Đối với sự phát triển quả thể thì nghiệm thức NAA 0ppm và GA310 ppm kích thích sự tăng trưởng chiều rộng mũ nấm tốt nhất, nghiệm thức NAA 10ppm và GA3 0 ppm cho trọng lượng quả thể cao n
Trang 1KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NAA VÀ GA3
LÊN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA
NẤM LINH CHI (Ganoderma lucidum)
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn!
Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Ban chủ nhiệm Khoa Nông học, cùng tất cả quý Thầy Cô đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập cũng như tạo điều kiện tốt cho tôi thực hiện đề tài
Cô Phạm Thị Ngọc đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, Thầy Phan Thanh Kiếm đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này Xin chân thành cảm ơn chú Bảy và các anh chị ở Trại nấm Bảy Yết đã nhiệt tình giúp đỡ, chia sẻ trong thời gian thực tập
Xin cảm ơn tất cả các bạn sinh viên đã giúp đỡ, đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Và đặc biệt là con xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến ba mẹ, cùng những người thân trong gia đình đã nuôi dưỡng, tạo điều kiện và động viên
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Ngô Hồ Hoàng Hạc
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của NAA và GA3 lên khả năng sinh trưởng của nấm
linh chi (ganoderma lucidum)” được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2011 Thí
nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên hai yếu tố, gồm 16 nghiệm thức, 3 lần lặp lại Chất điều hòa sinh trưởng được sử dụng trong thí nghiệm là NAA và GA3 với các nồng độ tương ứng là 10 ppm, 20 ppm, 30 ppm
Sử dụng kết hợp NAA và GA3 cho kết quả tốt đối với sự tăng trưởng quả thể ở các nghiệm thức: NAA 20ppm và GA3 30 ppm, NAA 10 ppm và GA3 0ppm Trong đó
NT NAA 20ppm và GA3 30 ppm có thời gian tăng trưởng và ra quả thể sớm nhất Đối với sự phát triển quả thể thì nghiệm thức NAA 0ppm và GA310 ppm kích thích sự tăng trưởng chiều rộng mũ nấm tốt nhất, nghiệm thức NAA 10ppm và GA3 0 ppm cho trọng lượng quả thể cao nhất
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Giới hạn đề tài 3
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Nấm linh chi 4
2.1.1 Sơ lược về nấm linh chi 4
2.1.2 Vị trí phân loại 4
2.1.3 Nguồn gốc và sự phân bố. 5
2.1.4 Thành phần hóa học và đặc tính dược lý của linh chi (Ganoderma lucidum) 6
2.1.4.1 Ganoderma polysaccharide (GLPs) 8
2.1.4.2 Các 3‐terpen 8
2.1.4.3 Các alcaloid 8
2.1.4.4 Các acid amin 9
2.1.4.5 Các nguyên tố vi lượng 9
2.1.4.6 Các nhóm chất có hoạt tính sinh học cao 10
2.1.5 Giá trị sử dụng 10
2.1.6 Đặc điểm sinh học 12
2.1.6.1 Hình dạng, màu sắc 13
2.1.6.2 Nhiệt độ thích hợp 13
Trang 52.1.6.4 Độ thông thoáng 14
2.1.7Tình hình sản xuất nấm linh chi trên thế giới và ở Việt Nam 14
2.1.7.1 Tình hình sản xuất nấm linh chi trên thế giới 14
2.1.7.2 Tình hình sản xuất nấm linh chi ở Việt Nam 16
2.2 Chất điều hòa sinh trưởng. 18
2.2.1 Khái quát về chất điều hòa sinh trưởng 18
2.2.1.1 Khái niệm 18
2.3 Một số nghiên cứu ứng dụng của auxin và gibberellins. 22
2.3.1 Ứng dụng auxin 22
2.3.2 Ứng dụng gibberellins 23
4.1 Ảnh hưởng của NAA và GA3 lên sự tăng trưởng của tơ nấm 29
4.2 Ảnh hưởng của NAA và GA3 lên sự tăng trưởng của cuống nấm 38
4.3 Ảnh hưởng của NAA và GA3 lên sự tăng trưởng của mũ nấm 39
4.4 Ảnh hưởng của NAA và GA3 lên trọng lượng và năng suất nấm 41
4.5 Tỷ lệ bịch nấm nhiễm bệnh 44
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 47
PHỤ LỤC 52
Trang 6DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các hoạt chất sinh học và dẫn xuất trong nấm linh chi (Ganoderma lucidum)
7
Bảng 2.2: Lục bảo linh chi và tác dụng trị liệu 11
Bảng 2.3: Một số bài thuốc chữa bệnh của nấm linh chi 12
Bảng 4.1: Thời gian tăng trưởng tơ nấm 31
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng tơ nấm 34
Bảng 4.3: Động thái tăng trưởng tơ nấm 37
Bảng 4.4: Chiều dài và đường kính cuống nấm 39
Bảng 4.5: độ dày, chiều dài và chiều rộng mũ nấm 41
Bảng 4.6: Trọng lượng tươi và trọng lượng khô quả thể 43
Bảng 4.7 : Năng suất thực thu 44
Bảng 4.8: Các loại bệnh xuất hiện trên nấm linh chi nuôi trồng 45
Trang 7DANH SÁCH CÁC HÌNH – BIỂU ĐỒ
Hình 2.1: Chu trình phát triển của nấm linh chi 13Hình 2.2 Cấu tạo nấm linh chi 13Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ nhiễm bệnh trên nấm linh chi 46
Trang 8DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANOVA: Phân tích phương sai (Analysis of Variance)
CV: Hệ số biến thiên (Coefficient of Variation)
NSLT: Năng suất lý thuyết
NSTT: năng suất thực tế
NT: Nghiệm thức
P: Xác suất (Probability)
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 9Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Nấm ăn đã được phát hiện và trở thành nguồn thực phẩm trên thế giới từ hàng trăm năm nay Do đặc tính khác biệt với động vật và thực vật về khả năng quang hợp, dinh dưỡng và sinh sản, nấm được xếp thành một giới riêng Bên cạnh việc sản xuất nấm ăn, cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, người ta còn sản xuất nấm làm dược liệu Nhiều công trình nghiên cứu về y học xem nấm là một loại thuốc
có khả năng phòng chống bệnh ung thư, tăng miễn dịch cho cơ thể
Nấm ăn và nấm dược liệu đang có nhu cầu lớn trên thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu Nấm dược liệu bao gồm nhiều loại như nấm hương, nấm trân châu, nấm phục linh, nấm linh chi,… Hiện nay, sản xuất và chế biến nấm đã phát triển thành một nghề ở trình độ cao theo phương thức công nghệ hiện đại ở nhiều nước trên thế giới
Linh chi là loài nấm dùng làm thuốc, là biệt dược, dùng chữa nhiều thứ bệnh, do
đó nhiều nhà nấm học đã kỳ công nghiên cứu và người ta đã tìm được cách trồng chúng Ngày nay, nấm linh chi được trồng ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó nhiều nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, riêng ở Đoài Loan hàng năm doanh thu của các chế phẩm chống ung thư điều chế từ các loài nấm linh chi đạt trên 350 triệu USD (Nguyễn Hữu Đống, 2002)
Ở Việt Nam trong chục năm gần đây, nấm linh chi đã được một số viện, trung tâm nghiên cứu thử nghiệm cách trồng, nay đã đưa ra quy trình trồng linh chi rộng rãi
Trang 10trong cả nước, đem lại lợi nhuận khá lớn, tạo ra nghề trồng nấm dược liệu cho nông dân nhiều vùng, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nhiều nơi
Trong những nghiên cứu về nấm Linh chi, Cổ Đức Trọng và Phan Thị Nhiều đã phát hiện được trong hệ quả sợi và quả thể nấm linh chi các chất có hoạt tính giống các chất điều hòa sinh trưởng thực vật Sự hiện diện của các chất này đã giúp quá trình hình thành và tăng trưởng của sợi nấm, quả thể nấm, cũng như tính hướng quang của quả thể nấm Các chất tìm được bao gồm: auxin, gibberelline, acid abscisic, ethylene, sắc tố authocian… Phát hiện này đã giúp thuần hóa và trồng thành công nhiều chủng nấm linh chi chất lượng tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường dược khó tính như: Nhật Bản, Đài Loan…
Hiện nay do nhu cầu sử dung nấm linh chi ngày càng tăng, đồng thời đây cũng là nguồn đem lại lợi nhuận rất lớn, tạo ra nghề nuôi trồng nấm dược liệu cho nông dân nhiều vùng, vì thế cần có những nghiên cứu nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển nghề nuôi trồng nấm linh chi đạt kết quả cao cả về số lượng và chất lượng nấm
Sự hiểu biết về chất điều hòa sinh trưởng và ứng dụng đối với sự tăng trưởng của nấm linh chi sẽ góp phần vào việc quản lý các điều kiện sinh trưởng, phát triển trong sản xuất nấm linh chi ở nước ta
Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Nông học Trường Đại Học Nông Lâm
Tp Hồ Chí Minh, tôi tiến hành đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của NAA và GA3 lên khả
năng sinh trưởng của nấm linh chi Ganoderma lucidum”
Trang 111.4 Giới hạn đề tài
Do giới hạn về mặt thời gian và tính chất của đề tài nên thí nghiệm chỉ được thực hiện trên một giống linh chi phổ biến hiện nay ở nước ta và chỉ xử lý ở số lần nhất định
Trang 12Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nấm linh chi
2.1.1 Sơ lược về nấm linh chi
Theo Lý Thời Trân (1595), đã giới thiệu 6 loại linh chi có màu sắc khác nhau: thanh chi (linh chi xanh còn gọi là long chi), xích chi (linh chi đỏ còn gọi là hồng chi), hoàng chi (linh chi vàng còn gọi là kim chi), bạch chi (linh chi trắng còn gọi là ngọc chi), hắc chi (linh chi đen còn gọi là huyền chi) và tử chi (linh chi màu tím)
Ở các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đoài Loan…, việc nghiên cứu, phát triển và sử dụng linh chi đang được công nghiệp hóa với quy mô lớn về phân loại, nuôi trồng chủ động, chế biến và bào chế dược phẩm Đồng thời nghiên cứu hóa dược các hoạt chất có tác dụng dược lý và phương pháp điều trị lâm sàng
Trong số các loài linh chi tìm thấy cho đến nay thì xích chi (Ganoderma lucidum) được nghiên cứu y dược chi tiết nhất Loài chuẩn Ganoderma lucidum có thành phần
hoạt chất sinh học phong phú và hàm lượng nhiều nhất (Lê Xuân Thám, 2005)
Trang 13- Chi: Ganoderma
- Loài: Ganoderma lucidum
2.1.3 Nguồn gốc và sự phân bố
Theo Nguyễn Duy Chính (1998),
Linh chi viết theo kiểu phiên âm của Trung Hoa Lingchih hay Lingzhi, tiếng
Nhật là Reishi, tên khoa học là Ganoderma lucidum thường mọc trên những thân cây
mục Ngày xưa, người ta chỉ có thể tìm thấy nấm trong rừng hoặc trên những núi cao chứ không cách gì có thể gây giống được
Trong tự nhiên, linh chi chỉ mọc ở rừng rậm, ít ánh sáng và có độ ẩm Những
thân cây mục thường mọc nấm linh chi là cây mận, câu dẻ (pasania), và guercus serrata Tuy nhiên không phải thân cây nào cũng mọc được nấm linh chi, mà trong hàng vạn cây mới có được một vài cây có thể mọc Chính vì thế loại nấm này rất quý hiếm trong dạng thiên nhiên.Trong lịch sử đã có rất nhiều người tìm cách gây giống và trồng loại nấm này nhưng đều không được Mà mãi tới năm 1971, hai nhà bác học người Nhật tên là Zenzaburo Kasai và Yukio Naoi, giáo sư thuộc phân khoa nông nghiệp, của đại học Kyoto mới thành công trong việc gây giống nên người ta mới
trồng được loại nấm này một cách qui mô Từ đó, nấm linh chi được trồng và sử dụng
trong việc bào chế chứ không chỉ là huyền thoại
Ngày nay, trên thế giới hàng năm sản xuất được khoảng 4.300 tấn, riêng Trung Hoa trồng khoảng 3000 tấn còn lại là các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan, Hoa Kỳ, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Sri Lanka và Indonesia Nhật Bản tuy
đã tìm ra cách trồng nhưng chỉ sản xuất khoảng 500 tấn mỗi năm, đứng sau Trung Hoa Cách trồng nấm linh chi ngày càng phát triển, và tại nước ta, nhiều nhà nông nghiệp học cũng đã nghiên cứu và lập ra một số trại trồng và bào chế nấm linh chi ở Sài Gòn từ năm 1987 Hiện nay, đã có nhiều trang trại trồng nấm linh chi như huyện Long Thành, Long Khánh ở tỉnh Đồng Nai, quận 12, huyện Củ Chi, Hóc Môn ở thành phố Hồ Chí Minh…
Trang 142.1.4 Thành phần hóa học và đặc tính dược lý của linh chi (Ganoderma lucidum)
Thành phần hóa học của G.lucidum gồm các chất:
Trang 15Bảng 2.1: Các hoạt chất sinh học và dẫn xuất trong nấm linh chi (Ganoderma lucidum)
Thành phần hoạt
ARN Nucleic acid Kích thích hệ miễn dịch
Chống virus
Bào tử
Adenosine Nucleotide Tăng sự lưu thông máu
Thư giãn cơ, giảm đau Quả thể
Beta – D - glucans Polysaccharide
Chống khối u Kích thích hệ miễn dịch Giảm lượng đường huyết
Bổ tim
Quả thể
Ganoderic acids Triterpenoid
Chống dị ứng Bảo vệ gan
Ức chế tổng hợp cholesterol
Quả thể
Ganodermadiol Triterpenoid Giảm huyết áp
Adenosine Nucleotide Tăng sự lưu thông máu
Thư giãn cơ, giảm đau Hệ sợi nấm
Beta – D - glucans Polysaccharide
Chống khối u Kích thích hệ miễn dịch Tăng sản xuất kháng thể
Trang 162.1.4.1 Ganoderma polysaccharide (GLPs)
Phần lớn thực vật chứa polysaccharid, nhưng trong thời gian khá dài chưa được quan tâm, gần đây các nhà khoa học đã biết polysaccharid là nhóm chất có tác dụng đặc biệt, nhất là các polysaccharid chứa trong nấm Có trên 200 loại polysaccharide được ly trích và thu nhận từ nấm linh chi Ngoài polysaccharide thu được từ quả thể, polysaccharide cũng được thu nhận từ quá trình nuôi cấy trong môi trường dịch lỏng
và rắn, chúng vẫn có hoạt tính sinh học trong việc chữa trị (Yihuai Gao, 2001)
Đã chiết tách bằng nước nóng hồng chi thể quả và phân lập được 18 polysaccharid trong đó bao gồm 7 polysaccharid liên kết protein, 4-glucan còn lại là các polysaccharid khác (Nguyễn Thượng Dong, 2007)
Vai trò dược học của polysaccharide:
o Kích thích hệ miễn dịch cơ thể
o Gia tăng khả năng dung nạp oxygen
o Giảm gốc tự do hydroxyl
o Ức chế khối u phát triển
o Bảo vệ cơ thể chống lại tia bức xạ
o Tăng chức năng gan
o Duy trì khả năng tái sinh tủy và cơ một cách bình thường
o Tham gia tổng hợp ADN, ARN và protein
2.1.4.2 Các 3-terpen
Các chất thuộc nhóm 3-terpen được phát hiện từ năm 1982 từ hồng chi Cho đến nay được chia làm 3 loại: C30, C20 và C24 hoặc 5 loại theo công thức cấu tạo (Nguyễn Thượng Dong, 2007)
2.1.4.3 Các alcaloid
Theo Nguyễn Thượng Dong (2007), phần lớn dược thảo chứa alcaloid là nhóm chất có tác dụng sinh học Alcaloid linh chi cũng là nhóm chất có tác dụng điều trị Cho đến nay đã chiết xuất được hơn 6 alcaloid từ linh chi
Trang 17Trong quá trình tách chiết betain còn thu được một số chất khác cũng dạng tinh
thể là -butirobetain (CH3)3N+CH2CH2CH2COOHCl-.H2O và este của -butirobetain
Alcaloid trong tử chi và hồng chi chủ yếu là -butirobetain Hồng chi nuôi trồng
nhân tạo chứa một lượng rất nhỏ -butirobetain Bào tử của tử chi người ta còn tách
chiết được C9H15O2SH2O là một dạng muối có điểm chảy 262-2630C từ phần tan trong
Acid amin không những là thành phần cấu tạo nên các protid, không những có
tác dụng dinh dưỡng đối với người, mà còn có tác dụng chữa bệnh Trong linh chi thành phần các acid amin rất phong phú Hồng chi có 17 loại rất cần cho cơ thể người
Xích chi có hàm lượng acid amin rất cao (14,55 %) Thể sợi của linh chi cũng chứa 17
acid amin Các acid amin có tác dụng rất tốt đối với người bị xơ gan hoặc viêm gan
Lượng acid amin có trong thể sợi nấm linh chi là 1,88 %
Địa điểm, phương pháp nuôi trồng hoặc lên men khác nhau có ảnh hưởng lớn
đến chủng loại acid amin và số lượng của chúng Linh chi trồng nhân tạo chứa acid
amin cao hơn so với loại mọc hoang (Nguyễn Thượng Dong, 2007)
2.1.4.5 Các nguyên tố vi lượng
Gần đây đã phát hiện các nguyên tố vi lượng có quan hệ đến sự phát sinh và phát
triển của nhiều loại bệnh tật, có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển và sức khỏe
con người Đã phát hiện nhiều loại thảo dược có tác dụng bổ dưỡng chứa nhiều loại
nguyên tố vi lượng có tác dụng kéo dài tuổi thọ Tác dụng chữa bệnh bổ dưỡng của
linh chi rất có thể có sự góp phần của các nguyên tố vi lượng Tuy nhiên ở linh chi
mọc hoang hay nuôi trồng cũng đều chứa một nguyên tố vi lượng độc hại như Pb hoặc
Cd (Nguyễn Thượng Dong, 2007)
Trang 182.1.4.6 Các nhóm chất có hoạt tính sinh học cao
Các nhóm chất polysaccharid, 3-terpen và các alcaloid được xem là các nhóm chất có tác dụng Polysaccharid linh chi có tác dụng tăng cường miễn dịch, nâng cao khả năng đề kháng của cơ thể, đặc biệt đối với điều kiện, môi trường bên ngoài khắc nghiệt, tăng khả năng chịu đựng của cơ thể trong trường hợp thiếu dưỡng khí, có tác dụng điều tiết cơ năng của cơ quan trong cơ thể Nhóm này được chia làm 5 nhóm nhỏ, trong đó 3 nhóm đầu do độ lớn nhỏ của phân tử khác nhau như BN3B, BN3C và GLA là các polysaccharid peptid có phân tử lượng 1 - 2 vạn có tác dụng khá rộng Các polysaccharid BN3C và GLA có hoạt tính khá đặc biệt (Nguyễn Thượng Dong, 2007) Trong số 3-terpen của linh chi thì các acid ganoderic C và D có khả năng ức chế
sự giải phóng amin Trong các alcaloid linh chi thì -butirobetain có tác dụng tăng thời gian tuần hoàn và tăng lưu lượng máu ở tim
2.1.5 Giá trị sử dụng
Theo Lý Thời Trân (1595), linh chi tính bình, không độc, có tác dụng tăng trí nhớ, dưỡng tim, bổ gan khí, an thần, chữa tức ngực, ích phổi, thông mũi, chữa ho, v.v Ngoài ra, linh chi còn có thể chữa chứng bí tiểu tiện, bổ thận, đau nhức xương cốt, gân cốt Từ lâu linh chi vẫn được liệt vào thứ thuốc quý hiếm do khó tìm
Trang 19Bảng 2.2: Lục bảo linh chi và tác dụng trị liệu
Tên gọi Màu sắc Đặc tính dược lý
Thanh chi Xanh Vị chua, tính bình, không độc, chủ trị sáng mắt, bổ
gan khí, an thần, tăng trí nhớ
Hồng chi Đỏ Vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, dưỡng
tim, bổ trung, chữa trị tức ngực
Hoàng chi Vàng Vị ngọt, tính bình, không độc, an thần ích tì khí
Bạch chi Trắng Vị cay, tính bình, không độc, ích phổi, thông mũi an
thần, chữa ho nghịch
Hắc chi Đen Vị mặn, tính bình, không độc, trị chứng bí tiểu
(Nguồn Lý Thời Trân, 1595) Ngoài ra, linh chi còn được dùng để chữa bệnh mất ngủ, lở dạ dày, tê thấp, suyễn sưng cổ họng Người ta cũng không thấy phản ứng phụ hay tác dụng xấu nào khi dùng linh chi lâu Người Trung Quốc hiện nay còn dùng linh chi để cho da mặt mịn, có lẽ là
do các chất hormone trong loại nấm này Nhiều y gia Nhật Bản đã dùng loại nấm này trong các loại thuốc trị rụng tóc Vì tác dụng bổ khí và làm tăng hệ thống miễn dịch của
cơ thể, mà người ta đã dùng linh chi phụ với các loại thuốc trị ung thư Bác sĩ Fukumi Morishige, chuyên gia giải phẫu tim đang nghiên cứu công dụng của linh chi trong việc trị bệnh ung thư tại viện Linus Paulong Institate of Science & Medicine (Hoa Kỳ) cho biết dùng linh chi chung với vitamin C liều lượng lớn có tác dụng mạnh hơn vì vitamin
C giúp cho việc hấp thụ dược tính của linh chi (Nguyễn Thị Hương, 2008)
Trong vài chục năm gần đây, với sự tiến bộ của y học hiện đại, kết hợp với y học
cổ truyền cộng với giá trị dược liệu của nó mà nấm Linh chi đã được nghiên cứu kỹ, nhiều đặc điểm quý giá của Linh chi được khám phá Từ 1960, linh chi đã được sử dụng chữa bệnh rộng rãi ở Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước khác Ở Việt Nam,
từ thế kỷ XVIII Hải Thượng Lãn Ông cũng đã nói về việc lên núi hái linh chi
Trang 20Theo các kết quả nghiên cứu dược lý trên lâm sàng đã chứng minh tác dụng chữa
bệnh của linh chi Polysaccharid trong linh chi có tác dụng ức chế tế bào ung thư, tăng
miễn dịch cho cơ thể Chất gecmani của linh chi giúp khí huyết lưu thông, axit
ganoderic trong linh chi chữa chứng giảm bạch cầu
Từ những tính năng tác dụng của linh chi mà người ta liệt nó vào loại dược liệu
đặc biệt mà các cây, con khác không thể có được (Nguyễn Hữu Đống, 2003)
Bảng 2.3: Một số bài thuốc chữa bệnh của nấm linh chi
Suy nhược thần kinh, nhức
đầu, chóng mặt, ngứa ban
đêm
Linh chi 1 – 3 gam Sắc uống mỗi ngày 3 lần
Viêm gan mãn tính, suyễn
phế quản, viêm thận Linh chi 50 gam
Nghiền bột uống mỗi lần 1 – 1,5 gam, ngày uống 3 lần
Bệnh tim dài Bột linh chi 30 gam,
bột đậu 90 gam
Nghiền bột 9 – 15 gam uống với nước sôi, ngày uống 3 lần Cao huyết áp, viêm gan
mãn tính Linh chi 10 gam Sắc uống mỗi ngày 3 lần
Đau dạ dày Linh chi 30 gam,
rượu vang 250 gam
Ngâm rượu 14 ngày, ngày uống
2 lần, mỗi lần 15 ml ( Nguồn Nguyễn Hữu Đống, 2000)
2.1.6 Đặc điểm sinh học
Linh chi là một loài nấm gỗ, mọc ở rừng cây lá rậm, trên gốc và rễ các cây trên
mặt đất – có thể mọc cả trên cây sống lẫn cây chết
Ganoderma lucidum gặp nhiều ở vùng lạnh Tứ Xuyên, Quảng Đông, Trung Quốc
Ở Việt Nam đã biết 15 loài linh chi, mọc hoang ở rừng Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lào Cai,
Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Gia Lai, Đắc Lắc
Trang 212.1.6.1 Hình dạng, màu sắc
Nấm linh chi (quả thể) gồm 2 phần: cuống nấm và mũ nấm
Cuống nấm dài hoặc ngắn, đính bên, có hình trụ, đường kính 0,5-3cm Cuống nấm ít phân nhánh, đôi khi uốn khúc Lớp vỏ cuống màu nâu, nâu đỏ, nâu đen, không
có lông, bóng
Mũ nấm khi non có hình trứng, lớn dần thành hình rẻ quạt, hay hình bán nguyệt, hình thận, kích thước thay đổi: rộng 2-25cm, dài 3-30cm, dày 0,5-2cm mặt trên bóng như đánh vecni, màu từ vàng chanh, vàng nghệ đến vàng nâu, vàng cam, đỏ nâu, nâu tím, có đường vân đồng tâm, lượn sóng và vân tán xạ Phần có cuống đính hơi gồ lên hoặc lõm xuống Mặt dưới màu nâu nhạt, mang các ống rất nhỏ chứa bào tử Bào tử khi chín màu nâu Khi nấm trưởng thành thì phát tán bào tử
Hình 2.1: Chu trình phát triển của nấm linh chi
Hình 2.2 Cấu tạo nấm linh chi 2.1.6.2 Nhiệt độ thích hợp
Giai đoạn nuôi sợi: 20oC - 30oC
Trang 22Giai đoạn quả thể: 22oC - 28oC
Giai đoạn nuôi sợi: không cần ánh sáng
Giai đoạn phát triển quả thể: cần ánh sáng tán xạ, cường độ ánh sáng cân đối từ mọi phía
2.1.6.6 Độ pH
Linh chi thích nghi trong môi trường trung tính đến acid yếu (pH 5,5 - 7)
2.1.6.7 Dinh dưỡng
Linh chi sử dụng trực tiếp nguồn cellulose
2.1.7Tình hình sản xuất nấm linh chi trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.7.1 Tình hình sản xuất nấm linh chi trên thế giới
Hiện nay, nghề trồng nấm đã phát triển trở thành một ngành công nghiệp ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt phải kể đến là Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ,
Ở châu Âu và Bắc Mỹ, công nghiệp nấm đa được cơ giới hóa toàn bộ nên năng suất và sản lượng rất cao
Ở nhiều nước châu Á, trồng nấm còn mang tính chất thủ công, chủ yếu là trên quy
mô gia đình và trang trại, sản lượng chiếm 70% tổng sản lượng nấm ăn toàn thế giới
Ở Nhật Bản, nghề trồng nấm truyền thống là nấm hương – Donko (Lentinula edodes), mỗi năm đạt 1 triệu tấn
Trang 23Hàn Quốc nổi tiếng với nấm Linh chi (Ganoderma), mỗi năm xuất khẩu thu về hàng trăm triệu USD
Năm 1960, Trung Quốc đa bắt đầu trồng nấm, áp dụng các biện pháp cải tiến kĩ thuật, năng suất tăng 4-5 lần, sản lượng tăng vài chục lần Tổng sản lượng nấm ăn của Trung Quốc chiếm 60 % sản lượng nấm ăn của thế giới gồm nhiều loại nấm như: nấm
mỡ, nấm hương, mộc nhĩ, nấm sò, nấm kim châm,… Và một số loại nấm khác chỉ có ở Trung Quốc như Đông trùng hạ thảo, tuyết nhĩ Hàng năm Trung Quốc xuất khẩu hàng triệu tấn nấm sang các nước phát triển, thu về nguồn ngoại tệ hàng tỷ đô la Hiện nay ở
Trung Quốc đa dùng kỹ thuật “Khuẩn thảo học” để trồng nấm nghĩa là dùng các loại
cỏ, cây thân thảo để trồng nấm thay cho gỗ rừng và nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt
Việc nuôi trồng nấm linh chi được ghi nhận từ năm 1621, nhưng đến 300 năm sau (1936), với thành công của GS Dật Kiến Vũ Hưng (Nhật) thì ngành nuôi trồng nấm mới được phổ biến Nếu tính từ 1979 sản lượng nấm linh chi khô ở Nhật đạt 5 tấn/năm thì đến năm 1995, sản lượng lên đến gần 200 tấn/năm Như vậy là 16 năm, sản lượng nấm linh chi của Nhật đã tăng gấp 40 lần (Lê Xuân Thám, 1998)
Trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan thì từ lâu nấm linh chi đã được nghiên cứu và sử dụng vào việc phòng và điều trị bệnh Đến nay công nghệ nuôi trồng nấm ở các quốc gia này đã phát triển ở quy mô công nghiệp hiện đại và đem lại nguồn thu khá lớn trong kim ngạch xuất khẩu Sản xuất nấm phát triển
đã tận dụng nguyên liệu thừa trong các ngành công nghiệp, nông lâm nghiệp, cùng một lúc đem lại sản phẩm có giá trị, hiệu quả kinh tế cao, đồng thời góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ môi trường
Đến nay việc nghiên cứu về nấm linh chi không còn giới hạn trong phạm vi đất nước Trung Quốc, mà đã mang tính toàn cầu Hiện nay có khoảng 250 bài báo của các nhà khoa học trên thế giới đã được công bố liên quan tới dược tính và lâm sàng của linh chi Tháng 7/1994, Hội nghị Nấm học thế giới tại Vancouver, Canada đã nhất trí thành lập viện nghiên cứu linh chi Quốc Tế, đặt trụ sở tại NewYork (Hoa Kỳ) (Lê Duy Thắng, 2007)
Trang 24Nhiều công trình nghiên cứu về linh chi đã chứng minh trong linh chi chứa nhiều hợp chất germanium và polysaccharid có tác dụng thúc đẩy quá trình trao đổi chất, làm chậm quá trình lão hóa, tăng cường miễn dịch cho cơ thể, nâng cao khả năng
đề kháng bệnh, điều tiết hệ thần kinh trung ương, giúp thăng bằng cơ năng; ổn định huyết áp, bảo vệ gan, bổ não, tăng trí thông minh, tăng trí nhớ, giảm nhẹ các tác dụng phụ ở bệnh nhân ung thư khi điều trị bằng hóa dược liệu, Chính vì thế mà ở châu Á việc sử dụng linh chi làm thuốc, thực phẩm chức năng, trà thuốc trở nên rất phổ biến
và số người sử dụng linh chi ngày càng một tăng trong những năm gần đây (Nguyễn Thượng Dong, 2007)
2.1.7.2 Tình hình sản xuất nấm linh chi ở Việt Nam
Từ những năm 70, đặc biệt trong các năm 80 và 90 của thế kỷ XX ở Việt Nam nấm linh chi đã được quan tâm và nghiên cứu nhiều về thành phần hóa học cũng như tác dụng dược lý và quy trình sản xuất ra các chế phẩm Hiện nay, các chế phẩm từ linh chi đã được con người ưa chuộng và sử dụng ngày càng rộng rãi với nhiều hình thức đa dạng về chủng loại như: thuốc tiêm, cồn thuốc, cao dán, thuốc xông và cao thuốc dùng ngoài Việc nghiên cứu phân lập nhóm hoạt chất làm thuốc còn rất hạn chế, cần được quan tâm nhiều hơn Trong công nghiệp điều chế, nhóm polysaccharid rất được chú ý Ngoài ra các acid amin và các nguyên tố vi lượng cũng được quan tâm (Nguyễn Thượng Dong, 2007)
Ngành nuôi trồng nấm dược liệu trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, tổng sản lượng ước tính đạt khoảng 100.000 tấn/năm Với công nghệ ngày càng hiện đại, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu thành công các nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm linh chi thay cho mùn cưa cao su trước đây Kết quả này đã góp phần tránh lãng phí
và hạn chế sự ô nhiễm môi trường bởi nguyên liệu được sử dụng là phế thải của các nhà máy đường, công nghiệp dệt như: bã mía, bông thải,…(Nguyễn Hữu Đống, 2002) Đặc biệt trong một vài năm gần đây con người đã tìm kiếm và phát hiện một lượng khá lớn nấm cổ linh chi tại một số vùng núi cao ở nước ta Đây là một kho tàng sản phẩm quý của y dược Việt Nam, cần được nghiên cứu sâu để ứng dụng đưa vào sản xuất, khai thác và phát triển nấm linh chi ở nước ta (Nguyễn Thượng Dong, 2007)
Trang 25Ngành nuôi trồng nấm hiện nay rất dễ phát triển vì các lý do sau:
- Điều kiện thiên nhiên ưu đai, nhất là các tỉnh phía Nam Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng lạnh và tháng nóng không nhiều lắm, nên có thể trồng nấm quanh năm Điều kiện độ ẩm cao thuận lợi cho nấm phát triển Độ ẩm thấp nhất trung bình ở thành phố
Hồ Chí Minh cũng không nhỏ hơn 80 %
- Nguồn nguyên liệu dồi dào, mỗi năm khai thác khoảng 3,5 triệu m3, nếu chế biến sản phẩm sẽ cung cấp lượng mạt cưa khổng lồ cho ngành trồng nấm, chưa kể các phế liệu thải…
- Lực lượng lao động nhàn rỗi khá đông, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp (chiếm 80
% dân số cả nước), nếu tham gia trồng nấm thì sản lượng sẽ rất lớn
- Nhiều nơi có truyền thống trồng nấm lâu đời như Bình Chánh (Tp HCM), Long An… hoặc đang phát triển nghề nấm như Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Khánh, Hóc Môn (Tp HCM)…bên cạnh một đội ngũ kỹ thuật được rèn luyện trong thực tế ngày càng nhiều, sẽ là hạt nhân thúc đẩy phong trào trồng nấm lan rộng
- Ngành chế biến và xuất khẩu nấm đang ở bước đầu với lợi nhuận tương đối, khả dĩ khuyến khích được người trồng nấm
Tóm lại, phát triển ngành trồng nấm ở nước ta hiện nay là điều tất yếu Nó không chỉ giải quyết vấn đề về lao động mà còn đem lại của cải cho xã hội Tuy nhiên để nghề trồng nấm nhanh chóng phát triển ở nước ta, bên cạnh sự vận động theo nhu cầu
xã hội, cần có nhiều đầu tư về mặt khoa học như giống nấm, kỹ thuật nuôi trồng, vấn
đề phòng bệnh, chế biến sản phẩm, cung cấp thông tin cũng như huấn luyện kỹ thuật trồng nấm và nhất là có chính sách ưu đai cho người trồng nấm như cho vay vốn ưu đãi, miễn giảm thuế… (Nguyễn Phương Hà, 2009)
Trang 262.2 Chất điều hòa sinh trưởng
2.2.1 Khái quát về chất điều hòa sinh trưởng
2.2.1.1 Khái niệm
Chất điều hoà sinh trưởng nội bào thực vật gọi là phytohormon Đây là những sản phẩm bình thường của quá trình sống ở thực vật, điều hòa hoạt động liên quan đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây và đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa các cơ quan của toàn cây Các phytohormon được biết nhiều nhất là auxin, gibberellin, axit abscissic, cytokinin, ethylen (Bùi Trang Việt, 2000)
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây có mặt cùng lúc nhiều phytohormon, tỉ lệ và hàm lượng rất khác nhau
Đặc điểm tác động của chất điều hoà sinh trưởng thực vật là với hàm lượng rất ít
đã có khả năng gây nên tác động làm thay đổi những đặc trưng về hình thái sinh lý của thực vật và chúng có thể di chuyển được Ngày nay, bằng con đường hóa học con người đã tạo ra nhiều hợp chất khác nhau có hoạt tính tương tự các phytohormon để điều khiển quá trình sinh trưởng phát triển cây trồng làm tăng năng suất và phẩm chất nông sản Các chất tổng hợp nhân tạo ngày càng phong phú và ứng dụng rộng rãi (Vũ Quang Sáng, 2003)
2.2.1.2 Nguyên tắc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
Theo Nguyễn Ngọc Trì (2007), các chất có hoạt tính sinh học tác động đến sinh trưởng của cây tùy theo nồng độ Ở các nồng độ khác nhau thì tác dụng của chúng
khác nhau và có thể trái ngược nhau
Phối hợp việc sử dụng các chất có hoạt tính sinh học với việc thỏa mãn những điều kiện xúc tiến các quá trình kích thích mà thực vật cần đến như khí hậu, thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm, và nhu cầu về dinh dưỡng
Dựa vào tính đối kháng sinh lý giữa chất kích thích đưa từ ngoài vào và các chất bên trong cơ thể
Trang 272.2.2 Các nhóm chất điều hòa sinh trưởng
Theo Vũ Quang Sáng (2003), dựa vào hoạt tính sinh lý, người ta chia các chất điều hòa sinh trưởng thành hai nhóm có tác dụng đối kháng về hiệu quả sinh lý Đó là các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng
• Các chất kích thích sinh trưởng luôn gây hiệu quả kích thích lên quá trình sinh trưởng của cây khi có nồng độ tác động sinh lý Các chất kích thích sinh trưởng bao gồm ba nhóm là auxin, gibberellin và cytokinin
• Các chất ức chế sinh trưởng luôn gây ức chế lên quá trìnhsinh trưởng của cây Chúng bao gồm axit abscissic, ethylen và các phenol
2.2.2.1 Auxin
Theo Lê Thị Mai (2009),
Auxin được tổng hợp trong ngọn thân, trong mô phân sinh (ngọn và lóng), lá non
từ tryptophan được tổng hợp từ các lá trưởng thành dưới ánh sáng Phần lớn auxin tồn tại trong cây ở dạng liên kết, di chuyển hướng gốc và có ưu tiên vận chuyển đến những nơi sinh trưởng tích cực như đỉnh rễ
• Cấu trúc
Vai trò sinh lí của Auxin
- Ức chế sinh trưởng chồi bên, kích thích ưu thế đỉnh
- Kích thích sự ra hoa, hình thành quả
Trang 28- Kích thích sự giãn tế bào, theo chiều ngang hơn chiều dọc
- Gây quả đơn tính, ngăn ngừa hiện tượng rụng đài, rụng hoa, quả, lá
Các chất Auxin tổng hợp
Auxin tổng hợp được sử dụng rộng rãi nhất là indole-3-butyric acid (IBA), Alphanapthaleneacetic acid (NAA) và 2,4-dichlorophenoxyacetic acid (2,4-D)
2.2.2.2 Gibberelin
Theo Lê Thị Mai (2009),
Gibberellin được xác định với hơn 100 loại khác nhau được ký hiệu là GA1,
GA2 nhưng hoạt tính của GA3 mạnh nhất
Gibberellin được tổng hợp trong phôi đang sinh trưởng, trong các cơ quan đang sinh trưởng như chồi non, hạt non, lá non, rễ non và trong tế bào thì được tổng hợp mạnh ở trong lục lạp Gibberellin vận chuyển không phân cực, có thể hướng ngọn và hướng gốc tùy nơi sử dụng
• Cấu trúc
GA3
Trang 29Vai trò sinh lý của gibberellin
- Sự kéo dài tế bào
Gibberellin cản hoạt động của các peroxidase vách tế bào, do đó làm chậm sự hoá cứng của vách, hiện tượng do sự tạo lignin dưới tác dụng của peroxidase
- Sự kéo dài lóng và tăng trưởng lá
Đóng vai trò chủ đạo trong điều tiết thân kéo dài ở cây gỗ và cây bụi trưởng thành
Kích thích kéo dài lóng, vừa do kéo dài vừa do sự phân chia tế bào thân là đặc tính nổi bật của gibberellin Gibberellin kích thích mạnh sự phân chia tế bào nhu mô
vỏ và biểu bì Xử lý gibberellin làm tăng năng suất mía cây và đường do sự kích thích kéo dài lóng
Gibberellin liều cao (hay phối hợp cytokinin) kích thích mạnh sự tăng trưởng lá (diện tích có thể gấp đôi bình thường như cải củ)
- Với sự nảy mầm của hạt
Gibberellin kích thích tổng hợp amilase và các enzyme thủy phân như protease, photphatase và làm tăng hoạt tính của chúng, xúc tiến phân hủy tinh bột thành đường cũng như polime thành monome Tạo nguyên liệu cho quá trình nảy mầm
- Gibberellin với sự ra hoa và phân hóa giới tính
Dùng gibberellin cho cây thường có thể làm cho nó mọc nhanh và ra hoa (giai đoạn thể hoa thị đối với cây hai năm) ngay trong năm đầu của quá trình sinh trưởng, ra hoa đồng loạt, kích thích cây ngày dài ra hoa trong điều kiện ngày ngắn
Gibberellin kích thích hoa đực, ức chế hoa cái ví dụ ở họ bầu bí
- Gibberellin với sự sinh trưởng quả và tạo quả không hạt
Vai trò gần như auxin làm phát triển bầu noãn, tạo quả trinh sản, tăng kích thước quả và tạo quả không hạt
Trang 30Độc tính của GA 3
Theo Cục bảo vệ thực vật (2010),
GA3 là hoạt chất BVTV sinh học thuốc nhóm độc U (ít độc) theo phân loại của WHO có độc cấp tính (LD50 ) đường miệng > 10.000 mg/kg (chuột), đường da >2000 mg/kg (chuột), đường hô hấp > 0.502 mg/L (chuột trong 4 giờ)
GA3 gây kích thích mắt nhẹ, không có khả năng gây kích thích da, không gây dị ứng, ung thư, quái thai, gây đột biến gen, không gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản GA3 không độc với cá, động vật thủy sinh, ong, chim và động vật hoang dã Không tích lũy trong mô, trong quá trình chuyển hóa trong cây, trong đất và trong điều kiện tự nhiên
2.3 Một số nghiên cứu ứng dụng của auxin và gibberellins
2.3.1 Ứng dụng auxin
Phun α-NAA nồng độ 10 - 20 ppm cho cà chua làm tăng kích thước và trọng lượng quả Ðối với lê phun α-NAA với nồng độ 10 ppm có hiệu quả tốt trong việc ngăn chặn sự rụng của quả trước và lúc thu hoạch Ðối với táo xử lý α-NAA nồng độ
20 ppm vào lúc quả có biểu hiện bắt đầu rụng thì kéo dài thời gian tồn tại của quả trên cây thêm một số ngày nữa
Ðể cho dứa ra hoa trái vụ làm tăng thêm một vụ thu hoạch, người ta phun α-NAA với nồng độ 25 ppm hoặc bỏ 1g đất đèn (CaC2) lên nõn dứa, khi gặp mưa hoặc tưới nước đất đèn sẽ tác dụng với nước giải phóng axetylen kích thích dứa ra hoa
Trong kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thì việc ứng dụng các chất điều hòa sinh trưởng là hết sức quan trọng Ðể tạo cây hoàn chỉnh người ta tách chồi vào cấy trong môi trường có hàm lượng auxin cao để kích thích ra rễ nhanh
Nồng độ và tỷ lệ của các chất kích thích phụ thuộc vào các loài khác nhau, các giai đoạn nuôi cấy khác nhau Tỷ lệ auxin/xytokinin cao thì kích thích sự ra rễ, thấp thì kích thích sự ra chồi và trung bình thì hình thành mô sẹo (callus)
Trang 312.3.2 Ứng dụng gibberellins
Theo Nguyễn Xuân Hạnh (2009),
Gibberellins kích thích nhanh sự sinh trưởng của cây, tăng chiều cao, tăng sinh khối, tăng thu hoạch Phun dung dịch gibberellins nồng độ 20 – 50 ppm cho cây đay
có thể làm tăng chiều cao gấp đôi, phun cho mía có thể làm tăng chiều dài long lên nhiều lần Sử lý nho với GA3 (5 – 40 ppm tùy theo giống) là biện pháp phổ biến và quan trọng làm tăng năng suất nho lên gấp bội và cải thiện được phẩm chất
Việc sử dụng chất tiết sinh trưởng để kích thích sự ra hoa sớm cũng có hiệu quả trong trồng trọt Sử dụng gibberellin kích thích sự ra hoa của cây xà lách để lấy hạt
Xử lý gibberellins phối hợp với nhiệt độ thấp làm cho hoa loa kèn ra hoa sớm 1 – 2 tháng, tăng số lượng hoa làm tăng hiệu quả kinh tế lên rất nhiều
Xử lý gibberellin cho cây chè có tác dụng có tác dụng làm tăng số lượng búp và
số lá của chè, khi phun với nồng độ 0,01 % có thể làm tăng năng suất chè lên 2 lần, trong một số trường hợp có thể tăng năng suất lên 5 lần
Phun gibberellin cho cây trồng thuộc họ cam, chanh trong giai đoạn nở hoa với nồng độ dung dịch 0,025 - 0,1 % làm tăng năng suất và phẩm chất quả (vỏ mỏng, màu đẹp, hàm lượng vitamin C tăng) Với táo có thể dùng gibberellin nồng độ 400 ppm hoặc phối hợp giữa gibberellin (250 ppm), với auxin (10 ppm)
Ðể phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ cho khoai tây thu hoạch vụ đông để trồng
vụ xuân bằng cách xử lý GA3 nồng độ 2 ppm cho khoai tây mới thu hoạch kết hợp với xông hơi hỗn hợp rindit hoặc CS2 trong hầm đất kín sẽ kích thích nảy mầm trong thời gian từ 5 - 7 ngày Ngoài ra nếu kết hợp xử lý GA3 với xử lý nhiệt độ thấp (4 - 10OC) thì có khả năng phá bỏ sự ngủ nghỉ của nhiều đối tượng khác nhau
Sử dụng Gibberellin vào thời điểm và liều lượng thích hợp sẽ góp phần làm tăng
số lượng nón cái và nón đực của vườn giống Thông nhựa Nếu bơm chất kích thích gibberellins vào thời gian cây mẹ đang phát triển cành ngọn non thì sẽ làm cho nón đực tăng, nếu bơm vào thời gian muộn hơn lại làm tăng số lượng của nón cái (Chalupka, 1984)
Trang 32Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại trại thực nghiệm khoa Nông học, trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, khu phố 6, phường Linh Trung, quận Thủ Đức
Thời gian thí nghiệm từ 1/3 đến 30/6 năm 2011
Điều kiện thí nghiệm
Nhà trồng đảm bảo sạch sẽ, thông thoáng, có mái chống mưa dột và chủ động được các điều kiện sinh thái
Diện tích bố trí thí nghiệm dự kiến là 18m2 Có hệ thống giàn giá để tăng diện tích sử dụng
Nguyên liệu trồng nấm
Mùn cưa cao su: độ ẩm 62 – 65%
Túi nilông chịu nhiệt
Trang 33Nguyên liệu sau khi xử lý, đóng bịch được đem hấp cách thủy 10 – 12 giờ ở
100oC
Meo giống: nấm linh chi đỏ Việt Nam Cấy 10 – 15g/bịch
Hóa chất được sử dụng trong thí nghiệm
Chất kích thích sinh trưởng NAA và GA3
Các dụng cụ dùng trong thí nghiệm: thước đo, cân, bình phun, ống đong, nhiệt kế
3.2 Phương pháp
3.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên hai yếu tố với 4 mức nồng độ GA3 ( ký hiệu A) và 4 mức nồng độ NAA( ký hiệu B), tiến hành 3 lần lặp lại Tổng số túi nấm thí nghiệm là 288 bịch, 6 túi nấm mỗi ô nghiệm thức, khoảng cách đặt túi nấm 2-3cm
Cách thành lập số nghiệm thức của thí nghiệm như sau:
A1B3 (NT3)
A1B4 (NT4)
(NT5)
A2B2 (NT6)
A2B3 (NT7)
A2B4 (NT8)
(NT9)
A3B2 (NT10)
A3B3 (NT11)
A3B4 (NT12)
(NT13)
A4B2 (NT14)
A4B3 (NT15)
A4B4
(NT16)
Trang 34Sơ đồ bố trí thí nghiệm
NT1 NT7 NT12 NT13 NT9 NT2 NT6 NT2 NT15
NT2 NT1 NT4 NT13 NT8 NT14 NT14 NT11 NT7 NT3 NT4 NT6 NT16 NT5 NT10 NT9 NT7 NT1 NT4 NT10 NT9 NT15 NT3 NT8 NT10 NT12 NT6
NT8 NT14 NT11 NT11 NT5 NT3 NT5 NT15 NT13 NT12 NT16 NT16
Trang 353.2.2 Tiến hành thí nghiệm.
- Nồng độ các chất NAA và GA3 được pha chế từ nguồn hóa chất nguyên chất
- Bắt đầu xử lý NAA và GA3 từ khi tơ nấm bắt đầu xuất hiện với thời gian giãn cách là 7 ngày Trong cả 2 giai đoạn ra tơ và ra quả thể, NAA và GA3 được tiêm trực tiếp vào giá thể
- Nấm được chăm sóc trong điều kiện thích hợp
3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
Chọn những bịch nấm phát triển đồng đều, lấy ở mỗi ô nghiệm thức 3 bịch để tiến hành theo dõi Đối với cuống nấm và mũ nấm, chọn một quả thể nấm ở mỗi bịch
được theo dõi để đo
Tơ nấm
o Thời gian tăng trưởng tơ nấm (ngày): Theo dõi thời gian bắt đầu mọc tơ nấm,
thời gian tơ nấm phủ ½ bịch nấm, thời gian tơ nấm phủ ¾ bịch nấm
o Tốc độ tăng trưởng tơ nấm (cm/ngày): Tính tốc độ ra tơ nấm bằng cách lấy hiệu
số chiều dài tơ nấm giữa 2 ngày liên tiếp
o Động thái tăng trưởng tơ nấm (cm): là chiều dài đo từ gốc đến ngọn sợi tơ sau 1
o Chiều dài mũ nấm (cm): đo chiều dài mũ nấm bằng thước kẻ
o Chiều rộng mũ nấm (cm): đo chiều rộng mũ nấm bằng thước kẻ
o Độ dày mũ nấm (cm): cắt theo chiều từ mặt trên xuống mặt dưới của mũ nấm ở
vị trí đi qua cuống nấm và dùng thước đo
Trang 36Tỷ lệ túi nhiễm (%): tính số túi bị nhiễm bệnh trong thí nghiệm
Năng suất
o Năng suất nghiệm thức (g): trọng lượng quả thể thu được trong một ô thí nghiệm
o Năng suất thực thu (g): trọng lượng quả thể thu được của từng nghiệm thức thí nghiệm chia cho số bịch nghiệm thức
o Năng suất lý thuyết (kg): trọng lượng quả thể trung bình của bịch nấm nhân với
1000 bịch
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm MSTATC (trắc nghiệm ANOVA-1)
và Microsoft Excel Tốc độ sinh trưởng trung bình của tơ nấm được tính như sau:
Xi = (x1 + x2 + … + xi)/ni Với
- xi: tốc độ sinh trưởng (cm/ngày)
- ni: số ngày quan sát
Nội dung soạn thảo bằng chương trình Microsoft Word 2007
Trang 37Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của NAA và GA 3 lên sự tăng trưởng của tơ nấm
4.1.1 Thời gian tăng trưởng tơ nấm
Thời gian tăng trưởng tơ nấm có ý nghĩa trong việc nuôi trồng nấm Thông thường chỉ tiêu này dựa trên yếu tố giống, giá thể, kích cỡ bịch phôi, điều kiện ngoại cảnh và một số yếu tố khác Thời gian tăng trưởng càng ngắn thì càng có ý nghĩa trong việc rút ngắn thời gian thu hoạch Vì thế việc khảo sát ảnh hưởng của NAA và GA3 lên
sự tăng trưởng tơ nấm sẽ là cần thiết Trong cùng 1 điều kiện, các mức nồng độ khác nhau của NAA và GA3 sẽ là cơ sở để đánh giá thời gian tăng trưởng tơ nấm
Điều cần thiết trong quá trình tiến hành thí nghiệm là sự đồng đều của các nghiệm thức ở thời điểm ban đầu Theo bảng 4.1, thời gian bắt đầu mọc tơ nấm ở tất
cả nghiệm thức cho sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Điều này cho thấy sự đồng đều giữa các nghiệm thức đáp ứng được yêu cầu cơ bản ban đầu tại thời điểm chưa có tác động của NAA và GA3 lên sự tăng trưởng tơ nấm
* Ảnh hưởng của GA 3 đến thời gian tăng trưởng tơ nấm
Thời gian tơ nấm phủ ½ bịch: thời gian tăng trưởng của các nghiệm thức có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Thời gian tơ nấm phủ ½ bịch của NT A2 và A3 cao gần bằng nhau lần lượt là 18,75 và 18,83 ngày Trong khi NT A4 chỉ mất 17,50 ngày để phủ ½ bịch phôi
Thời gian tơ nấm phủ ¾ bịch: giữa các nghiệm thức thì sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Trong đó, NT A2 có thời gian lâu nhất (28,83 ngày), NT A3 có thời gian nhanh nhất (28,25 ngày)
Trang 38* Ảnh hưởng của NAA đến thời gian tăng trưởng tơ nấm
Thời gian tơ nấm phủ ½ bịch: sự khác biệt về thời gian rất có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) Thời gian tăng trưởng tốt nhất ở NT B2 với số ngày thấp nhất (17,67 ngày) Thời gian ở NT B1 là cao nhất (19,25 ngày)
Thời gian tơ nấm phủ ¾ bịch: thời gian phủ ¾ bịch ở NT B1 lâu nhất (30 ngày),
ở NT B4 nhanh nhất (27,42 ngày) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê
* Tương tác giữa NAA và GA 3 đến thời gian tăng trưởng tơ nấm
Thời gian tơ nấm phủ ½ bịch: giữa các nghiệm thức thời gian tăng trưởng có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p< 0,01) NT A3B3 có thời gian tăng trưởng lâu nhất (23,67 ngày), NT A4B3 có giá trị thấp nhất đồng nghĩa với thời gian tăng trưởng nhanh nhất (14,33 ngày) Bên cạnh đó các nghiệm thức có thời gian tăng trưởng tương đối nhanh như NT A1B2, A3B2 với thời gian là 16,67 ngày
Thời gian tơ nấm phủ ¾ bịch: tương tác giữa NAA và GA3 tiếp tục ảnh hưởng đến sự tăng trưởng tơ nấm Thể hiện qua sự khác biệt rất có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (p < 0,01) Các NT A1B2, A3B2, A4B3 có thời gian tăng trưởng nhanh nhất (25,33 ngày) Các NT A1B1 và A4B3 có thời gian tăng trưởng lâu nhất (32,67 ngày) Như vậy, tương tác giữa NAA và GA3 ảnh hưởng lên suốt thời gian tăng trưởng
tơ nấm Hơn nữa tương tác giữa hai yếu tố này còn rất có ý nghĩa về mặt thống kê Trên thực tế, với thời gian tăng trưởng nhanh nhất, NT A4B3 đã xuất hiện mầm quả thể sớm nhất, cụ thể là sau lần xử lý thứ 3, khoảng 23 – 24 ngày sau khi cấy meo Khoảng 12 – 15 ngày sau khi mầm quả thể đầu xuất hiện, ở các NT A1B2, A2B3, A2B4, A3B1, A3B2, A4B4 cũng cho quả thể Các nghiệm thức còn lại cho quả thể chậm hơn với thời gian chênh lệch từ 5 – 7 ngày
Trang 39Bảng 4.1: Thời gian tăng trưởng tơ nấm (ngày)
Giai đoạn Yếu tố
A
Yếu tố B
TB (A) B1 B2 B3 B4
CV % = 6,56
A2 20,00bc 19,00bcd 19,00bcd 17,00cde 18,75aA3 18,00bcd 16,67de 23,67a 17,00cde 18,83aA4 18,00bcd 18,33bcd 14,33e 19,33bcd 17,50b
TB (B) 30,00ns 27,67ns 28,92ns 27,42ns
Ghi chú: trong từng giai đoạn, số liệu trên cùng một cột là của yếu tố A, trên cùng một hàng là của yếu tố B và các số liệu tương tác AB đi theo sau cùng kí tự thì sai biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê
ns: không có sự khác biệt về mặt thống kê Yếu tố A: GA 3 , yếu tố B: NAA CV: hệ
số biến thiên
Trang 404.1.2 Tốc độ tăng trưởng tơ nấm
Tốc độ tăng trưởng tơ nấm cho biết sự phát triển của tơ nấm nhanh hay chậm Qua từng giai đoạn, tơ nấm phát triển khác nhau nên tốc độ phát triển cũng khác nhau
* Ảnh hưởng của GA 3 đến tốc độ tăng trưởng tơ nấm
Lần xử lý 1: tốc độ tăng trưởng tơ nấm của NT A1 cao nhất (0,77 cm/ngày), thấp nhất là NT A3 (0,67 cm/ngày)
Lần xử lý 2: tốc độ tăng trưởng tơ nấm của NT A1 cao nhất (0,73 cm/ngày), NT A4 thấp nhất (0,66 cm/ngày)
Lần xử lý 3: tốc độ tăng trưởng tơ nấm của NT A3 cao nhất (0,67 cm/ngày), NT A2 có tốc độ tăng trưởng tơ nấm thấp nhất (0,58 cm/ngày)
Lần xử lý 4: tốc độ tăng trưởng của các nghiệm thức đã có sự khác biệt về mặt thống kê NT A3 có giá trị cao nhất (0,57 cm/ngày), NT A1 có giá trị thấp nhất (0,40 cm/ngày)
Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng của các nghiệm thức ở lần xử lý 1,2 và 3 chênh lệch không nhiều và không có sự khác biệt về mặt thống kê Ở 2 lần xử lý đầu, tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng ở lần xử lý 3 và 4 thì tốc độ tăng trưởng của tơ nấm thấp hơn Quan sát thực tế cho thấy tơ nấm ở những nghiệm thức xử lý GA3 phát triển theo nhiều hướng và tạo thành những cụm dày trên bề mặt bịch nấm
* Ảnh hưởng của NAA đến tốc độ tăng trưởng tơ nấm
Lần xử lý 1: tốc độ tăng trưởng tơ nấm không có sự khác biệt về mặt thống kê Các nghiệm thức có tốc độ tăng trưởng cao và tương đối đồng đều
Lần xử lý 2: NT B2 có tốc độ tăng trưởng cao nhất (0,77 cm/ngày), NT B3 có tốc
độ tăng trưởng thấp nhất (0,61 cm/ngày) và sự khác biệt giữa các nghiệm thức có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)