Có nhiều yếu tố liên quan đến lợi thế cạnh tranh của một ngành hàng: quy mô, phân bố các vùng chuyên canh các nguồn lực liên quan trong vùng như: đấtđai, nguồn nước, chế độ thủy văn điều
Trang 1TỈNH ĐỒNG NAITRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
TỈNH ĐỒNG NAI
ĐỀ TÀI KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỊ TRƯỜNG
ĐỂ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHỦ LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA BỀN VỮNG TẠI ĐỒNG NAI
Chủ nhiệm đề tài: Trần Hải Sơn, Nguyễn Vinh Hùng
Trang 2Đặt vấn đề
Khái niệm về lợi thế cạnh tranh (LTCT) đang ngày càng trở nên phổ biếnkhông chỉ trong giới doanh nghiệp mà còn cả trong các cơ quan quả lý nhànước Nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh giúp cho cơ quan quản lý ra những quyếtđịnh đúng đắn về định hướng phát triển nhưng ngành hàng mang lại hiệu quảcao cả về kinh tế, xã hội và môi trường cho cả người dân, doanh nghiệp và nhànước Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành hàng cũng giúp cho một địaphương, một quốc gia đầu tư hiệu quả nhất các nguồn lực của mình để tạo giá trịcho nền kinh phát triển một cách bền vững
Ngày 26/9/2011, UBND tỉnh Đồng Nai có Quyết định số 2419/QĐ-UBNDban hành chương trình cây trồng, vật nuôi chủ lực và xây dựng thương hiệu sảnphẩm nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2015; theo đó, các cây trồng, vật nuôi chủ lựctrên địa bàn tỉnh gồm: cây cà phê, hồ tiêu, cây điều, sầu riêng, cây xoài, cây bưởi,cây cao su, đàn heo, đàn gà Đây là những cây trồng, vật nuôi được trồng ở tỉnhĐồng Nai từ khá lâu đời và ngày càng tỏ ra thích hợp đối với các vùng đất trênđịa bàn tỉnh Đồng Nai; trải qua khá nhiều giai đoạn thăng trầm nhưng diện tíchcác loại cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn có xu thế tăng; điều này chứng tỏcác cây trồng, vật nuôi chủ lực đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cho ngườisản xuất trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, đến giai đoạn 2016 – 2020, có nên xác địnhđây tiếp tục là cây trồng, vật nuôi chủ lực của Đồng Nai? lợi thế canh tranh củacác ngành hàng này ở mức nào? để trên cơ sở đó, hoạch định chiến lược phát triểncác ngành hàng chủ lực ở Đồng Nai như thế nào là vấn đề cần nghiên cứu cụ thể
Đồng Nai là một tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóarất nhanh; Đặc điểm của quá trình này là làm cho các nguồn lực trong nôngnghiệp giảm nhanh Ngoài ra, trên thế giới cũng có nhiều biến động ảnh hưởngtrực tiếp tới ngành nông nghiệp như: thiên tai dịch bệnh bất thường; Các thịtrường tiêu thụ nông sản ngày càng yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm,trong đó đặc biệt là yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đòi hỏi người sản xuấtphải sản xuất theo quy trình GAP (Viet GAP, Global GAP), ứng dụng côngnghệ cao; biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng… Trong bối cảnh đó rấtcần phải rà soát, sắp xếp lại các nguồn lực trên địa bàn tỉnh; qua đó để xác địnhlợi thế cạnh tranh của từng loại sản phẩm cả trong hiện tại và tương lai
Có nhiều yếu tố liên quan đến lợi thế cạnh tranh của một ngành hàng: quy
mô, phân bố các vùng chuyên canh các nguồn lực liên quan trong vùng như: đấtđai, nguồn nước, chế độ thủy văn điều kiện áp dụng cơ giới hóa, ứng dụng côngnghệ cao,kinh nghiệm sản xuất, giá cả thị trường… Trong chuyên đề này, chúngtôi tập trung phân tích các yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi thế cạnhtranh của ngành hàng gồm: xác định giá thành sản phẩm, lợi nhuận và thu nhậptrên đơn vị diện tích để so sánh với các sản phẩm khác trong vùng; nhận xét, đánhgiá sơ bộ về chất lượng sản phẩm, mức độ an toàn của sản phẩm; thực trạng vềthương hiệu sản phẩm; phân tích thị trường tiêu thụ; dự báo thị trường trong vàđoạn 2016 – 2020 và định hướng đến năm 2025 và 2030 ngoài nước… làm cơ sở
để xác định chương trình cây trồng, vật nuôi chủ lực
Trang 3I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI THẾ SO SÁNH VÀ SỨC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP
Cơ sở lý luận về lợi thế so sánh
Lợi thế so sánh được xem xét tư nhiều góc độ như chi phí tương đối, chiphí cơ hội hoặc từ mức độ dồi dào của các nguồn lực sử dụng để sản xuất cácmặt hàng được đưa ra trao đổi Trong điều kiện khoa học – công nghệ phát triểncao và toàn cầu hoá kinh tế, lợi thế so sánh được xem xét thêm từ góc độ sựkhác biệt về trình độ công nghệ hoặc những quy mô thị trường Để lượng hóamức độ của lợi thế so sánh một mặt hàng có thể sử dụng công thức tính lợi thế
so sánh trong thấy (RCA) của Balassa công bố năm 1965 Công thức này được
đo bằng tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu một mặt hàng trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu của thế giới trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm
RCAij = (xij/xwj)/(Σxij/Σxwj)
+ xij là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng j của nước i
+ xwj là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng j của cả thế giới
+ Σxij là tổng kim ngạch xuất khẩu của nước i trong thời gian tương ứng
+ Σxwj là tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới trong thời gian tương ứng
Công thức này đưa ra cách đo lường cụ thể và rõ ràng lợi thế so sánh mộtmặt hàng trong một khoảng thời gian, cho nên nó được sử dụng khá phổ biến.nếu chỉ số này lớn hơn 1 thì mặt hàng đó có lợi thế só sánh và chỉ số này càngcao thì lợi thế so sánh của mặt hàng càng cao và với sự tăng lên của chỉ số nhưvậy, mặt hàng có thể khai thác được lợi thế so sánh ở mức cao nhất
Công thức chỉ ra lợi thế so sánh phụ thuộc vào 4 yếu tố thường xuyênthay đổi Khi thị trường xuất khẩu được mở rộng, cơ hội để tăng lợi thế so sánhcủa mặt hàng xuất hiện; do đó, toàn cầu hóa thị trường tạo cơ hội rất lớn để giatăng lợi thế so sánh của các mặt hàng khi thực hiện được việc xuất khẩu ra thịtrường nước ngoài Những mặt hàng có thương hiệu mạnh, phù hợp với nhu cầuthị trường nước ngoài có khả năng cạnh tranh cao, có khả năng tăng nhanh sảnlượng và kim ngạch xuất khẩu và theo đó, lợi thế so sánh sẽ có xu hướng đượccải thiện Kết quả tính toán từ công thức có thể sử dụng để so sánh, đối chiếu lợithế so sánh của các mặt hàng ở các nước khác nhau
Cơ sở lý luận về lợi thế cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm
có nhiều cách hiểu khác nhau do đó có khá nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhữngkhái niệm khác nhau về cạnh tranh Tuy nhiên, phần lớn họ đều thống nhất ởmột số điểm chung như sau: Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế tất yếu phát sinhtrong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để giành gậtnhững điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thịtrường, giành lấy khách hàng, để thu được lợi nhuận cao nhất; mục đích cuốicùng trong cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với chủ thể cạnh tranh
Trang 4Lợi thế cạnh tranh: một cây trồng ở một địa phương được xem là có lợithế cạnh tranh khi lợi nhuận của nó cao hơn cao hơn các cây trồng khác nếutrồng trên cùng loại đất hoặc cao hơn cây trồng cùng loại trồng ở các địa phươngkhác Một ngành hàng có lợi thế cạnh tranh bền vững khi duy trì được lợi thếcạnh tranh trong một thời gian dài
Năng lực cạnh tranh của một ngành hàng là khả năng duy trì và nâng caolợi thế cạnh tranh bao gồm các lợi thế về các nguồn lực tự nhiên (chất lượng đất,cao trình, địa hình, vị trí địa lý – kinh tế, nguồn nước, chế độ thủy văn) cácnguồn lực về kinh tế - xã hội (số lượng và chất lượng lao động, hệ thống cơ sở
kỷ XVII cây cà phê đã có vị trí vững chắc đối với việc trồng và buôn bán sảnphẩm cà phê trên thế giới; hiện nay, theo thống kê của Tổ chức Cà phê Quốc tế(ICO), có 79 quốc gia trồng cà phê với diện tích thu hoạch: 9,86 triệu ha, năngsuất BQ: 0,88 tấn/ha, sản lượng năm 2013 đạt: 8,67 triệu tấn (144,61 triệu bao)
- Những nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới gồm:
+ Brazil: Trồng cà phê từ năm 1760 (cách nay 250 năm), nơi trồng đầu tiên
là Rio de Janeiro Brazil đứng nhất thế giới về diện tích trồng, sản lượng và sốlượng - giá trị xuất khẩu cà phê trên thế giới Năm 2013 đạt sản lượng cao nhất:3,05 triệu tấn (chiếm 35,15% sản lượng cà phê thế giới), bình quân nhiều nămBrazil chiếm 30% sản lượng cà phê thế giới; sự biến động sản lượng cà phê củaBrazil có ảnh hưởng đến cung cầu và giá bán cà phê của thế giới Đặc biệt ở Brazilsản xuất cà phê chè chiếm đến 75% và cà phê vối chỉ có 25% sản lượng, nên ViệtNam cần xem Brazil là nước cạnh tranh rất quyết liệt với cà phê Việt Nam cả về
số lượng, chất lượng và giá bán trên thị trường
+ Colombia: Quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ ba thế giới
(sau Brazil và Việt Nam), cây cà phê được trồng ở Colombia vào năm 1723,hiện nay sản lượng cà phê của quốc gia này là: 0,57 triệu tấn, sản lượng cà phêđạt cao nhất vào năm 1991: 1,09 triệu tấn Đặc biệt, Colombia sản xuất ra loại cà
phê chè có chất lượng cao xếp vào nhóm “dịu Colombia” rất được thị trường thế
giới ưa chuộng với giá bán khá cao Hơn nữa, Chính phủ Colombia đang cóchính sách hỗ trợ về tài chính phục hồi 300.000 ha cà phê già cỗi để duy trì lại
Trang 5sản lượng 1,0 triệu tấn vào niên vụ 2014/2015 nhằm giành lại vị trí thứ 2 thếgiới về sản xuất cà phê của Việt Nam.
+ Indonesia: Bắt đầu trồng cà phê chè vào năm 1696 và phát triển mạnh từ
năm 1880, đến năm 1976, do bệnh rỉ sắt hoành hành gây thiệt hại nặng, quốc gianày đã dần thay thế bằng cà phê vối; đến nay (năm 2013 Diện tích cà phê đạtkhoảng 1,24 triệu ha, sản lượng 0,76 triệu tấn)
+ Guatemala và Honduras: Guatemala là nước sản xuất cà phê chè lớn
thứ 2 ở Trung Mỹ, cây cà phê được trồng vào năm 1730 và phát triển khá mạnh,năm 1999 sản lượng đạt: 307.000 tấn Sản xuất cà phê của Honduras xếp thứ 9trên thế giới; đặc biệt là sản lượng tăng rất nhanh, năm 1990 chỉ có 56.000 tấn, đếnnăm 2013 đạt 253.186 tấn (gấp 4,52 lần) và là quốc gia sau 30 năm (1977 – 2007)
có tốc độ tăng trưởng sản lượng cà phê bình quân 4,49%/năm (xếp thứ 2 thế giớisau Việt Nam) Mặt khác, trong 5 năm (2005 – 2010) chính phủ đã đầu tư 159triệu USD để trồng lại 50% diện tích cà phê già cỗi và đưa năng suất cà phê bìnhquân tăng gấp 2 lần (từ 0,48 tấn/ha lên 1,0 tấn/ha)
- Ngành hàng cà phê thế giới hình thành từ cuối thế kỷ XVII, nay đã làthập niên đầu của thế kỷ XXI (2001 – 2010), trải qua hơn 4 thế kỷ đã khẳng định
vị trí vai trò quan trọng của sản xuất và buôn bán cà phê với số lượng - giá trịcũng như cả tổ chức buôn bán ngày càng lớn mạnh
- Trên thế giới có “Tổ chức Cà phê quốc tế - ICO” và Việt Nam là thànhviên chính thức ngày 26/03/1991 ICO không có chức năng - quyền hạn liênquan đến cung - cầu và giá bán cà phê trên thị trường mà chỉ là tổ chức tư vấnphát triển cà phê cho các quốc gia thành viên
- Xuất nhập khẩu cà phê: Có 79 nước sản xuất cà phê với sản lượng 10 niên
vụ gần đây từ 120 triệu bao đến 144 triệu bao (7,2 – 8,7 triệu tấn); trong đó 50quốc gia xuất khẩu cà phê sản xuất với sản lượng sản lượng 6,5 – 7,6 triệu tấn
- Tốc độ tăng sản lượng cà phê bình quân 20 năm (1983 – 2013) là2,4%/năm (có 19 quốc gia sản lượng tăng và 31 quốc gia sản lượng giảm)
- Trên thế giới đã hình thành một số sàn giao dịch cà phê ở các nước nhậpkhẩu - tiêu thụ nhiều cà phê, tại nước Anh là Luân Đôn và Hoa Kỳ là New York;đây là sự khác biệt của ngành cà phê so với các nông sản khác như: gạo, cao su, hạttiêu, nhân điều, ca cao,… Do phát triển mạnh của dịch vụ tài chính - ngân hàng nêncác nhà đầu tư đã từng bước can thiệp sâu hơn vào 2 sàn giao dịch cà phê LuânĐôn và New York thông qua việc nắm giữ số lượng cổ phiếu đủ lớn của các nhànhập khẩu - rang xay cà phê lớn trên thế giới (8 công ty tập đoàn lớn, trong đó cóNestlé) dẫn đến tình trạng đầu cơ làm sai lệch quy luật cung - cầu và giá bán càphê, nhất là đối với hợp đồng giao dịch có kỳ hạn
- Xuất nhập khẩu cà phê: Có 79 nước sản xuất cà phê với sản lượng 10 niên
vụ gần đây từ 120 triệu bao đến 144 triệu bao (7,2 – 8,7 triệu tấn); trong đó 50quốc gia xuất khẩu cà phê sản xuất với sản lượng sản lượng 6,5 – 7,6 triệu tấn
Trang 6Tổng sản lượng cà phê buôn bán dao động từ 5,3 – 5,8 triệu tấn/năm với giá trịcao nhất đạt 10,0 tỷ USD/năm.
- Mười quốc gia xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới là: Brazin, Việt Nam,Colombia, Indonesia, Etiopia, Ấn Độ, Mexico, Guatemala, Peru, Honduras
- Mười quốc gia nhập khẩu nhiều cà phê nhất thế giới gồm: Hoa Kỳ, Đức,Italy, Nhật, Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan
+ Việt Nam:
- Cây cà phê được các nhà truyền đạo công giáo đưa vào trồng đầu tiên ởViệt Nam năm 1857 (cách nay 153 năm), nơi trồng thử nghiệm đầu tiên là khuđất quanh nhà thờ Gio Linh (tỉnh Quảng Trị) và Sen Bàng (tỉnh Quảng Bình);tiếp đó cà phê được trồng ở tu viện Kẻ Sở (huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam) vàonăm 1870 Sau này có nhiều tu viện trồng cà phê như: Châu Sơn (huyện NhoQuan - tỉnh Ninh Bình), Phan Chu Trinh (Buôn Ma Thuột - tỉnh Đắk Lắk) Thờigian trồng thử nghiệm kéo dài 31 năm (1857 – 1888)
- Kể từ năm 1888, cà phê được trồng đại trà ở các đồn điền thuộc sở hữucủa chủ tư bản Pháp như: Borel Leonte ở Chi Nê (nay thuộc tỉnh Hòa Bình),Condoux - Gombert ở tỉnh Nghệ An, Michel Phillip ở tỉnh Quảng Trị, Rossi -Delfante ở tỉnh Đắk Lắk,… Đến năm 1945, tổng diện tích cà phê toàn quốc lênđến 10.700 ha (Bắc Kỳ: 4.100 ha, Trung Kỳ: 5.900 ha, Nam Kỳ: 700 ha), năngsuất bình quân cà phê chè: 0,4 – 0,5 tấn/ha và cà phê vối: 0,5 – 0,6 tấn/ha.Phần lớn sản lượng cà phê xuất khẩu sang Pháp qua cảng Le Havre với nhãnhiệu “Arabica du Tonkin” được đánh giá cao về chất lượng Ngành hàng càphê Việt Nam bắt đầu được hình thành
- Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) thành lập năm 1990 vàchỉ sau 1 năm (vào ngày 26/3/1991 đã tham gia Tổ chức Cà phê Quốc tế - ICO)
- Năm 2000 diện tích cà phê cả nước đạt 561.993 ha, tăng 518.108 ha sovới năm 1985; tuy nhiên, giai đoạn 2000 - 2007 diện tích cà phê luôn biến động
do giá cà phê sụt giảm chỉ bằng ½ so với năm 1999 (năm 1999 giá cà phê bìnhquân: 1.213USD/tấn, xuống còn 420 – 674 USD/tấn trong thời gian 5 năm 2000– 2001 – 2002 – 2003 – 2004)
- Từ năm 2008 - 2013 diện tích cà phê luôn có xu hướng tăng qua cácnăm, Đến năm 2013 diện tích cà phê của cả nước là 623.092 ha; năng suất đạt2,20 tấn/ha và tổng sản lượng đạt 1,26 triệu tấn Tây Nguyên được xác định làđịa bàn trọng điểm phát triển cà phê của cả nước với diện tích năm 2013 là:559.225 ha (chiếm 89,75% diện tích cà phê cả nước)
Niên vụ 2012-2013 (từ tháng 10-2012 đến 9-2013), tổng lượng cà-phênước ta xuất khẩu đạt 1.417.878 tấn, đạt tổng kim ngạch hơn 3,038 tỷ USD,giảm 11,2% về khối lượng và giảm 10,3% về giá trị so với niên vụ 2011-2012.Tuy vậy, đây là năm thứ ba ngành cà phê nước ta đạt được khối lượng xuất khẩuhơn 1,3 triệu tấn và kim ngạch hơn 3 tỷ USD Hơn nữa, với mức giá cà phê nhân
xô trung bình từ 38 triệu đến 39 triệu đồng/tấn, người trồng cà-phê vẫn có lãi
Trang 7Về thị trường, trong niên vụ 2012-2013, Đức đã vượt Hoa Kỳ để trở thànhthị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm 10% thị phần; Hoa
Kỳ đứng thứ hai với 8% thị phần
+ Tỉnh Đồng Nai
Năm 1901, tỉnh Biên Hòa có 8 colons kinh doanh cà phê: công ty ParisPhước Tân (tổng Long Vĩnh Thượng) có 25.000 gốc cà phê; Romans có 2.260gốc ở làng Bình Dương (tổng Long Vĩnh thượng); Lorenzo có 3.800 gốc ở làngXuân Lộc (tổng Bình Lâm thượng); Button có 6.000 gốc ở làng Bình Thạnh (tổngPhước Vĩnh trung); Nativel có 10.000 gốc ở làng Bình Trước (tổng Phước VĩnhThượng); Crestien trồng 30.000 gốc ở làng Chánh Hưng (tổng Chánh Mỹ hạ);Torbilla không rõ trồng ở đâu và có bao nhiêu gốc
Năm 1923, tỉnh Biên Hòa có khoảng 300 ha cà phê, năng suất 270 kg/ha.Năm 1959, tỉnh Biên Hòa có 50 ha cà phê thu 15 tấn hạt, tỉnh Long Khánh có
600 ha, thu sản lượng 240 tấn
Do chủ trương lập các dinh điền, chính quyền Sài Gòn khuyến khích tưnhân mở đồn điền cà phê, nên các chủ sở đầu tư thâm canh: bón phân hóa học,tuyển chọn giống (giảm diện tích cà phê chè, tăng cà phê vối), trồng cây che phủ
và tỉa xén cành hàng năm, trang bị dàn tưới phun
Trong giai đoạn 1975 - 1980, mặc dù giá cả cà phê thế giới tăng cao gấp2,3 lần nhưng cà phê ở Đồng Nai vẫn chưa phát triển nhanh vì chưa mở rộngđược thị trường xuất khẩu và còn lo giải quyết vấn đề lương thực sau chiếntranh Trong giai đoạn 1981 - 1996, diện tích cà phê tăng rất nhanh (nhất là giaiđoạn 1985 - 1990) do giá cả thị trường thế giới cao, thị trường xuất khẩu đượckhai thông và đặc biệt là do chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã khơidậy tiềm năng trong dân chúng
Phần lớn giống cà phê được trồng hiện nay ở Đồng Nai là nhóm giống càphê vối (Robusta) thuộc 2 chủng coffeae canephara var robusta và coffeaecanphora var koulilou đã được du nhập vào Đồng Nai từ những năm đầu thế kỷ
XX Nhóm cà phê chè không nhiều vì không thích hợp lắm đối với điều kiệnsinh thái ở Đồng Nai Nhóm cà phê mít càng ít vì giá trị thương phẩm thấp
Tổng diện tích cà phê năm 2013 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là:21.804 ha, sản lượng 34.725 tấn, năng suất đạt 1,86 tấn/ha Diện tích cà phêphân bố chủ yếu trên địa bàn các huyện: Cẩm Mỹ (6.576 ha), Định Quán(4.464 ha), Trảng Bom (4.129 ha), Tân Phú (3.264 ha) là những vùng có đất
đỏ bazan, chủ động nước tưới nhờ các công trình hồ chứa, đập dâng hoặccác giếng khoan khai thác nước ngầm
Bảng 1: Diện tích – năng suất – sản lượng cà phê năm 2013
STT Hạng Mục Diện tích thu hoạch Diện tích Năng suất lượng Sản
Trang 8STT Hạng Mục Diện tích thu hoạch Diện tích Năng suất lượng Sản
Công nghiệp chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2012 như sau:
+ Đối với cà phê nhân: có 15 cơ sở chế biến với tổng công suất thiết kế190.000 tấn/năm; trong đó số cơ sở có công suất chế biến <5.000 tấn/năm là 11
cơ sở và số cơ sở có công suất từ 20.000 – 100.000 tấn/năm là 4 cơ sở với tổngcông suất thiết kế 145.000 tấn/năm
+ Đối với cà phê bột: Có tổng số 22 cơ sở với công suất thiết kế 4.120tấn/năm; trong đó đa số là cơ sở chế biến nhỏ lẽ với công suất <50 tấn/năm (20
cơ sở, tổng công suất 400 tấn) và 2 cơ sở chế biến cà phê bột với quy mô lớn
>500 tấn/năm; tổng công suất 3.720 tấn/năm
+ Chế biến cà phê tiêu dùng: tổng công suất chế biến cà phê hòa tan là4.080 tấn/năm và cà phê hòa tan 3 trong 1 là 31.000 tấn/năm
Theo quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Đồng Nai đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030, diện tích cà phê của tỉnh Đồng Nai là:21.190 ha,trong đó diện tích kinh doanh đạt 18.679 ha, năng suất 2,07 tấn/ha
Có nhiều giải pháp để thực hiện phương án phát triển ngành nông nghiệpnói chung và ngành hàng cà phê nói riêng; song, giải pháp nâng cao năng lựccạnh tranh của từng ngành hàng được xem là giải pháp cấp bách, vô vùng quantrọng để tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung và ngành hàng cà phê nóiriêng Để thực hiện giải pháp này, sau đây ta xem xét kỹ hơn về năng lực cạnhtranh và lợi thế cạnh tranh của ngành hàng cà phê tỉnh Đồng Nai
3 Ngành hàng hồ tiêu
+ Thế giới
Hồ tiêu là cây gia vị thông dụng nhất trên thế giới hiện nay, là loại gia vịcao cấp, chiếm vai trò chủ đạo (khoảng 34%) trong tổng giá trị sản lượng gia vịđược buôn bán trên Thế giới Hồ tiêu có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao,
Trang 9trên thị trường thế giới các sản phẩm hồ tiêu được giao dịch bởi các dạng sau:tiêu đen, tiêu trắng (tiêu sọ), tiêu xanh và dầu nhựa tiêu.
Cây hồ tiêu có nguồn gốc ở vùng Tây Nam Ấn Độ, do có xuất xứ từ vùngnhiệt đới ẩm nên cây hồ tiêu thường được trồng ở các nước thuộc vùng xích đạo,
từ khoảng 15o vĩ độ Bắc đến 15o vĩ độ Nam, với khoảng 70 nước trồng tiêu,trong đó có 5 nước trồng chủ yếu là : Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia vàViệt Nam
Sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ hồ tiêu trên thế giới không ngừng pháttriển, sản lượng hồ tiêu sản xuất trên thế giới đã tăng từ 100 nghìn tấn năm 1970lên 320 ngàn tấn năm 2013 (trong đó tiêu đen 242,5 ngàn tấn và tiêu trắng 77,5ngàn tấn), những nước sản xuất nhiều tiêu trắng là Việt Nam, Indonesia,Malaysia, Trung Quốc Phần lớn sản lượng tiêu sản xuất ra được dành cho xuấtkhẩu, với khoảng 70% sản lượng hồ tiêu sản xuất hàng năm, 30% là tiêu dùngtrong nước của các nước sản xuất (trong 5 nước sản xuất hồ tiêu lớn nhất thếgiới, chỉ có Ấn Độ có tiêu dùng trong nước chiếm phần lớn sản lượng sản xuất
ra - khoảng 81%, còn lại các nước khác xuất khẩu hầu hết sản lượng hồ tiêuđược sản xuất (trên 85%)
Hồ tiêu được tiêu thụ ở nhiều nước trên thế giới, hiện có trên 120 nước nhậpkhẩu tiêu, với khoảng 250 ngàn tấn mỗi năm, trong đó các nước nhập khẩu chínhgồm: Mỹ (chiếm khoảng 22 - 23%), Singapore (khoảng 10%), Hà Lan (khoảng9%), Đức (khoảng 7%), các nước còn lại, mỗi nước chiếm không quá 3% Trong 3nước nhập khẩu lớn nhất, thì: Mỹ chủ yếu cho tiêu dùng nội địa (khoảng 93%), cònSingapore và Hà Lan tái xuất hầu hết lượng hồ tiêu nhập khẩu
Sản lượng Hồ tiêu thế giới năm 2012, 2013 có tăng nhẹ so với năm 2011,nhưng năm 2014 lại giảm sâu Tồn kho gối đầu hàng năm ngày càng hạn hẹp,nên tổng nguồn cung bình quân ba năm coi như không tăng
Trong bối cảnh nguồn cung chưa đáp ứng đủ nhu cầu, cùng với tình hìnhthương mại toàn cầu ngày càng hội nhập sâu, tình trạng độc quyền, chi phối thịtrường giá cả Hồ tiêu của các nhà đầu cơ ngày càng hạn chế; Vì vậy giá tiêu đãduy trì ở mức cao mấy năm qua theo xu hướng tăng, không theo chu kỳ tănggiảm như những năm trước đây
Theo IPC nhu cầu tiêu thụ tiêu toàn cầu khoảng 350.000 tấn/năm và có xuhướng tăng khoảng 5%/năm
Các nước thuộc Hiệp hội hồ tiêu quốc tế - IPC (gồm 6 nước là Việt Nam,
Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Malaysia và Sri Lanka) đều là những nước trồng vàxuất khẩu hồ tiêu chủ yếu trên thế giới, chiếm khoảng 90% sản lượng thu hoạch
và 95% sản lượng hồ tiêu xuất khẩu của thế giới
+ Việt Nam
Cây hồ tiêu là một trong 5 loại cây công nghiệp lâu năm xuất khẩu chủlực của Việt Nam, với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, là mặthàng nông sản duy nhất không xảy ra hiện tượng “được mùa mất giá” do người
Trang 10nông dân có thể tự điều tiết lượng hàng hóa bán ra từng thời điểm để có đượcgiá cả có lợi nhất, sản xuất hồ tiêu đã, đang góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội tại các vùng trồng tiêu và sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
Ở Việt Nam, hồ tiêu đã được trồng từ cách đây khoảng 140 năm, được dunhập và trồng đầu tiên ở Hà Tiên, Phú Quốc, Phước Tuy và Bà Rịa Hiện nay ởnước ta, hồ tiêu được trồng chủ yếu từ vĩ tuyến 17 trở vào (do cây hồ tiêu khôngchịu được nhiệt độ thấp), trong đó tập trung nhiều ở vùng Tây Nguyên và ĐôngNam Bộ (chiếm gần 90% diện tích, 95% sản lượng hồ tiêu toàn quốc)
Trong những năm qua, sản xuất hồ tiêu của nước ta không ngừng pháttriển, thời kỳ từ năm 1995 đến năm 2014 : Diện tích trồng hồ tiêu đã tăng từ 6,8ngàn ha lên 62 ngàn ha (phân bố ở 28 Tỉnh, Thành phố); sản lượng tăng từ 9.400tấn lên 130.000 tấn (tăng 13,83 lần); khối lượng hạt tiêu xuất khẩu tăng từ 17.900tấn lên 134.387 tấn (tăng 7,5 lần); giá trị xuất khẩu tăng từ 24,5 triệu USD lên 898triệu USD (tăng 36,65 lần)
Hồ tiêu Việt Nam đã có mặt trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thếgiới Việt Nam tiếp tục giữ vững kỷ lục là quốc gia sản xuất và xuất khẩu tiêu sốmột thế giới 14 năm liền Vị thế quốc gia Hồ tiêu Việt Nam đã được khẳng địnhtrên trường quốc tế Cộng đồng Hồ tiêu thế giới đã nhìn Việt Nam với con mắttôn trọng, lắng nghe và cùng chia sẻ
Năm 2013, thị phần xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam qua các châu lục như sau:Châu Á (49,10%); Châu Âu (47,70%); Châu Mỹ (28,10%) và Châu Phi (9,50%)
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết khối lượng tiêu xuấtkhẩu tháng 7/2014 ước đạt 9.000 tấn, với giá trị đạt 74 triệu USD, đưa khốilượng xuất khẩu tiêu lên 119.000 tấn với giá trị 862 triệu USD, tăng gần 29% vềkhối lượng và tăng 42% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013
Hồ tiêu Việt Nam đã chiếm tỷ trọng áp đảo về sản lượng về số lượng xuất
khẩu (trên 30% sản lượng và trên 50% thị phần xuất khẩu) giá cả cạnh tranh.
Nếu Việt Nam đồng lòng sẽ đủ sức bình ổn giá cả thị trường
Những dự báo về tình hình sản xuất và thương mại Hồ tiêu trong phạm vitoàn cầu, có thể dự đoán trong giai đoạn từ nay đến năm 2015, định hướng đếnnăm 2020 và tầm nhìn nhiều năm tới, Hồ tiêu VN vẫn có nhiều tiềm năng, lợithế cạnh tranh trên trường quốc tế về nhiều mặt so với các nước
Trang 11từ 140.000 – 170.000 đồng/kg, người nông dân đã chuyển diện tích khôngthích hợp của cây trồng khác sang trồng tiêu.
Năm 2013, năng suất bình quân của tỉnh đạt 2,23 tấn/ha thấp hơn các tỉnhBình Phước, Tây Ninh khoảng 1 tấn/ha Ở một số huyện như Xuân Lộc, ĐịnhQuán, Thống Nhất ứng dụng công nghệ mới, kỹ thuật canh tác mới, tưới tiếtkiệm nước… mang lại năng suất cao từ 4 – 6 tấn/ha
Bảng 1: Diện tích - năng suất – sản lượng tiêu năm 2013 phân theo huyện
Đơn vị: Ha, Tấn/ha và Tấn
S
Diện tích thu hoạch Năng suất Sản lượng
lệ đậu quả…
Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, cho biết, 6 tháng đầu năm 2014 xuất khẩu hạttiêu của các doanh nghiệp trong tỉnh ước đạt 3.100 tấn, tổng giá trị gần 23 triệuUSD Hiện giá xuất khẩu hạt tiêu đen đang ở mức cao trên 7.100 USD/tấn, caohơn so với cùng kỳ năm trước khoảng 50 đến 60 USD/tấn
Trang 12nhất thế giới) Từ năm 1788 (cách nay 226 năm), cây điều đã được các nhà sinhhọc giới thiệu trong danh sách thực vật Đông Dương.
Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc - FAO trên thếgiới có 40 quốc gia trồng điều với tổng diện tích 4,1 triệu ha Trong đó, 03 quốcgia có diện tích điều lớn nhất thế giới là Ấn Độ (870.000 ha), Brazil (753.000ha) và Bờ Biển Ngà (660.000 ha) Năng suất điều trên thế giới qua 50 năm cótăng nhưng ở mức rất thấp, năng suất bình quân 0,60 - 0,65 tấn/ha (nước có năngsuất điều thấp nhất là Cộng hòa Dominica 0,17 tấn/ha)
Giá cả ngành điều trên thế giới biến động theo từng năm, từng giai đoạn.Nhìn chung giá ngành hàng điều tăng, năm 2000, giá điều của Việt Nam:671,7USD/tấn, Bờ Biển Ngà: 491,5USD/tấn, Brazil: 416,4USD/tấn, … Năm
2012, giá điều của Việt Nam: 998,4USD/tấn, Indonexia: 884,4USD/tấn, …
Chế biến và buôn bán (hạt và nhân điều) trên thế giới được Tổ chức Nônglương của Liên hợp quốc (FAO) ghi nhận từ năm 1900, song khối lượng và giátrị buôn bán các sản phẩm từ điều có năm 1962 (sau 52 năm) với số lượng hạt:330.000,0 tấn và giá trị xuất khẩu: 46,2 triệu USD Những quốc gia sản xuấtđiều chính gồm: Ấn Độ, Mozambich, Tazania, Kenia,… Năm 2013, cây điềuđược trồng ở 40 quốc gia với diện tích 4,1 triệu ha, trong đó có 08 nước trồng từ200.000,0 ha đến 868.000,0 ha điều; sản lượng hạt điều: 2,20 triệu tấn - gấp 6,6lần Tổng sản lượng nhân điều thô qua chế biến: 490.000,0 tấn, tạo ra giá trịhàng hóa trên 3,0 tỷ USD/năm; 03 nước dẫn đầu về sản xuất và chế biến điều là:
Ấn Độ, Việt Nam, Brazil,…
Như vậy, ngành điều thế giới qua hơn 113 năm, liên tục phát triển cảtrong sản xuất, chế biến và xuất khẩu; song thị trường tăng trưởng mạnh là từnăm 1975 đến 2014 do nhu cầu tiêu thụ hạt điều tăng và hiệu quả từ trồng - chếbiến - tiêu thụ đã mang lại lợi ích cho nông dân, thương lái, doanh nghiệp thamgia vào quá trình phát triển ngành điều Đặc biệt là sự hỗ trợ tích cực của khoahọc công nghệ đã tạo ra các giống điều thích nghi với điều kiện sinh thái, đạtnăng suất và chất lượng cao cùng với các quy trình kỹ thuật sản xuất và côngnghệ chế biến điều ngày càng được hoàn thiện hơn theo hướng cơ giới hóa, tựđộng hóa
+ Việt Nam
Điều là cây công nghiệp quan trọng của nước ta, Cây điều bắt đầu trồng ởViệt Nam từ thế kỷ XVI, nhưng ngành điều của nước ta mới được hình thành từnăm 1981, đến 2014 chỉ có 33 năm Đây là sự khác biệt lớn khi đánh giá về ngànhđiều so với cao su, cà phê, chè, rau quả đã có cách đây trên 110 năm
Theo các nghiên cứu, diện tích điều trồng tập trung ở miền Nam năm
1975 chỉ là: 500,0 ha và bắt đầu được chú ý phát triển từ năm 1981 (Bộ Lâmnghiệp được giao nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển điều trên đất lâm phần vàđất hoang hóa các tỉnh vùng duyên hải Trung bộ và Đông Nam bộ) Cây điều
Trang 13được trồng từ Quảng Trị trở vào các tỉnh phía Nam có thể chia ra ba vùng trồngđiều chính với điều kiện sinh thái và tập quán sản xuất tương đối khác nhau:
+ Vùng Đông Nam bộ: được coi là có điều kiện sinh thái và tập quán sảnxuất ổn định và phù hợp với cây điều;
+ Vùng Tây Nguyên: thường có nhiệt độ thấp, mưa trái vụ, hoặc hạn hánvào thời kỳ cây điều ra hoa, đậu quả
+ Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: đất xấu, mưa rét hoặc hạn hán vào thời
kỳ cây điều ra hoa, đậu quả
Theo thống kê, diện tích trồng điều tập trung năm 1982 khoảng 5.000,0 ha
và cứ thế tăng rất nhanh, đến năm 1995 đã là: 190.373,0 ha, năm 2005 đạt349.674,0 ha; Đến năm 2014 diện tích điều còn: 312.396,0 ha (giảm 37.278 ha
so với năm 2005) Năng suất điều cũng tăng, nếu như năm 1995 - 2000 bìnhquân là 0,5 tấn/ha thì đến 2005 đã đạt 1,06 tấn/ha (gấp hơn 02 lần); Đến năm
2014 đạt năng suất 1,17 tấn/ha Sản lượng hạt điều năm 2014 đạt 353.971 tấn,tăng 115.603 tấn so với năm 2005
Chế biến nhân điều xuất khẩu được bắt đầu từ năm 1988 ở 3 cơ sở với côngsuất nhỏ (tổng công suất 1.500,0 tấn hạt/năm) Đến năm 2013 đã có 465 cơ sở vớitổng công suất thiết kế 1.000.200,0 tấn/năm (gấp 667 lần), tạo việc làm cho hơn400.000 lao động Sản lượng nhân điều thô qua chế biến năm 2013 là: 264.000,0tấn; đặc biệt có 25 công ty đã được cấp chứng nhận quản lý chất lượng theo tiêuchuẩn ISO 9001 - 2000, ISO 9001 - 2001, HACCP,v.v… Đồng thời, các côngđoạn chế biến điều từng bước được cơ giới hóa thay thế cho lao động thủ công.Ngoài ra, còn có một số công ty đã có các dây chuyền chế biến dầu vỏ hạt điều vàchế biến sau nhân điều (nhân điều rang muối, kẹo nhân điều,…) bán ở thị trườngtrong nước và dành một phần xuất khẩu
Xuất khẩu hạt và nhân điều của Việt Nam bắt đầu được thống kê từ năm
1988 là 300 tấn hạt và 33,6 tấn nhân, đạt kim ngạch xuất khẩu: 369.880,0 USD.Năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,66 tỷ USD (nếu tính cả xuất khẩucác sản phẩm phụ như dầu vỏ hạt điều, kim ngạch xuất khẩu điều trong năm quađạt khoảng 2 tỷ USD) Thị trường Mỹ, Trung Quốc và Hà Lan vẫn duy trì lànhững thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam Đây là năm thứ 8 liêntiếp ngành điều Việt Nam vượt qua Ấn Độ để giữ vị trí số 1 thế giới về xuấtkhẩu điều nhân Kết quả xuất khẩu điều trong năm qua đã phản ánh sự cố gắngrất lớn của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu hạt điều, trong bối cảnh nềnkinh tế còn khó khăn, sức mua trên thị trường thế giới giảm)
Để phục vụ nhu cầu chế biến xuất khẩu, năm 2013, ngành điều nhập khẩu640.000 tấn điều thô nguyên liệu (tổng giá trị 601,2 triệu USD) trong đó kimngạch nhập khẩu điều thô từ các nước châu Phi đạt 490,6 triệu USD
Trong năm 2014, Hiệp hội Điều Việt Nam xác định khuyến khích các nhàmáy đi vào chế biến sâu, để đẩy giá trị xuất khẩu lên khoảng 2 tỷ USD và sảnlượng xuất khẩu vẫn giữ mức như năm 2013, tức là tăng giá trị xuất khẩu là chủyếu Còn về nguyên liệu nhập khẩu, khách hàng các nước Châu Phi đã cam kết
Trang 14trong năm nay sẽ dành nguyên liệu điều thô bán cho Việt Nam, đủ để cân đốinguyên liệu chế biến tại các nhà máy Tại Hội nghị khách hàng quốc tế doVinacas tổ chức tại TP Hồ Chí Minh ngày 28/11/2013 đã có 10 thỏa thuận muabán điều thô giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Châu Phi, với tổngtrị giá gần 100 triệu USD
Nếu như cách đây 10 năm, các doanh nghiệp chỉ nhập khẩu điều thô vàokhoảng 20 - 30%, còn lại 70 - 80% là sử dụng nguồn nguyên liệu điều thô trongnước thì đến nay đã phải nhập khẩu tới 50% sản lượng điều thô mới đủ chế biếnhàng chất lượng cao để xuất khẩu Sự bất lợi của thời tiết, sự biến động tiêu cực
về giá cả thị trường… khiến năng suất cũng như chất lượng hạt điều giảm sút,kéo theo đó là thu nhập của người nông dân trồng điều cũng giảm rõ rệt Trướctình trạng đó, nhiều nông dân đã chặt bỏ cây điều để chuyển sang trồng các loạicây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm có giá trị cao hơn, khiến diện tích trồngcây điều giảm mạnh Ngoài ra, phần lớn diện tích đất trồng điều hiện nay là đấtcằn cỗi và nằm phân tán rải rác ở nhiều nơi làm cho công tác chăm sóc khôngđược quan tâm đúng mức, giống điều đang cho thu hoạch hiện nay lại là nhữnggiống cũ, năng suất thấp, do đó sản lượng và chất lượng hạt điều Việt Nam ngàycàng sụt giảm
Từ một nước trồng điều, Việt Nam đang dần chuyển thành một nước giacông, chế biến điều Đây là hoạt động chuyển hướng nhằm đem lại giá trị giatăng cao hơn cho hạt điều, tuy nhiên sự phát triển của các nhà máy điều mangtính tự phát như thời gian qua, việc thiếu hợp tác giữa các doanh nghiệp trongngành điều tạo nên sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, gây ảnh hưởng đến xuất khẩu
và uy tín chung của ngành điều Việt Nam Trong công tác thị trường, việc tiếpthị và quảng bá về công dụng của hạt điều tại các thị trường tiềm năng cần đượcđẩy mạnh để tạo nên sự hấp dẫn của hạt điều so với các loại hạt khác, nâng caogiá trị và số lượng hạt điều xuất khẩu
Trong khi đó, châu Phi là khu vực có vùng nguyên liệu điều lớn nhất thếgiới, chiếm 40% sản lượng điều toàn cầu Thời gian qua, kim ngạch nhập khẩuđiều thô của Việt Nam từ châu Phi đã không ngừng tăng, đạt 490,6 triệu USDtrong năm 2013 Nếu trước đây, khi nhập khẩu điều thô Châu Phi, hầu hết các
DN Việt Nam đều phải qua trung gian các nhà môi giới Ấn Độ, thì nay nhiều
DN đã mua bán trực tiếp với các nhà xuất khẩu điều Châu Phi Như vậy, DNViệt Nam có nguồn nguyên liệu bảo đảm hơn, giá mềm hơn DN Châu Phi cũngmuốn bán trực tiếp để hy vọng được giá hơn Mặc dù vậy, trong quá trình giaodịch, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp phải những khó khăn nhất định
+ Tỉnh Đồng Nai
Ở Đồng Nai, cây điều được trồng tập trung chủ yếu tại các huyện là: ĐịnhQuán (12.649 ha), Xuân Lộc (11.599 ha), Tân Phú (3.844 ha), Cẩm Mỹ (3.737ha), Trảng Bom (3.472 ha), tại những địa phương này, diện tích điều chiếm tới80% toàn tỉnh
Năng suất điều bình quân năm 2013 đạt 1,02 tấn/ha; trong đó một sốhuyện có năng suất cao như: Trảng Bom (1,69 tấn/ha); Long Thành (1,29
Trang 15tấn/ha); Biên Hòa (1,21 tấn/ha) Mặc dù thu nhập, lợi nhuận của cây điều thấp sovới các loại cây trồng khác trên địa bàn tỉnh, nhưng đây là cây có khả năng pháttriển trên vùng đất xấu, không chủ động được nước tưới, nên diện tích điều hiệnnay ở những vùng đất nói trên vẫn còn khá lớn.
Bảng 1: Diện tích - năng suất – sản lượng điều năm 2013 phân theo huyện
(Đơn vị: Ha, Tấn/ha và Tấn)
Hạng Mục Diện tích thu hoạch Diện tích Năng suất Sản lượng
đã làm cho năng suất điều bị sụt giảm đáng kể
Để nâng cao hiệu quả cây điều, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai đã tíchcực hướng dẫn bà con nông dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất, trong đó chú trọng đến những yếu tố như giống, phương thức thâmcanh Hiện, Đồng Nai đã và đang áp dụng trồng các giống điều ghép như: PN1,BO1, LG1 , các giống điều này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn công nhận và cho phép sản xuất kinh doanh Ngoài ra, các tiến bộ kỹ thuậtcũng được bà con nông dân ở Đồng Nai áp dụng: thâm canh, bón phân hợp lý,tưới tiết kiệm, tỉa cành, tạo tán, phòng trừ sâu bệnh gây hại trên cây điều; trồngxen các loại cây khác với điều như ca cao, gừng, nghệ cho hiệu quả kinh tếcao; xử lý ra hoa tập trung tránh ảnh hưởng của mưa trái vụ, giúp cho việc thụphấn, chăm sóc tốt, tăng tỷ lệ đậu quả Nhờ áp dụng những biện pháp trên, mànhiều mô hình trồng điều ở Đồng Nai đã thu được tới 3 tấn/ha cao gấp từ 2 đến
3 lần so với năng suất bình quân chung
Theo Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đồng Nai, hiện nay, trên địa bàn tỉnhhình thành các hình thức tổ chức sản xuất ở nhiều hình thái khác nhau như: câu
Trang 16lạc bộ, tổ hợp tác, trang trại Đến nay, đã có 70 câu lạc bộ, tổ hợp tác sản xuấtđiều và 529 trang trại Trên địa bàn Đồng Nai có 46 đơn vị thu mua và chế biếnhạt điều, trong đó có 21 công ty, nhà máy và 26 cơ sở với tổng công suất chếbiến là gần 127 nghìn tấn/năm.
Hiện nay, sản lượng điều mỗi năm của Đồng Nai là khoảng 44.303 tấn,năng suất bình quân đạt hơn một tấn/ha và giá trị bình quân trên ha đạt 20 triệu
đồng/ha/năm Theo Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, xuất khẩu nhân hạt điều 9
tháng của năm 2014 ước đạt hơn 23.500 tấn với tổng giá trị gần 153 triệu USD
so với cùng kỳ năm 2013 tăng 34% về sản lượng và gần 43% về giá trị, xuấtkhẩu chủ yếu ở khu vực Bắc Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc…
Trong giai đoạn từ 2000 – 2012, 4 nước trồng cao su nhiều nhất thế giớigồm Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam Diện tích trồng cao su và sảnlượng khai thác tập trung phần lớn ở khu vực Châu Á (chiếm 93%), kế đến làChâu Phi (4-5%), Mỹ Latinh (2-3%)
Sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ cao su trên thế giới không ngừng pháttriển Giai đoạn 2007 – 2009 sản lượng sản xuất cao su toàn cầu có xu hướnggiảm do ảnh hưởng khủng hoản tài chính toàn cầu 2008, đến giai đoạn 2009 –
2012 sản lượng sản xuất có xu hướng tăng trở lại, tuy nhiên tốc độ tăngđang chậm lại Sản lượng cao su tăng mạnh nhờ diện tích vùng trồng cao su liêntục mở rộng và năng suất khai thác tăng cao từ 0,95 tấn/ha lên 1,1 tấn/ha nhờ ápdụng các tiến bộ kỹ thuật và giống mới đã đưa nguồn cung cao su tự nhiên vượtqua sức tiêu thụ toàn cầu Sản lượng sản xuất toàn cầu tăng từ 22,1 triệu tấn năm
2009 lên 27,3 triệu tấn (bao gồm cả cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp) năm
2013, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 3,7%/năm
Theo số liệu thống kê năm 2012 thì Châu Á và Châu Đại Dương là cáckhu vực tiêu thụ 60,8% tổng sản lượng cao su thế giới, trong số này thì phầnlớn thuộc về khu vực Châu Á Kế đến là các khu vực khác như: Châu Âutiêu thụ 19,9%, Châu Mỹ tiêu thụ 18,5%, và Châu Phi chỉ chiếm 0,8% TrungQuốc là quốc gia tiêu thụ cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới cũng đang giảmmạnh nhập khẩu trong những năm gần đây do sản suất bị thu hẹp và nguồn cungtrong nước đang tăng dần Việc tiêu thụ cao su chậm lại và nguồn cung ngàycàng lớn là một trong những nguyên nhân khiến giá cao su rớt thê thảm từ đầu
2011 đến nay
Trang 17+ Việt Nam
Cao su là cây công nghiệp chủ lực, một trong mười mặt hàng xuất khẩuchủ yếu của nước ta hiện nay Sản phẩm cao su Việt Nam chủ yếu dùng để xuấtkhẩu (90%), tuy nhiên chúng ta mới xuất khẩu mủ chế Sau 2 năm gia nhập Tổchức Thương mại thế giới, ngành cao su Việt Nam cũng có nhiều thay đổi baogồm cả tích cực và tiêu cực
Năm 1897, cây cao su du nhập vào Việt Nam được trồng chủ yếu ở ĐôngNam Bộ và Tây Nguyên Năm 1930 khai thác trên 10.000 ha, sản xuất 11.000tấn Năm 1950, sản xuất 92.000 tấn, trên diện tích khai thác gần 70.000 ha Giaiđoạn 1958 - 1963, diện tích cao su lên đến 30.000 ha do thực hiện chương trìnhcao su dinh điền (tiểu điền) Năm 1990, diện tích cao su Việt Nam là 250.000 ha
và sản lượng là 103.000 tấn Giai đoạn từ 2000 – 2013, diện tích cao su tăng từ
400 nghìn ha năm 2000 lên 955,7 nghìn ha năm 2013; sản lượng từ 290,8 nghìntấn tăng lên 949,1 nghìn tấn vào năm 2013
Việt Nam xuất khẩu cao su sang 26 quốc gia, trong đó kim ngạch xuấtkhẩu 2 tháng đầu năm ở 24 quốc gia đều bị giảm so với cùng kỳ năm 2014, mứcgiảm thấp nhất là 5% và giảm mạnh nhất tại thị trường Nga với 74%. Thịtrường tiêu thụ cao su lớn nhất Việt Nam là Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ tuynhiên đang có xu hướng giảm Trong khi diện tích và sản lượng tăng nhanh thìxuất khẩu cao su ngày càng sụt giảm do giá cao su nguyên liệu trong nước giảmmạnh, nguồn cung tăng nhưng nhu cầu giảm bởi ảnh hưởng của suy thoái kinh
tế toàn cầu Từ 2009 – 2013: tổng sản lượng cao su khai thác và nhập khẩu tăng
từ mức 1.024,6 nghìn tấn năm 2009 lên mức 1.173,7 nghìn tấn năm 2011 và tiếptục tăng lên mức 1.228,4 nghìn tấn năm 2013, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân4,7%/năm
Thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam là Hàn Quốc, Campuchia, NhậtBản, Đài Loan và Thái Lan Sản lượng nhập khẩu cao su diễn biến tăng giảmthất thường, năm 2010 nhập khẩu đạt 298,9 nghìn tấn, giảm 4,6% so với mức313,3 nghìn tấn năm 2009 Đến năm 2011 bất ngờ nhập khẩu tăng mạnh 21,2%
so với năm 2010 để đạt 362,1 nghìn tấn, tuy nhiên lại giảm mạnh 16,6% trongnăm 2012 và tăng 3,6% năm 2013 đạt 313 nghìn tấn Giá trị nhập khẩu cao sutăng từ 409,5 triệu USD năm 2009 lên mức 673,5 triệu USD năm 2013, đạt tốc
độ tăng trưởng bình quân 18,2%/năm
+ Tỉnh Đồng Nai
Năm 1905, công ty Suzannah trồng 1.000 cây cao su đầu tiên ở tỉnh BiênHoà Sau đó các công ty khác lần lượt ra đời: An Lộc, Bình Lộc, công ty Cao suĐồng Nai LCD, công ty Đồn điền Đất Đỏ SPTR, đồn điền Souchère (LongThành)… tạo nên hiện tượng bùng nổ trồng thử giống cây mới mẻ này trên vùngđất Biên Hoà Năm 1908, công ty Cao su Đồng Nai được thành lập, năm 1914-
1918, công ty tập trung khai phá vùng Trảng Bom, Cây Gáo, Túc Trưng và vùngsau này gọi là chiến khu Đ
Trang 18Ngày nay, cây cao su ở Đồng Nai được trồng chủ yếu trên đất đỏ bazan ởCẩm Mỹ, Định Quán, Long Khánh và trên đất xám ở Long Thành, Thống Nhất,Trảng Bom Một số huyện khác có trồng cao su nhưng diện tích nhỏ Sau năm
1975, việc trồng và kinh doanh cao su chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nướcđầu tư Hiện nay, trên địa bàn Đồng Nai có nhiều nông trường cao su với diệntích rất lớn Đây là ngành công nghiệp quan trọng, chiến lược của tỉnh
Do mấy năm gần đây được giá nên diện tích tăng với tốc độ khá nhanh(sau 8 năm tăng 3.480 ha); năng suất cao su ở Đồng Nai luôn ở mức thấp nhất sovới các tỉnh Đông Nam Bộ (1,34 - 1,49 tấn/ha); các nguyên nhân làm cho năngsuất cao su thấp gồm: tỷ lệ cao su trồng trên đất xám khá cao, một số vườn cao
su trồng trước năm 1975, nay đã già cỗi, một số vườn cao su mới đưa vào khaithác năng suất chưa cao Tuy nhiên, ở một số đơn vị quốc doanh, năng suất cao
su vẫn đạt bình quân 1,7 tấn/ha; điều này cho thấy, các vấn đề về khoa học, kỹthuật (giống, quy trình chăm sóc, tay nghề công nhân), quản lý và chế biến cũng
là những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới năng suất mủ cao su
Bảng 1: Diện tích - năng suất – sản lượng cao su năm 2013
(Đơn vị: Ha, Tấn/ha và Tấn)
S
Diện tích thu hoạch Năng suất Sản lượng
+ Các giống cao su như: RRIV1, RRIV 5, RRIV 124, PB 255 và các dòng
vô tính như RRIM 600, PB 260 hiện đang được trồng khá phổ biến ở ĐồngNai (chiếm khoảng 78% diện tích trồng cao su toàn tỉnh); đặc điểm của cácgiống này là sinh trưởng khỏe trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, năng suất trungbình đạt 1,5 - 2,0 tấn/ha từ năm cạo thứ tư và khá ổn định Đa số giống cao suđược sản xuất từ các nông trường quốc doanh nên chất lượng tốt
Theo Sở Công thương tỉnh Đồng Nai, năm 2013 kim ngạch xuất khẩu trênđịa bàn đạt trên 18 tỷ USD, cán cân xuất nhập khẩu khá cân bằng Các thịtrường xuất khẩu tăng trưởng tốt của Đồng Nai vẫn là Mỹ, Nhật Bản và TrungQuốc Xuất khẩu mủ cao su ở Đồng Nai chỉ đạt khoảng trên 18 nghìn tấn, giảmtrên 1.500 tấn so với cùng kỳ năm 2012 Bên cạnh đó, giá xuất khẩu mủ cao sucũng giảm, cụ thể giá xuất khẩu gần 2.400 USD/tấn, giảm gần 700 USD/tấn sovới năm 2012
6 Ngành hàng mía đường
+ Thế giới
Trang 19Cây mía xuất hiện trên trái đất từ thời rất xa xưa, khi lục địa châu Á, châu
Úc còn dính liền và có nguồn gốc ở Nam Thái Bình Dương, vùng quần đảoGhine Ở Trung Quốc và Ấn Độ nghề trồng mía làm đường cách đây hơn 2000năm và bắt đầu lan rộng ra khu vực Đông Nam Á, Nam Á Ngày nay, mía đượctrồng rộng rãi ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới phân bố ở phạm vi từ 35 độ vĩNam đến 35 độ vĩ Bắc
Theo thống kê của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO, 2013),hiện nay hàng năm toàn thế giới có 26.942,69 nghìn ha sản xuất được khoảng1.911.179,78 nghìn tấn mía gấp 4,27 lần sản lượng năm 1961
Năng suất mía bình quân thế giới năm 1961 đạt 50,3 tấn/ha, đến năm 2013đạt 70,94 tấn/ha Năm 2013, 24 nước có sản lượng mía hàng năm đạt trên 9 triệutấn, 6 nước sản xuất mía đường lớn nhất thế giới theo thứ tự là Mỹ 1.037.591,12nghìn tấn (chiếm 54,29% sản lượng thế giới), Brazil 768.090,44 nghìn tấn(40,19%), Úc 747.075,44 nghìn tấn (39,09%), Ấn Độ 341.200 nghìn tấn (17,85%),Trung Quốc 128.850,91 (6,74%) và Thái Lan 100.096 nghìn tấn (5,24%)
Phương thức tổ chức sản xuất và cải tiến kỹ thuật mà các nước đã áp dụngthành công để tăng năng suất mía là: sản xuất tập trung chuyên canh, cải thiệngiống mía, hóa học hóa, thủy lợi hóa và cơ giới hóa, trong đó đặc biệt coi trọngcông tác nghiên cứu khoa học Nhưng bước sang thế kỷ 21, do độc canh cây míavới diện tích lớn, lạm dụng hóa học (phân hóa học, thuốc trừ sâu bệnh, thuốc trừcỏ,…), sử dụng máy móc cơ giới lớn đã dẫn đến xói mòn, thoái hóa đất, ô nhiễmmôi trường, tăng cao giá thành sản xuất, do vậy một số nước đã và đang nghiêncứu áp dụng chế độ canh tác mía bền vững thay thế cho chế độ canh tác cũ
Đường ăn hiện được sản xuất tại hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới,trong đó có trên 70% sản lượng tiêu thụ nội địa Ba nước xuất khẩu đường chủyếu là Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, chiếm 50% sản lượng và 56% xuất khẩu củathế giới Trong khi đó tiêu thụ nhiều đường nhất thế giới là người Cuba: 61kg/người/năm, Úc: 61 kg/người/năm và Brazil: 56 kg/người/năm
Tình hình dân số thế giới tiếp tục tăng, cuộc sống người dân ở các nướcnghèo và nước đang phát triển đang được cải thiện nâng cao, mức độ côngnghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra sâu rộng hơn, dẫn đến nhu cầu về đường và cácsản phẩm phụ của đường sẽ tăng cao, đặc biệt là ở khu vực Châu Á và Châu Phi
Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng cao này, ngành mía đường thế giớiphải điều chỉnh hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp, côngnghiệp để tăng hiệu quả, phát triển sản xuất bền vững, đẩy mạnh chế biến cácsản phẩm phụ của công nghiệp mía đường nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tăngthu nhập cho ngành hàng mía đường
+ Việt Nam
Cây mía đã xuất hiện từ lâu đời, nó thích nghi, tồn tại và phát triển khôngngừng trong điều kiện sinh thái của nước ta Năm 1940, cả nước có 38 nghìn hamía, năng suất bình quân đạt 21,6 tấn/ha, sản lượng mía đạt 820,4 nghìn tấn Saucánh mạng tháng 8/1945 đến năm 1974 diện tích mía lên tới 47 nghìn ha, đạt
Trang 20năng suất 30,9 tấn/ha, sản lượng là 1.450 nghìn tấn Giai đoạn đất nước thốngnhất đến năm 1985, diện tích đạt 143,2 nghìn ha, sản lượng 5.559,7 nghìn tấn.
Từ năm 1986 - 1995, diện tích, năng suất và sản lượng mía tiếp tục tăng gấp đôi
so với năm 2000
Từ năm 2001 trở lại đây, diện tích trồng mía trên cả nước giảm so vớinăm 2000 do không cạnh tranh nổi với một số cây trồng có thu nhập cao hơnkhiến tình trạng thiếu nguyên liệu thường xuyên xảy ra Năm 2005, diện tíchmía của cả nước là chỉ còn 266,3 nghìn ha, sản lượng 14.948,7 nghìn tấn
Trong giai đoạn từ 2008-2012, do giá đường, giá mía khá cao, các công tymía đường và người trồng mía có lãi nên diện tích mía đã được mở rộng và ổnđịnh, việc đầu tư thâm canh được quan tâm nên năng suất, sản lượng mía liêntục tăng Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2012, diện tích mía
cả nước là 301,9 nghìn ha, tăng hơn 19,7 nghìn ha so với năm trước, năng suấtmía bình quân cả nước đạt 62,99 tấn/ha tăng so với năm trước 0,84 tấn/ha, sảnlượng mía cả nước được 19.015,4 nghìn tấn, tăng so với vụ trước 1.475,8 nghìntấn Về chất lượng, do chăm sóc tốt, chất lượng mía vụ 2012-2013 tốt hơn vụtrước, chữ đường bình quân của mía đưa vào nhà máy chế biến khoảng 9,8 CCS,cao hơn vụ trước 0,2 CCS
Năm 2013 diện tích tăng lên 309,4 nghìn tấn, sản lượng tăng lên 20.016,2nghìn tấn Năng suất mía bình quân 64,69tấn/ha, thấp hơn bình quân thế giới:70,94 tấn/ha và chất lượng kém hơn Năng suất và chất lượng mía còn thấp, thờigian sinh trưởng dài và bị cạnh tranh bởi các loại cây trồng khác, giá thu muamía bấp bênh là các nguyên nhân dẫn đến diện tích trồng mía bị thu hẹp Thêmvào đó, vùng nguyên liệu mía thường xa nhà máy đường đã ảnh hưởng đến hiệuquả thu đường Công nghệ thiết bị đa số còn lạc hậu, đồng thời chưa tận dụnghết ưu thế đa dụng của mía để sản xuất thêm nhiều sản phẩm phụ trợ khác đểgiảm giá thành nên giá đường sản xuất ở Việt Nam khá cao, luôn hơn giá trungbình thế giới khoảng 100 USD/tấn
Vụ mía 2013-2014, sản xuất mía đường trong nước lại bước vào mộtchu kỳ khó khăn mới mà nguyên nhân chính là do giá mía đường thế giớixuống thấp đến mức kỷ lục, khiến cho giá đường và giá mía trong nước giảmsâu so với các vụ trước Ngoài ra, do tác động của tình hình kinh tế đất nướcgặp nhiều khó khăn như: tốc độ tăng trưởng GDP thấp, lãi suất vốn vay còn ởmức cao, sức tiêu thụ nội địa giảm, nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất đang thựchiện việc tái cơ cấu sản xuất,… nên ngành mía đường đã khó khăn lại càngthêm khó khăn, ảnh hướng đến đời sống của hàng vạn lao động và tình hìnhphát triển của nhiều doanh nghiệp, cũng như nguồn thu ngân sách của nhiềuđịa phương trên toàn quốc
+ Tỉnh Đồng Nai
Ở Đồng Nai, cây mía được trồng rất sớm, các giống mía ăn tươi phổ biếnhiện nay được du nhập vào miền Nam do các thổ dân Khơ me, Mã Lai, Javamang vào trên đường giao lưu buôn bán
Trang 21Cây mía trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đang có xu thế giảm dần, nếu năm
2001, toàn tỉnh có 11.459 ha thì đến năm 2013 giảm chỉ còn 10.475 ha (đứngthứ 2 ở vùng ĐNB - sau tỉnh Tây Ninh 23.600 ha) Các huyện có diện tích míalớn gồm: Định Quán (3.385,ha), Trảng Bom (2.100ha), Nhơn Trạch (1.983,3ha),Xuân Lộc (1.373ha) và Vĩnh Cửu (1.238,9ha); trong đó, có 23 xã có quy mô tậptrung hơn 50 ha, đáp ứng tiêu chí về quy mô để xây dựng cánh đồng lớn
Năng suất mía bình quân toàn tỉnh đạt 60,5 tấn/ha, thấp hơn so với bìnhquân cả nước 4,44 tấn/ha và thấp hơn bình quân toàn vùng ĐNB 9,26 tấn/ha.Những nguyên nhân chính làm cho năng suất mía thấp là: đất xám, tầng canh tácmỏng, cây mía ít được tưới, Với năng suất trên, hiệu quả sản xuất thu trên 1 hamía thấp, không đủ sức cạnh tranh với các cây trồng khác trong tỉnh như cây cao
su, cây mì Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 2 nhà máy đường hoạt động với khảnăng ép khoảng 500.000 – 600.000 tấn mía/năm,đây là điều kiện hết sức thuậnlợi cho sản xuất mía của nông dân trong tỉnh phát triển cung cấp tại chỗ cho 2nhà máy này Tuy nhiên, sản lượng mía của tỉnh vẫn không đủ để cung cấp cho
2 nhà máy đường hoạt động trong năm buộc các nhà máy phải mua mía cạnhtranh giá cao với các doanh nghiệp khác của nông dân các tỉnh lân cận
Bảng 1: Diện tích – năng suất – sản lượng mía năm 2013 phân theo huyện
TT Hạng Mục Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)
ra hiện nay là tuyển chọn những giống mía có khả năng chống hạn cao, phù hợpvới điều kiện canh tác, thổ nhưỡng của địa phương
Hiện nay, tình trạng các kênh rạch bị cạn kiệt nước dẫn đến tính trạng cácthuyền lớn vận chuyển mía không di chuyển được, có nhiều diện tích mía bị chếtkhô vì đến kỳ thu hoạch rồi nhưng không thể chặt vì không có phương tiện vậnchuyển ảnh hưởng tới năng suất và chữ đường của mía
Trang 227 Ngành hàng bắp
+ Thế giới
Cây ngô (bắp) là một trong những cây lương thực quan trọng sau lúa vàlúa mỳ, có năng suất và giá trị kinh tế lớn đối với con người Bên cạnh giá trị tolớn về mặt lương thực, cây ngô còn là thức ăn gia súc quan trọng Ngoài ra câyngô còn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghệ ydược, Ngô có khả năng thích nghi rất tốt nó được trồng ở khắp nơi trên thếgiới và được trồng trên nhiều loại đất khác nhau
Ngô là một loại cây lương thực được trồng ở Mehico khoảng hơn 3000năm trước công nguyên và bắt đầu lây lan qua các khu vực xung quanh và trởthành cây lương thực quan trọng của châu mỹ Đến cuối thế kỷ 15, cây ngô đượcngười Tây ban Nha đưa về trồng ở vùng Địa Trung Hài sau đó người Bồ ĐàoNha đưa sang Châu Á và đến thế kỷ 16 mới đưa sang Châu Phi Được gieo trồng
ở 4 vùng sinh thái: ôn đới, nhiệt đới, nhiệt đới cao và nhiệt đới thấp
Mặc dù chỉ đứng thứ 3 về diện tích nhưng ngô có năng suất và sảnlượng cao nhất trong các cây ngũ cốc Năm 2013, diện tích ngô toàn cầu là185.121 nghìn ha, sản lượng ngô đạt 1.018.111 nghìn tấn Bốn nước sản xuấtngô hàng đầu (Mỹ, Trung Quốc, Braxin, EU) cũng là những nhà tiêu thụ lớnnhất Các quốc gia thiếu hụt đều phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sử dụngnhư Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản, …
+ Việt Nam
Cây ngô bắt nguồn từ Trung Quốc được đưa vào Việt Nam cách đâykhoảng 300 năm và trở thành cây lương thực quan trọng cả ở đồng bằng và miềnnúi nước ta Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác với Trung tâm cải tạo ngô vàlúa mỳ thế giới (CIMMYT) nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng, gópphần nâng năng suất lên 1,5 tấn/ha vào đầu những năm 1990 Tuy nhiên, ngànhsản xuất ngô ở nước ta thực sự có bước tiến nhảy vọt từ những năm 1990 đếnnay, gắn liền với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất, đồng thờicải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác
Trong những năm vừa qua cây ngô tăng cả diện tích gieo trồng và năngsuất Bước đầu đã hình thành một số vùng chuyên canh ngô có quy mô tươngđối lớn, được đầu tư thâm canh ở các tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc, TâyNguyên và Đông Nam Bộ Diện tích gieo trồng ngô tăng năm 2000 có 730,2nghìn ha và năm 2013 tăng lên 1.172,5 nghìn ha, tăng 442,3 nghìn ha so vớinăm 2000 Năng suất ngô tăng từ 2,75 tấn/ha năm 2000 lên 4,43 tấn/ha năm
2013 Sản lượng ngô năm 2013 đạt 5.193,5 nghìn tấn, gấp 4,6 lần sản lượngnăm 2000
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nước ta, ngô là cây lươngthực đứng thứ hai sau lúa Tuy nhiên, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu hơn bảytriệu tấn gạo thì với ngô lại phải nhập khẩu Thị trường nhập khẩu ngô chính làBraxin, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia Tháng 1/2015, Việt Nam đã nhậpkhẩu 728,6 nghìn tấn ngô, trị giá 170,5 triệu USD, tăng 25,63% về lượng và
Trang 23tăng 13,01% về trị giá so với tháng 1/2014 Việc nhập khẩu ngô tăng vọt trongthời gian qua chủ yếu là do, chăn nuôi tập trung theo quy mô công nghiệp trongnước tăng, trong khi nguồn nguyên liệu trong nước lại giảm do khó mở rộngdiện tích trồng ngô Đồng thời, giá ngô trong nước luôn thấp hơn giá ngô nhậpkhẩu, nên thay vì mua ngô trong nước thì các nhà doanh nghiệp chuyển sangnhập khẩu để giảm được một phần chi phí, mặt khác chất lượng ngô nhập khẩutốt hơn ngô trong nước khiến cho ngành hàng ngô trong nước gặp nhiều khókhăn.
+ Tỉnh Đồng Nai
Với điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi và tập quán canh tác lâu đời, hiệnnay Đồng Nai là một trong những tỉnh có diện tích trồng ngô lớn nhất miềnĐông Nam Bộ Sự lên ngôi được khởi đầu vào năm 1992 ở huyện Xuân Lộc, vớiviệc thử nghiệm giống mới DK888 đã mang lại năng suất là 6,5 tấn/ha là bướctiến quan trọng cho sự phát triển của ngành hàng ngô ở nước ta nói chung vàtỉnh Đồng Nai nói riêng
Năm 2013, tổng diện tích gieo trồng ngô trên địa bàn tỉnh là 51.972 ha;lớn nhất so với các tỉnh vùng Đông Nam Bộ và đứng thứ 5 cả nước sau các tỉnhĐăk Lăk (119,8 ngàn ha), Sơn La (133,7 ngàn ha), Nghệ An (55,8 ngàn ha), HàGiang (52,5 ngàn ha) Được trồng nhiều nhất ở Cẩm Mỹ (14.810 ha) và XuânLộc (12.868 ha), Định Quán (6.895ha), Tân Phú (5.114ha), Thống Nhất(3.393ha), …
Năng suất bình quân toàn tỉnh đạt 6,54 tấn/ha, đứng đầu so với vùngĐông Nam Bộ và là tỉnh có năng suất ngô đứng thứ 4 so với cả nước (chỉ saucác tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Bạc Liêu
Bảng 6: Diện tích - năng suất – sản lượng ngô năm 2013 phân theo huyện (TX-TP)
(Đơn vị tính: Ha, Tấn/ha, Tấn)
Trang 24Đồng Nai là một trong những địa phương đầu tiên thử nghiệm trồng giốngngô biến đổi gen Các giống ngô đầu tiên là DK888, LVN10, DK999, UNI89,LS8, …hiện nay, đã thử nghiệm thành công giống ngô biến đổi gen có khả năngkháng sâu, chống chịu thuốc trừ cỏ và cho năng suất cao mang lại hiệu quả kinh
tế cao, tiết kiệm chi phí cho người trồng ngô
Cục Thống kê Đồng Nai cho biết trong tháng 3/2015, các doanh nghiệptrên địa bàn tỉnh nhập khẩu khoảng 80,2 nghìn tấn ngô, tăng khoảng 27,5% sovới tháng 2/2015 với giá trị trên là 29,8 triệu USD, chủ yếu để sản xuất thức ănchăn nuôi Lý do khiến các doanh nghiệp nhập khẩu ngô khá lớn là do lượngngô trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và giá ngô trong nước caohơn giá nhập khẩu
8 Ngành hàng cây ăn quả
+ Thế giới
Theo tài liệu nghiên cứu về lịch sử hoạt động thương mại cho thấy, buônbán các loại trái cây trên thế giới đã hình thành từ chế độ phong kiến, ngànhhàng kinh doanh các loại trái cây ra đời sau ngành hàng lương thực và thựcphẩm chăn nuôi Khối lượng trái cây buôn bán chỉ gia tăng từ sau chiến tranhthế giới lần thứ II, nhất là từ giữa thế kỷ XX khi kinh tế thế giới phục hồi vàtăng trưởng Đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đã tác động làmtăng sản lượng và nhu cầu tiêu dùng, kích thích sản xuất và buôn bán trái câytrên quy mô toàn cầu
Theo FAO, năm 1990 sản lượng trái cây trên thế giới: 245 triệu tấn (riêngcam – quýt: 65 triệu tấn, nho: 63 triệu tấn, chuối và táo mỗi loại: 42 triệu tấn,…).Sản xuất cam-quýt năm 1975 chỉ có 47,123 triệu tấn, năm 1985: 55,01 triệu tấn,đến 2002 đạt 75,0 triệu tấn, tăng gấp 1,6 lần so với năm 1975 (tăng 28,0 triệu tấn).Chuối từ 42 triệu tấn (năm 1990) tăng lên 69,83 triệu tấn (năm 2002), tăng thêm27,83 triệu tấn… Sản lượng trái cây bình quân 5 năm (1998 – 2003) là: 379,15triệu tấn, mức tăng bình quân 0,86%/năm, trong đó Trung Quốc là nước sản xuấttrái cây lớn nhất thế giới chiếm 19% sản lượng trái cây thế giới; kế đến là cácnước EU: 14%, Ấn Độ: 14%
Giai đoạn 1999 – 2003 xuất khẩu trái cây tươi có giá trị bình quân năm:15,3 tỷ USD, tốc độ tăng bình quân 5,4%/năm, trong đó Mỹ: 4,139 tỷ USD;EU: 1,769 tỷ USD; Chi Lê: 1,3 tỷ USD; Trung Quốc: 0,517 tỷ USD Giá trịxuất khẩu một số loại trái cây tăng, năm 2002 đạt cao như chuối: 4,23 tỷ USD,cam : 1,87 tỷ USD, dứa: 495,82 triệu USD, xoài: 415 triệu USD,…
Như vậy, ngành kinh doanh trái cây liên tục tăng trưởng và chiếm vị tríquan trọng trong hoạt động thương mại thế giới Theo các chuyên gia kinh tế
dự báo nhu cầu tiêu dùng các loại trái cây của thế kỷ XXI sẽ tăng khá mạnh bởikhẩu phần ăn đang thiên về hướng tăng tỷ lệ trái cây (ví dụ tại Đức bình quân
120 kg/người/năm,…)
Trang 25Sau khi thống nhất đất nước, sản xuất và tiêu thụ trái cây có điều kiện mởrộng kể cả trong nước và xuất khẩu, đặc biệt là từ năm 1986 đến nay, diện tích,năng suất và sản lượng các loại trái cây liên tục tăng; nếu năm 1986 diện tíchcây ăn quả cả nước chỉ có 261 ngàn ha thì đến năm 2010 lên đến 775 ngàn ha,tăng 514 ngàn ha, sản lượng đạt 8 triệu tấn
Theo số liệu thống kê năm 2000, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việtnam 213 tiệu USD, đến năm 2011 lên đến 623 triệu USD, tốc độ tăng bình quân11,33%/năm)
Theo nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nôngnghiệp nông thôn (IPSARD) hiện nay có tới 90% sản lượng trái cây sản xuấttrong nước được tiêu thụ tại thị trường nội địa Tuy nhiên, trong số này chỉ cókhoảng 3% sản lượng được nông dân tự bán lẻ đến tay người tiêu dùng, 85% sảnlượng trái cây từ các nông hộ và HTX được bán qua thương lái Từ các thươnglái này chỉ có một số lượng nhỏ trái cây được chuyển thẳng đến sạp, số còn lạiphải thông qua lực lượng bán buôn trước khi ra sạp, vào siêu thị hoặc xuất khẩu
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia ngành cây ăn quả, việc phát triểncác vùng chuyên canh cây ăn quả thời gian qua chưa gắn với nhu cầu thị trường;
đó chính là nguyên nhân dẫn tới việc trái cây tới mùa thì dội hàng và rớt giá;ngoài ra, còn một nguyên nhân quan trọng nữa là phát triển cây ăn quả chưa điliền với việc kiểm soát được dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sản xuất theoquy trình VietGAP
+ Tỉnh Đồng Nai
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đất đai đa dạng, Đồng Nai là một trongnhững địa phương có quy mô trồng cây ăn quả khá lớn và đa dạng về chủngloại; theo só liệu thống kê, đến năm 2013, diện tích trồng cây ăn trái trên địa bàntỉnh là 48.001ha; trong đó, chôm chôm 11,3 ngàn ha, chiếm 23,54%, xoài 10,8ngàn ha, chiếm 22,50%, sầu riêng 3,9 ngàn ha, chiếm 8,12%, cây có múi 5 ngàn
ha, chiếm 10,41%; chuối 7 ngàn ha, chiếm 14,58% số lượng chi tiết phân theocác huyện thị như sau:
Trang 26Bảng 7: Diện tích trồng cây ăn quả năm 2013 tỉnh Đồng Nai
Hạng mục
CAQ tổng số Chôm chôm Xoài Cam quýt Sầu riêng Chuối Toàn tỉnh (ha) 48.001 11.340 10.898 2.673 3.931 7.008
III THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM III.1 Số lượng và kim ngạch xuất khẩu của bốn mặt hàng nông sản chủ yếu của Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh (xem bảng)
Trang 27Có thể thấy rằng các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của thế giới và caohơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan (trong mặt hàng gạo và càphê), Inđônêxia (cà phê, cao su), Malaixia (cao su), kim ngạch xuất khẩu gạocủa Việt Nam so với Thái Lan tăng từ dưới 30% (trước năm 1998) lên 44% năm(1998)
Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam so với Braxin đã tăng từ9,44% (năm 1992) lên 25,4% (năm 1998)
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam so với Ên Độ cũng tăng
từ 4,3% (năm 1992) lên 9,32% (năm 1998)
Kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam so với Thái Lan cũng có tăngnhưng so với tốc độ chậm hơn từ 5,87% (năm 1992) lên 8,81% (năm 1998)
Các số liệu trên chứng tỏ rằng mức chênh lệch mặt hàng gạo và cà phêđược thu hẹp nhiều nhất trong bốn mặt hàng so với đối thủ cạnh tranh chính.Điều đó cũng cho thấy rằng, thời gian qua, sức cạnh tranh của bốn mặt hàngnông sản chủ yếu của Việt Nam có được cải thiện đáng kể Tuy nhiên nếu đi sâuvào phân tích thì quả thực chúng ta không khỏi băn khoăn về sức cạnh tranhthực sự của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam
Tốc độ kim ngạch nhỏ hơn tốc độ tăng sản lượng xuất khẩu (17,1% so với20,2% ở gạo; 15,1% so với 19% ở chè; 14,25% so với 17,67% ở cao su)
Bảng 8: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu các hàng nông sản chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 1990-1999.
Nguồn: Vụ thương mại-dịch vụ-Bộ kế hoạch và đầu tư
So với đối thủ cạnh tranh tốc độ tăng sản lượng của họ thấp hơn nhưngtốc độ tăng kim ngạch lại cao hơn Việt Nam Chẳng hạn, trong khi sản lượngxuất khẩu của Thái Lan chỉ gấp 1,6 lần của Việt Nam thì kim ngạch xuất khẩulại gấp những 2,27 lần
Sản lượng cà phê xuất khẩu của Braxin chỉ gấp 2,6 lần Việt Nam thì kimngạch xuất khẩu lại gấp 3,93 lần kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Nhiều mặthàng khác cũng trong tình trạng tương tự
Trang 28Trừ mặt hàng gạo, còn ba mặt hàng còn lại có sự chênh lệch quá lớn về sốlượng so với đối thủ cạnh tranh chính: cà phê chỉ bằng 1/3 của Inđônêxia củaCôlômbia, chè chỉ bằng 1/6,7 của Ên Độ, 1/8 của Stilanca; cao su chỉ bằng 1/5của Malaixia và 1/9 của Thái Lan, Như vậy, mười năm qua tuy đã có sự pháttriển vượt bậc xong nhìn chung nông sản xuất khẩu của Việt Nam (trừ gạo) cònchiếm lượng nhỏ so với các đối thủ cạnh tranh, chưa đủ sức để chi phối đến sựbiến đổi về giá cả trên thị trường thế giới và nông sản Việt Nam vẫn phải chịutác động của giá cả trên thế giới và lấy đó làm tiêu chuẩn phấn đấu cho mình.
III.2 Về chất lượng nông sản xuất khẩu có được cải thiện đáng kể ở hầu hết
các mặt hàng:
Chẳng hạn tỷ lệ gạo chất lượng cao (5 đến 10% tấn) đã tăng từ 1% (năm1999) lên 85% (năm 200) tỷ lệ gạo chất lượng thấp (25% tấn) chỉ còn 22% Tuynhiên, đó chỉ là tiến bộ trong cải thiện độ gẫy của gạo Gạo 5% của Thái Lanhơn hẳn ta về mùi vị, hình dáng, kích thước và tỷ lệ thuỷ phân
Cũng với gạo, chất lượng các hàng nông sản cũng có tiến bộ đáng kể.Như mặt hàng cà phê, tỷ trọng cà phê loại 1 tăng từ 2% (vô 95-96) lên 16% (vô98-99), loại 2b giảm từ 80% (vô 95-96) xuống còn 5% (vô 99-00), xong tỷ lệthuỷ phân cao quá 13% thậm chí có cả hạt đen mốc, vỡ, lẫn nhiều tạp chất, quycách, mầu sắc, độ bóng, độ đồng đều chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế
Tỷ lệ cao su thượng hạng tăng từ 89,3% (1995) lên 91,04% (1998), lêntới 94,04%( 2000) Tuy đã tăng được tỷ trọng hàng hoá phẩm chất cao nhưngmẫu mã đơn điệu nên chưa thâm nhập vào phần thị trường cao cấp và do đó giábán luôn thấp hơn của đối thủ cạnh tranh
Mặc dù nông sản Việt Nam có chất lượng khá tốt nhưng các loại có chấtlượng không đồng đều, tỷ lệ phế phẩm còn cao Hầu hết trong những năm gầnđây, một số dây truyền chế biến nông sản được nhập ngoại có quy trình côngnghệ tiên tiến song còn rất ít Nhìn chung khoảng 70% sản lượng nông sản hàngnăm được sơ chế tạI các hộ gia đình chất lượng không cao, gần 30% tại các cơ
sở công nghiệp có dây chuyền nhưng phần lớn đã lạc hậu
Tóm lại cần phải nâng cao chất lượng của nông sản Việt Nam nhằmnânng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế
III.3 Thị phần xuất khẩu của bốn mặt hàng nông phẩm chủ lực của Việt
Nam cũng tăng đáng kể:
Từ năm 1991-1998 thị phần gạo được mở rộng hơn 10%, cà phê hơn 5%,cao su 2,2%, chè cũng được mở rộng trên 1,5% Thị phần gạo của Việt Nam là18,44%, so với Thái Lan là 22,2%; cà phê đạt thị phần 7,18%, so với Inđônêxia
là 6,72%, Braxin là 18,72% và Colômbia là 11,97% Thị phần các hàng hoánông sản của Việt Nam tăng lên cùng với số thị trường được mở rộng Hiện nayhàng nông sản Việt Nam đã có mặt ở trên 80 quốc gia trên thế giới, ở khắp cácchâu lục và bước đầu đã thâm nhập các thị trường khó tính như Anh, Thuỵ Sỹ,Pháp, Hông Kông, Nhật Bản, Đài Loan
Trang 29Tuy nhiên, dù số lượng thị trường xuất khẩu có nhiều nhưng các thịtrường nhập khẩu quy mô lớn và ổn định thì Ýt, chỉ tập chung vào 9 đến 10quốc gia ở Châu Á như Nhật bản, Hàn Quốc, Singapore và một số nước kháctrong ASEAN Mặt khác, mức độ thâm nhập vào thị trường “chính ngạch” củanông sản Việt Nam rất thấp Đây là thị trường nhập khẩu chủ yếu và đòi hỏi tiêuchuẩn chất lượng cao từ nguyên liệu và chế biến sâu như gạo đặc sản, cà phêchè, cà phê hoà tan và bánh kẹo
Tóm lại, trong các hàng hoá nông sản của Việt Nam trong thời gian quachỉ có gạo và cà phê là chiếm thị phần tương đối cao, hai mặt hàng còn lại đạtthị phần quá nhỏ (tuy rằng vẫn tăng so với trước đây) mức độ thâm nhập vào cácthị trường chính ngạch còn rất kém Nhìn chung chóng ta chưa vận hành chiếnlược cạnh tranh hàng nông sản
Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập kinh tế ,các mặt hàng nông sản ViệtNam kể cả nội tiêu và xuất khẩu đã và đang vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt.Như trên đẵ nói việc xác định năng lực cạnh tranh của các sản phẩm là cầnthiết Một trong các chỉ tiêu nêu trên - trong khuôn khổ bài viết này - xác địnhtính cạnh tranh của một số sản phẩm nông sản được đánh giá từ khía cạnh nguồnlực trong nước: Hệ số chi phí nguồn lực trong nứơc (DRC)
Bảng 9: Hệ số chi phí nguồn lực nội địa (DRC)của một số nông sản
Cũng phục vụ cho việc đánh giá năng lực cạnh tranh sử dụng chỉ số nănglực cạnh tranh (C1)
Bảng 10: Biến động chỉ số khả năng cạnh tranh về giá một số nông sản xuất
khẩu chủ lực
Biến động chỉ số năng lực cạnh tranhvề giá
-7.88 -1.55 -0.06 -6.26
-1.49 -1.65 -3.06 -2.98
-7.25 -1.75 -7.87 2.36Từng mặt hàng có những nguyên nhân khác nhau nhưng ảnh hưởng của tỷgiá hối đoái có tính tác động tiêu cực hơn cả Sự duy trì đồng tiền nội địa cao sovới các nước trong khu vực cũng là nguyên nhân làm cho nông sản Việt Nam Ýt