TỈNH ĐỒNG NAITRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG TỈNH ĐỒNG NAI ĐỀ TÀI KHOA HỌC NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỂ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHỦ LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRI
Trang 1TỈNH ĐỒNG NAITRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
TỈNH ĐỒNG NAI
ĐỀ TÀI KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỊ TRƯỜNG
ĐỂ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHỦ LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA BỀN VỮNG TẠI ĐỒNG NAI
Chủ nhiệm đề tài: Trần Hải Sơn, Nguyễn Vinh Hùng
NHÓM CHUYÊN ĐỀ 10
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM
CHUYÊN ĐỀ 10.3
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG HỒ TIÊU
Năm 2016
Trang 2Đặt vấn đề
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai đã đạt được nhiều thành tự đáng ghi nhận: Giá trị sản xuất liên tục tăng với tốc độ bình quân
5 - 6%/năm; trong đó, thủy sản tăng 12%/năm, chăn nuôi tăng trên 10%/năm Cơ cấu ngành nông nghiệp đang có sự chuyển dịch khá rõ nét theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; trong trồng trọt, cây lâu năm có giá trị kinh tế cao đang có xu hướng tăng nhanh thay thế cây hàng năm có giá trị thấp; đã hình thành những vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; giá trị sản lượng và thu nhập trên 1 đơn vị diện tích tăng gấp gần 5 lần so với năm 1988…Tuy nhiên, sự tăng trưởng của nông nghiệp trong thời gian qua vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, thông qua tăng diện tích, tăng vụ và dựa trên mức độ thâm dụng (một cách lãng phí) các nguồn tài nguyên hữu hạn như đất đai, nguồn nước, lao động…) nên giá trị và hiệu quả chưa cao, không đáp ứng được nhu cầu của người dân và các ngành kinh tế khác trong tình hình mới; thực trạng này đòi hỏi phải tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Có nhiều nguyên nhân làm cho tính hiệu quả trong nông nghiệp ở Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung không cao; trong đó có nguyên nhân quan trọng hàng đầu là sản xuất sản phẩm nông nghiệp chưa gắn kết được với thị trường; người sản xuất ít có thông tin về thị trường tiêu thụ hay nói cách khác là chuỗi giá trị ngành hàng các sản phẩm nông nghiệp còn rời rạc, đứt đoạn và ít có
cơ hội nâng cấp chuỗi
Thực hiện Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ Tướng Chính Phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn và Quyết định số 150 của UBND tỉnh Đồng Nai; theo đó, để việc liên kết sản xuất, gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đạt hiệu quả, rất cần một chuyên đề nghiên cứu sâu về chuỗi giá trị ngành hàng để phân tích, đánh giá những tồn tại trong quá trình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm; qua đó đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cấp chuỗi giá trị ngành hàng
Ở Đồng Nai, hồ tiêu là một trong những ngành hàng chủ lực, năm 2013 tổng diện tích trồng hồ tiêu trên địa bàn tỉnh 9.339ha, chiếm 3,6% diện tích gieo trồng các loại cây nông nghiệp; sản lượng 16.290 tấn Trong những năm gần đây, nhu cầu tiêu dùng tiêu ngày càng lớn làm cho giá cả tăng từ 140.000 – 170.000 đồng/kg nên người dân ồ ạt chuyển sang trồng tiêu làm cho diện tích hồ tiêu ngày càng tăng Ngoài các giải pháp về giống, quy trình canh tác, ứng dụng công nghệ cao sẽ góp phần gia tăng năng suất, chất lượng hồ tiêu; việc nghiên cứu, phân tích chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu tỉnh Đồng Nai sẽ góp phần tạo cơ hội để nâng cao giá trị gia tăng, tổ chức lại sản xuất để ngành hồ tiêu Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung phát triển hiệu quả và bền vững
Trang 3I KHÁI NIỆM VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG
Theo chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright: Chuỗi giá trị ám chỉ đến một loạt những hoạt động cần thiết để mang một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng (Kaplinsky 1999; Kaplinsky và Morris 2001) Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi đều hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi
Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.v…) để biến nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên vật liệu và chuyển theo các mối liên kết với các đơn vị sản xuất, kinh doanh, lắp ráp, chế biến v.v… Chuỗi giá trị bao gồm các chức năng trực tiếp như sản xuất hàng hóa cơ bản, thu gom, chế biến, bán sỉ, bán lẻ, cũng như các chức năng hỗ trợ như cung cấp vật tư nguyên liệu đầu vào, dịch vụ tài chính, đóng gói và tiếp thị (SonjaVermeulenere et al., 2008) Khái niệm chuỗi giá trị bao gồm cả các vấn đề về tổ chức và điều phối, chiến lược và mối quan hệ quyền lực của các tác nhân khác nhau trong chuỗi
Chuỗi giá trị còn gắn liền với các khía cạnh xã hội và môi trường Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (như nước, đất đai), có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm Đồng thời, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống
Cách tiếp cận của chuỗi giá trị theo nguyên tắc là xem xét từng tác nhân tham gia trong chuỗi và quan hệ một bước tiến, một bước lùi, bắt đầu từ sản xuất nguyên vật liệu cho đến người tiêu dùng cuối cùng với 4 kỹ thuật phân tích chính như sau
1 Sơ đồ hóa mang tính hệ thống
- Những tác nhân tham gia sản xuất, phân phối, tiếp thị, và bán một (hay nhiều) sản phẩm cụ thể
- Đánh giá các đặc điểm của các tác nhân tham gia, cơ cấu lợi nhuận và chi phí, dòng hàng hóa trong suốt chuỗi, các đặc điểm của việc làm, địa chỉ tiêu thụ và khối lượng bán hàng trong và ngoài nước
- Những chi tiết như thế có thể được tập hợp từ việc phối hợp khảo sát cơ bản, phỏng vấn nhóm, đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), các phỏng vấn không chính thức, dữ liệu thứ cấp
2 Xác định sự phân phối lợi ích giữa những tác nhân tham gia trong chuỗi, bao gồm:
- Phân tích chênh lệch giá và lợi nhuận trong chuỗi
- Xác định ai được lợi từ việc tham gia chuỗi
Trang 4- Những tác nhân nào có thể hưởng lợi từ việc hỗ trợ hay tổ chức lại sản xuất
3 Nghiên cứu vai trò nâng cấp bên trong chuỗi
- Cải tiến trong chất lượng và thiết kế sản phẩm giúp các nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc qua việc đa dạng hóa các dòng sản phẩm cung cấp
- Đánh giá lợi nhuận của những người tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về những ràng buộc hiện diện mới đây
- Vấn đề về quản trị, cấu trúc các quy định, rào cản gia nhập ngành, ngăn cấm thương mại, và các tiêu chuẩn
4 Nhấn mạnh vai trò của quản lý
- Có cấu của các mối quan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
- Góc độ chính sách: xác định các sắp xếp về thể chế nhằm cải thiện năng lực hoạt động của chuỗi, xóa bỏ các bóp méo trong phân phối, và gia tăng giá trị gia tăng trong ngành
II TỔNG QUAN VỀ NGÀNH HÀNG HỒ TIÊU
1 Thế giới
Cây hồ tiêu là cây gia vị thông dụng nhất trên thế giới hiện nay, là loại gia
vị cao cấp, chiếm vai trò chủ đạo (khoảng 34%) trong tổng giá trị sản lượng gia
vị được buôn bán trên Thế giới Hồ tiêu có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao, trên thị trường thế giới các sản phẩm hồ tiêu được giao dịch bởi các dạng sau: tiêu đen, tiêu trắng (tiêu sọ), tiêu xanh và dầu nhựa tiêu
Cây hồ tiêu có nguồn gốc ở vùng Tây Nam Ấn Độ, do có xuất xứ từ vùng nhiệt đới ẩm nên cây hồ tiêu thường được trồng ở các nước thuộc vùng xích đạo,
từ khoảng 15o vĩ độ Bắc đến 15o vĩ độ Nam, với khoảng 70 nước trồng tiêu, trong đó có 5 nước trồng chủ yếu là : Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Việt Nam
Sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ hồ tiêu trên thế giới không ngừng phát triển, sản lượng hồ tiêu sản xuất trên thế giới đã tăng từ 100 nghìn tấn năm 1970 lên 320 ngàn tấn năm 2013 (trong đó tiêu đen 242,5 ngàn tấn và tiêu trắng 77,5 ngàn tấn), những nước sản xuất nhiều tiêu trắng là Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc Phần lớn sản lượng tiêu sản xuất ra được dành cho xuất khẩu, với khoảng 70% sản lượng hồ tiêu sản xuất hàng năm, 30% là tiêu dùng trong nước của các nước sản xuất (trong 5 nước sản xuất hồ tiêu lớn nhất thế giới, chỉ có Ấn Độ có tiêu dùng trong nước chiếm phần lớn sản lượng sản xuất
ra - khoảng 81%, còn lại các nước khác xuất khẩu hầu hết sản lượng hồ tiêu được sản xuất (trên 85%)
Hồ tiêu được tiêu thụ ở nhiều nước trên thế giới, hiện có trên 120 nước nhập khẩu tiêu, với khoảng 250 ngàn tấn mỗi năm, trong đó các nước nhập khẩu chính gồm: Mỹ (chiếm khoảng 22 - 23%), Singapore (khoảng 10%), Hà Lan (khoảng
Trang 59%), Đức (khoảng 7%), các nước còn lại, mỗi nước chiếm không quá 3% Trong 3 nước nhập khẩu lớn nhất, thì: Mỹ chủ yếu cho tiêu dùng nội địa (khoảng 93%), còn Singapore và Hà Lan tái xuất hầu hết lượng hồ tiêu nhập khẩu
Sản lượng Hồ tiêu thế giới năm 2012, 2013 có tăng nhẹ so với năm 2011, nhưng năm 2014 lại giảm sâu Tồn kho gối đầu hàng năm ngày càng hạn hẹp, nên tổng nguồn cung bình quân ba năm coi như không tăng
Trong bối cảnh nguồn cung chưa đáp ứng đủ nhu cầu, cùng với tình hình thương mại toàn cầu ngày càng hội nhập sâu, tình trạng độc quyền, chi phối thị trường giá cả Hồ tiêu của các nhà đầu cơ ngày càng hạn chế; Vì vậy giá tiêu đã duy trì ở mức cao mấy năm qua theo xu hướng tăng, không theo chu kỳ tăng giảm như những năm trước đây
Theo IPC nhu cầu tiêu thụ tiêu toàn cầu khoảng 350.000 tấn/năm và có xu hướng tăng khoảng 5%/năm
Các nước thuộc Hiệp hội hồ tiêu quốc tế - IPC (gồm 6 nước là Việt Nam,
Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Malaysia và Sri Lanka) đều là những nước trồng và xuất khẩu hồ tiêu chủ yếu trên thế giới, chiếm khoảng 90% sản lượng thu hoạch
và 95% sản lượng hồ tiêu xuất khẩu của thế giới
2 Việt Nam
Cây hồ tiêu là một trong 5 loại cây công nghiệp lâu năm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, là mặt hàng nông sản duy nhất không xảy ra hiện tượng “được mùa mất giá” do người nông dân có thể tự điều tiết lượng hàng hóa bán ra từng thời điểm để có được giá cả có lợi nhất, sản xuất hồ tiêu đã, đang góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội tại các vùng trồng tiêu và sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
Ở Việt Nam, hồ tiêu đã được trồng từ cách đây khoảng 140 năm, được du nhập và trồng đầu tiên ở Hà Tiên, Phú Quốc, Phước Tuy và Bà Rịa Hiện nay ở nước ta, hồ tiêu được trồng chủ yếu từ vĩ tuyến 17 trở vào (do cây hồ tiêu không chịu được nhiệt độ thấp), trong đó tập trung nhiều ở vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (chiếm gần 90% diện tích, 95% sản lượng hồ tiêu toàn quốc)
Trong những năm qua, sản xuất hồ tiêu của nước ta không ngừng phát triển, thời kỳ từ năm 1995 đến năm 2014 : Diện tích trồng hồ tiêu đã tăng từ 6,8 ngàn ha lên 62 ngàn ha (phân bố ở 28 Tỉnh, Thành phố); sản lượng tăng từ 9.400 tấn lên 130.000 tấn (tăng 13,83 lần); khối lượng hạt tiêu xuất khẩu tăng từ 17.900 tấn lên 134.387 tấn (tăng 7,5 lần); giá trị xuất khẩu tăng từ 24,5 triệu USD lên 898 triệu USD (tăng 36,65 lần)
Hồ tiêu Việt Nam đã có mặt trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Việt Nam tiếp tục giữ vững kỷ lục là quốc gia sản xuất và xuất khẩu tiêu số một thế giới 14 năm liền Vị thế quốc gia Hồ tiêu Việt Nam đã được khẳng định trên trường quốc tế Cộng đồng Hồ tiêu thế giới đã nhìn Việt Nam với con mắt tôn trọng, lắng nghe và cùng chia sẻ
Trang 6Năm 2013, thị phần xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam qua các châu lục như sau: Châu Á (49,10%); Châu Âu (47,70%); Châu Mỹ (28,10%) và Châu Phi (9,50%)
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 7/2014 ước đạt 9.000 tấn, với giá trị đạt 74 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu lên 119.000 tấn với giá trị 862 triệu USD, tăng gần 29% về khối lượng và tăng 42% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013
Hồ tiêu Việt Nam đã chiếm tỷ trọng áp đảo về sản lượng về số lượng xuất
khẩu (trên 30% sản lượng và trên 50% thị phần xuất khẩu) giá cả cạnh tranh
Nếu Việt Nam đồng lòng sẽ đủ sức bình ổn giá cả thị trường
Những dự báo về tình hình sản xuất và thương mại Hồ tiêu trong phạm vi toàn cầu, có thể dự đoán trong giai đoạn từ nay đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn nhiều năm tới, Hồ tiêu VN vẫn có nhiều tiềm năng, lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế về nhiều mặt so với các nước
3 Tỉnh Đồng Nai
Ở Đồng Nai, cây tiêu bắt đầu trồng từ đầu thế kỷ 20 nhưng diện tích và sản lượng chưa đáng kể Năm 1990, diện tích trồng tiêu ở Đồng Nai là 1.010
ha, đến nay giá hạt tiêu trong nước và thế giới tăng cao, người dân đổ xô trồng tiêu , diện tích lên tới 9.339 ha vào năm 2013
Đồng Nai là một trong ba tỉnh có diện tích hồ tiêu lớn nhất cả nước chỉ đứng sau Bình Phước (10.000ha) Năm 2012, huyện có diện tích hồ tiêu lớn nhất là Tân Phú (1.862ha), Cẩm Mỹ (1.732ha), Xuân Lộc (1.603ha), Trảng Bom (1.588ha)… Những năm gần đây, giá hạt tiêu dao động ở mức cao, bình quân
từ 140.000 – 170.000 đồng/kg, người nông dân đã chuyển diện tích không thích hợp của cây trồng khác sang trồng tiêu
Năm 2013, năng suất bình quân của tỉnh đạt 2,23 tấn/ha thấp hơn các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh khoảng 1 tấn/ha Ở một số huyện như Xuân Lộc, Định Quán, Thống Nhất ứng dụng công nghệ mới, kỹ thuật canh tác mới, tưới tiết kiệm nước… mang lại năng suất cao từ 4 – 6 tấn/ha
Trang 7Bảng 1: Diện tích - năng suất – sản lượng tiêu năm 2013 phân theo huyện
Đơn vị: Ha, Tấn/ha và Tấn
S
Diện tích thu hoạch Năng suất Sản lượng
Giống tiêu chủ yếu ở Đồng Nai là tiêu sẻ lá lớn, tiêu Phú Quốc, Tiêu Belantoeng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Để nâng cao hiệu quả cây tiêu, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai tích cực hướng dẫn người dân áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất, từ khâu làm đất, chọn giống đến khâu chăm sóc, thu hoạch và chế biến, đặc biệt là khâu chăm sóc Tiêu là một loại cây trồng khó tính, nếu chăm sóc không đúng cách thì tiêu rất dễ mắc bệnh và nhanh chóng lây lan làm cho tiêu chết hàng loạt Buộc người dân phải đưa ra các giải pháp phù hợp cho hồ tiêu như thâm canh, bón phân hợp lý, tưới tiết kiệm, tỉa cành, tạo tán, phòng trừ sâu bệnh gây hại trên cây tiêu; trồng xen các loại cây khác với tiêu như cà phê cho hiệu quả kinh tế cao; xử lý ra hoa tập trung tránh ảnh hưởng của mưa trái vụ, giúp cho việc thụ phấn, chăm sóc tốt, tăng tỷ
lệ đậu quả…
Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, cho biết, 6 tháng đầu năm 2014 xuất khẩu hạt tiêu của các doanh nghiệp trong tỉnh ước đạt 3.100 tấn, tổng giá trị gần 23 triệu USD Hiện giá xuất khẩu hạt tiêu đen đang ở mức cao trên 7.100 USD/tấn, cao hơn so với cùng kỳ năm trước khoảng 50 đến 60 USD/tấn
III PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG HỒ TIÊU ĐỒNG NAI
- Nhà cung ứng vật tư nông nghiệp cung cấp vật tư nông nghiệp (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật ) cho hộ nông dân, chủ trang trại để họ sản xuất
ra hạt tiêu đen Hạt tiêu đen được các thương lái cấp 1 thu gom và bán cho thương lái cấp 2 (đại lý) Thương lái cấp 2 phân phối sản phẩm theo 3 kênh: một phần cung ứng cho các cơ sở chế biến tiêu sọ; một phần cung ứng cho các cơ sở bán lẻ
hồ tiêu (siêu thị, các chợ bán buôn hoặc bán lẻ); phần còn lại, cung ứng cho các doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu Như vậy, sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu như sau:
Trang 8Hình 1 Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu
Bảng 2: Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu
Các khâu
trong chuỗi
Cung ứng
đầu vào Sản xuất Thu gom 1
Thu gom 2
Hoạt động
của từng
Lao động
Gieo trồng Vận chuyển Vận chuyển
Sản phẩm
Vật tư NN,
đất đai, lao
động, tiền
vốn…
Hạt tiêu đen
Hồ tiêu đã được thu gom về đại lý
Hồ tiêu đã được bán cho nhà chế biến hoặc nhà XK
Hạt tiêu sọ (tiêu trắng)
Hạt tiêu (đen hoặc trắng) đã được XK hoặc bán trong nước Tác nhân cấp vật tư Nhà cung
đầu vào
Trang trại Thương lái
tại ấp, xã
Thương lái tại huyện, tỉnh
Doanh nghiệp chế biến
Nhà XK
Hỗ trợ giá
trị Đảng, chính phủ và chính quyền các cấp, Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA)
Bộ Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT, phòng nông nghiệp các huyện
Các hội, hiệp hội, các tổ chức đoàn thể
Trang 9Các bộ ngành liên quan, ngân hàng, các cơ quan truyền thông…
- Giá trị gia tăng và cơ cấu giá trị gia tăng của từng chủ thể tham gia chuỗi: Theo kết quả điều tra kinh tế nông hộ, và kết quả sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi giá trị sản phẩm hồ tiêu, các khoản chi phí, doanh thu và giá trị gia tăng của từng chủ thể trong chuỗi như sau:
Bảng 3 GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia GTNH hồ tiêu
(đồng)
Doanh thu (đồng)
Giá trị gia tăng (đồng)
% GTGT (tiêu đen)
% GTGT (tiêu trắng)
Đối với hồ tiêu đen, tổng giá trị gia tăng là 124.348 đồng/kg; trong đó, nhà cung ứng vật tư nông nghiệp hưởng 2.096 đồng (1,69%); người trồng hồ tiêu hưởng 88.300 đồng (71,01%); người thu gom 1 hưởng 7.650 đồng (6,15%); đại lý
hồ tiêu hưởng 9.928 đồng (7,98%) và nhà xuất khẩu hồ tiêu đen hưởng 16.373 đồng (13,17%) Đối với hồ tiêu trắng, tổng giá trị gia tăng 129.940 đồng; trong
đó, nhà cung ứng vật tư nông nghiệp hưởng 2.096 đồng (1,5%); người trồng hồ tiêu hưởng 88.300 đồng (63,1%); người thu gom 1 hưởng 7.650 đồng (5,47%); đại lý hồ tiêu hưởng 9.928 đồng (7,09%); doanh nghiệp chế biến hồ tiêu hưởng 11.050 đồng (7,90%) và nhà XK hồ tiêu trắng hưởng 20.915 đồng (14,95%)
IV GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CẤP CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG
HỒ TIÊU ĐỒNG NAI
1 Định hướng nâng cấp chuỗi giá trị ngành hàng nông nghiệp
- Chuỗi giá trị sản phẩm là một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh có quan hệ với nhau từ việc cung ứng vật tư đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến
và cuối cùng là bán sản phẩm cho người tiêu dùng
- Trong chuỗi giá trị có các khâu, các khâu có thể mô tả cụ thể bằng các hoạt động, người thực hiện các chức năng của các khâu trong chuỗi gọi là tác nhân Trong chuỗi giá trị còn có các nhà hỗ trợ chuỗi giá trị; nhiệm vụ của các nhà hỗ trợ chuỗi là tạo môi trường thuận lợi để các tác nhân thực hiện tốt chức năng của mình trong khâu
- Phân tích chuỗi giá trị giúp ta xác định được những khó khăn của từng khâu trong chuỗi; từ đó, đưa ra các giải pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng
Trang 10được yêu cầu cả thị trường và phát triển bền vững Phân tích chuỗi giá trị còn giúp các nhà hỗ trợ xác định được các nút thắt cần hỗ trợ đối với các tác nhân trong các khâu của chuỗi và có những tác động để tháp gỡ, hỗ trợ phát triển
- Nâng cấp chuỗi giá trị là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của thị trường để phát triển chuỗi một cách bền vững Để nâng cấp chuỗi GT thành công cần tiến hành củng cố và phát triển các mối liên kết ngang và liên kết dọc
- Liên kết ngang là mối liên kết giữa các tác nhân trong cùng một khâu (các hộ nông dân cùng sản xuất một ngành hàng liên kết để xây dựng cánh đồng lớn, thành lập các HTX ) để giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán, số lượng bán Giải pháp để thúc đẩy liên kết ngang được đề xuất đối với tái cơ cấu ngành nông nghiệp Đồng Nai gồm: Xác định cụ thể các tiêu chí cánh đồng lớn xây dựng thành công các cánh đồng lớn theo tiêu chí Mỗi cánh đồng lớn, vận động để thành lập 1 hợp tác xã Gắn tái cơ cấu ngành nông nghiệp với đẩy mạnh thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Tổ chức cho các hộ nông dân được tham quan, học tập các mô hình sản xuất kinh doanh, mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao an toàn, các mô hình kinh tế hợp tác Tập huấn, nâng cao kiến thức về thị trường cho nông dân, chỉ rõ các lợi ích kinh tế khi tham gia vào tổ nhóm, HTX Tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp với các tác nhân khác trong chuỗi Ban hành và thực hiện tốt các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, công nghệ cao, an toàn
- Liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân trong các khâu khác nhau của chuỗi Có được liên kết dọc sẽ làm giảm chi phí chuỗi (chi phí trung gian), sự liên kết dọc làm gắn kết lợi ích giữa các tác nhân trong các khâu, qua đó giảm được những chi phí không cần thiết và cùng hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm; tất cả thông tin thị trường đều được các tác nhân nắm được để cùng nhau đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường Liên kết dọc cũng là cơ hội để chuỗi giá trị ngành hàng mở rộng và đa dạng hóa thị trường Có nhiều giải pháp
để thúc đẩy liên kết dọc; trong đó, các giải pháp quan trọng gồm: Khuyến khích các tác nhân chuỗi (nông dân, đại diện hợp tác xã, các doanh nghiệp ) tham gia các hội chợ thương mại và tổ chức triển lãm nhằm tập hợp các tác nhân trong cùng một chuỗi Tổ chức các cuộc họp hoặc hội thảo giữa các tác nhân trong chuỗi nhằm xây dựng quan hệ kinh doanh (tổ chức hội nghị khách hàng) xây dựng Webside giao dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho cả đôi bên trong việc tìm kiếm người mua và người bán tiềm năng Xây dựng và thực hiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia ngày càng nhiều vào sản xuất, kinh doanh NN
Ngoài việc củng cố và phát triển các mối liên kết ngang và liên kết dọc cần có các giải pháp để tăng cường vai trò của các tác nhân hỗ trợ giá trị như: Các viện, trường, các trung tâm nghiên cứu và các nhà khoa học, các hội, hiệp hội và các cơ quan quản lý Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn