1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thực trạng và vai trò kinh tế nông hộ

24 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 844 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ cấu ngànhnông nghiệp đang có sự chuyển dịch khá rõ nét theo hướng tăng nhanh tỷ trọngngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; trong trồng trọt, cây lâu năm có giá trịkinh tế cao đang c

Trang 1

TỈNH ĐỒNG NAITRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG

TỈNH ĐỒNG NAI

ĐỀ TÀI KHOA HỌC

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỊ TRƯỜNG

ĐỂ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHỦ LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA BỀN VỮNG TẠI ĐỒNG NAI

Chủ nhiệm đề tài: Trần Hải Sơn, Nguyễn Vinh Hùng

Trang 2

Đặt vấn đề

Sau gần 30 năm thực hiện đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởixướng và lãnh đạo, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai đã đạt được nhiều thànhtựu đáng ghi nhận: Giá trị sản xuất liên tục tăng với tốc độ bình quân 5 -6%/năm; trong đó, thủy sản và chăn nuôi luôn tăng với tốc độ cao Cơ cấu ngànhnông nghiệp đang có sự chuyển dịch khá rõ nét theo hướng tăng nhanh tỷ trọngngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; trong trồng trọt, cây lâu năm có giá trịkinh tế cao đang có xu hướng tăng nhanh thay thế cây hàng năm có giá trị thấp;

đã hình thành những vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao;giá trị sản lượng và thu nhập trên 1 đơn vị diện tích tăng gấp gần 5 lần so vớinăm 1988…Tuy nhiên, sự tăng trưởng của nông nghiệp trong thời gian qua vẫnchủ yếu phát triển theo chiều rộng, thông qua tăng diện tích, tăng vụ và dựa trênmức độ thâm dụng (một cách lãng phí) các nguồn tài nguyên hữu hạn như đấtđai, nguồn nước, lao động…) nên giá trị và hiệu quả chưa cao, không đáp ứngđược nhu cầu của người dân và các ngành kinh tế khác trong tình hình mới

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên; trong đó, việc thay đổi môhình tổ chức sản xuất là một trong những nguyên nhân khá quan trọng

Các loại hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp nước ta nói chung vàtỉnh Đồng Nai nói riêng gồm kinh tế nông hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã (gọi chung

và kinh tế hợp tác), kinh tế trang trại và các doanh nghiệp Nếu kinh tế nông hộ

là cơ sở quan trọng cho việc giải quyết việc làm, tạo sự đóng góp của hộ sảnxuất với xã hội và bước đầu có khả năng thích ứng với kinh tế thị trường, thúcđẩy sản xuất hàng hóa phát triển; sự ra đời và phát triển của kinh tế trang trại đã

có tác dụng tích cực thúc đẩy nền nông nghiệp hàng hóa phát triển với quy môngày càng lớn hơn, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thầncủa phần lớn nông dân trên khắp mọi miền đất nước thì kinh tế hợp tác và cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông nghiệp là cơ sở để từng bước để nềnnông nghiệp đi lên sản xuất lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường cả về số lượng, chấtlượng, mức độ an toàn và đặc biệt là tạo cơ hội để nâng cấp chuỗi giá trị

Tuy nhiên, đối với Việt Nam, các loại hình tổ chức sản xuất trong nôngnghiệp kể trên, ngoài những mặt tích cực, cần tiếp tục nghiên cứu những vấn đềcấp bách thiết thực của từng vùng, từng địa phương cụ thể để có những giảipháp phát triển phù hợp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những yếu tố tiêu cực

có thể sảy ra, khuyến khích nông dân phát triển làm giàu cho chính mình.Chuyên đề thực trạng và vai trò của kinh tê hộ trong phát triển nông nghiệp ởĐồng Nai nhằm giải quyết một phần các vần đề cấp bách kể trên như một trongnhững giải pháp quan trọng để thực hiện chương trình phát triển câu trồng, vậtnuôi chủ lực và là một bộ phận cấu thành của đề tài khoa học: “Nghiên cứu cácyếu tố kinh tế, kỹ thuật và thị trường để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôichủ lực phục vụ phát triển ngành nông nghiệp hàng hóa bền vững tại Đồng Nai”

Trang 3

Phần thứ nhất

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ NÔNG HỘ TRONG

SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

1 Khái niệm về kinh tế nông hộ

Nói đến sự tồn tại của các hộ sản xuất trong nền kinh tế trước hết ta cầnthấy rằng, hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cảc các nước cónền sản xuất nông nghiệp trên thế gới Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phươngthức và vẫn đang tiếp tục phát triển Do đó có nhiều quan niệm khác nhau vềkinh tế hộ sản xuất

Có nhiều quan niệm cho rằng: Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà cácthành viên đều dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thànhviên cùng tạo ra và cùng sử dụng chung Quá trình sản xuất của hộ được tiếnhành một các độc lập và điều quan trọng là các thành viên cuả hộ thường cócùng huyết thống, thường cùng chung một ngôi nhà, có quan hệ chung với nhau,

họ cũng là một đơn vị để tổ chức lao động

Một nhà kinh tế khác thì cho rằng: Trang trại gia đình là loại hình cơ sởsản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình nông dân là kiểu trang trại độc lập, sảnxuất kinh doanh của từng gia đình có tư cách pháp nhân riêng do một chủ hộhoặc một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý, các thànhviên khác trong gia đình tham gia lao động sản xuất

Để phù hợp với chế độ sở hữu khác nhau giữa các thành phần kinh tế(quốc doanh và ngoài quốc doanh) và khả năng phát triển kinh tế từng vùng(thành thị và nông thôn), theo phụ lục của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam banhành kèm theo quyết định 499A TDNH ngày 02/09/1993 thì khái niệm hộ sảnxuất được nêu như sau: " Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạtđộng sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh

và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình"

2 Phân loại kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp.

Hộ sản xuất hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế hàng hoá phụ thuộcrất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền làm chủnhững tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư của mỗi hộ gia đình Việc phânloại hộ sản xuất có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây dựng chính sách tíndụng phù hợp nhằm đầu tư đem lại hiệu quả

Có thể chia hộ sản xuất làm 3 loại sau:

+ Loại thứ nhất: Là các hộ có vốn, có kỹ thuât, kỹ năng lao động, biết tiếpcận với môi trường kinh doanh, có khả năng thích ứng, hoà nhập với thị trường.Như vậy các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, biết tổ chức quátrình lao động sản xuất cho phù hợp với thời vụ để sản phẩm tạo ra có thể tiêuthụ trên thị trường

Trang 4

Chính vì vậy mà các hộ này luôn có nhu cầu mở rộng và phát triển sảnxuất tức là có nhu cầu đầu tư thêm vốn Việc vay vốn đối với những hộ sản xuấtnày hoàn toàn chính đáng và rất cần thiết trong quá trình mở rộng và phát triểnsản xuất kinh doanh Đây chính là các khách hàng mà tín dụng ngân hàng cầnphải quan tâm và coi là đối tượng chủ yếu quan trọng cần tập trung đồng vốnđầu tư vào đây sẽ được sử dụng đúng mục đích, sẽ có khả năng sinh lời, hơn thếnữa lại có thể hạn chế tối đa tình trạng nợ quá hạn Đây cũng là một trong nhữngmục đích mà ngân hàng cần thay đổi thông qua công cụ lãi suất tín dụng, thuế Nhà nước và Ngân hàng có khả năng kiểm soát và điều tiết hoạt động của các hộsản xuất bằng đầng tiền, bằng chính sách tài chính ở tầm vĩ mô.

+ Loại thứ hai là: Các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng trongtay họ không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có môi trườngkinh doanh Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc tăng cường đầu

tư tín dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng đểphát huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lính vực sản xuất nông nghiệp.Việc cho vay vốn không những giúp cho các hộ này có khả năng tự lao động sảnxuất tạo sản phẩm tiêu dùng của chính mình mà còn góp phần giúp các hộ này

có khả năng tự chủ sản xuất Mặt khác, bằng các hoạt động đầu tư tín dụng, tíndụng ngân hàng có thể giúp các hộ sản xuất này làm quen với nền sản xuất hànghoá, với chế độ hạch toán kinh tế để các hộ thích nghi với cơ chế thị trường,từng bước đi tự sản xuất hàng hoá, tự tiêu dùng (tự cung tự cấp) đến sản xuấtsản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường

+ Loại thứ 3 là: Các hộ không có sức lao động, không tích cực lao động,không biết tính toán làm ăn gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, gặp tai nạn ốmđau và những hộ gia đình chính sách, đang còn tồn tại trong xã hội Thêm vào

đó quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hoá cùng với sự phá sản của cácnhà sản xuất kinh doanh kém cỏi đã góp thêm vào đội ngũ dư thừa

Phương pháp giải quyết các hộ này là nhờ vào sự cứu trợ nhân đạo hoặcquỹ trợ cấp thất nghiệp, trách nhiệm và lương tâm cộng đồng, không chỉ giớihạn về vật chất sinh hoạt mà còn giúp họ về phương tiện kỹ thuật đào tạo taynghề vươn lên làm chủ cuộc sống, khuyến khích người có sức lao động phảisống bằng kết quả lao động của chính bản thân mình

Về bản chất người nông dân, họ rất yêu quê hương đồng ruộng Sinh hoạtcủa họ gắn liền với cây trồng, mảnh ruộng, họ không muốn rời quê hương nếukhông vì sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà, hay vì hoàn cảnh khó khăn bắtbuộc Chính sách ổn định về cư trú của người nông dân với đồng ruộng là mộttrong những điều kiện hết sức quan trọng tạo thuận lợi cả về mặt quan hệ xã hộicũng như trong quan hệ tín dụng với ngân hàng

3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ nông nghiệp.

Theo khái niệm hộ sản xuất thì hộ sản xuất kinh doanh trong nhiều ngànhnghề (Nông - Lâm - Ngư - Diêm nghiệp - dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp).Nhưng hiện nay phần lớn là hoạt động trong ngành nông nghiệp - thuần nông

Trang 5

đã chiếm tới 80% Trong số những người lao động nông nghiệp chỉ có 1,5 %thuộc thành phần kinh tế quốc doanh còn 98,5% còn lại là người lao động tronglực lượng hộ sản xuất (chủ yếu là hộ gia đình).

Kinh tế hộ gia đình được hiểu là kinh tế của một tổ chức sản xuất kinhdoanh mang tính chất gia đình (truyền thống) Trong các hợp tác xã, doanhnghiệp nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh, kinh tế gia đình hiện nay đã vàđang trở thành chủ thể kinh tế phổ biến trong khái niệm trên

Một đặc điểm nữa của kinh tế hộ sản xuất là việc tiến hành sản xuất kinhdoanh đa năng, vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi và làm nghề phụ Sự đa dạngngành nghề sản xuất ở một góc độ nào đó là sự hỗ trợ cần thiết để kinh tế hộ sảnxuất có hiêụ quả

4 Vai trò của hộ sản xuất đôi với nền kinh tế

Kinh tế hộ sản xuất với vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nông thôn.

Việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng và với

cả nước nói chung Đặc biệt nước ta có tới 80% dân sống ở nông thôn Nếu chỉtrông chờ vào khu vực kinh tế quốc doanh, Nhà nước hoặc sự thu hút lao động ởcác thành phố lớn thì khả năng giải quyết việc làm ở nước ta còn rất hạn chế

Lao động là nguồn lực dồi dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng động và làđộng lực của nền kinh tế quốc dân nhưng việc khai thác và sử dụng nguồn nhânlực vẫn đang ở mức thấp

Hiện nay ở nước ta còn khoảng 10 triệu lao động chưa được sử dụng,chiếm khoảng 25% lao động và chỉ có 40% quỹ thời gian của người lao động ởnông thôn là được sử dụng Còn các yếu tố sản xuất chỉ mang lại hiệu quả thấp

do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở nông thôn

Kinh tế hộ sản xuất có ưu thế là mức đầu tư cho một lao động thấp, đặcbiệt là trong nông nghiệp, kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy:

- Vốn đầu tư cho một hộ gia đình: 1,3 triệu đồng/1 lao động/ 1 việc làm

- Vốn đầu tư cho một xí nghiệp tư nhân: 3 triệu/ 1 lao động / 1 việc làm

- Vốn đầu tư cho kinh tế quốc doanh địa phương: 12 triệu/1 lao động/ 1 việclàm (Đây chỉ là vốn tài sản cố định, chưa kể vốn lưu động)

Như vậy, chi phí cho một lao động ở nông thôn ít tốn kém nhất Đây làmột điều kiện thuận lợi khi nền kinh tế nước ta còn nghèo, ít vốn tích luỹ

Mặt khác, là kinh tế độc lập trong sản xuất kinh doanh hộ sản xuất đồngthời vừa là lao động chính, vừa là lao động phụ thực hiện những công việckhông nặng nhọc nhưng tất yếu phải làm

Xen canh gối vụ là rất quan trọng đối với hộ sản xuất trong sản xuất nôngnghiệp để có khả năng cao, khai thác được mọi tiềm năng của đất đai ở cácnước tiên tiến, thâm canh là quá trình cải tiến lao động sống, chuyển dịch laođộng vào các ngành nghề hiện đại hoá nông nghiệp Còn ở Việt Nam do trang bị

kỹ thuật cho lao động cho nên thâm canh là quá trình thu hút thêm lao động

Trang 6

sống, tạo thêm công ăn việc làm từ những khâu hầu như còn làm thủ công: càybừa, phòng trừ sâu bệnh, làm cỏ

Do việc gắn trực tiếp lợi ích cá nhân với quyền sử dụng, quản lý, lâu dàiđất đai, tài nguyên nên việc sử dụng của hộ sản xuất hết sức tiết kiệm và khoahọc, không làm giảm độ mầu mỡ của đất đai, hay cạn kiệt nguồn tài nguyên vì

họ hiểu đó chính là lợi ích lâu dài của họ trên mảnh đất mà họ sở hữu Mặt khác,đối với hộ sản xuất, việc khai hoang phục hoá cũng được khuyến khích tăngcường thông qua việc tính toán chi li từng loại cây trồng vật nuôi để từng bướcthay đổi bộ mặt kinh tế ở nông thôn, nâng cao đời sống nông dân

Tóm lại, khi hộ sản xuất được tự chủ về sản xuất kinh doanh, chịu trách

nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình Đất đai, tài nguyên và các công

cụ lao động cũng được giao khoán Chính họ sẽ dùng mọi cách thức, biện pháp

sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất, bảo quản để sử dụng lâu dài Họ cũngbiết tự đặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọi tiềm năng kỹ thuậtvừa tạo ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩm cho tiêu dùng củachính mình và cho toàn xã hội

Kinh tế hộ sản xuất có khả năng thích ứng được thị trường thúc

đẩy sản xuất hàng hoá phát triển.

Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá Là đơn vịkinh tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất vàquá trình sản xuất Căn cứ điều kiện của mình và nhu cầu của thị trường họ cóthể tính toán sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Hộ sản xuất tự bản thânmình có thể giải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao nhất mà khôngphải qua nhiều cấp trung gian chờ quyết định Với quy mô nhỏ hộ sản xuất cóthể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm không còn khả năngđáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần mà không

sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do cấp trên quy định

Mặt khác, là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hoà nhập vớithị trường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó hộ sản xuất đã từngbước tự cải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường Để theo đuổi mụcđích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện chế độ hạchtoán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất đến một hìnhthức phát triển cao hơn

Như vậy, kinh tế hộ sản xuất có khả năng ngày càng thích ứng với nhucầu của thị trường, từ đó có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn

xã hội Hộ sản xuất cũng là lực lượng thúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước

ta phát triển cao hơn

Đóng góp của hộ sản xuất đoi với xã hội

Như trên đã nói, hộ sản xuất đã đứng ở cương vị là người tự chủ trong sảnxuất kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau và góp phần quan trọng trong sự pháttriển của nền kinh tế

Trang 7

Tốc độ tăng về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp từ năm 1988 đến naytrung bình hàng năm đạt 4%, nổi bật là sản lượng lương thực Gần 70% rau quả,thịt trứng, cá, 20% đến 30% quỹ lương thực và một phần hàng tiêu dùng hàngxuất khẩu là do lực lượng kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp tạo ra Từ chỗ nước

ta chưa tự túc được lương thực thì đến nay đã là một trong những nước xuấtkhẩu gạo đứng hàng đầu thế giới, công lao đó cũng thuộc về người nông dânsản xuất nông nghiệp

Bên cạnh sản xuất lương thực, sản xuất nông sản hàng hoá khác cũng cóbước phát triển, đã hình thành một số vùng chuyên canh có năng suất cao như:chè, cà phê, cao su, dâu tằm

Ngành chăn nuôi cũng đang phát triển theo chiều hướng sản xuất hànghoá (thịt, sữa tươi ), tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi chiếm 24,7% giá trị nôngnghiệp

Tóm lại, với hơn 80% dân số nước ta sống ở nông thôn thì kinh tế hộ sảnxuất có vai trò hết sức quan trọng, nhất là khi quyền quản lý và sử dụng đất đai,tài nguyên lâu dài được giao cho hộ sản xuất thì vai trò sử dụng nguồn lao động,tận dụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứng với thị trường ngàycàng thể hiện rõ nét Người lao động có toàn quyền tổ chức sản xuất kinhdoanh, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả lao động sản xuất của mình,

có trách nhiệm hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Ở một khía cạnh khác,kinh tế hộ sản xuất còn đóng vai trò đảm bảo an ninh trật tự, ổn định chính trị xãhội, giảm bớt các tệ nạn trong xã hội do hành vi "nhàn cư vi bất thiện" gây ra

Trang 8

Phần thứ hai

THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ

TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐỒNG NAI

I THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG HỘ Ở ĐỒNG NAI

Kinh tế nông hộ đã và đang có vai trò và ý nghĩa to lớn bởi, cho dù tỷtrọng nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chỉ còn 6,8% song, vẫn có trên 50% dân cưsinh sống ở khu vực nông thôn; kinh tế hộ gia đình đang là một đơn vị sản xuấtphổ biến, nhằm huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, góp phần làm chonền kinh tế phát triển sôi động, linh hoạt hơn

Trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 185 ngàn hộ sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp, phân bố ở khắp các huyện, thị, thành phố; trong đó, tập trung nhiều nhất ởcác huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Vĩnh Cửu, Long Thành

Nhìn chung, kinh tế nông hộ ở Đồng Nai vẫn là những hộ thuần nông (trồngtrọt và chăn nuôi), các ngành kinh tế khác ít được các hộ quan tâm phát triển

Chất lượng lao động trong nông hộ mặc dù đã được nâng lên đáng kể song,vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển sản xuất; đặcbiệt là sản xuất các loại thực phẩm có yêu cầu cao về vệ sinh an toàn thực phẩm

Số lượng hộ sản xuất nông nghiệp ở Đồng Nai đang có xu thế giảm bởicác nguyên nhân như: đất đai và lao động nông nghiệp giảm (do công nghiệp và

đô thị phát triển nhanh); các loại hình tổ chức sản xuất khác như doanh nghiệpnông nghiệp, hợp tác xã và đặc biệt là kinh tế trang trại đang tăng nhanh

II ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ Ở ĐỒNG NAI

Về phương hướng phát triển nông nghiệp trong giai đoạn tới, báo cáo quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai ghi rõ: Phát triển nềnnông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế Thực tế trong những năm qua,chương trình đổi mới các loại hình tổ chức sản xuất trong ngành nông nghiệp,được Tỉnh ủy và UBND tỉnh đặc biệt coi trọng trong chỉ đạo thực hiện; nên, đã

có tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp Giai đoạn 2014 - 2020 địnhhướng về đổi mới các loại hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp như sau:

- Kinh tế trang trại ở Đồng Nai phát triển khá sớm; theo số liệu thống kê, đếnnăm 2013, toàn tỉnh có 2.429 trang trại; trong đó có 1.815 trang trại chăn nuôi; sốcòn lại là trang trại trồng trọt và nuôi thủy sản, lâm nghiêp và tổng hợp Trên thực

tế kinh tế trang trại là loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp có nhiều ưu điểm, phùhợp với sản xuất hàng hóa và cũng là quy luật tất yếu trong quá trình hình thành vàphát triển Do vậy, việc khuyến khích hỗ trợ kinh tế trang trại phát triển bền vữngđược xem như nội dung quan trọng hàng đầu của giải pháp đổi mới loại hình tổchức sản xuất trong NN; kinh tế trang trại được xem là mô hình tổ chức sản xuấtquan trọng nhất trong giai đoạn 2014 - 2020

Trang 9

- Kinh tế nông hộ: hiện nay ở tỉnh có khoảng 185 ngàn hộ nông nghiệp(chiếm 52% số hộ nông thôn) được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ; loại hìnhkinh doanh gia đình, tế bào của nền kinh tế thị trường; tuy nhiên, từ năm 2000 đến

2012, kinh tế hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ đã bộc lộ các hạn chế vốn có là sốlượng hàng hóa ít, chất lượng thấp, quản lý kém,… khó tồn tại và cạnh tranh trongnền kinh tế thị trường; do đó, kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa muốn tồn tạicần phải liên kết các hộ thành các câu lạc bộ, các tổ chức kinh tế hợp tác hoặc hợptác hóa

- Kinh tế hợp tác (83 HTX, thu hút 1.940 xã viên); đây là loại hình tổchức sản xuất - kinh doanh được khuyến khích phát triển bởi tính ưu việt mộtkhi được thành lập đảm bảo các nguyên tắc và hoạt động đúng mục đích; tuynhiên, ở thời điểm hiện tại, vẫn còn không ít HTX mang tính hình thức, ít đi vàothực chất dẫn đến lợi ích kinh tế - xã hội đem lại cho xã viên không cao, chưahấp dẫn và lôi cuốn các hộ tự nguyện tham gia; để kinh tế hợp tác phát triển, Chicục Phát triển Nông thôn cần phối hợp với Phòng Nông nghiệp - PTNT cáchuyện (TX) tiến hành một số công việc sau đây:

+ Hàng năm tiến hành điều tra - khảo sát, tổng hợp đánh giá và phân loạiđối với từng HTXNN, tổ kinh tế hợp tác nhằm tìm ra các nguyên nhân của hạnchế - yếu kém từ đó có biện pháp giải quyết thỏa đáng, đặc biệt là củng cố, hỗtrợ các tổ kinh tế hợp tác, HTXNN yếu kém

+ Tuyên truyền vận động đối với các nông hộ để họ tự nguyện xây dựngmới các tổ kinh tế hợp tác, HTXNN kiểu mới đối với một số ngành hàng: rau antoàn, quả đặc sản hồ tiêu sạch được sản xuất theo tiêu chuẩn Viet GAP, GlobalGAP…

+ Tạo môi trường sản xuất - kinh doanh thuận lợi để tổ kinh tế hợp tác,HTXNN mở rộng liên kết sản xuất - kinh doanh, nhất là liên kết giữa sản xuất vớicác nhà phân phối - tiêu thụ nông sản thực phẩm tươi sống (rau, quả, hồ tiêu, thịt,trứng, cá, tôm, …)

- Các loại hình câu lạc bộ chuyên cây, con và các hội ngành hàng: Đây là

mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và xây dựng hệ thốngkinh tế vườn, mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị khá thành công ở các nướcphát triển Dự án phát triển ca cao bền vững ở Việt Nam do Success Alluancethực hiện theo mô hình câu lạc bộ từ năm 2004 đến 2009 khá thành công, trong

đó có nông dân huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, huyện Xuân Lộc tỉnhĐồng Nai cũng mang lại kết quả cao trong việc phát triển câu lạc bộ bắp năng suấtcao (10 tấn/ha), câu lạc bộ cây ăn quả đặc sản năng suất chất lượng cao (xoài, sầuriêng), nuôi bò lai Sind, … ở Tp Hồ Chí Minh cũng thành công đối với mô hìnhnuôi cá cảnh, hoa phong lan, cá sấu,… Do vậy cơ quan tư vấn đề xuất ngành nôngnghiệp tỉnh, các huyện, thị xã Long Khánh và TP Biên Hòa cần tổng kết và tổchức đi tham quan học tập - tiếp thu kinh nghiệm để xây dựng ở Đồng Nai cácloại hình câu lạc bộ và Hội ngành hàng: Hoa cây cảnh, câu lạc bộ cây ăn quả đặcsản (bưởi, sầu riêng, chôm chôm, xoài, mãng cầu…), hội các nông hộ trồng rau,

hồ tiêu an toàn, …

Trang 10

Phần thứ ba

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC SẢN XUẤT

NÔNG NGHIỆP Ở ĐỒNG NAI

I Nhóm giải pháp về xây dựng cánh đồng lớn, phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản theo Quyết định 62/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ

Căn cứ Quyết định số 58/2014/QĐ-UBND ngày 24/11/2014 của UBNDtỉnh Đồng Nai ban hành quy định về chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triểnhợp tác liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn trênđịa bàn tỉnh Đồng Nai; theo đó, tiêu chí cánh đồng lớn như sau:

d Quy mô diện tích tối thiểu của cánh đồng lớn

+ Nhóm rau, hoa, cây dược liệu: 10 ha liền thửa

+ Nhóm cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày (lúa, bắp, đậu, mì,mía…) 50ha liền thửa

+ Nhóm cây ăn quả (xoài, bưởi, sầu riêng, chôm chôm, chuối, mít, thanhlong…), cây công nghiệp lâu năm Cà phê, điều cao su, ca cao, mắc ca…) 50 ha;riêng cây tiêu: 20 ha, không nhất thiết phải liền thửa nhưng phải nằm trong cùngmột vùng sản xuất chuyên canh tập trung

2 Tiêu chí khuyến khích lựa chọn dự án

Trường hợp có nhiều dự án đảm bảo tiêu chí bắt buộc), ưu tiên dự án có:

a Vùng sản xuất có hạ tầng kỹ thuật (thủy lợi, điện, giao thông nộiđồng…) đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa tập trung thuận lợi cho sơ chế chếbiến và tiêu thụ sản phẩm

b Quy mô diện tích lớn hơn, tập trung và áp dụng cơ giới hóa sản xuấttheo tiêu chuẩn GAP… và có đại lý, cơ sở thu mua, bảo quản, chế biến nông sảngần nơi sản xuất

Căn cứ tiêu chí nêu trên, có thể xác định được số lượng cánh đồng lớnđối với từng ngành hàng Các các các địa phương đã tiến hành quy hoạch sốlượng và quy mô cánh đồng lớn đối với đối với từng loại cây trồng trên địa bàn;theo đó, số lượng và quy mô cụ tể từng cánh đồng lớn được quy hoạch như sau:

Trang 11

Bảng 3: Quy hoạch cánh đồng lớn nhóm cây ngắn ngày (rau hoa, lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày

Nhóm rau, hoa, DL cây công nghiệp ngắn ngày Nhóm cây lương thực và

Trang 12

-STT Tên cánh đồng lớn

Nhóm rau, hoa, DL cây công nghiệp ngắn ngày Nhóm cây lương thực và

Ngày đăng: 12/05/2017, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w