1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC THỦY SẢN CỦA NGƯ DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM

82 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC THỦY SẢN CỦA NGƯ DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC THỦY SẢN CỦA NGƯ DÂN VÙNG ĐỆM

VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN HỮU HƯNG Ngành: THỦY SẢN

Niên khoá: 2008 – 2010

Tháng 7/2010

Trang 2

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG KHAI

THÁC THỦY SẢN CỦA NGƯ DÂN VÙNG ĐỆM

VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM

Tác giả

Nguyễn Hữu Hưng

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Thủy sản

Giáo viên hướng dẫn

Ths Nguyễn Phúc Thưởng Ths Phan Thanh Lâm

Tháng 7 năm 2010

Trang 3

CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Ban Chủ nhiệm Khoa và quý thầy cô trong Khoa Thủy Sản đã tận tình truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Xin chân thành biết ơn:

Thầy Nguyễn Phúc Thưởng

Thầy Phan Thanh Lâm

Đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này

Xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến anh Trần Quốc Chương đã theo sát tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Gia đình, người thân đã giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập

Xin gởi lời cảm ơn đến Chú Tiến, anh Du, anh An, anh Khiêm, anh Nam, chị Ân công tác tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II

- Cán bộ và nhân viên Vườn Quốc Gia Tràm Chim

- Các cán bộ tại các xã, thị trấn thuộc huyện Tam Nông

- Gia đình các hộ ngư dân vùng đệm

Đã giúp đỡ và hỗ trợ thông tin cho chúng tôi trong suốt thời gian làm đề tài.Cảm ơn tất cả các bạn trong và ngoài lớp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài

Do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức, nên luận văn này còn nhiều thiếu sót, chúng tôi chân thành đón nhận những ý kiến đóng góp của Quí Thầy

Cô và các bạn

Trang 4

TÓM TẮT

Vườn Quốc gia Tràm Chim được thành lập vào ngày 29/12/1998 với tổng diện tích 7.588 ha Đây là khu hệ sinh thái đa dạng và phong phú của vùng Đồng Tháp Mười

Nhìn chung cuộc sống người dân vùng đệm Vườn Quốc gia còn rất nhiều khó khăn và vất vả, nghề chính của họ là làm thuê và khai thác thủy sản Họ sống phụ thuộc rất nhiều vào nguồn lợi thủy sản bên trong Vườn Quốc gia Chính vì vậy nhiều ngư dân nghèo đã đăng kí và tham gia khai thác thủy sản bên trong Vườn Quốc gia với mục đích ổn định và cải thiện cuộc sống gia đình Do đó vấn đề được đặt ra cho ban quản lý Vườn Quốc gia là làm thế nào để bảo vệ và cho người dân khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản bên trong Vườn Quốc gia

Tuy nhiên để giải quyết vấn đề trên ban quản lý Vườn Quốc gia đã và đang gặp phải những khó khăn nhất định Với mục đích tạo thêm cơ sở cho công tác quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản bên trong Vườn được tốt hơn, đề tài đã được tiến hành theo phương pháp điều tra trực tiếp 78 hộ ngư dân vùng đệm Vườn Quốc gia Tràm Chim về tình hình kinh tế xã hội, thực trạng khai thác thủy sản

Từ các nguồn số liệu, chúng tôi nhận thấy đa số ngư dân khai thác thủy sản có hoàn cảnh khó khăn, trình độ học vấn tương đối thấp, nghề nghiệp chính của họ là làm thuê và khai thác thủy sản

- Ước tính tổng sản lượng khai thác trong năm của 78 hộ ngư dân được điều tra là: 30.178 kg

- Thu nhập bình quân hàng năm từ khai thác thủy sản là 6.026.000 đồng/năm

Trang 5

However, solving problems in the National Park has encountered certain difficulties For the purpose of creating the basis for better management, exploitation and protection of fisheries resources within the Park, this thesis has been conducted by directly investigating 78 fishermen households in the buffer zone of Tram Chim National Park about the socio-economic and fishing situations

From these data sources, we found that most fishermen have difficult circumstances, low educational levels Their main occupations are hired workers and fishing

- Estimating the annual total catching production of the 78 surveyed fishermen households is 30.178 kg

- Average annual income from fishing is 6.026.000 VND per year

Trang 6

MỤC LỤC

ĐỀ MỤC TRANG

TÊN ĐỀ TÀI i

CẢM TẠ ii

TÓM TẮT TIẾNG VIỆT iii

TÓM TẮT TIẾNG ANH iv

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH SÁCH CÁC BẢNG viii

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH ix

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ x

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt Vấn Đề 1

1.2 Mục Tiêu Đề Tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Khái Quát Về Vườn Quốc Gia 5

2.1.1 Khái niệm chung 5

2.1.2 Sơ lược về sự hình thành các vườn quốc gia Việt Nam 6

2.2 Đặc điểm chung về Vườn Quốc gia Tràm Chim 7

2.2.1 Vị trí địa lý 7

2.2.2 Lịch sử hình thành 7

2.2.3 Chức năng 8

2.2.4 Khí hậu, địa hình và thủy văn 9

2.2.5 Đa dạng sinh học 10

2.2.6 Các giá trị của Vườn Quốc gia .11

2.2.7 Tràm Chim đối mặt với mùa khô nhiều khó khăn 12

2.2.8 Bảo tồn, phục hồi Vườn Quốc gia 13

2.3 Những Vấn Đề trong Việc Quản Lý Vườn Quốc Gia 15

2.3.1 Những vấn đề, thách thức trong quản lý .15

2.3.2 Những quy định của ban quản lý Vườn Quốc gia 16

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Nghiên Cứu 19

3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu 19

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 19

3.2.2 Xử lý và phân tích số liệu 20

Trang 7

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Đặc Điểm Kinh Tế - Xã Hội Của Ngư Dân Vùng Đệm Vườn Quốc Gia Tràm Chim – Đồng Tháp 23

4.1.1 Thông tin về tuổi và thời gian định cư của ngư dân 23

4.1.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 24

4.1.3 Thông tin về nhân khẩu và lao động 25

4.1.4 Điều kiện đất đai của ngư dân 26

4.1.5 Tài sản của nông hộ 27

4.1.6 Tình trạng nghèo đói, cư trú và điều kiện nhà ở của các hộ dân 27

4.1.7 Nghề nghiệp và thu nhập của nông hộ 28

4.2 Kết Quả Điều Tra Thực Trạng Khai Thác Thủy Sản Bên Trong và Bên Ngoài Vườn Quốc Gia của Ngư Dân 30

4.2.1 Tình hình sử dụng ngư cụ khai thác thủy sản 30

4.2.2 Tần suất khai thác (ngày/ tháng) 33

4.2.3 Mùa vụ khai thác .34

4.2.4 Số loài thủy sản khai thác chính 36

4.3 Sản Lượng Khai Thác Thủy Sản 37

4.3.1 Sản lượng khai thác trung bình theo từng ngư cụ của hộ trong ngày 37

4.3.2 Ước tính tổng sản lượng khai thác theo từng ngư cụ trong năm 38

4.3.3 Ước tính tổng sản lượng khai thác trong năm của các hộ ngư dân 39

4.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác của nông hộ bằng mô hình hồi quy đa biến .40

4.4 Hiệu quả kinh tế từ khai thác thủy sản từng hộ ngư dân 42

4.5 Một số đánh giá và đề xuất của ngư dân đối với Vườn Quốc Gia 43

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46

5.1 Kết Luận 46

5.2 Đề Nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ LỤC .50

PHỤ LỤC 1 PHIẾU ĐIỀU TRA NGƯ DÂN 50

PHỤ LỤC 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGƯ DÂN 54

PHỤ LỤC 3 DANH SÁCH ĐIỀU TRA NGƯ DÂN 57

PHỤ LỤC 4 TỔNG SẢN LƯỢNG KHAI THÁC QUA ĐIỀU TRA NGƯ DÂN 59

PHỤ LUC 5 HIỆU QUẢ KINH TẾ TỪ KHAI THÁC THỦY SẢN 61

PHỤ LUC 6 SẢN LƯỢNG KT TRÊN TỪNG NGƯ CỤ CỦA NGƯ DÂN 63

PHỤ LỤC 7 TƯƠNG QUAN GIỮA SLKT VỚI SỐ NGÀY, SỐ LOẠI NGƯ CỤ 67

PHỤ LỤC 8 DANH SÁCH CÁC VƯỜN QUỐC GIA Ở VIỆTNAM 68

PHỤ LỤC 9 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA 70

Trang 8

- NLTS: Nguồn lợi thủy sản

- NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- NTTS: Nuôi trồng thủy sản

- PCCC: Phòng cháy chữa cháy

- QĐ-TTg: Quyết định-Thủ tướng

- UBND: Ủy ban nhân dân

- VQG: Vườn Quốc Gia

- WWF (World Wildlife Fund): Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

NỘI DUNG TRANG

Bảng 4.1 Số tuổi và thời gian định cư của ngư dân 24

Bảng 4.2 Phân bố trình độ học vấn của chủ hộ 24

Bảng 4.3 Thông tin về nhân khẩu và lao động 25

Bảng 4.4 Số thành viên tham gia vào các nghề nghiệp của nông hộ 25

Bảng 4.5 Tài sản của nông hộ 27

Bảng 4.6 Nhà ở và tình trạng cư trú của ngư dân (% Số hộ có liên quan) 28

Bảng 4.7 Nguồn thu nhập của nông hộ 30

Bảng 4.8 Tình hình sử dụng ngư cụ 31

Bảng 4.9 Tần suất khai thác của từng loại ngư cụ (số ngày/ tháng) 33

Bảng 4.10 Số tháng khai thác trong năm của từng loại ngư cụ (số tháng/ năm) 35

Bảng 4.11 Sản lượng khai thác theo từng loại ngư cụ (kg/hộ/ngày) 37

Bảng 4.12 Sản lượng KT theo từng loại ngư cụ trong năm (kg/hộ/năm) 38

Bảng 4.13 Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng khai thác trung

bình/năm của nông hộ 41

Bảng 4.14 Hiệu quả kinh tế từ KTTS của từng hộ ngư dân 42

Bảng 4.15 Một số đánh giá của ngư dân về Vườn Quốc Gia 43

Bảng 4.16 Những đề xuất của ngư dân (% số hộ liên quan) 44

Bảng 4.17 Đề xuất được ngư dân xếp hạng quan trọng nhất 44

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

NỘI DUNG TRANG

Hình 1.1 Bản đồ các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam 3Hình 1.2 Một khu vực tại Vườn Quốc Gia Tràm Chim 4Hình 1.3 Bản đồ Vườn Quốc Gia Tràm Chim 18

Trang 11

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

NỘI DUNG TRANG

Đồ thị 4.1 Điều kiện đất nông nghiệp của nông hộ 26

Đồ thị 4.2 Tình trạng nghèo đói của các hộ ngư dân 28

Đồ thị 4.3 Nghề nghiệp quan trọng nhất (xếp hạng 1 theo thu nhập) của nông hộ 29

Đồ thị 4.4 Thu nhập từ các hoạt động sản xuất của nông hộ 29

Đồ thị 4.5 Tình hình sử dụng ngư cụ khai thác thủy sản của ngư dân 33

Đồ thị 4.6 Tần suất khai thác theo từng loại ngư cụ 34

Đồ thị 4.7 Mùa vụ khai thác của ngư dân theo từng ngư cụ 35

Đồ thị 4.8 Lịch thời vụ khai thác trong năm của các hộ ngư dân 36

Đồ thị 4.9 Một số loài cá được khai thác của ngư dân 36

Đồ thị 4.10 Sản lượng khai thác trung bình của từng hộ trong ngày 38

Đồ thị 4.11 Sản lượng khai thác trung bình của từng hộ trong năm 39

Đồ thị 4.12 Sản lượng khai thác trung bình của từng hộ trong năm 40

Đồ thị 4.13 Tổng sản lượng khai thác trong năm của các hộ 40

Trang 12

Chương 1

GIỚI THIỆU 1.1 Đặt Vấn Đề

Vườn Quốc Gia Tràm Chim - Đồng Tháp với diện tích 7.588 ha là vùng đất thấp ngập nước có khu hệ sinh vật quan trọng, và đây cũng là khu bảo tồn đa dạng sinh học động vật thủy sản đặc trưng ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

Hiện nay ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam các tài nguyên rừng, thủy sản, đất, nước chưa được sử dụng một cách bền vững, đặc biệt nguồn lợi thủy sản nhiều nơi đang bị khai thác quá mức

Đa phần cuộc sống cộng đồng ngư dân vùng đệm sống xung quanh các Vườn Quốc gia còn nghèo và họ sống phụ thuộc rất nhiều vào nguồn lợi thủy sản Hơn thế nữa từ khi Vườn Quốc gia được thành lập làm vùng khai thác của ngư dân bị thu hẹp một cách đáng kể Do đó vấn đề được đặt ra là cần có giải pháp hợp lý cho người dân nghèo sống vùng đệm Vườn Quốc gia tham gia khai thác thủy sản bền vững bên trong Vườn Quốc gia giúp họ ổn định, cải thiện cuộc sống Từ đó những năm gần đây đã có nhiều chương trình, dự án sử dụng bền vững đa dạng sinh học đất ngập nước với phát triển kinh tế được thựchiện

Tuy nhiên để giải quyết vấn đề trên đã và đang gặp phải một số khó khăn Do

đó chúng ta cần có thêm những biện pháp trong công tác quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Để tìm hiểu những vấn đề trên, được sự phân công của Khoa Thủy sản,

Trường Đại học Nông Lâm – TP.HCM, chúng tôi tiến hành đề tài: “Điều Tra Tình Hình Kinh Tế Xã Hội và Thực Trạng Khai Thác Thủy Sản của Ngư Dân Vùng Đệm Vườn Quốc Gia Tràm Chim”

Trang 13

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Đề tài được thực hiện với mong muốn

- Điều tra, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng khai thác thủy sản của ngư dân tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Tràm Chim

- Bước đầu đề xuất một số giải pháp quản lý nguồn lợi góp phần bảo vệ và phát triển bền vững đa dạng sinh học động vật thủy sản cho Vườn Quốc Gia Tràm Chim

Trang 14

Hình 1.1 Bản đồ hệ thống các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam

(Nguồn: WWF Chương trình Việt Nam, 2008 Bộ Công cụ xác định rừng

có giá trị bảo tồn cao Việt Nam)

Trang 15

Hình 1.2 Một khu vực tại Vườn Quốc gia Tràm Chim

Trang 16

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái Quát Về Vườn Quốc Gia

2.1.1 Khái niệm chung

Năm 1969, IUCN đưa ra tiêu chuẩn một Vườn Quốc gia phải có một diện tích tương đối lớn với đặc điểm cụ thể xác định Một Vườn Quốc gia là nơi:

- Có một hoặc nhiều hệ sinh thái không bị thay đổi do các hoạt động khai thác của con người, nơi có địa mạo độc đáo với nhiều loài động thực vật có giá trị khoa học giáo dục hoặc có chứa một cảnh quan tự nhiên với vẻ đẹp tuyệt vời

- Cơ quan có thẩm quyền cao nhất của đất nước phải có những biện pháp nhằm bảo vệ và quản lý hiệu quả đối với khu vực đó

Năm 1971 các tiêu chí này đã được mở rộng thêm với những tiêu chuẩn rõ ràng

và quy định để đánh giá một vườn quốc gia, bao gồm:

- Kích thước tối thiểu là 1.000 ha trong khu, trong đó bảo vệ thiên nhiên được

ưu tiên

- Bảo vệ pháp lý theo luật định

- Đủ Ngân sách và nhân lực nhằm bảo vệ hiệu quả

- Cấm khai thác tài nguyên thiên nhiên (bao gồm cả việc phát triển các đập nước) và các hoạt động như thể thao, câu cá, du lịch,…cũng phải được quản lý thích hợp

Trang 17

Định nghĩa của IUCN (1994) Vườn Quốc gia là vùng đất liền và/hoặc biển tự

nhiên được hoạch định để bảo vệ tính toàn vẹn của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hôm nay và mai sau, không được khai thác hay chiếm đoạt làm tổn hại đến mục tiêu đã hoạch định và để làm cơ sở cho các hoạt động vui chơi, giải trí, khoa học, giáo dục, tinh thần của các du khách, tất cả các hoạt động này phải hài hoà giữa văn hoá và

môi trường (Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế 2008, IUCN Việt Nam)

Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, thay thế cho Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2001 về Quy chế quản lý rừng thì Vườn Quốc gia là một dạng rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí sau:

- Vườn Quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài, bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp

- Vườn Quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng

và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái

- Vườn Quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn

2.1.2 Sơ lược về sự hình thành các Vườn Quốc gia Việt Nam

Năm 1960, rừng Cúc Phương được công nhận là khu bảo tồn rừng và được thành lập theo Quyết định 72/TTg ngày 7 tháng 7 năm 1962 với diện tích 20.000 ha đánh dấu sự ra đời khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam Quyết định số 18/QĐ-LN ngày

8 tháng 1 năm 1966 chuyển hạng lâm trường Cúc Phương thành VQG Cúc Phương Với nhiều giá trị về cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng về hệ sinh thái, các giá trị văn hoá, lịch sử nên từ lâu Cúc Phương đã trở thành điểm du lịch sinh thái nổi tiếng và hấp

dẫn

Trang 18

Trải qua hơn bốn thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn Quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu Bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 3 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng, miền cả nước Đây là những tài sản thiên nhiên quý báu không chỉ có giá trị trước mắt cho thế hệ hôm nay mà còn

là di sản của nhân loại mãi mãi về sau (Nguồn: Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên

nhiên Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế 2008, IUCN Việt Nam)

Vườn Quốc gia tại Việt Nam là một danh hiệu được Chính phủ Việt Nam công nhận chính thức thông qua nghị định, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý (Phụ lục 10 Các Vườn Quốc gia ở Việt Nam đã được công nhận)

2.2 Đặc điểm chung về Vườn Quốc gia Tràm Chim

VQG Tràm Chim là một trong trong số ít những nơi còn lưu giữ những mẫu cuối cùng của hệ sinh thái Đồng Tháp Mười trước đây từng chiếm đến 700.000 ha diện tích của các tỉnh Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang (Buckton và ctv, 1999)

2.2.1 Vị trí địa lý

Theo thông tin về các khu bảo vệ hiện có và đề xuất ở Việt Nam (2004) Vườn Quốc gia Tràm Chim nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Tọa độ địa lý 10°40′ – 10°47′ vĩ bắc, 105°26′ - 105°36′ Đông với tổng diện tích 7.588 ha nằm trong địa giới của 5 xã (Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thành B, Phú Thọ, Tân Công Sinh) và Thị trấn Tràm Chim, với số dân trong vùng khoảng 30.000 người

2.2.2 Lịch sử hình thành

- Năm 1985, Tràm Chim được Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp thành lập với tên gọi là Công ty Nông Lâm Ngư trường Tràm Chim, với mục đích là trồng tràm và

Trang 19

khai thác thủy sản, và vừa giữ lại được một phần hình ảnh của Đồng Tháp Mười xa xưa

- Năm 1986, Tràm Chim được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp chọn làm

"Khu bảo tồn Sếu cổ trụi", nhằm bảo bảo vệ loài Sếu cổ trụi Grus antigone (Buckton

và ctv, 1999)

- Vào giữa tháng 5 năm 1991 và tháng 12 năm 1992, dự án đầu tư cho khu bảo tồn thiên nhiên Tràm Chim được Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng II, Thành phố

Hồ Chí Minh xây dựng (Anon, 1993a)

- Ngày 2/2/1994, theo Quyết định số 47/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim chính thức được thành lập với diện tích 7.500 ha, với tên gọi là Tràm Chim Tam Nông (Bộ NN&PTNT, 1997, Phạm Trọng Thịnh và Nguyễn Chí Thành, 2000)

- Tháng 9 năm 1998, dự án đầu tư của khu bảo tồn thiên nhiên Tràm Chim được Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng II Thành phố Hồ Chí Minh chỉnh sửa theo đó diện tích khu bảo tồn là 7.588 ha, bao gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 6.889 ha, phân khu phục hồi sinh thái là 653 ha và phân khu hành chính dịch vụ là 46 ha (Phạm Trọng Thịnh, 1998) Sau đó, Tràm Chim được chuyển thành Vườn Quốc gia theo Quyết định

số 253/1998/QĐ-TTg, ngày 29/12/1998, của Thủ tướng Chính phủ

2.2.3 Chức năng

Bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười, bảo

vệ khu vực di trú cho các loài chim di cư, đặc biệt là loài chim sếu (Grus antigone).,

bảo tồn các loài động-thực vật bản địa, các nguồn gen quý hiếm, và duy trì những điều kiện thích hợp cho việc nghiên cứu môi trường tự nhiên và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (Theo Báo cáo hàng năm của Vườn Quốc gia Tràm Chim, 1999)

Trang 20

2.2.4 Khí hậu, địa hình và thủy văn

Theo Báo cáo hàng năm của Vườn Quốc gia Tràm Chim (2001):

VQG Tràm Chim là vùng thấp trũng, nơi cao nhất là 2,3 m, nơi thấp nhất là 0,4

m (so với mực nước biển Tây Nam Bộ)

Độ ẩm: Độ ẩm trung bình hàng năm duy trì trong khoảng 82 - 83%

Lượng mưa: Lượng mưa hàng năm phân bố theo mùa rõ rệt Mùa mưa tập trung

từ tháng 5 đến tháng 11, hơn 90% lượng mưa tập trung vào khoảng thời gian này Trong khi đó, tháng 1, 2, 3 lại là những tháng khô hạn nhất trong năm Số ngày mưa trung bình đo được tại Vườn quốc gia Tràm Chim khoảng 110 - 160 ngày/năm

Nằm cách sông Mê Kông 19 km về phía đông nhận nguồn nước trực tiếp từ sông Mê Kông thông qua hệ thống kinh thủy lợi (kênh Hồng Ngự–Long An, Đồng Tiến, An Hòa và Phú Hiệp), có độ cao so với mực nước biển 1m Trước khi bị kênh mương hoá, Đồng Tháp Mười là vùng bị ngập lũ theo mùa với mức nước ổn định trong cả thời gian dài đến 7 tháng hàng năm Từ khi hệ thống kênh mương phát triển, nước lũ thoát nhanh và Vườn Quốc gia hàng năm chỉ ngập lũ khoảng dưới 6 tháng Mực nước trong các kênh bắt đầu dâng lên từ tháng 6, khi mùa mưa bắt đầu Vào giữa tháng 9 và tháng 12, mực nước trong vườn quốc gia từ 2-4 mét, đỉnh lũ cao nhất là vào tháng 10 (Phạm Trọng Thịnh, 1998)

Trang 21

Từ giữa năm 1980 đến nay đã có 53 km đê bao được đắp xung quanh Vườn nhằm mục đích lâu dài là ngăn cản lũ tràn vào bên trong và điều chỉnh mức nước trong mùa khô Vườn Quốc gia được chia thành 5 tiểu khu ngăn cách bởi các kênh và việc quản lý mức nước ở mỗi kênh đó đều được tiến hành độc lập nhau (Phạm Trọng Thịnh, 1998)

pubescens và Nymphaea tetragona (Buckton và ctv, 1999)

Đặc biệt quan trọng là quần thể của phân loài Sếu cổ trụi đặc hữu G a sharpii,

thường thường xuyên di trú đến kiếm ăn trong vườn vào mùa khô tạo nên vẻ đẹp kì thú cho vùng nơi Từ năm 1989 đến 1999, số lượng tối đa Sếu cổ trụi tại khu vực dao động trong khoảng từ 187 đến 814 cá thể, trung bình hàng năm ghi nhận 496 cá thể (BirdLife International, 2001)

Một số loài chim đang hoặc sắp bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu khác được

ghi nhận tại Tràm Chim như Ô tác Houbaropsis bengalensis, Điềng điễng Anhinga melanogaster, Già đẫy nhỏ Leptoptilos javanicus, Giang Sen Mycteria leucocephala

và Rồng rộc vàng Ploceus hypoxanthus (Tordoff, 2002) Ngoài ra, còn có một số loài chim nước đáng chú ý khác đã ghi nhận ở Tràm Chim như Le khoang cổ Nettapus coromandelianus, Nhát hoa Rostratula benghalensis và Gà lôi nước Hydrophasianus chirurgus (Buckton và ctv, 1999) Do có tầm quan trọng Quốc tế trong công tác bảo

tồn các loài chim, Tràm Chim đã được công nhận là một trong số các vùng chim quan

trọng của Việt Nam (Tordoff, 2002)

Gần đây theo khảo sát của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu thuộc Tổ chức

WWF, tại Vườn Quốc gia Tràm Chim còn lưu giữ 101 loài cá, chiếm 1/4 số loài cá ở

Trang 22

Đồng bằng sông Cửu Long đang được bảo tồn; trong đó có 9 loài cá trong Sách đỏ Việt Nam đang bị đe dọa được bảo tồn tại Vườn như cá hô, ét mọi, lóc bông, trê vàng, duồng bay, cá duồng, mang rổ, cá còm và ngựa nam (Theo Mạng Thông tin khoa học

và công nghệ Việt Nam, 8/2009)

2.2.6 Các giá trị của Vườn Quốc gia

VQG Tràm Chim là nơi lưu trữ nguồn nước trong thời gian lũ và giữ cho lũ thoát ra một cách chạm chạp Bằng cách đó nó sẽ giúp làm giảm nhẹ ảnh hưởng xấu của lũ đối với các vùng đất nông nghiệp xung quanh (Phạm Trọng Thịnh và Nguyễn Chí Thành, 2000)

2.2.6.1 Hoạt động du lịch sinh thái

Vườn Quốc gia Tràm Chim đã nhanh trở thành điểm đến lý tưởng của những người nghiên cứu và yêu thích thiên nhiên Năm 1998, Hội Sếu Quốc tế và Vườn Quốc gia Tràm Chim đã bắt đầu đeo vòng và gắn máy định vị cho sếu, nhằm xác định thời gian cũng như đường bay, địa điểm di chuyển của chúng Qua thống kê của Vườn Quốc gia, số lượng chim sếu năm 2008 là 126 con, cao hơn năm 2000 gần 100 con

Theo thống kê của Vườn quốc gia Tràm Chim (2008) hàng năm có 5.000-6.000

du khách đến tham quan Tràm Chim, trong đó 30% là khách quốc tế Tập trung vào cuối tháng 12, khi mùa lũ qua, khí hậu trở nên dịu mát là lúc chim sếu bay về Tràm Chim, hiện tượng này kéo dài hết tháng 4 Đây là thời điểm du khách có thể ngắm nhìn đàn sếu đầu đỏ bay đi lúc sáng sớm và về sau chiều muộn sau cánh rừng tràm Khách đến Tràm Chim chủ yếu để du lịch sinh thái, khách có thể du thuyền trên những kênh rạch để tìm hiểu văn hoá của cộng đồng địa phương

2.2.6.2 Khai thác hợp lý nguồn tài nguyên

Năm 2009 Tỉnh Đồng Tháp đã giải quyết cho dân khai thác theo quy định một cách hợp lý tài nguyên đất ngập nước Vườn Quốc gia như tỉa củi khô, bắt thủy sản, thu hoạch bông súng, rau, bắt ốc bươu vàng và khai thác đồng cỏ cho đàn trâu bò ăn hoặc cắt cỏ để ủ trồng kiệu

Trang 23

Đối tượng tham gia thí điểm khai thác tài nguyên Vườn Quốc gia một cách hợp

lý là ưu tiên những gia đình chính sách, hộ nghèo ở 5 xã chung quanh vườn được địa phương bình chọn để các hộ được tham gia sử dụng tài nguyên có ý thức bảo vệ tốt tài nguyên thiên nhiên của Vườn

Sau gần một năm khai thác hợp lý tài nguyên ở Vườn Quốc gia, các nhà chức năng, các ngành chuyên môn, nhà khoa học đánh giá rất cao và có hiệu quả không chỉ

ở Vườn mà giúp ích cho nhiều hộ dân nơi đây bằng việc tăng thu nhập đàng kể cho người dân, bình quân mỗi người được vào khai thác có thu nhập từ hơn 50 ngàn đồng/người/ngày, nhất là các hộ nghèo có việc làm ổn định trong mùa nước nổi, giảm

áp lực cho Vườn trong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên

Đặc biệt là giảm vật liệu có thể gây cháy trong mùa khô là khai thác tốt củi khô,

cỏ, đặc biệt các nguồn tài nguyên như thủy sản, rau, lúa trời sau khi sử dụng luôn được tái tạo, phục hồi và phát triển trở lại (Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng tháp, 12/2009)

Năm 2010, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục cho thí điểm khai thác tài nguyên Vườn Quốc gia Tràm Chim một cách hợp lý để góp phần Quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên bên trong Vườn Quốc gia Tràm Chim một cách bền vững với sự tham gia của cộng đồng tại địa phương, góp phần nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo tồn tài nguyên, phòng chống cháy rừng vào mùa khô (Nguồn: Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, 2009)

2.2.7 Tràm Chim đối mặt với mùa khô nhiều khó khăn

Vườn Quốc gia Tràm Chim là khu bảo tồn hệ sinh thái đa dạng đặc trưng của

vùng đất ngập nước khu vực Đông nam Á có vai trò rất quan trọng

Mùa khô mực nước thấp đặc biệt từ tháng 1 đến tháng 3 là những tháng khô hạn nhất trong năm cũng là thời điểm thích hợp cho nhiều loại thực vật sinh sôi nảy nở, đặc biệt là loài năng kim, thức ăn chính của sếu đầu đỏ Chính những điều đó làm cho mùa khô hàng năm trở thành thời điểm ứng phó khó khăn nhất của những người làm công tác PCCC ở Vườn Quốc gia

Trang 24

Vào thời điểm này nhiều thảm thực vật từ khu A1 đến khu A5 đã bị khô, cây chết đổ, ngã chồng lên nhau tạo thành một lớp thực bì dầy đặc tạo nên những mồi lữa khổng lồ bên trong vườn, trong khi nhiệt độ ở vào mức cao

Nhiều người dân xâm nhập trái phép đánh bắt cá, bắt ong, lấy củi khô và gây ra cháy gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng lớn và lâu dài đến hệ sinh thái của vườn

Do đó Ban chỉ đạo PCCC rừng và huyện cùng 5 xã, thị trấn vùng đệm tiếp tục vận động người dân nêu cao ý thức tự giác bảo vệ khu bảo tồn, phân công lực lượng trực chiến tăng cường tuần tra xử lý nghiêm các trường hợp xâm nhập trái phép vào vườn, tạo điều kiện thuận lợi cho Đội cơ động có thể ứng phó nhanh khi có tình huống cháy xảy ra (Theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp, 7/2009)

2.2.8 Bảo tồn, phục hồi Vườn Quốc gia

Vườn quốc gia Tràm Chim vốn có hệ sinh thái độc đáo với hơn 130 loài thực vật bản địa; 232 loài chim trong đó có 16 loài nằm trong danh mục Đỏ của IUCN gần

150 loại cá nước ngọt, chiếm 33% tổng số loài cá nước ngọt tại đồng bằng sông Cửu Long (Theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp, 7/2009)

Tuy nhiên VQG luôn đứng trước nhiều mối đe dọa nên vấn đề bảo vệ luôn được đặt lên hàng đầu Ở đây thường xuyên có sự xâm nhập trái phép của người dân địa phương vào trong vườn để săn bắt và lấy củi, đây là vấn đề chính mà công tác bảo vệ cần quan tâm Đồng thời, xung quanh Vườn là khu vực trồng lúa nước, các hoạt động

sử dụng đất không bền vững bên ngoài vườn cũng gây ra các ảnh hưởng tiêu cực đến

hệ sinh thái đất ngập nước của vườn như gây ô nhiễm và làm thay đổi các mực nước tự nhiên (Buckton và ctv, 1999)

Tràm Chim đáp ứng được các tiêu chí để được lựa chọn đề cử là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế theo Công ước Ramsar Năm 2000, Phân Viện Điều tra Quy hoạch Rừng II, Tp Hồ Chí Minh đã hoàn tất phiếu thông tin Ramsar cho VQG Tràm Chim, là bước đầu cho việc đề cử Tràm Chim thành khu Ramsar (Phạm Trọng Thịnh và Nguyễn Chí Thành, 2000)

Trang 25

Những năm gần đây đã có dự án từ năm 2008 đến năm 2011 dưới sự tài trợ của Quỹ Bảo vệ động vật hoang dã Thế giới và Công ty Cocacola tập trung vào việc khôi phục diện tích đồng cỏ, tiêu diệt Mai Dương, một loại cỏ dại đang xâm lấn mảng thực vật ở Tràm Chim Sự hỗ trợ của dự án, còn cho phép Vườn quốc gia Tràm Chim tổ chức thí điểm các nhóm cộng đồng bảo vệ, xây dựng hệ sinh thái, mà thành viên những người dân nghèo ở địa phương với mức lương gần 2 triệu đồng mỗi tháng (Theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp, 2009)

Phục hồi sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim còn giúp cải thiện chất lượng nước, khôi phục nguồn nước ngầm, điều tiết lũ và hạn hán cho khu vực hạ lưu đồng bằng sông Cửu Long và Đồng Tháp Mười thông qua việc thu nước vào mùa lũ, xả nước dần vào mùa khô, bổ sung nước ngầm cục bộ tầng nông và khu vực ở tầng sâu, giảm hiện tượng nhiễm mặn tại hạ lưu đồng bằng sông Cửu Long, giảm tác động của

sự biến đổi khí hậu

Vườn Quốc gia có tất cả 5 phân khu từ A1 đến A5 đều có kênh và đê bao bao bọc xung quanh vườn với tổng chiều dài hơn 81 km, có 6 cống, 2 đập tràn, 7 hồ trữ nước và cùng với hệ thống đìa, rọc, lung bên trong vườn tạo điều kiện thuận lợi để giữ

độ ẩm trong rừng tràm hoặc điều tiết lượng nước, giữ nước trong mùa khô giúp cho các loài cá sinh sống phát triển

Theo các nhà nghiên cứu, vào mùa lũ thường thấy có 62 loài cá, 7 loài giáp xác

từ bên ngoài di chuyển vào Tràm Chim và 41 loài cá di chuyển ra Vào mùa này, đa số

cá lớn đều mang trứng và có rất nhiều trứng cá trong mẫu nước thu thập Vào mùa khô, có 49 loài cá và 2 loài giáp xác di chuyển ra ngoài vườn Quốc Gia có lợi cho cộng đồng đánh bắt

Năm 2008, WWF phối hợp với Công ty Cocacola đầu tư kinh phí phục hồi sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười tại VQG Tràm Chim Qua đó để bảo tồn, lưu giữ, cải thiện tính liên kết thủy văn bằng việc lắp đặt các cống, đập tràn để cải thiện tính liên kết thủy văn bên trong vườn quốc gia tăng giá trị nơi sinh sản và di trú của cá để cho các loại cá phát triển, ổn định

Trang 26

Tỉnh Đồng Tháp đã có Phương án thí điểm sử dụng khai thác hợp lý tài nguyên đất ngập nước Vườn Quốc Gia Tràm Chim có sự tham gia của cộng đồng đã được UBND tỉnh Đồng Tháp phê duyệt, được thực hiện 2 năm 2009-2010 Các loại tài nguyên được khai thác là 20% sản lượng thủy sản Đối với việc khai thác thủy sản chỉ được phép khai thác 50 tấn cá, tôm các loại/năm Việc khai thác cá được qui định cụ thể là tránh mùa sinh sản của các loài thủy sản, nhất là từ tháng 5 đến tháng 7 hằng năm; công cụ, phương tiện khai thác là thủ công; phương tiện khai thác thủy sản như: lưới, chài, trúm, lợp, câu giăng, chà đống, kích thước mắt lưới cho từng loại ngư cụ tối thiểu là 20 mm, đồng thời thả lại những loài cá quí hiếm có trong Sách đỏ (Theo Tin tức Thủy sản Việt Nam, 12/2009)

2.3 Những Vấn Đề Trong Việc Quản Lý Vườn Quốc Gia

2.3.1 Những vấn đề, thách thức trong quản lý

Áp lực của cộng đồng nghèo sống xung quanh VQG và sự phụ thuộc của cộng đồng, nhất là người nghèo lên tài nguyên thiên nhiên đất ngập nước bên trong Chế độ bảo vệ nghiêm ngặt trong nhiều năm qua đã dẫn tới xung đột gay gắt giữa VQG và cộng đồng và cũng đã không ngăn cản được sự xâm nhập vào bên trong để khai thác tài nguyên, dẫn đến sự suy kiệt tài nguyên (cá, củi, cỏ)

Vấn đề quản lý thủy văn cho phù hợp với nhu cầu của hệ sinh thái đất ngập nước, trong bối cảnh chế độ thủy văn toàn vùng Đồng Tháp Mười đã thay đổi do sự phát triển hệ thống kênh đào rộng khắp

Vấn đề phát triển du lịch sinh thái, sao cho vừa mang lại lợi ích cho cộng đồng, đóng góp cho bảo tồn mà không gây tác hại lên hệ sinh thái

Hiện nay vườn quốc gia Tràm Chim đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự xâm

lấn của cây mai dương (Mimosa pigra), một loài thực vật được IUCN xếp trong 100

loài ngoại lai xâm hại nguy hiểm nhất thế giới Nếu không kiểm soát được, trong vòng 10-15 năm nữa, toàn bộ vườn quốc gia sẽ bị loài này xâm lấn thành loài độc tôn Sự đa dạng sinh học sẽ mất đi hoàn toàn (Theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp, 2009)

Trang 27

2.3.2 Những quy định của ban quản lý Vườn Quốc gia

Theo bảng thỏa thuận (hương ước) giữa VQG Tràm Chim và cộng đồng về việc bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý tài nguyên ở VQG Tràm Chim giai đoạn 2009-2010:

- Được khai thác tận thu tài nguyên trong lô được giao gồm: Cá, lươn, rau, ốc, củi, cỏ

- Được sử dụng ngư cụ, phương tiện như: Lưới, chài, trúm, sơ ri, lợp, câu giăng, chà đống theo hợp đồng đã ký

- Được tham gia đóng góp ý kiến với Vườn quốc gia và UBND xã trong quá trình sử dụng tài nguyên

- Không khai thác tài nguyên vượt tuyến

- Không sử dụng phương tiện bằng xuồng máy, gây tiếng ồn, làm ảnh hưởng đến các loài chim trú bên trong vườn

- Không dùng xuyệt điện khai thác thủy sản trái phép

- Không mang dụng cụ vào rừng để săn bắn, bẫy bắt các loài động vật hoang dã

- Không xâm nhập vào rừng trái phép

- Không được chăn thả gia súc, gia cầm như: Trâu, bò, vịt,…trong vườn

- Không sử dụng kích thước mắt lưới dưới 20mm để khai thác thủy sản

- Không sử dụng chất độc để khai thác thủy sản

- Không chặt tràm, bắt ong, đào bờ đê

- Không gây ô nhiễm môi trường và mỹ quan

- Không sử dụng lửa dưới bất kỳ hình thức nào

Trang 28

- Không phá hoại các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng

™ Xử lý những trường hợp khai thác thủy sản trái phép

- Lần 1: Cảnh cáo

- Lần 2: Tịch thu dụng cụ khai thác

- Lần 3: Không cho sử dụng tài nguyên bên trong KBT

Trang 29

Hình 2.1 Bản đồ Vườn Quốc Gia Tràm Chim

Trang 30

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời Gian và Địa Điểm Nghiên Cứu

Nghiên cứu đã được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2010 tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Chúng tôi đã áp dụng phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp

3.2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu thứ cấp

Số liệu đã được công bố của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn huyện Tam Nông, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Tràm Chim, các báo cáo các xã và thị trấn, các sách báo đã xuất bản có liên quan đến vùng nghiên cứu Nội dung các thông tin thu thập bao gồm:

- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội;

- Bản thỏa thuận khai thác tài nguyên hợp lý giữa VQG và ngư dân khai thác;

- Danh sách ngư dân được tham gia khai thác thủy sản bên trong VQG;

3.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin số liệu sơ cấp

Để thu thập số liệu sơ cấp chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp 78 hộ ngư dân tại địa phương dựa trên bảng câu hỏi điều tra (phụ lục 1) Thông qua UBND các

xã và thị trấn đã chọn nắm các thông tin thống kê Phối hợp với cán bộ Vườn Quốc

Trang 31

Gia Tràm Chim, các cán bộ xã và thị trấn để tiến hành chọn ngẫu nhiên và điều tra các

hộ ngư dân

Số hộ ngư dân khai thác thủy sản được chia làm 2 nhóm:

- Nhóm I: 40 hộ ngư dân khai thác bên trong VQG

- Nhóm II: 38 hộ ngư dân khai thác bên ngoài VQG

3.2.2 Xử lý và phân tích số liệu

+ Lập bảng tổng hợp tình hình kinh tế xã hội của ngư dân qua số liệu điều tra để tổng kết như tuổi, thời gian định cư, nhân khẩu, số lao động gia đình, số thành viên tham gia khai thác thủy sản, nguồn thu nhập của nông hộ Dựa vào đó chúng tôi tính giá trị trung bình để dánh giá tình hình kinh tế xã hội của ngư dân

+ Lập bảng tổng hợp về số lượng và loại ngư cụ Dựa trên tổng số ngư cụ mà họ

sử dụng và tính % cho từng loại ngư cụ đó

Trang 32

- Sản lượng thủy sản khai thác một năm theo từng ngư cụ của mỗi hộ:

SLKTNgưcụ/hộ/năm = SLKTNgày xå NgàyKTTháng x å ThángKTNăm

- Sản lượng thủy sản khai thác trung bình trong năm của mỗi hộ ngư dân:

SLKTTBHộ/năm =

å NgàyKTTháng : Tổng số ngày khai thác trong tháng

å ThángKTNăm : Tổng số tháng khai thác trong năm

3.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả

Áp dụng phần mềm Excel để xử lý và phân tích số liệu, tính các chỉ số thống kê

mô tả đơn giản như: độ lệch chuẩn, số trung bình, tỷ lệ %, sai số của số trung bình được dùng để mô tả sản lượng khai thác trung bình, tần suất, thời gian khai thác, các đặc trưng kinh tế xã hội của nông hộ… Dựa trên các chỉ số này tiến hành so sánh, phân tích và rút ra các nhận xét

Mô hình hồi quy đa biến được vận dụng để nghiên cứu các yếu tố xác định hiệu quả sản lượng khai thác trung bình/năm của nông hộ Kết quả rút ra từ hàm sản xuất Cobb-Douglas cho phép xác định mức độ tác động của từng nhân tố đầu vào ảnh hưởng đến sản lượng khai thác trung bình/năm của nông hộ

SLKTNgày x å NgàyKTTháng x å ThángKTNămTổng số hộ điều tra

Trang 33

Hàm sản xuất Cobb-Douglas được trình bày cụ thể như sau:

Y = ao.X1 α.X2 β….Xn δ

Log hóa: LnY = Ln ao + αLn X1 + βLn X2 +… + δLn Xn + e

Trong đó:

- Y: Sản lượng khai thác (kg/năm)

- X1, X2, … Xn: Biến độc lập (Số ngày khai thác và số loại ngư cụ khai thác)

- ao: Hằng số

- α, β, δ: Các hệ số của các biến độc lập

3.2.2.2 Phân tích hiệu quả kinh tế từ hoạt động khai thác thủy sản

- Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

+ Tổng thu nhập = Sản lượng x Giá bán

+ Tổng chi phí = Chi phí dùng cho hoạt động khai thác thủy sản

Trang 34

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc Điểm Kinh Tế - Xã Hội Của Ngư Dân Vùng Đệm Vườn Quốc Gia Tràm Chim – Đồng Tháp

Qua điều tra tình hình kinh tế - xã hội của người dân sống ở vùng đệm, kết quả cho thấy ngư dân ở đây sống bằng nghề khai thác thủy sản, chủ yếu là những người có hoàn cảnh khó khăn Mặt khác đa số họ không có đất để canh tác, do đó công việc chính của người dân là làm thuê (làm hồ, cấy lúa, gặt lúa, trồng dưa,…) và khai thác thủy sản Trong đó nghề KTTS có vai trò quan trọng giúp họ ổn định và cải thiện cuộc sống hàng ngày

Hầu hết các hộ dân nơi đây là người địa phương, một số di cư từ Long An, Tiền Giang tới vùng này, và họ sống thành từng cụm thuộc địa bàn 5 xã: Phú Hiệp, Phú Thành B, Phú Đức, Phú Thọ, Tân Công Sính và thị trấn Tràm Chim, thuộc huyện Tam

Nông, tỉnh Đồng Tháp

4.1.1 Thông tin về tuổi và thời gian định cư của ngư dân

Từ kết quả điều tra cho thấy ngư dân có độ tuổi trung bình 45 Dựa vào bảng điều tra đa số họ có độ tuổi từ 30 – 39 đây chính là độ tuổi thích hợp để lao động và tham gia thủy sản tích cực để chăm lo cho cuộc sống gia đình, và họ cũng dễ dàng hơn trong việc học hỏi, trao đổi kinh nghiệm khai thác thủy sản một cách tốt hơn Kết quả điều tra cũng cho thấy ngư dân có số năm định cư trung bình 18 năm và hầu hết cuộc sống của họ gắn liền với nghề khai thác thủy sản trong nhiều năm, lúc đầu người dân khai thác thủy sản chủ yếu là kiếm nguồn thực phẩm hàng ngày cho gia đình với những ngư cụ đơn giản như: lưới rê, giăng câu,…Cho đến những năm gần đây, số

Trang 35

người tham gia khai thác thủy sản ngày càng nhiều, và có nhiều người sử dụng ngự cụ khai thác sai qui định gây ảnh hưởng lớn nguồn lợi thủy sản

Bảng 4.1 Số tuổi và thời gian định cư của ngư dân

Nhóm I (N=40) Nhóm II (N=38) Tổng thể (N=78) Tuổi của chủ hộ (tuổi) 45± 14,4 45 ± 10,6 45 ± 12,6 Phân bố tuổi (% số hộ)

Qua cuộc phỏng vấn các hộ dân sống tại vùng đệm, chúng tôi nhận thấy trình

độ học vấn của ngư dân tương đối thấp Nguyên nhân là do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên họ cố gắng chăm chỉ làm việc để chăm lo cho cuộc sống hàng ngày, hơn thế nữa trước kia vùng nông thôn số trường học ít và xa nhà, vì vậy họ ít quan tâm đến việc học hành

Bảng 4.2 Phân bố trình độ học vấn của chủ hộ

Đa phần ngư dân nơi đây họ có trình độ từ cấp 1 đến cấp 2, thậm chí nhiều ngư dân còn không biết chữ chiếm tỷ lệ khá cao 21,79 % và số ngư dân có trình độ từ cấp 2 trở lên là rất ít Vì vậy trong công tác quản lý, soạn thảo văn bản, đào tạo cán bộ về phương pháp tập huấn, tuyên truyền đến ngư dân cần phù hợp với trình độ học vấn của

Trang 36

4.1.3 Thông tin về nhân khẩu và lao động

Số nhân khẩu trung bình trong gia đình 4,24 người, trong đó số lao động gia đình 2,14 người Riêng đối với hoạt động khai thác thủy sản số lao động trung bình là 1,28 người, trong đó Nhóm I số lao động tham gia khai thác thường chỉ có 1 người theo qui định của VQG, còn Nhóm II thành viên hoạt động khai thác thủy sản 1 – 2 người nhiều hơn Nhóm I Điều này cho thấy qui định của VQG đã tạo ra sự khác biệt

về số lao động tham gia khai thác giữa hai nhóm

Bảng 4.3 Thông tin về nhân khẩu và lao động

Qua Bảng 4.3 cho thấy hoạt động khai thác thủy sản có vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm với số lao động tham gia chiếm 59,88 %

Bảng 4 4 Số thành viên tham gia vào các nghề nghiệp của nông hộ

(*): xe ôm, sửa xe, thủ công

Qua Bảng 4.4 cho thấy rằng số thành viên trung bình của các hộ gia đình tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp tương đối như nhau dao động 1 đến 2 người và một

(N=40)

Nhóm II (N=38)

Tổng thể (N=78)

Số nhân khẩu trong gia đình (người) 4,13 ± 1,09 4,37 ± 0,94 4,24 ± 1,02

Số lao động trong gia đình (người) 1,98 ± 0,8 2,32 ± 0,77 2,14 ± 0,8

Số lao động tham gia KT (người) 1,23 ± 0,48 1,34 ± 0,48 1,28 ± 0,48

Tỷ lệ (%) số lao động tham gia KT 62,03 57,95 59,88

Hoạt động Nhóm I (N=40) Nhóm II (N=38) Tổng thể (N=78) Khai thác thủy sản 1,23 ± 0,48 1,34 ± 0,48 1,28 ± 0,48 Nuôi trồng thủy sản 2,00 ± 0,63 2,00 ± 0 2,00 ± 0,53 Trồng trọt 1,60 ± 0,55 2,22 ± 1,20 2,00 ± 1,04

Trang 37

Hộ dân có đất nông nghiệp Hộ dân không có đất nông nghiệp

thành viên có thể tham gia nhiều hoạt động sản xuất khác nhau để góp phần chăm lo cuộc sống hàng ngày

4.1.4 Điều kiện đất đai của nông hộ

Đối với người dân nông thôn trồng lúa là nghề rất quan trọng nhằm đem lại thực phẩm cho gia đình Tuy nhiên theo kết quả điều tra cho thấy hầu hết ngư dân không có đất canh tác nông nghiệp chiếm 83,33 % Chính vì vậy các hộ gia đình không có đất canh tác chắc rằng cuộc sống của họ sẽ gặp nhiều khó khăn và vất vả Đối với Nhóm I thì số hộ không có đất nông nghiệp chiếm 92,5 % cao hơn 73,68 % Nhóm II (P < 0,05), điều đó cho thấy Nhóm II làm nông nghiệp trên đất của mình nhiều hơn Nhóm I, nên cuộc sống của họ sẽ giảm bớt sự vất vả hơn so với Nhóm I khi

đa phần họ làm thuê trên đất của người khác

Khi có đất canh tác nông nghiệp đa số người dân sử dụng để trồng lúa với mục đích chính nhằm cung cấp thực phẩm hàng ngày và một phần tăng thêm thu nhập cho gia đình

Đồ thị 4.1 Điều kiện đất nông nghiệp của nông hộ

Trang 38

4.1.5 Tài sản của nông hộ

Qua Bảng 4.6 cho thấy, hầu hết các hộ dân đều có các loại tài sản phục vụ cho

nhu cầu giải trí Chính những phương tiện này sẽ giúp nông hộ tiếp cận với những kỹ

thuật nông nghiệp mới, giải đáp những thắc mắc, trao đổi, chia sẽ những kinh nghiệm

thông qua chương trình khuyến nông – khuyến ngư, bạn của nhà nông,…được phát

trên sóng phát thanh và truyền hình Ngư dân vùng đệm hầu hết cũng đã được sử dụng

nước sạch để sinh hoạt và hàng tháng trung bình họ phải đóng từ 25.000 đến 40.000

đồng chi phí để sử dụng nước sạch

Bảng 4.5 Tài sản của nông hộ

Tài sản nông hộ sử dụng vào hoạt động KTTS: xuồng máy chiếm 12,82 %,

xuồng chèo chiếm 35,9 % Trong đó xuồng chèo: Nhóm I chiếm 42,5 % cao hơn

28,95 % Nhóm II, điều này phù hợp điều kiện thực tế của địa phương đa phần cuộc

sống người dân khó khăn nên họ chủ yếu sử dụng xuồng chèo, mặt khác những người

dân nghèo khi đăng kí tham gia khai thác thủy sản bên trong VQG thì phương tiện

khai thác chính theo qui định là xuồng chèo nhằm giảm bớt tiếng ồn bên trong VQG

4.1.6 Tình trạng nghèo đói, cư trú và điều kiện nhà ở của các hộ dân

Thông thường Ban quản lý VQG ưu tiên cho các hộ gia đình thuộc diện nghèo

(Theo quyết định của thủ tướng chính phủ số 170/2005/QĐ-TTG ngày 8 tháng 7 năm

2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010), được đăng

kí và tham gia khai thác bên trong VQG Kết quả điều tra được trình bày qua Đồ thị

4.2 cho thấy tỷ lệ hộ nghèo chiếm khá cao với 65 %, điều này phần nào cho thấy cuộc

sống của các hộ ngư dân còn rất nhiều khó khăn và vất vả

Trang 39

Thuộc diện hộ nghèo Không thuộc diện hộ nghèo

Chúng tôi đã điều tra và tổng hợp về nhà ở, tình trạng cư trú của ngư dân, kết quả được trình bày qua Bảng 4.6 cho thấy hầu hết họ sống trong những ngôi nhà tạm

bợ chiếm 95 %, và đa số họ có hộ khẩu thường trú chiếm 94,87 % Do đó chính quyền địa phương, và ban quản lý VQG cần chú trọng công tác giải quyết việc làm, hỗ trợ đời sống cho ngư dân

Đồ thị 4.2 Tình trạng nghèo đói của các hộ ngư dân

Bảng 4.6 Nhà ở và tình trạng cư trú của ngư dân (% Số hộ có liên quan)

4.1.7 Nghề nghiệp và thu nhập của nông hộ

Qua số liệu điều tra chúng tôi đã xử lý và tổng hợp được nghề nghiệp quan trọng nhất (xếp hạng 1 theo thu nhập) của nông hộ được trình bày qua Đồ thị 4.3 đã

Nhóm I (N=40) Nhóm II (N=38) Tổng thể (N=78) Tình trạng nhà ở

Trang 40

Đồ thị 4.3 Nghề nghiệp quan trọng nhất (xếp hạng 1 theo thu nhập) của nông hộ

Đồ thị 4.4 Thu nhập từ các hoạt động sản xuất của nông hộ

Qua kết quả thu thập được chúng tôi đã tổng hợp thu nhập bình quân trong năm của các hộ ngư dân được trình bày qua Bảng 4.7 đã cho thấy làm thuê và khai thác

Ngày đăng: 16/03/2019, 11:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w