1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

thực trạng khai thác lâm sản rừng

33 556 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 66,88 KB
File đính kèm LAM SAN RUNG.rar (62 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thực trạng đó, nhằm góp phần sử dụng hợp lý lâm sản ngoài gỗ và nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu Bảo tồn thiên nhiên, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng khai thác lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu và thực phẩm tại xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng” là cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái rừng

Hệ sinh thái rừng nhiệt đới là một đơn vị của tự nhiên, một thể thống nhất, biệnchứng của các loài cây gỗ lớn, cây bụi thảm tươi, thực vật ký sinh, phụ sinh, dâyleo, các động vật, vi sinh vật, các chất hữu cơ, vô cơ… Tập hợp các cây cho LSNG

là một bộ phận hợp thành của đơn vị tự nhiên đó, rất phong phú cả về số loài, tuổi,dạng sống, ứng dụng và giá trị của nó.Lâm sản ngoài gỗ hình thành bởi hai nguồn:nguồn phát triển tự nhiên và nguồn do con người nuôi trồng

Lâm sản ngoài gỗ phần lớn có giá trị kinh tế cao, cung cấp những sản phẩm

có tác dụng nhiều mặt đối với đời sống con người, như: nguyên liệu cho côngnghiệp chế biến, sản xuất đồ gia dụng, thuốc chữa bệnh Đặc biệt, phát triển lâmsản ngoài gỗ sẽ góp phần tăng cường đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gien, đảmbảo khả năng phòng hộ của rừng, giải quyết việc làm cho nông dân

Tuy nhiên, tiềm năng kinh tế của LSNG chưa được phát huy, chưa đónggóp xứng đáng cho nền kinh tế quốc dân, mặt khác trong một thời gian dài, việc sửdụng rừng chủ yếu là khai thác gỗ, ít quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển LSNGnên nguồn tài nguyên này có xu hướng bị suy giảm, ảnh hưởng đến cuộc sống củacác cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng

Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén nơi lưu giữ đa dạng sinh họccao và là nơi phục hồi, lưu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ nghiên cứukhoa học, phát triển dịch vụ, du lịch sinh thái, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất đaichống xói mòn, rửa trôi, xạt lở đất, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững trongkhu vực Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài chưa được quy hoạch nên chưa điềutra, đánh giá tổng hợp tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội của vùng, các chươngtrình, dự án về bảo tồn và phát triển bền vững chưa được thực hiện, những tác độngbất lợi tới rừng, chặt phá rừng diễn ra ngày một mạnh hơn, đa dạng sinh học đã vàđang bị suy giảm đáng kể cả về số và chất lượng, nhiều loài động, thực vật quýhiếm, đặc hữu đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Rừng trở nên nghèo về trữ

Trang 3

lượng và tổ thành thực vật, khu hệ động vật đã bị xâm hại một cách nghiêm trọngtrong thời gian dài từ năm 1986 đến nay Các loài thú lớn, các loài động vật đặchữu không còn thấy xuất hiện.

Trước thực trạng đó, nhằm góp phần sử dụng hợp lý lâm sản ngoài gỗ và nângcao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu Bảo tồn thiên nhiên, việc thực hiện

đề tài: “Đánh giá thực trạng khai thác lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu và thực phẩm tại xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng” là cần thiết, có ý

nghĩa cả khoa học và thực tiễn sản xuất, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậutoàn cầu như hiện nay

Trang 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về lâm sản ngoài gỗ

1.1.1 Một số định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ.

Tử xưa đến nay đã có nhiều tên gọi khác nhau về lâm sản ngoài gỗ được sửdụng rộng rãi như: lâm sản phụ, lâm sản phi gỗ, sản phẩm không phải là gỗ

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở Việt nam lâm sản được phânchia thành hai loại:

- Lâm sản chính (principale richesse forestière) là những sản phẩm gỗ;

- Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produit secondaire de la forêt),

bao gồm động vật và thực vật cho những sản phẩm ngoài gỗ Từ 1961, lâm sản phụđược coi trọng và được mang tên đặc sản rừng “Đặc sản rừng bao gồm cả thực vật

và động vật rừng là nguồn tài nguyên giầu có của đất nước Nó có vị trí quan trọngtrong sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốcphòng và xuất khẩu…” ( Bộ Lâm nghiệp – Kế hoạch phát triển Đặc sản rừng,1981-1990)

Theo định nghĩa đó Đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừngnhưng chỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt và ngoài cácloài thực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc hữu hoặc được coi

là đặc hữu của Việt Nam, như Pơ mu, Hoàng đàn, Kim giao… , như vậy thuật ngữđặc sản cũng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không cóhoặc chưa biết giá trị Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểmcũng tập trung sự chú ý vào một số sản phẩm nhất định

Ngày nay, trong Lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng phổbiến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondaryforest product) Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấnlâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “Lâm sản ngoài gỗ(Non-wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi vàthan gỗ Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”

Trang 5

Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ du lịchsinh thái

- Lâm sản ngoài gỗ bao gồm “tất cả các sản phảm sinh vật (trừ gỗ tròn công

nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừngtrồng được dùng trong gia đình, mua bán hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xãhội” Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý

vùng đệm… thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng” (Wichens, 1991).

- Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á, TháiBình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 đã thông qua định

nghĩa về LSNG như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ”

- Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ dây leo bậc cao và bậc thấp

phân bố trong rừng Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sảnphẩm quý khác như nhựa Thông, quả Hồi, vỏ Quế hoặc sợi Song mây là thực vật

đặc sản rừng” (Lê Mộng Chân, Vũ Dũng, 1992).

- LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ cũng

như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩa này như

là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt

động liên quan đến thu hái và chế biến những sản phẩm này (FAO, 1995).

- LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ,

được khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm , thuốc,gai vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã(còn sống hay sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, song,

mây, gỗ nhỏ và sợi (J.H.De Beer, 1996).

- LSNG là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, ở

đất rừng và các cây bên ngoài rừng (FAO, 1999).

Trang 6

- Theo Trần Ngọc Hải (2000): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao

su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi…

- Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003): Lâm sản ngoài gỗ bao

gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó

Theo các định nghĩa như đã nêu ở trên, LSNG là một phần tài nguyên rừng.Như vậy, đi tìm chỉ một định nghĩa cho LSNG là không thể Định nghĩa này có thể thayđổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, vào quan điểm sử dụng, phát triển tàinguyên và nhu cầu khác Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên do sựtìm tòi, phát hiện giá trị của chúng để phục vụ cuộc sống cho con người, chúng gồm cácsản phẩm qua chế biến hoặc không cần qua chế biến

1.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ

- Phân loại LSNG theo hệ thống sinh giới: Theo phân loại kinh điển, sinh giới

được chia là hai giới chính: Động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật, tuyrất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệthống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới\Ngành\Lớp\Bộ\Họ\Chi\Loài Ưu điểmcủa cách phân loại này là thấy được mối quan hệ thân thuộc giữa các loài và nhómloài cùng sự tiến hóa của chúng Phương pháp phân loại này chú ý nhiều đến đặcđiểm sinh học của loài Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có những hiểu

biết nhất định về phân loại động, thực vật (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000).

- Phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng: Là cách phân loại mà các LSNG

khác nhau không kể nguồn gốc trong hệ thống sinh giới, nơi phân bố… có cùng giátrị sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm Ví dụ: Một hệ thống phân loại LSNGthực vật theo nhóm công dụng như sau:

Trang 7

- Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm;

- Nhóm cây cho sợi

- Nhóm cây cho ta-nanh

- Nhóm cây cho màu nhuộm

- Nhóm cây làm dược liệu

- Nhóm cây cho nhựa, sáp, sơn

- Nhóm cây dùng làm vật liệu nhẹ và thủ công mỹ nghệ

- Nhóm cây làm cảnh, cho bóng mát.

Ưu điểm của phương pháp phân loại này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụngnhiều kiến thức bản địa của người dân, nên người dân dễ nhớ, đồng thời khuyếnkhích được họ tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên Ngoài ra phương phápnày cũng được các nhà kinh doanh, nhà nghiên cứu LSNG quan tâm

Nhược điểm của phương pháp phân loại này là chỉ mới nhấn mạnh tới giá trị

sử dụng, mà chưa đề cập đến đặc điểm sinh vật học (đặc điểm hình thái, sinh thái,phân bố…) của các loài, nên khả năng nhận biết các loài gặp nhiều khó khăn hơnnữa một số loài có nhiều công dụng khi phân loại dễ bị trùng vào nhiều nhóm khácnhau

Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm LSNG, như hệ thống phân

loại đã thông qua trong Hội nghị LSNG Thái Lan, tháng 11/1991 (Bài giảng Lâm sản ngoài gỗ, 2002 Dự án LSNG, Hà Nội) Trong hệ thống này lâm sản ngoài gỗ

được chia làm 6 nhóm:

- Nhóm 1: Các sản phẩm có sợi: tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ

- Nhóm 2: Sản phẩn làm thực phẩm: các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân,chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và có nấm Các sản phẩmnguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng

và côn trùng

- Nhóm 3: Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật

Trang 8

- Nhóm 4: Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa dầu, nhựa mủ, ta-nanh vàthuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu.

- Nhóm 5:: Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ,động vật sống, chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựacánh kiến đỏ

- Nhóm 6: Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ).Bốn năm sau, chuyên gia về lâm sản ngoài gỗ của FAO, C.Chandrasekharan

(FAO, 1995) đã đề xuất hệ thống phân loại lâm sản ngoài gỗ gồm 4 nhóm chính như

Theo danh mục này đặc sản rừng được chia làm 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và

Hệ động vật rừng Mỗi nhóm lớn lại chia nhiều nhóm phụ sau:

Trang 9

+ Các sản phẩm công nghiệp được chế biến từ nguyên liệu có nguồn gốc từ cácloài cây rừng như: cách kiến Shellac, dầu thông, tùng hương, dầu trong, chai cục…

* Hệ động vật rừng:

Bao gồm các nhóm động vật rừng cho da, lông, sừng, xương, ngà, thịt, xạ,mật; cho dược liệu như: voi, hổ, báo, trâu rừng, bò rừng, hươu, nai, rắn, trăn, kỳ đà,tắc kè, khỉ, nhím, vượn, ong rừng, các loài chim quý, các nhóm động vật rừng cóđặc dụng khác

Mặc dù còn vài điểm chưa hợp lý, tuy nhiên có hệ thống phân loại lâm sảnngoài gỗ trên là một mốc quan trọng, đánh giá sự tiến bộ về nhận thức, sự hiểu biết

về lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam

1.2 Tình hình nghiên cứu LSNG

1.2.1 Tình hình nghiên cứu LSNG trên thế giới

Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc củaLiên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tácgiả A.l Ermakov, V.V Arasimovich, đã nghiên cứu thành công công trình

“Phương pháp nghiên cứu hoá sinh – sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở choviệc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa côngdụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia vàA.A Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu

và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N G.Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừamang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách

“Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây

thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Trần Thị Lan, 2005).[19]

Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình

“Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” Cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách

sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, sinh hoá của chúng, công dụng, cáchphối hợp các loài cây thuốc treo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh thực vật dược

Trang 10

tài chí”, “Giang Tô trung dược danh thực đồ khảo”, “Quảng Tây trung dược trí”

(Trần Hồng Hạnh, 1996) [17]

Năm 1968, một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc đã

xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc” (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Mendelsohn, 1989 đã căn cứ vào giá trị sử dụng của lâm sản ngoài gỗ đểphân thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được, keo dán và nhựa, thuốcnhuộm và ta nanh, cây cho sợi, cây làm thuốc Ông cũng căn cứ vào thị trường tiêuthụ để phân lâm sản ngoài gỗ thành 3 nhóm: Nhóm bán trên thị trường, nhóm bán ởđịa phương và nhóm sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch Nhóm thứ ba thườngchiếm tỷ trọng rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị Theo Mendelsohn chínhđiều này đã làm cho lâm sản ngoài gỗ trước đây bị lu mờ và ít được chú ý đến

Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Năm 1992, J.H de Beer - một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nônglương thế giới - khi nghiên cứu về vai trò và thị trường của lâm sản ngoài gỗ đã nhậnthấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trongkhu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm xoá đói giảm nghèo, đồng thời là yếu

tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội vùng núi và bảo tồn phát triển tài nguyên rừng

Về nhu cầu thị trường của thảo quả là rất lớn, chỉ tính riêng ở Lào, hàng năm xuấtkhẩu khoảng 400 tấn sang Trung Quốc và Thái Lan Đây là công trình nghiên cứutổng kết về vai trò thảo quả đối với con người, xã hội cũng như tình hình sản xuất

buôn bán và dự báo thị trường, tiềm năng phát triển của thảo quả (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Theo Falconer, 1993, hầu hết mọi người đều thừa nhận lâm sản ngoài gỗnhư một yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Ở Ghana, lâm sảnngoài gỗ có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng,

đồng thời cũng chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Trang 11

Năm 1996, Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tạiViện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bứctranh màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc ở TrungQuốc, một trong số đó là thảo quả Nội dung đề cập là: Tên khoa học, một số đặcđiểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành phần hoá học của

thảo quả (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.S dePadua, N Bunyapraphatsara và R.H.M.J Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu vềcác cây thuộc chi Amomum trong đó có thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặcđiểm phân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học vàsinh thái học của thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chămsóc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán thảo quả trên thế giới

(Phan Văn Thắng, 2002) [25]

- Nhiều nước trên thế giới như Brazil, Colombia, Equado, Bolivia, Thái Lan,Inđonesia, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu các sản phẩm lâmsản ngoài gỗ, trong đó có các loại rau, quả rừng mang lại nhiều dinh dưỡng, nhằmnâng cao đời sống của người dân bản địa và bảo vệ đa dạng sinh học của các hệ sinh

thái rừng địa phương (Everlyn Mathias, 2001) [32]

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu C Chandrasekhanran (1995) - mộtchuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, đã chia lâm sản ngoài gỗ thành 4 nhómchính như sau:

A Cây sống và các bộ phận của cây

Trang 12

người ta đã thống kê được 306 loài lâm sản ngoài gỗ trong đó có 223 loài làm thức

ăn ( Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Theo ước tính của Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trêntoàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của cácdân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế,giữ gìn bản sắc của các nền văn hoá Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chămsóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết xuất

35.000-từ dược liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006) [23]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu LSNG ở Việt Nam

Vào những năm 1960 đến những năm 1980, một số nhà khoa học khi nghiêncứu về cây thuốc ở nước ta đề cập đến thảo quả Do thảo quả là cây “truyền thống”,

có đặc thù riêng khác với một số loài lâm sản ngoài gỗ là có phạm vi phân bố hẹp,chúng được trồng chủ yếu dưới tán rừng ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái,

Hà Giang nên các nhà khoa học ít quan tâm Các công trình nghiên cứu liên quan

còn tản mạn ( Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Sau năm 1975, Vàng đắng (Coscinium fenestrum) nguồn nguyên liệu cho

berberin coi là có vùng phân bố rộng, có trữ lượng lớn Song chỉ sau hơn chụcnăm khai thác loài Vàng Đắng đã trở nên rất hiếm và ở tình trạng sẽ nguy cấp

(V) trong sách đỏ Việt Nam Ba Kích (Morinda offcinalis) là một cây thốc có tác

dụng tăng cường khả năng sinh dục ở nam giới, chữa thấp khớp và một số bệnh

khác đã bị khai thác mỗi năm vài chục tấn liên tục nên đã cạn kiệt (Viện Dược Liệu, 2002).[31]

Nghiên cứu của Giáo sư Đỗ Tất Lợi (1975) đã cho rằng: thảo quả là loàicây thuốc được trồng ở nước ta vào khoảng năm 1990 Trong thảo quả có khoảng1-1,5% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm, ngọt, vị nóng cay dễ chịu có tác dụng

Trang 13

chữa các bệnh đường ruột Đây là một công trình nghiên cứu khẳng định công dụngcủa thảo quả ở nước ta Tuy nội dung nghiên cứu về thảo quả của công trình còn ít,nhưng nó đã phần nào mở ra một triển vọng cho việc sản xuất và sử dụng thảo quảtrong y học ở nước ta.

Năm 1982, Giáo sư Đoàn Thị Nhu công bố kết quả nghiên cứu của mình về

“Bảo vệ, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triển trồng câythuốc trên rừng ở Việt Nam” Trong đó tác giả kết luận: thảo quả là cây dược liệuquý và thích nghi tốt ở điều kiện dưới tán rừng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa cónghiên cứu nào về kỹ thuật gây trồng thảo quả dưới tán rừng (Phan Văn Thắng,2002) [25]

Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu Bộ Y tế năm 1985, nước ta có

1863 loài cây thuốc thuộc 236 họ thực vật Theo giáo sư Võ Văn Chi trong cuốn

“Từ điển cây thuốc” số loài cây thuốc ở Việt Nam là trên 3000 loài Trên 3/4 câytrong số này là những cây mọc tự nhiên, phần lớn sinh sống ở rừng Kết quả điềutra sơ bộ ban đầu ở rừng một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ lệ cây làm thuốc thường

chiếm tỷ lệ rất cao (Viện Dược Liệu, 2002) [31]

Nguyễn Tiến Bân và cs (1994) Các nhà nghiên cứu đã thống kê được 113loài thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị có ở Việt Nam và tìm hiểu giá trị dinhdưỡng, phân biệt rau ăn được và rau độc, đặc điểm nơi sống, cách thu hái, chế biến,thành phần dinh dưỡng Đây là một đề tài khoa học của nhiều thế hệ các nhànghiên cứu đã điều tra, khảo sát, tìm hiểu, trong một thời gian dài đầy công phu và

tỉ mỉ trên nhiều vùng sinh thái khác nhau.(Nguyễn Tiến Bân, 1994) [1].

Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền

phương đông, thuộc chi Sa Nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae) Trên thế giới chi Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới

núi cao ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài Ở nước ta,

Trang 14

Sa nhân phân bố ở hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng 30 loàitrong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định chắcchắn Ở Viện dược liệu và trường Đại Học Dược hiện có 12 mẫu vật chưa đủ tàiliệu định tên loài đều mang tên Sa Nhân (theo Nguyễn Tập) Ở Việt Nam, Sa nhân

đã được biết đến từ rất lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộc Bước đầu

đã thống kê được trên 60 đơn thuốc có vị Sa Nhân dùng trong các trường hợp ănkhông tiêu, kiết lỵ, đau dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, phù thũng,…Ngoài

ra Sa nhân còn dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu.Các tác giả đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi

phân bố, kỹ thuật, thời gian gây trồng, thu hoạch của sa nhân (Lê Trần Đức, 1997).

Năm 1999, khi nghiên cứu ở Vườn quốc gia Ba Vì, Nguyễn Văn Sản và cs,đưa ra kết luận: LSNG là nguồn thu nhập quan trọng đối với cuộc sống của ngườidân nông thôn Tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân mất rừng, làm suythoái đa dạng sinh học có nguồn gốc từ đời sống khó khăn của người dân, lâm sảnngoài gỗ bị sử dụng không hợp lý, cạn kiệt Một trong những giải pháp có hiệu quả

để giải quyết vấn đề đời sống khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát triểnrừng bền vững ở nước ta là phát triển tài nguyên LSNG

Nguyễn Ngọc Bình và cs (2000), với cuốn sách “Trồng cây nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưói tán rừng” Tác giả đã giới thiệu giá trị kinh tế, đặc điểm

hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Bakích, sa nhân, thảo quả, trám trắng, mây nếp,…

Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ năm 1994đến 2002, Viện Dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện ĐoanHùng, tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích Trong

đó có mô hình Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang trại, mô hình trồng

Ba kích ở đồi và đất nương rấy cũ Bước đầu các mô hình này đã đem lại những

hiệu quả đáng kể (Nguyễn Chiều, Nguyễn Tập, 2006) [10]

Trang 15

Năm 2001, Vũ Văn Dũng và cs đã đề xuất cách phân loại mới, theo các tác giả,lâm sản ngoài gỗ được chia ra làm 6 nhóm chính bao gồm: Sản phẩm có sợi, sản phẩmdùng làm thực phẩm, các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm, các sản phẩm chiết xuất, độngvật và các sản phẩm động vật khác làm thực phẩm, làm thuốc, các sản phẩm khác gồmcây cảnh, lá để gói thức ăn và hàng hoá, nhìn chung, mỗi cách phân loại đều có nhữngtồn tại nhất định, nhưng chúng đều có ý nghĩa trong nghiên cứu về sự đa dạng, phongphú của LSNG, về tiềm năng phát triển ngành LSNG ở Việt Nam.

Năm 2001, trong quá trình thực hiện dự án “Sử dụng bền vững lâm sảnngoài gỗ” tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ và vùng đệm Vườn quốcgia Ba Bể các nhà nghiên cứu kết luận rằng: phát triển lâm sản ngoài gỗ là mộttrong những hướng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng cao chấtlượng sống cho người dân, từ đó xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội

trong khu vực (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Trong công trình nghiên cứu “Giá trị và sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở 2 tỉnh CaoBằng, Bắc Kạn” của Phan Văn Thắng và cs (2001) cho thấy giá trị sử dụng của lâm sảnngoài gỗ đối với người dân rất lớn, 90% số hộ dân sống dựa vào rừng Sản phẩm khaithác chủ yếu hiện nay là gỗ và lâm sản ngoài gỗ như măng, tre, trúc, hồi, giẻ, và câydược liệu Thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ trong mỗi hộ gia đình đứng thứ 2 trong cơ cấuthu nhập của hộ gia đình và chiếm trung bình khoảng 22% tổng thu nhập kinh tế

Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau của nhân dân các xómBản Cám, Nà Nặm thuộc Vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn, La Quang Độ (2001).Tác giả đã xác định được tên, giá trị sử dụng, đặc điểm sinh thái, nơi phân bố của 15loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của người dân tộc trong khai thác, sửdụng, chế biến các loài này Đề tài là một sự đóng góp quan trọng cho tỉnh Bắc Kạn

trong việc đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ( La Quang Độ)

[25]

Trang 16

Trồng và chế biến Thạch đen - một nghề cổ truyền của dân tộc Tày Nùng,Phùng Tửu Bôi (2005) Cây Thạch đen có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng đượcnhập vào ta từ rất lâu đời Ở Việt Nam cây đã được trồng ở một số nơi, hiện đangtrồng nhiều ở Lạng Sơn và Cao Bằng, nhiều nhất là ở ba xã Chi Lăng, Kim Đồng vàTân Tiến thuộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Theo tác giả Thạch đen là mộtloài lâm sản ngoài gỗ có nhiều giá trị và triển vọng, cần có chính sách và kỹ thuật hỗ

trợ để người dân có thể phát triển lâu dài loại hàng hoá này (Phùng Tửu Bôi, 2005)

[7]

Kiến thức bản địa về kinh doanh tre lấy măng ở vùng Đông Bắc Việt Nam,

Nguyễn Danh Minh và cs (2005) Để khai thác tiềm năng sẵn có về tre, kết hợp kinh

nghiệm địa phương về kinh doanh tre lấy măng với khoa học hiện địa, góp phần thúcđẩy kinh doanh măng tre ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu kiến thức bản địa kinh doanhtre lấy măng ở vùng Đông Bắc Việt Nam được thực hiện từ năm 2004 Mục tiêu của

đề tài nhằm xác định những loài tre có thể kinh doanh lấy măng; tổng kết kinh nghiệmđịa phương và đề xuất mô hình kỹ thuật để kinh doanh tre lấy măng hiệu quả và bền

Theo Ninh Khắc Bản (2003), khi điều tra về nguồn thực vật phi gỗ tạiHương Sơn – Hà Tĩnh bước đầu đã xác định được khoảng 300 loài cây có thể sửdụng để làm thuốc Tuy nhiên trong quá trình điều tra thấy có khoảng 25 loài câyđược sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Thạch xương

bồ, Ngũ gia bì, Sa nhân

Ngày đăng: 14/05/2017, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Nguyễn Văn Tập (2005), “Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (4), trang 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiênở rừng
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 2005
23. Nguyễn Văn Tập (2006), “Những phát hiện về tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Nam”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, ( 10/2006), trang 20-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện về tài nguyên cây thuốc tạixã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 2006
24. Phạm Minh Toại, Phạm Văn Điển (2005), “Dược thảo trong rừng mưa nhiệt đới”, Chuyên san Lâm sản ngoài gỗ, trang 23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược thảo trong rừng mưanhiệt đới
Tác giả: Phạm Minh Toại, Phạm Văn Điển
Năm: 2005
1. Nguyễn Tiến Bân, Bùi Minh Đức và cs (1994), Một số rau dại ăn được ở Việt Nam, Nxb Quân đội Nhân dân Khác
2. Ninh Khắc Bản (2003), Điều tra, đánh giá và biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ tại VQG Hoàng Liên, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ( 3/2002), trang 351-355 Khác
3. Ninh Khắc Bản (2003), Điều tra và kiến nghị về khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ cho rừng Hương Sơn, Hà Tĩnh, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (3/2003), trang 94-95 Khác
4. Trần Khắc Bảo (2003), Cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (10/2003), trang 1336-1338 Khác
5. Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn, 2001, Trồng cây nông nghiệp, cây dược liệu và cây đặc sản dưới tán rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Viện Điều tra Quy hoạch rừng, 2001. Dự án xây dựng Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn-Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh Khác
7. Phùng Tửu Bôi (2005), Trồng và chế biến Thạch đen - một nghề cổ truyền của dân tộc Tày Nùng, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (1), trang 14 Khác
8. Lê Mộng Chân, Vũ Văn Dũng, 1992, Thực vật đặc sản rừng - Đại học lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Tây Khác
9. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 200, Giáo trình Thực vật rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Khác
10. Nguyễn Chiều, Nguyễn Tập (2006), Mô hình trồng ba kích ở vùng trung du và núi thấp, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (6/2006), trang 4-5 Khác
11. Ngô Quý Công, Bruce Dunn (2005), Đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (5), trang 8-9 Khác
12. Lê Thị Diên, Nguyễn Viết Tuân (2005), Một số kết quả phát triển cây thuốc nam tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (5), trang 22-23 Khác
13. Lê Thị Diên, Trần Nam Thắng, Lê Thái Hùng (2006), Kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam dưới tán rừng tự nhiên, Trường Đại học Nông Lâm Huế Khác
14. Lê Thị Diên, Trần Minh Đức, Lê Thái Hùng (2006), Kỹ thuật trồng và sơ chế Sâm Bố chính, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (6/2006), trang 4-5 Khác
15. La Quang Độ (2001), Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau ăn của nhân dân các xóm Bản Cán, Nà Năm thuộc vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Khác
16. Lê Văn Giỏi (2006), Mô hình trồng cây thuốc nhập nội ở Sa Pa, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (6/2006), trang 18-19 Khác
17. Trần Hồng Hạnh (1996), Nghề thuốc nam cổ truyền ở làng Nghĩa Trai, Luận án tốt nghiệp khoa học lịch sử chuyên ngành dân tộc học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w