn Chúng có sẵn trong nguyên liệu, do không khử trùng hoặc khử trùng không kỹ, bào tử tồn tại và phát sinh trở lại trên cơ chất trồng nấm Bào tử nấm dại cũng có thể xâm nhập vào qui trình trồng nấm
ở một giai đoạn nào đó Chúng phát triển và cạnh tranh thức ăn với nấm trồng, kết quả
Trang 26làm sản lượng giảm và đôi khi cản trở sự phát sinh quả thể của nấm trồng Quả thể nấm tương tự nấm rơm, tai nấm lúc non dạng búp, trưởng thành có dạng dù, nhưng mau tàn, mũ nhanh chóng chảy rữa ra thành dịch nước đen, nên còn có tên gọi là nấm gió, nấm mực hoặc hắc thủ (đầu đen) Nấm phát triển tốt trên cơ chất có nhiều urê, pH thấp và độ ẩm cao, là một trong những đối tượng cạnh tranh với nấm rơm và một số loài nấm trồng khác
Tuy nhiên ở một số trường hợp ghi nhận được, thì nấm trồng có khả năng ức chế một phần mầm bệnh, thậm chí bao chụp lên vết bệnh và vẫn ra tai nấm bình thường, tất nhiên sản lượng nấm sẽ giảm sút so với không bệnh Nếu trường hợp nhiễm kèm theo ẩm độ nguyên liệu cao hoặc pH thấp có thể ức chế tơ nấm ăn lan và bệnh phát triển gây hư hỏng toàn bộ cơ chất Hoặc nhầy nhớt (nhiễm trùng) hoặc đổi màu từng vùng hay biến đổi đều khắp (nấm mốc), lúc này tơ nấm không mọc được và
dĩ nhiên cũng không tạo được quả thể
2.3.2 Côn trùng và nhện hai nấm trồng (Lê Duy Thắng, 2008)
Ngoài vấn đề nhiễm nấm mốc thì vấn đề căng thẳng hiện nay của những người trồng nấm là phòng ngừa côn trùng hại nấm Chúng không những cắn phá tai nấm, ăn
tơ nấm mà còn là tác nhân gián tiếp gây nhiễm trùng, nhiễm mốc trên giá thể trồng nấm Côn trùng ở đây bao gồm ruồi, bướm, bọ nhảy, kiến, cuốn chiếu, dế, gián, tuyến trùng ngoài ra, có thể kể cả nhện mạt Đặc điểm của côn trùng là sinh sản nhanh và
di chuyển rộng, nên rất khó phòng trừ
¾ Đối với bọ nhảy và ruồi
Đây là những đối tượng phá hoại mô nấm rất dữ, Chúng đục khoét mô, đục khoét chân, mũ nấm để đẻ trứng Đặc biệt ấu trùng của ruồi thường màu trắng, nhưng
cũng có loài màu vàng cam (như Mycophila sp.), chúng ăn tơ, làm rối loạn sinh trưởng
của nấm, gây chết hàng loạt nấm non
Hình 2.1 : ruồi (a) và ấu trùng ruồi (giòi - b) hại nấm
giòi
Trang 27Bảng 2.9 Những côn trùng và nhện hại nấm thường gặp trong nuôi trồng
(theo: Lê Duy Thắng, 2008)
¾ Đối với tuyến trùng
Mặc dù kích thước rất nhỏ (không quá 1 mm) nhưng thiệt hại do tuyến trùng gây ra không nhỏ Ngoài việc đục phá mô nấm, chúng còn ăn tơ, chui vào cuống làm
Trang 28hư hỏng tai nấm Tai nấm mèo dễ rụng, nấm rơm và các loài nấm khác thì bị nhũn từ trong cuống ra Cơ chất thường nhầy nhớt và chuyển sang màu vàng nâu
¾ Đối với nhện mạt
Đặc điểm của chúng là phá hoại trực tiếp tơ nấm, tơ mất từng lõm gây nhiễm trùng và nhiễm mốc, Tai nấm thường chết non Đặc biệt nhện mạt gây hại ở nấm mèo khi đẻ thường tạo thành những bọc trứng lớn, nên người dân quen gọi là bệnh trứng
Sinh vật này nguy hiểm vì chúng có khả năng sinh sản nhanh và vòng đời ngắn (17 – 24 ngày) Một con nhện mạt cái có thể sinh ra một bọc trứng chứa tới 400 con nhện con Trứng nở trong vòng ba ngày và nhện con chỉ cần 10 ngày là trưởng thành
và tiếp tục sinh sản Trung bình một cặp nhện mạt trong một tháng có thể tạo ra 16
triệu con (Lê Duy Thắng, 2008)
¾ Các loài côn trùng còn lại (kiến, dế, gián, bướm, cuốn chiếu )
Các loài này gây hại cho nấm hoặc ăn tơ hoặc cắn phá tai nấm, nhưng mức độ không đáng kể so với 3 nhóm trên Thiệt hại chính do chúng gây nên là việc lây truyền mầm nhiễm (nhiễm trùng hoặc mốc) Đối với những nấm hóa gỗ như nấm linh chi, quá trình hình thành tai nấm kéo dài hơn 60 ngày và nhất là lúc nấm phóng thích bào tử (khoảng 30 ngày kể từ ngày kết nụ) Tai nấm thường tỏa ra hương thơm và các giọt đường ở mặt dưới mũ nấm, nên thu hút rất nhiều côn trùng Chúng đến và mang bào tử đi gieo khắp nơi, nhưng tai hại là trứng của chúng gởi lại Trứng này nở thành sâu và chui vào tai nấm đục khoét, tạo hang lổ trong mũ nấm Cuối cùng chúng tạo kén
là những tua dạng chùm ở mặt dưới mũ nấm trước khi thành con trưởng thành bay đi
Côn trùng hại nấm linh chi phổ biến là bọ cánh cứng (Lê Duy Thắng, 2008)
2.4 Một số nghiên cứu nấm Linh Chi, nấm Bào Ngư trong nước và trên thế giới
2.4.1 Một số nghiên cứu trong ngước
Nguyễn Hoài Giang thuộc Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương “Nghiên cứu phân loại Ganoderma bằng mồi PCR đặc hiệu cho gen superoxide dismutase” đã khuyếch
đại được gen Mn SOD của Ganoderma australe và Ganoderma lucidum bằng các cặp
Trang 29mồi đặc hiệu và có thể là một chỉ thị phân tử có triển vọng để ứng dụng trong việc
phân loại và định nhóm Ganoderma ở Việt nam
Theo Lê Duy Thắng (2006), Đối với nguồn khoáng chủ yếu là vô cơ thì tác dụng lên sự tăng trưởng của nấm không nhiều, nhưng theo Kurtzman thì muối vô cơ làm cho nấm kết quả sớm hơn bình thường
Nếu thêm KCl vào giá thể trồng nấm thì sẽ làm cho nấm bào ngư kết quả sớm hơn 10 ngày
Nếu thêm vào cơ chất: NaCl, MgCl2, CaCl2 thì sẽ cho kết quả sớm hơn 5 ngày
đối với nấm bào ngư P.ostreatus
Photpho (P) có vai trò giúp cho các tế bào trong nấm nhân đôi nhanh hơn Nitơ (N) giúp cho nấm bào ngư giữ nước tốt hơn
2.4.2 Một số nghiên cứu nước ngoài
Theo Chi-Fung chan, Wing Keung Chan và Daniel Man-Yuen Sze thì β-glucan
có tác dụng rất tốt trong việc làm tăng hệ thống miễn dịch ở người và từ đó làm hạn chế các tế bào ung thư Chi-Fung chan cho rằng β-glucan có rất nhiều trong nấm linh
chi (Ganoderma lucidum) và β-glucan mà Chi-Fung chan sử dụng nghiên cứu chủ yếu được chiết xuất từ nấm linh chi (Ganoderma lucidum) (Chi-Fung chan, Wing Keung
Chan và Daniel Man-Yuen Sze, 2009)
Nghiên cứu của Daniel Sliva về sử dụng nấm Linh Chi trong điều trị bệnh ung thư kết luận rằng các protein đặc biệt trong nấm linh chi sẽ làm hạn chế sự phát triển
và di căn của các tế bào ung thư Tăng cường hệ miễn dịch và giảm khối u từ tế bào ung thư (Daniel Sliva, 2003)
Các nhà khoa học Slovak đã có công trình nghiên cứu về tác dụng của nấm bào ngư trên chuột được gây ung thư bằng chất dimethylhydralazine đã kết luận rằng nấm bào ngư làm giảm các ổ tăng sản dạng bạch huyết, giảm số lượng các khối ung thư và các ổ tiền ung thư
Một công trình nghiên cứu lâm sàng tại trường Đại học Dhaka (Bangladesh) trên 89 bệnh nhân bị tiểu đường Kết luận rằng nấm sò có tác dụng giảm glucose trong huyết tương, giảm cholesterol và triglyceride nhưng không thấy tác dụng phụ nào có hại lên gan và thận Cơ chế làm giảm cholesterol của nấm sò là do giảm sự hấp thu cholesterol và gia tăng sự thải trừ cholesterol ở huyết tương
Trang 30Nghiên cứu của nhà khoa học Trung Quốc-Phó Liên Giang (1985) thì nếu ăn nấm sò với lượng 2,5g/kg sau 40 ngày lượng cholesterol trong máu đã giảm từ 253,13mg xuống chỉ còn 193,12 mg Nếu ăn nấm sò với lượng cao hơn gấp đôi (5g/kg) thì sau 40 ngày lượng cholesterol trong máu giảm xuống chỉ còn 128,57mg
2.5 Giới thiệu sơ lược về cây mai dương làm giá thể
2.5.1 Giới thiệu chung về cây mai dương
Cây mai dương còn có tên gọi khác là cây ngưu ma vương, cây trinh nữ nhọn,
cây mắc cỡ… Có tên khoa học là Mimosa pigra L., thuộc họ Mimosaceae
Cây mai dương thuộc loại thân cây thân bụi, đa niên, có nhiều gai nhọn, thường mọc ở những nơi đất trống, đất ẩm ướt vùng nhiệt đới Chúng nẩy tược rất mạnh và có khả năng ra hoa kết trái quanh năm, tạo thành các thảm cây bụi cao làm cho các loài khác không phát triển được Hạt có lông có thể phát tán theo gió hay trôi theo dòng nước và có miên trạng mạnh, có thể giữ sức nẩy mầm đến 23 năm Vì vậy chúng dần dần chiếm các bãi cỏ và những vùng đất trống ẩm ướt rất nhanh và rất mạnh
2.5.2 Tình hình xâm thực của cây mai dương ở Việt Nam
Cây mai dương (Mimosa pigra L.) còn gọi là cây trinh nữ thân gỗ, trinh nữ
nhọn Ngừơi ta chưa biết rõ cây mai dương được du nhập vào Việt Nam từ khi nào nhưng trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam“ của Phạm Hoàng Hộ xuất bản năm 1960 đã có
tên cây trinh nữ nhọn với tên khoa học là Mimosa asperata Đến năm 1970, trong cuốn
“Cây cỏ miền Nam” của Phạm Hoàng Hộ xuất bản cũng có tên cây trinh nữ nhọn
nhưng với tên khoa học là Mimosa pigra L., nơi hiện diện là Sài Gòn, tên khoa học Mimosa asperata là tên cũ không còn dùng nữa Vậy cây mai dương đã có mặt ở Việt
Nam từ trước nhưng năm 1960
Ở nước ta, cây mai dương có mặt ở hầu hết các nơi từ miền núi đến đồng bằng
Ở miền Bắc mức độ phổ biến ít, phân tán ở các tỉnh Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Tây, Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Giang Ở Miền Trung cũng phân bố rãi rác, riêng tám tỉnh Nam Trung Bộ có khoảng 680 ha bị nhiễm cây mai dương Ở Miền Nam, diện tích nhiễm nặng tập trung ở các vùng hồ Trị
An (khoảng 700.000 ha), lưu vực sông La Ngà, những nơi đất trống thuộc vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) Hàng năm, mùa lũ
Trang 31hạt cây mai dương trôi từ Campuchia, Lào sang vùng đồng bằng sông Cửu Long, chúng mọc dày tạo thành những vành đai trinh nữ rộng lớn và tạo thành loài cỏ dại nguy hiểm khó phòng trừ, gây ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng tới cảnh quan và môi trường (Đỗ Thị Phượng Kiều, 2007)
2.5.3 Nghiên cứu về cây mai dương
Theo Miller và Lonsdale (1987), tại Australia, từthế kỷ XIX đã ghi nhận cây M pigra được trồng trong sưu tập ở vườn thực vật Darwin và từ đây đã phát tán xâm lấn
đến các nơi khác trong vùng Cây trinh nữ đầm lầy có khả năng phát tán theo dòng nước, bám vào da, lông của động vật, quần áo của người, theo các phương tiện giao thông, vận tải,… nên lan tràn xâm lấn rất nhanh Ở Oenpelli, năm 1984 có 200 ha bị nhiễm, sau 5 năm diện tích này đã tăng lên 5.500 ha Chỉ riêng vùng Bắc Australia có khoảng 80.000 ha thảm thực vật bản địa đã bị trinh nữ đầm lầy cạnh tranh xâm lấn Vùng đất ngập nước thường xuyên ở lưu vực sông Adelaide (Bắc Australia) vào năm
1990 bị cây trinh nữ đầm lầy phát tán xâm lấn trên diện tích hơn 450 km2 và đến năm
1995 tăng lên 700 km2 (Forno et al 1990; Chopping, 2004).(trích từ Đỗ Thị Phượng Kiều, 2007)
Tại Sri Lanka, cây trinh nữ đầm lầy phát tán xâm lấn được ghi nhận vào dầu năm
1996 trên các dải đất dọc hai bờ sông Mahaweli dài khoảng 1 km liên tục nơi nước ngập theo mùa Đến năm 2000, vùng đất bị cây Trinh nữ đầm lầy phát tán xâm lấn đã kéo dài tới 20 – 25 km dọc bờ sông Mahaweli tại 46 địa danh thuộc 3 tỉnh (Marambe
et al., 2004) (trích từ Đỗ Thị Phượng Kiều, 2007)
Năm 1947, Thái Lan nhập nội cây trinh nữ đầm lầy từ Indonesia để làm cây che phủ đất trống đồi trọc chống xói mòn đất tại vùng Bắc Thái Lan Từ 1982, cây này bắt đầu phát tán lây lan rộng và đến cuối thế kỷ XX có 23 trong số 74 tỉnh của Thái Lan bị cây trinh nữ đầm lầy xâm lấn gây hại và đặc biệt nghiêm trọng là ở Chiềng Mai, Pattaya, Hatyai (Napompeth, 1983) (trích từ Đỗ Thị Phượng Kiều, 2007)
Cây trinh nữ đầm lầy ở Malaysia, được ghi nhận lần đầu ở Kelantan vào năm
1980 Một năm sau cây này đã phát tán lan sang bang Penang, Johore, Selangor Đã có 360.000 ha đất lúa ở Perlis, Kedah bị cây Trinh nữ đầm lầy xâm lấn (Sivapragasam
et al,1995) (trích từ Đỗ Thị Phượng Kiều, 2007)
Trang 32Ở Indonesia có khoảng 3.000 ha đất trồng lúa ở Sumatra, Kalimantan bị cây trinh
nữ đầm lầy xâm lấn và còn là mối đe dọa cho vùng đất bờ phía Nam và phía Tây của
hồ Rawa Pening (Weedwatcher, 1988) (trích từ Đỗ Thị Phượng Kiều, 2007)
Ở Campuchia, cây Trinh nữ đầm lầy được phát hiện từ đầu thập niên 1990 Đến tháng 5 năm 1997, cây này đã lan tràn dọc lưu vực sông Tonle Sap và vùng phụ cận Kompong Chhan, phía Bắc Biển Hồ Cây trinh nữ đầm lầy đã trở thành mối đe dọa lớn đối với các hệ sinh thái thuộc vùng vùng Biển Hồ và lưu vực sông Mê
Kông (Samouth, 2004) (trích từ Đỗ Thị Phượng Kiều, 2007)
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Đúng, Trần Triết, Nguyễn Thị Lan Thi Vuờn quốc gia Tràm Chim tỉnh Đồng Tháp thì sự xâm nhiễm của cây mai dương ở vuờn quốc gia Tràm Chim đã chuyển sang giai đoạn vượt quá tầm kiểm soát Trong các phương pháp chặt, đốt, chặt kết hợp với đốt và chặt kết hợp với ngập lũ thì phương pháp chặt kết hợp với ngập lũ cho kết quả cao hơn
Viện Bảo vệ thực vật đã điều tra hiện trạng xâm lấn ở một số nơi và nghiên cứu biện pháp sinh học trừ cây trinh nữ đầm lầy trong các năm 1995-1997 (NguyễnVăn Cảm và nnk.,1996, 1999) Trước sự xâm lấn ngày càng gia tăng của cây trinh nữ đầm lầy trên nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam đã có một số nghiên cứu về cây trinh nữ đầm lầy được tiến hành (Phạm Văn Lầm và nnk., 2003; Nguyễn Hồng Sơn và nnk., 2007;
Nguyễn Thị Lan Thi và nnk., 2003; Trần Triết và nnk., 2003;…) (trích từ Đỗ Thị
Phượng Kiều, 2007)
Theo Nguyễn Thị Thu nghiên cứu về việc sử dụng cây mai dương trong khẩu phần của dê thịt kêt luận rằng cây mai dương là một thức liệu protein tốt cho dê tăng trưởng
Trang 33Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm
3.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết
Bảng 3.1: điều kiện khí hậu, thời tiết tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 343.4 Phương pháp thí nghiệm
Gồm 2 thí nghiệm:
Thí nghiệm 1: Được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố Trồng nấm linh
chi (Ganoderma lucidum) trên giá thể cây mai dương có bổ sung KCl (0‰, 2‰, 4‰)
Thí nghiệm 2: Được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố Trồng nấm bào
ngư (Pleurotus sp.) trên giá thể cây mai dương có bổ sung KCl (0‰, 2‰, 4‰)
Mỗ thí nghiệm thực hiện 3 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, mỗi ô gồm 7 bịch nấm
và chọn ngẫu nhiên 5 bịch nấm trong mỗi ô để theo dõi
Trang 353.6 Các chỉ tiêu theo dõi
3.6.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng
- Động thái tăng trưởng chiều dài sợi tơ (cm): Theo dõi chiều dài tơ nấm từ lúc bắt đầu cấy meo vào bịch phôi cho đến khi tơ nấm ăn trắng bịch phôi Đo từ cổ túi đến sợi tơ dài nhất Với nấm linh chi tiến hành đo 5 ngày 1 lần, nấm bào ngư thì 3 ngày đo
3.6.2 Chỉ tiêu năng suất
Năng suất trung bình của một bịch: chỉ tính năng suất của các bịch theo dõi Năng suất thực thu (kg) = (năng suất thu được của nghiệm thức/số bịch của nghiệm thức)*1000
Năng suất lý thuyết (kg/1000 bịch nấm) = (trọng lượng trung bình quả thể/bịch
* 1000)
Hiệu quả kinh tế = tổng thu – tổng chi (VND)
Trang 363.7 Quy trình thực hiện
Bảng 3.5 Quy trình thực hiện đề tài cuối khóa
Tháng 02/2011 – 03/2011 - Viết và chỉnh sửa hoàn
chỉnh đề cương Ngày 10 – 22/02/2011 - Tiến hành dựng hai nhà
trồng nấm
19 – 27/02/2011 - Chặt, cưa khúc, chẻ nhỏ
và phơi khô cây mai dương
- Cây mai dương sau khi được chặt tiến hành cưa thành từng khúc từ 10 – 12
cm
- Chẻ nhỏ với đường kính khoảng 0.5 – 1.5 cm
- Khi chẻ xong đem phơi khô
28/02 – 01/03/2011 - Ngâm khử trùng cây mai
dương
- Ngâm trong nước vôi 2%
và ngâm trong 2 ngày
- Mỗi ngày thay nước 1 lần
03 – 05/03/2011 - Vớt cây mai dương ra rửa
sạch
- Phối trộn nguyên liệu
- Vào bịch giá thể và tiến hành hấp khử trùng
- Phối trộn nguyên liệu với cám gạm, DAP và KCl
- Hấp khử trùng 2 lần Lần
1 hấp trong 6 giờ, để 24 giờ sau tiến hành hấp lần thứ 2 và hấp trong 6 giờ
- Hấp xong lấy ra để nguội 06/03/2011 - Chuyển các bịch giá thể
vào nhà trồng nấm, chuẩn
bị cấy nấm 07/03/2011 - Tiến hành cấy nấm bào
ngư
Trang 3708/03/2011 - Cấy nấm linh chi
08 - 25/03/2011 - Theo dõi, quan sát và ghi
nhận số liệu về sự sinh trưởng của tơ nấm bào ngư
và nấm linh chi 23/03/2011 - Treo bịch nấm bào ngư
và nấm linh chi
- Tiến hành rạch bịch nấm bào ngư
- Tiếp tục quan sát sự sinh trưởng của tơ nấm bào ngư
và nấm linh chi
- Nấm bào ngư được treo ngược xuống, nấm linh chi được treo ngang
- Rạch bịch nấm bào ngư, mỗi bịch rạch ở giữa bịch nấm 4 đường đối diện nhau, mỗi đường 2 – 3 cm 28/03/2011 - Nấm bào ngư bắt đầu cho
quả thể 28/03 – 15/05/2011 - Thu hoạch nấm bào ngư
- Quan sát quá trình ra quả thể và tiến hành lấy chỉ tiêu
về quả thể nấm bào ngư
- Nấm bào ngư thu hoạch lúc qủa thể nấm chuyển sang dạng lá lục bình và rìa quả thể nấm vừa uốn ngược lên
30/03/2011 - Nấm linh chi bắt đầu cho
quả thể 02/04 – 29/04/2011 - Theo dõi, quan sát và tiến
hành lấy số liệu về sự sinh trưởng và phát triển của quả thể nấm linh chi 04/05/2011 - Thu hoạch nấm linh chi
lấn thứ nhất
- Nấm linh chi thu hoạch khi vòng trắng mép ngoài của quả thể vừa hết
- Khi thu hoạch ta dùng dao cắt phần quả thể Sau
Trang 38đó, ta dùng vôi pha loãng ở 2% bôi lên vết cắt
05/05/2011 - Chăm sóc nấm linh chi để
thu quả thể lần 2
- Thường xuyên phun nước giữ ẩm và nhiệt độ cho phòng nấm
18/06/2011 - Thu hoạch nấm linh chi
lần 2
06 – 07/2011 - Tiến hành viết và chỉnh
sửa hoàn thành khóa luận
Trang 39Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả chỉ tiêu sinh trưởng
Trong quá trình thực hiện đề tài đã tiến hành thực hiện trồng, chăm sóc, theo
dõi và đo đạc các chỉ tiêu, đã thu được một số kết quả sau:
4.1.1 Tăng trưởng chiều dài tơ nấm
Sự tăng trưởng về chiều dài tơ là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh
giá sự sinh trưởng và mức độ thích nghi của chúng với giá thể Yếu tố này phụ thuộc
chủ yếu vào sự di truyền, tuy nhiên các điều kiện môi trường như giá thể, dinh dưỡng,
điều kiện khí hậu…cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của tơ nấm
Bảng 4.1 Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi ở các nghiệm thức (cm)
Ghi chú: Trong cùng một cột có các mẫu ký tự khác nhau thì có sự khác biệt về mặt thống kê
Kết quả bảng 4.1 cho thấy:
Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm linh chi ở nghiệm thức LC4 luôn cao
hơn 2 nghiệm thức còn lại và riêng ở giai đoạn 10 NSC khi phân tích trắc nghiệm phân
hạng LSD0,05 thì sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa các nghiệm thức
Trang 40Có 2 nhóm nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa
Nhóm a: Giữa hai nghiệm thức LC2 và LC4 không có sự khác biệt về thống kê
Nhóm b: Giữa nghiệm thức LC0 và LC2 không có sự khác biệt về thống
kê
Vậy nghiệm thức LC2 là nghiệm thức trung gian vì thuộc cả 2 nhóm ký tự a và
b
Nghiệm thức LC4 là nghiệm thức có động thái tăng tưởng nhanh nhất (6,67 cm
ở giai đoạn 10 NSC), nghiệm thức LC0 là nghiệm thức có động thái tăng trưởng thấp
nhất (4,53 cm ở giai đoạn 10 NSC) và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai
nghiệm thức LC4 và LC0
Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm bào ngư ở các nghiệm thức (cm)
BN0 1,02 2,61 b 6,32 b 11,78 b 14,85 b
Động thái tăng trưởng chiều dài tơ nấm bào ngư ở nghiệm thức BN4 luôn cao
hơn 2 nghiệm thức còn lại và từ 6 NSC đến 15 NSC thì giữa các nghiệm thức có sự
khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê
Có 2 nhóm nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa
Nhóm a: Nghiệm thức BN4 khác biệt không có ý nghĩa về thống kê so với
nghiệm thức BN2 và 2 nghiệm thức này lại khác biệt rất có ý nghĩa về thống kê so với
nghiệm thức BN0 Trong đó, nghiệm thức BN4 có chiều dài tơ nấm cao nhất (17,33
cm ở giai đoạn 15 NSC)