1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng tới mất cân bằng dân số khi sinh

49 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 334,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN. Tỷ số giới tính là một chỉ số nhân khẩu học phản ánh cơ cấu giới tính của một quần thể dân số và được các nhà nhân khẩu học quan tâm nhất. Tỷ số giới tính khi sinh được xác định bằng số trẻ em trai sinh ra sống 100 trẻ em gái sống. Theo quy luật sinh sản tự nhiên tỷ số này giao động trong khoảng 104 106100 rất ổn định qua thời gian và không gian, giữa các châu lục, quốc gia và các vùng lãnh thổ. Bất kỳ một sự thay đổi đáng kể nào của tỷ số này chệch khỏi mức sinh học bình thường, đều phản ánh những can thiệp có chủ định ở các mức độ khác nhau ảnh hưởng đến sự cân bằng tự nhiênNĂM 2020

Trang 1

TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN

Chủ nhiệm đề tài: DSĐH

Thư ký: CNYTCC

TÊN ĐỀ TÀI

THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

NĂM 2020

Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở chuyên nghành dân số

Mã số: CS/YT/20/

Đại Từ, tháng 10 năm 2020

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ……… ……….…………1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 3

1.Những thuật ngữ dùng trong nghiên cứu… 3

2 Tình hình MCBGT trên Thế giới, một số nước trong khu vực và Việt Nam 3

3 Tỷ số giới tính khi sinh tại Thái Nguyên ……… ……… 7

4 Chênh lệch giới tính khi sinh tại huyện Đại Từ……….………… ………7

5 Đặc điểm về TSGTKS ở Việt Nam 7

6 Nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh……….……….10

7 Hệ lụy của MCBGTKS……… ………10

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… ……… ….17

1 Đối tượng nghiên cứu 13

2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13

3 Thiết kế nghiên cứu 13

4 Cỡ mẫu nghiên cứu 13

5 Phương pháp thu thập số liệu 14

6 Quản lý và phân tích số liệu 15

7 Các biến số nghiên cứu 15

8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 16

9 Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục 16

9.1 Hạn chế của nghiên cứu 16

9.2 Biện pháp khắc phục 17

10 Kế hoạch triển khai 17

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

1 Thông tin chung của các bà mẹ 19

2 Quá trình sinh con của các bà mẹ ……… ……….25

3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ số giới tính khi sinh………25

BÀN LUẬN 31

Trang 3

1 Thực trạng về sự chênh lệch giới tính khi sinh của huyện Đại Từ… 37

2 Những yếu tố tác động đến sự chênh lệch về giới tính khi sinh tại huyện Đại Từ.37KHUYẾN NGHỊ …… 39PHỤ LỤC: PHIẾU ĐIỀU TRA TẠI HỘ GIA ĐÌNH 44

Trang 4

CN Công nghiệp

DS – KHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình

ĐTBĐDS Điều tra biến động dân số

NĐ – CP Nghị định Chính phủ

MCBGTKS Mất cân bằng giới tính khi sinh

PGD (Pre-implantation Genetic Diagnosis)

Chẩn đoán tiền mang thaiQĐ-TTg Quyết định Thủ tướng

SRB (Sex Ratio at Birth) Tỷ số giới tính khi sinh

TC – CĐ – ĐH Trung cấp, Cao đẳng, Đại học

TĐTDS Tổng điều tra dân số

TSGTKS Tỷ số giới tính khi sinh

UNFPA (United Nations Population Fund)

Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) ở một số nước trên thế giới

Trang 5

Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi của các bà mẹBảng 3.2 Trình độ học vấn và nghề nghiệpBảng 3.3 Dân tộc và tôn giáo của các bà mẹBảng 3.4 Hoàn cảnh kinh tế gia đình các bà mẹBảng 3.5 Số lần sinh con và số con hiện sống của các bà mẹ

Bảng 3.6 Tiền sử sẩy thai, nạo phá thaiBảng 3.7 Tỷ số giới tính khi sinhBảng 3.8 Mong muốn giới tính của con trước khi sinhBảng 3.9 Lý do các bà mẹ muốn sinh con lần nàyBảng 3.10 Biết giới tính khi mang thai và cách để biếtBảng 3.11 Thời gian đi siêu âm biết giới tính thai nhiBảng 3.12 Mục đích đi siêu âm của các bà mẹBảng 3.13 Một số vấn đề liên quan tới việc siêu âm xác định giới tính

Bảng 3.14 Ý định của bà mẹ nếu siêu âm giới tính thai nhi không theo mong muốn

và quan tâm về phá thaiBảng 3.15 Số bà mẹ biết cách sinh con theo ý muốn và cách thực hiện ………

Bảng 3.16 Hiểu biết của các bà mẹ về pháp lệnh dân số

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tỷ số giới tính là một chỉ số nhân khẩu học phản ánh cơ cấu giới tính củamột quần thể dân số và được các nhà nhân khẩu học quan tâm nhất Tỷ số giớitính khi sinh được xác định bằng số trẻ em trai sinh ra sống / 100 trẻ em gáisống Theo quy luật sinh sản tự nhiên tỷ số này giao động trong khoảng 104 -106/100 rất ổn định qua thời gian và không gian, giữa các châu lục, quốc gia vàcác vùng lãnh thổ Bất kỳ một sự thay đổi đáng kể nào của tỷ số này chệch khỏimức sinh học bình thường, đều phản ánh những can thiệp có chủ định ở các mức

độ khác nhau ảnh hưởng đến sự cân bằng tự nhiên [16]

Ba quốc gia trong khu vực châu Á là Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc đãtừng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự mất cân bằng giới tính Và giờ đâyViệt Nam đang là bản sao của Trung Quốc thập kỷ trước [11]

Đến năm 2000, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam vẫn ở mức bìnhthường; nhưng từ năm 2006 TSGTKS của Việt Nam bắt đầu tăng cao và vượtquá ngưỡng bình thường (104-106 bé trai/100 bé gái) Mặc dù đã trải qua bốnthập kỷ với các chính sách xã hội nhằm làm giảm sự bất bình đẳng về giới vàlàm giảm ảnh hưởng của tập quán quan hệ gia trưởng, mong muốn có con traivẫn tiếp tục điều khiển quá trình xây dựng gia đình tại Việt Nam Dưới tác độngcủa Chính sách Nhà nước về giảm sinh, tư tưởng trọng nam khinh nữ cùng với

sự hỗ trợ của các dịch vụ siêu âm, nạo phá thai, các kĩ thuật lựa chọn giới tínhtrước sinh đã góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng mất cân bằng giới tínhkhi sinh tại Việt Nam Hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ gây nêncác bất ổn về xã hội như nhiều thanh niên sẽ không có khả năng kết hôn, di cưbất hợp pháp vì mục đích hôn nhân, buôn bán phụ nữ và gia tăng tỷ lệ người hoạtđộng tình dục đồng tính, an ninh xã hội không được đảm bảo, cấu trúc gia đình

dễ bị tan vỡ [27]

Đến nay tại Việt Nam, mới chỉ có một vài nghiên cứu về vấn đề này là trongcác cuộc Tổng điều tra dân số và các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân sốvào ngày 01/04 hàng năm, trên địa bàn huyện chưa có nghiên cứu sâu về vấn đềnày Do vậy để tìm hiểu đầy đủ hơn về vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên

Trang 7

cứu về “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tỷ số giới tính khi sinh tại

huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 2019” với mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng tỷ số giới tính khi sinh của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 2019.

2 Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến tỷ số giới tính khi sinh tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 2019.

Trang 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Những thuật ngữ dùng trong nghiên cứu

1.1 Tỷ số giới tính (TSGT): Tỷ số giới tính là số nam so với nữ trong một

quần thể dân số, thông thường được biểu thị số nam trên 100 nữ Tỷ số giới tínhcủa toàn bộ dân số trung bình trong khoảng 95 - 100 nam/100 nữ Do ảnh hưởngsinh lý và các nhân tố khác nhau, cơ cấu giới tính, tuổi tác và tử vong khôngđồng đều nên tỷ số giới tính của các nhóm tuổi có sự khác nhau [5]

1.2 Tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS): Tỷ số giới tính khi sinh là một chỉ

số thống kê được xác định bằng số trẻ em trai sinh ra trên 100 trẻ em gái Tỷ sốnày thông thường là từ 104 - 106 trẻ em trai trên 100 trẻ em gái và giá trị của tỷ

số này thường rất ổn định qua thời gian [5]

1.2 Mất cân bằng gới tính khi sinh (MCBGTKS): Là số trẻ trai sinh ra

còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái.MCBGTKS xảy ra khi tỷ số giới tính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn

Theo các nguồn số liệu của Liên hợp quốc, các nước châu Á như: TrungQuốc, Hàn Quốc, Ấn Độ… bị mất cân bằng giới tính khi sinh rất nghiêm trọng

từ những năm 70 Hiện tỷ số giới tính khi sinh ở Trung Quốc đang ở mức 120 trẻtrai/100 trẻ gái, Hàn Quốc 110 trẻ trai/100 trẻ gái và Ấn Độ khoảng 112 trẻtrai/100 trẻ gái [11]

Để “đối phó” với vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh các nước này đã đề

ra nhiều chính sách: Luật: “Những kỹ thuật chẩn đoán trước sinh” cấm việc lựa

Trang 9

chọn giới tính bởi bất cứ ai, bất cứ phương tiện nào trước hoặc sau khi thụ thai;chính sách tiền thưởng cho các cặp vợ chồng sinh con gái, xây nhà miễn phí chonhững hộ chỉ có 1 hoặc 2 con gái Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng giới tínhvẫn đang là một vấn đề nhức nhối ở các nước này [11].

2.2 MCBGTKS tại một số nước trong khu vực

Bảng 1.1: Tỷ số giới tính khi sinh ở một số nước trên thế giới

Bảng 1.2: Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh của một số nước

Tên nước SRB lần 1 SRB lần 2 SRB lần 3 Năm

thống kê

2001-2008Trung

Trang 10

Biểu đồ 1 Tỷ số giới tính khi sinh ở Trung Quốc qua các năm

(Nguồn: như đã dẫn tại Bảng 1)

Suốt từ những năm 1990 cho đến nay, TSGTKS ở Trung Quốc luôn ởmức cao và rất cao: năm 1990 là 111,3/100, năm 1995 là 116,8/100, năm 2000

là 119,9/100, năm 2005 là 120,5/100 và giai đoạn 2009 - 2011 vẫn ở mức118,1/100 Qua kết quả điều tra chọn mẫu 2005 cho thấy tỷ số giới tính khi sinhcủa Trung Quốc đã rất cao (120,49); và ở 31 tỉnh/thành có sự chênh lệch rất lớn,tỉnh cao nhất là Giang Tây (137,31); thấp nhất là Tây Tạng (105,15), đây là tỉnhđược coi như có tỷ số giới tính khi sinh hoàn toàn bình thường theo qui luậtnhân khẩu học Trong tổng số 31 tỉnh/thành có 3 tỉnh có mức trên 130; 8 tỉnh cómức trên 120; 16 tỉnh có mức trên 110 và chỉ có 4 tỉnh có mức trên 100, tứcđược coi là bình thường theo qui luật nhân khẩu học Phân tích theo thứ tự sốsinh cho thấy rất rõ hành vi cố sinh con trai, tỷ số giới tính khi sinh của lần sinhthứ nhất là 108,41, đây là mức hoàn toàn bình thường theo qui luật nhân khẩuhọc Tỷ số giới tính khi sinh của con thứ hai đã tăng lên 143,22, đây là mức mấtcân bằng giới tính nghiêm trọng, cao hơn mức mất cân bằng giới tính khi sinhchung là 122,49 Đến tỷ số giới tính khi sinh của con thứ ba là 152,88, đây làmức quá bất bình thường Ngoài ra tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh vẫntăng mạnh, theo Uỷ ban DS-KHHGĐ Trung Quốc, tại một số tỉnh như Hải Nam,Quảng Đông, sự mất cân bằng tăng nhanh với con số tương ứng 121,97 (2005)lên 135,6 (2007) và 119,93 (2005) lên 130,3 (2007) Mặc dù việc chọn lựa giớitính thai nhi bị nghiêm cấm, nhưng nhiều gia đình ở Trung Quốc vẫn "khát" contrai và bất chấp rủi ro, đặc biệt tại các khu vực nông thôn [17]

Trang 11

* MCBGTKS ở Ấn Độ

Ấn Ðộ, với dân số hơn 1,2 tỉ người, là đất nước mà tình trạng mất cân bằng

về giới tính được đánh giá là đã vượt mức trung bình Rất nhiều phụ nữ Ấn Ðộđang đặt tình trạng sức khỏe mình vào rủi ro, thậm chí có thể trở thành vô sinh,khi chấp nhận trải qua những vụ phá thai liên tục chỉ để sinh được con trai Theo truyền thống Ấn Độ, một gia đình phải có ít nhất một con trai, ngoài

ra tập tục con gái muốn lập gia đình phải có của hồi môn cho nhà chồng, tuy bấthợp pháp nhưng cũng là một lý do nữa khiến phụ nữ muốn phá thai nếu biết thainhi là con gái Phá thai là hợp pháp ở Ấn Ðộ nên không chỉ phụ nữ thuộc tầnglớp nghèo mà phụ nữ ở vùng thành thị giàu có hơn cũng liên tục phá thai để cốsinh con trai Tạp chí y tế Lancet của Anh trong một cuộc nghiên cứu thực hiệnhồi năm 2006 cho thấy tại Ấn Độ có nửa triệu bào thai được xác định là nữ đã bị

bỏ Tình trạng trên xảy ra ngay cả tại những bang thịnh vượng nhất ở Ấn Độ nhưPunjab, Haryana, Delhi và Uttar Pradesh Mặc dù pháp luật nghiêm cấm và tạicác phòng khám đều phải treo bảng “Không kiểm tra giới tính thai nhi” nhưngviệc thực hiện lại rất lỏng lẻo, thậm chí người ta còn xách cả những chiếc máysiêu âm di động đến những khu làng hẻo lánh để thực hiện công việc đó [5]

2.3 MCBGTKS Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh diễn ra muộn nhưngtốc độ gia tăng nhanh Rà soát kết quả tổng điều tra dân số qua các năm từ 1979-

1999 cho thấy TSGTS của Việt Nam cứ 10 năm tăng lên 1 điểm phần trăm (năm

1979 là 105/100, năm 1989 là 106/100, năm 1999 là 107/100) Tuy nhiên giai

đoạn từ năm 2006 – 2008 TSGTKS mỗi năm tăng lên 1 điểm phần trăm (năm

2006 là 110, năm 2007 là 111, năm 2008 là 112,1), giai đoạn từ 2009 – 2019

giao động trong khoảng 110,1 – 114,5 cao nhất là năm 2018 là 114,5 Đến nayMCBGTKS xảy ra ở cả 6/6 vùng địa lý kinh tế trong cả nước, ở cả thành thị vànông thôn Chính vì vậy MCBGTKS đã trở thành thách thức lớn với công tácdân số và nỗi lo lớn với các nhà hoạch định chính sách [18]

3 Tỷ số giới tính khi sinh tại Thái Nguyên .

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, cách trung tâm thủ đô

Trang 12

Hà Nội 75 km, dân số 1.286.751 người, Thái Nguyên là tỉnh đông dân thứ 27 toànquốc và đứng thứ 3 các tỉnh trong vùng Trung du miền núi phía Bắc Tỉnh có410.267 người cư trú ở khu vực thành thị, chiếm 31,9% tổng dân số; 876.484người cư trú ở khu vực nông thôn, chiếm 68,1%, tổng dân số của tỉnh TháiNguyên là trung tâm kinh tế, chính trị - xã hội của khu vực đông bắc hay cảvùng Trung du và miền núi phía bắc Cũng giống như tình trạng chung của cảnước, từ năm 2006 TSGTKS vượt ngưỡng bình thường (104-106), năm 2016-2019TSGTKS của tỉnh Thái Nguyên giao động trong khoảng 108,2 – 116,4 hai nămgần đây 2018, 2019 tuy có su hướng giảm xong vẫn ở mức cao hơn bình thường.

4 Chênh lệch giới tính khi sinh tại huyện Đại Từ

Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên,cách thành phố Thái Nguyên 25 km, có vị trí địa lý: Phía bắc giáp huyện ĐịnhHóa, phía đông nam giáp thị xã Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía đông bắcgiáp huyện Phú Lương, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Vĩnh Phúc, phíanam giáp tỉnh Vĩnh Phúc Đại Từ có nhiều đơn vị hành chính nhất tỉnh TháiNguyên với 30 xã, thị trấn, tổng diện tích đất tự nhiên toàn Huyện là 57.890 ha

và 171… khẩu, có 8 dân tộc anh em cùng chung sống, mật độ dân số bìnhquân 274,65 người/km2, Mỗi năm toàn huyện có khoảng 2.600-2.700 trẻ em đượcsinh ra, nếu tính theo công thức tính TSGTKS thì huyện Đại Từ có tỷ số qua cácnăm như: Từ năm 2006 – 2010: Giao động trong khoảng 118-124 ( cao nhất lànăm 2009: 124; năm 2010: 122), từ năm 2011-2015: Tỷ lệ này có giảm nhưngvẫn vượt ngưỡng bình thường, giao động trong khoảng: 110-115,7, từ năm2016-2019: Giao động trong khoảng 108,3- 114,3 giảm hơn so với những nămtrước tuy nhiên con số này không ổn định qua các năm và vẫn cao hơn hơn mứcbình thường( 104-106 trẻ trai/100 trẻ gái) [15]

5 Đặc điểm về TSGTKS ở Việt Nam

MCBGTKS ở Việt Nam xuất hiện muộn nhưng tốc độ gia tăng lại nhanh: So vớicác nước đã để xảy ra MCBGTKS như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ thì Việt Nam

bị mất cân bằng sau họ khoảng 30 - 40 năm nhưng đến nay TSGTKS của Việt Nam đãngang bằng của họ [8]

Trang 13

TSGTKS có liên quan đến trình độ học vấn của người mẹ: Tỷ số này tăng dần từ107,4 ở nhóm phụ nữ không biết chữ (chiếm 7% mẫu) và 107,1 ở nhóm có trình độtiểu học trở xuống, lên đến 111,4 ở nhóm có trình độ trung học, và cuối cùng là 113,9 ởnhóm các bà mẹ có trình độ cao đẳng trở lên [10].

Biểu đồ 2: TSGTKS theo số năm đi học của người mẹ

Nguồn: Tổng cục thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam: Các bằng chứng mới về thực trạng, xu hướng và những khác biệt, Hà Nội, 2011

MCBGTKS đã xảy ra ở cả nông thôn và thành thị, cả đồng bằng và miềnnúi và ở hầu hết các vùng địa lý Phân tích TSGTKS theo vùng địa lý cho thấy,

cả 6 vùng địa lý kinh tế: Trung du miền núi phía bắc, Đồng bằng Sông Hồng, BắcTrung bộ duyên hải miền trung, Đồng Bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, TâyNguyên đều có TSGTKS cao hơn bình thường Trong số đó, vùng Đồng bằngsông Hồng có TSGTKS cao nhất (115,4) [10]

Trang 14

Biểu đồ 3: Tỷ số giới tính khi sinh theo vùng

(Nguồn: như đã dẫn tại Biểu đồ 2)

TSGTKS ở Việt Nam cao ngay ở lần sinh đầu tiên và cao nhất ở nhóm sinh conthứ 3 trở lên

Biểu đồ 4: TSGTKS theo thứ tự sinh

(Nguồn: như đã dẫn tại Biểu đồ 2)

TSGTKS ở tất cả các lần sinh đều cao hơn hẳn mức sinh học bình thường.Điều này có nghĩa là một số cặp vợ chồng có thể đã thực hiện lựa chọn giới tínhtrước sinh ngay trong lần sinh thứ nhất Đáng ngạc nhiên là TSGTKS lại thấphơn ở lần sinh thứ 2 Tuy nhiên, TSGTKS là 115,5 cho các lần sinh từ thứ 3 trởlên, cao hơn hẳn các lần sinh trước đó Như vậy, mong muốn có con trai sau khi

đã sinh con gái thường là lý do chính để các cặp vợ chồng sinh thêm con Vớinhững cặp vợ chồng đã có 2 con, là số con trung bình hiện nay ở Việt Nam, thì

có thêm con thứ 3 là quyết định của cả gia đình và lựa chọn giới tính trở thành

Trang 15

một công cụ để tránh sinh ra trẻ em gái trong lần sinh này [10]

Có sự khác biệt TSGTKS theo điều kiện kinh tế của các gia đình: TSGTKSthấp nhất ở nhóm nghèo nhất (107,5) và tăng lên mức 112,8 ở nhóm trung bình.TSGTKS ở 3 nhóm dân cư giàu nhất, không khác nhau nhiều và xoay quanh giátrị 112 Sự khác biệt rơ rệt về TSGTKS giữa các nhóm nghèo và các nhóm giàuhơn cho thấy mất cân bằng giới tính khi sinh có liên quan chặt chẽ với tình trạngkinh tế-xã hội[10]

Biểu đồ 5: TSGTKS theo năm nhóm kinh tế-xã hội của hộ gia đình

(Nguồn: như đã dẫn tại Biểu đồ 2)

6 Nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh

Tư tưởng ưa thích con trai là nguyên nhân cơ bản và gốc rễ Do tác độngcủa khoa học, công nghệ xác định giới tính thai nhi như: dịch vụ y tế phát triểnnhanh, trang thiết bị y tế hiện đại, có thể phát hiện giới tính thai nhi từ rất sớmtạo cơ hội để lựa chọn giới tính thai nhi Do một phần ảnh hưởng của chínhsách quy mô gia đình nhỏ (1 đến 2 con), buộc người có tư tưởng ưa thích contrai tìm mọi cách để có được con trai Do nhu cầu phát triển kinh tế gia đình, ansinh xã hội chưa được đảm bảo, tâm lý đám đông [26]

7 Hệ lụy của MCBGTKS

Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ ảnh hưởng xấu tới cấu trúc dân số trongtương lai, dẫn tới tình trạng dư thừa nam giới trong xã hội Nếu không có nhữngbiện pháp can thiệp kịp thời, dự tính đến năm 2050, Việt Nam sẽ có từ 2,3 đến

Trang 16

4,3 triệu nam giới không tìm được vợ Nhóm nam giới gặp khó khăn trong việctìm vợ hoặc không thể lấy được vợ, phải duy trì cuộc sống độc thân có thể gây

ra những bất ổn về trật tự an toàn ở cộng đồng, làm gia tăng tệ nạn mại dâm,buôn bán trẻ em gái, phụ nữ và các loại tội phạm xã hội khác do nhu cầu tìnhdục của họ không được đáp ứng Mất cân bằng giới tính còn gây ra tình trạngbất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới Phụ nữ có thể phải kết hôn sớm Tỉ lệ lyhôn và tái hôn của phụ nữ sẽ tăng cao một cách đáng kể Đối với các gia đình,hạnh phúc sẽ không trọn vẹn nếu trong gia đình có nam giới đã đến tuổi trưởngthành nhưng không lấy được vợ, điều này dẫn đến những lo lắng căng thẳng vềtâm lý đối với các thành viên trong gia đình ảnh hưởng đến hạnh phúc và pháttriển của gia đình Hoặc có những người vợ phải cố sinh thêm con trai do sức ép

từ phía gia đình hoặc người chồng, phải nạo phá thai vì lý do lựa chọn giới tính,ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe [26]

Thời gian qua, ngành Dân số đã quyết liệt giải quyết các vấn đề mất cânbằng giới tính khi sinh qua các giải pháp đồng bộ như: truyền thông nâng caonhận thức của người dân về bất bình đẳng giới, hậu quả của mất cân bằng giớitính khi sinh sẽ dẫn đến những vấn đề bất ổn trong xã hội

Trang 17

Cây vấn đề

Thiếu thông tin liên quan đến MCBGTKS

Thiếu kiến thức về hậu quả MCBGTKS

Bất bình đẳng giới

Thông tin

cá nhân (tuổi, giới,

số lần sinh, )

Chế độ an sinh XH chưa đảm bảo

Nhận thức

về MCBGTKS

Yếu tố cá nhân

Các dịch vụ liên quan đến lựa chọn GTTN

CBYT chưa có ý thức đầy đủ về tầm quan trọng của MCBGTKS

Y tế

tư nhân

Pháp luật liên quan chưa chặt chẽ

Nội dung truyền thông

Phương thức truyền thông

Con nối dõi phát triển Nhu cầu

kinh tế GĐ

Tập huấn liên quan đến sinh sản và GTTN

Tư tưởng Nho giáo

Trang 18

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ sinh con mà trẻ sinh ra sống từ ngày 01/01/2019 đến31/12/2019 tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Tất cả bà mẹ sinh con mà trẻ sinh ra sống từ ngày 01/01/2019 đến31/12/2019 tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và sinh sống tại huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm điều tra(01/01/2020)

Các bà mẹ đồng ý tham gia vào mẫu phỏng vấn

1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Tất cả bà mẹ không sinh con trong khoảng thời gian từ 01/01/2019 đến31/12/2019 tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Tất cả bà mẹ không sinh sống tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ 6tháng trở lên tính đến thời điểm điều tra (01/01/2020)

Các bà mẹ không tự nguyện tham gia phỏng vấn theo mẫu nghiên cứu

2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2020 đến tháng 10/2020

* Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Đại Từ, tỉnhThái Nguyên

3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

và phân tích một số yếu tố liên quan đến mất cân bằng giới tính khi sinh tạiđịa bàn huyện Đại Từ

4 Cỡ mẫu nghiên cứu

a Cỡ mẫu:

Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng được tính theo công thức:

Trang 19

Trong đó:

n = cỡ mẫu nghiên cứu

p: Tỉ lệ sinh trẻ sống tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

q = 1 – p

z2

(1-α/2) = 1,96, tương ứng với độ tin cậy 95%

d = Sai số ước lượng tự định trước, chọn d = 0,05

Giá trị p được ước lượng là 0,5 để cỡ mẫu được tính là lớn nhất

 n tính toán được là 384, để đảm bảo đủ mẫu khi điều tra, cỡ mẫuđược tăng lên 5%, khi đó mẫu nghiên cứu được làm tròn là: 400 bà mẹ sinhcon mà trẻ sống

b Chọn mẫu:

Đánh thứ tự các xã của xã, sử dụng phương pháp chọn ngẫu nhiên đủ

số lượng bà mẹ sinh con mà trẻ sống từ ngày 01/01/2019 – 31/12/2019(đảm bảo số lượng chia đều ở các xã)

5 Phương pháp thu thập số liệu

Cùng với sự phối hợp của cán bộ dân số các xã, thị trấn, nhóm nghiêncứu tiến hành tiếp cận nhóm đối tượng đích trong xã để thu thập những thôngtin cần thiết Thông tin thu thập dựa trên mẫu bản hướng dẫn phỏng vấn địnhlượng do nhóm nghiên cứu đã chuẩn bị Sau khi có danh sách những bà mẹ cócon dưới 1 tuổi tại các xã được chọn tham gia nghiên cứu, nhóm sẽ tiến hànhtiếp cận đối tượng, giải thích rõ về nghiên cứu để nhận được sự hợp tác từ các

bà mẹ tham gia phỏng vấn Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 10 phút Điều tra viên là các cán bộ dân số xã và thành viên của nhóm nghiêncứu Điều tra viên được tập huấn về kỹ năng phỏng vấn và bộ câu hỏi trướckhi chính thức thu thập số liệu tại địa bàn

Trang 20

Thu thập số liệu qua báo cáo tổng kết, báo cáo thống kê, báo cáo lưu

về công tác DS-KHHGĐ năm 2019 của Trung tâm Y tế huyện và 30 xã, thịtrấn nhằm tìm hiểu các thông tin chung về Dân số - KHHGĐ, số sinh

6 Quản lý và phân tích số liệu

Số liệu thu thập từ phiếu phỏng vấn được kiểm tra, mã hóa và làm sạchtrước khi nhập và phân tích

Số liệu được nhập trên nền phần mềm Epidata 3.0 và phân tích trên nềnphần mềm SPSS 11.5

Tỷ số giới tính khi sinh được tính toán chung cho tất cả mẫu nghiên cứu.Phân tích mối liên quan giữa tỷ số giới tính khi sinh và các yếu tố liênquan chọn mức ý nghĩa thống kê p = 0,05

7 Các biến số nghiên cứu

- Tiền sử nạo, sẩy thai

- Giới tính trẻ khi sinh

- Tỷ số giới tính khi sinh

- Mong muốn giới tính của con trước khi sinh

- Lý do các bà mẹ mong muốn sinh con trai

- Lý do các bà mẹ mong muốn sinh con gái

- Lý do các bà mẹ mong muốn sinh con nào cũng được

- Biết giới tính khi mang thai và cách để biết

Trang 21

- Ý kiến của bà mẹ về chi phí siêu âm xác định giới tính thai nhi, ảnhhưởng của siêu âm, tiếp cận dịch vụ siêu âm, quá trình siêu âm.

- Thời gian đi siêu âm và mục đích đi siêu âm

- Hiểu biết về Pháp lệnh dân số

- Biết cách sinh con theo ý muốn và cách thực hiện

- Ý định của bà mẹ khi siêu âm giới tính thai không theo ý muốn

- Quan niệm của bà mẹ đối với việc phá thai

8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu đã được thông qua bởi Hội đồng xét duyệt đề tài nghiên cứucấp cơ sở của Trung tâm Y tế huyện Đại Từ

Nghiên cứu được sự chấp thuận của lãnh đạo y tế địa phương

Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích,nội dung nghiên cứu và có phiếu mời tham gia nghiên cứu

Nghiên cứu không có tác động trực tiếp lên đối tượng tham gia nghiêncứu và không làm ảnh hưởng đến phong tục tập quán của người dân địaphương

Các thông tin thu thập được đảm bảo sự chính xác, trung thực khônglàm ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu và chỉ sử dụng cho mục đíchnghiên cứu

Kết quả nghiên cứu sẽ được thông báo cho địa phương nhằm cung cấpthông tin để cải thiện công tác truyền thông về giới tính khi sinh tại địaphương

9 Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục

9.1 Hạn chế của nghiên cứu

Sai số do đối tượng điều tra (cố ý hoặc vô ý cung cấp thông tin sai, sai sốnhớ lại)

Nguồn lực còn hạn chế nên chỉ tiến hành trên hành trên một số nhóm đốitượng đích, chưa khái quát trên toàn bộ cộng đồng

Trang 22

9.2 Biện pháp khắc phục

Xây dựng và hoàn thiện bộ công cụ thu thập thông tin với việc thamkhảo các bộ công cụ của các nghiên cứu đáng tin cậy và hỏi ý kiến cácchuyên gia Sử dụng câu hỏi ngắn gọn và dễ hiểu

Thử nghiệm bộ công cụ thu thập thông tin trước khi tiến hành chính thức

để tránh những câu hỏi dễ gây nhầm lẫn cho đối tượng hoặc câu hỏi không rõdàng

Tập huấn cho điều tra viên trước khi thu thập thông tin

Nghiên cứu viên và điều tra viên sẵn sàng giải thích những điều đốitượng chưa hiểu

10 Kế hoạch triển khai

Nội dung kế hoạch

ST

Thời gian hoàn thành

Người thực hiện

1 Xây dựng đề cương chi tiết 1/2020 Nhóm nghiên cứu

2 Thông qua đề cương chi tiết 2/2020 Nhóm nghiên cứu

3 Xây dựng các công cụ và chuẩn bị

các điều kiện nghiên cứu 3-4/2020 Nhóm nghiên cứu

4 Tiến hành thu thập số liệu 5/2020 Nhóm nghiên cứu

5 Xử lý và phân tích số liệu 6/2020 Nhóm nghiên cứu

7 Thông qua Hội đồng tại đơn vị và

Trang 23

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung của các bà mẹ

1.1 Phân bố nhóm tuổi của các bà mẹ

Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi của các bà mẹ

Nhận xét: Qua bảng phân bố nhóm tuổi của các bà mẹ cho thấy 51% các

bà mẹ trong độ tuổi từ 25 – 29 tuổi; 24,75% các bà mẹ trong độ tuổi từ 30 –

34 tuổi; 11,5% các bà mẹ trong độ tuổi từ 20 – 24; nhóm các bà mẹ trên 34tuổi chiếm 9%; còn lại 3,75% các bà mẹ có tuổi dưới 20 Qua đây cho ta thấychủ yếu các bà mẹ sinh con trong độ tuổi từ 20 đến 34, cao nhất là nhóm tuổi25-29 độ tuổi phù hợp để sinh con, tuy nhiên vẫn còn những bà mẹ sinh contrước tuổi 20 và sau 34 là tuổi không nên sinh con theo khuyến cáo

Trang 24

Nhận xét: Qua kết quả bảng trình độ học vấn và nghề nghiệp cho thấy:

Các bà mẹ co trình độ từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên chiếm tỷ lệcao nhất 39%; nhóm THPT chiếm 35%; các bà mẹ có trình độ THCS chiếm22,25%; trình độ tiểu học 3,75, không có bà mẹ nào không biết chữ

Về nghề nghiệp của các bà mẹ: Buôn bán chiếm tỷ lệ cao nhất 30% sau

đó đến công nhân 26%; cán bộ CNVC chiếm 21,5%; nông dân 16,5% và thấpnhất là nhóm nội trợ

1.3 Dân tộc và tôn giáo của các bà mẹ

Bảng 3.3 Dân tộc và Tôn giáo của các bà mẹ

Ngày đăng: 02/08/2021, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nghị định Số: 104/2003/NĐ-CP. “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định Số: 104/2003/NĐ-CP. “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số”
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2003
2. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Nghị định Số: 20/2010/NĐ-CP. “Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi điều 10 của Pháp lệnh dân số”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị địnhSố: 20/2010/NĐ-CP. “Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi điều 10của Pháp lệnh dân số”
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
3. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1989), Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo vệsức khỏe nhân dân
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1989
7. Bộ Y tế, Tổng cục Dân số kế hoạch hóa gia đình, Báo cáo kết quả khảo sát đánh giá “Những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam giai đoạn 2009-2011” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả khảosát đánh giá “Những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới mất cân bằng giới tínhkhi sinh tại Việt Nam giai đoạn 2009-2011
9. Tổng cục Thống kê (2011), Điều tra biến động dân số các năm 2007 - 2010, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra biến động dân số các năm 2007 -2010
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2011
10. Tổng cục thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam: Các bằng chứng mới về thực trạng, xu hướng và những khác biệt, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009,Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam: Các bằng chứng mới về thực trạng, xuhướng và những khác biệt
11. Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) (2010), Tỷ số giới tính khi sinh ở Châu Á và Việt Nam - Tổng quan tài liệu nhằm huấn luyện nghiên cứu về chính sách, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tỷ số giới tính khi sinh ởChâu Á và Việt Nam - Tổng quan tài liệu nhằm huấn luyện nghiên cứu vềchính sách
Tác giả: Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động
Năm: 2010
12. Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) (2009), Thực trạng dân số Việt Nam 2008, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng dân số ViệtNam 2008
Tác giả: Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động
Năm: 2009
13. Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) (2010), Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam - Bằng chứng từ Tổng điều tra dân số năm 2009, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mất cân bằng giới tính khisinh ở Việt Nam - Bằng chứng từ Tổng điều tra dân số năm 2009
Tác giả: Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
Nhà XB: Nhà xuấtbản Lao Động
Năm: 2010
14. Ủy ban Nhân Dân huyện Đại Từ (2019), Báo cáo tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2020 15. Phòng DS, Trung tâm y tế Đại Từ (2019). Báo cáo công tác DS- KHHGĐ huyện Đại Từ năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triểnKinh tế - Xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2020"15. Phòng DS, Trung tâm y tế Đại Từ (2019)
Tác giả: Ủy ban Nhân Dân huyện Đại Từ (2019), Báo cáo tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2020 15. Phòng DS, Trung tâm y tế Đại Từ
Năm: 2019
16. Nguyễn Quốc Anh (2005), “Thực trạng tỷ lệ giới tính và tỷ lệ giới tính khi sinh tại Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Thông tin y dược, (số 12), tr 10-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tỷ lệ giới tính và tỷ lệ giới tính khisinh tại Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Thông tin y dược
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh
Năm: 2005
19. Hiển Cừ (2010), “Mất cân bằng giới tính tại Quảng Ngãi”, Báo Thanh Niên, số ra 11-7-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mất cân bằng giới tính tại Quảng Ngãi”, "Báo ThanhNiên
Tác giả: Hiển Cừ
Năm: 2010
20. Đoàn Sĩ Hoàng (2008), Nghiên cứu tỷ số giới tính của các bà mẹ sinh con tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và một số yếu tố ảnh hưởng năm 2007- 2008, Luận văn tốt nghiệp BSCK2, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỷ số giới tính của các bà mẹ sinhcon tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và một số yếu tố ảnh hưởng năm2007- 2008
Tác giả: Đoàn Sĩ Hoàng
Năm: 2008
21. Hà Nguyên Khoa (2011), “Báo động đỏ mất cân bằng giới tính ở miền Trung”, Báo VnExpress, số ra 20-9-2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo động đỏ mất cân bằng giới tính ở miềnTrung”, "Báo VnExpress
Tác giả: Hà Nguyên Khoa
Năm: 2011
22. Nguyễn Trọng Nghĩa (2009), Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện Thiệu Hoá - Thanh Hóa năm 2009 và một số yếu tố liên quan, Luận văn tốt nghiệp Cử nhân y khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinhtại huyện Thiệu Hoá - Thanh Hóa năm 2009 và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Nguyễn Trọng Nghĩa
Năm: 2009
24. Dương Quốc Trọng (2011), “Một số suy nghĩ về tình trạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam”, Website Tổng cục DS-KHHGĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Một số suy nghĩ về tình trạng mất cân bằngtỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam
Tác giả: Dương Quốc Trọng
Năm: 2011
25. Dương Quốc Trọng. Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam: Các đặc điểm cơ bản và giải pháp. Tạp chí Dân số & Phát triển. Số 7(124). 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam: Các đặc điểmcơ bản và giải pháp". Tạp chí Dân số & Phát triển". S
26. Nguyễn Quang Tuấn (2007), Tình trạng mất cân đối giới tính đang ở mức báo động, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng mất cân đối giới tính đang ởmức báo động
Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn
Năm: 2007
28. United nation population fund (2006), Population and development, UNFPA, no1 (60):127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Population and development
Tác giả: United nation population fund
Năm: 2006
29. Z.Chrittophe Guilmoto (2007), Sex-ratio imbalance in Asia: Trends, consequences and policy responses, 4th Asia Pacific Conference on Reproductive Health and Rights, UNFPA, Hyderabad, India Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sex-ratio imbalance in Asia: Trends,consequences and policy responses
Tác giả: Z.Chrittophe Guilmoto
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w