Trong công trình này, tác giả cố gắng khái quát những giá trị vật chất và tinh thần của chiếc chiếu trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ.. Việc nghiên cứu chiếc chiếu gắn với văn hóa sẽ
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
ISO 9001:2008
TRẦN TUYẾT HẬN
CHIẾC CHIẾU TRONG VĂN HÓA NAM BỘ
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60310640
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN AN
TRÀ VINH, NĂM 2015
Trang 2- iii -
TÓM TẮT LUẬN VĂN
- Đề tài: Chiếc chiếu trong văn hóa Nam Bộ
- Tác giả Luận văn: Trần Tuyết Hận Khóa 2 đợt 2, thời gian đào tạo: Từ năm
2013 - 2015 Nơi học: Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang và Trường Đại học Trà Vinh Ngành học: Văn hóa học
- Giáo viên hướng dẫn: Phó giáo sư, Tiến sĩ Phan An
- Địa điểm nghiên cứu: Tác giả đi khảo sát ở các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau dưới góc độ nghiên cứu văn hóa học, xã hội học và lịch sử theo phương pháp khảo sát, điền dã, gặp gỡ các ông, bà, cô, chú, anh, chị ở các vùng nông thôn và thành thị một số tỉnh nói trên ở Nam Bộ Trong công trình này, tác giả
cố gắng khái quát những giá trị vật chất và tinh thần của chiếc chiếu trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ
- Nội dung tóm tắt:
Chiếc chiếu là một vật dụng quen thuộc trong đời sống hàng ngày của con người Nam Bộ từ bao đời nay Ở vùng đất mới có nhiều dân tộc cùng cộng cư chung sống ngay từ thời đất đai còn hoang hóa, con người Nam Bộ đã biết tận dụng cây lác
từ thiên nhiên để dệt nên những chiếc chiếu để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày Sau đó, nghề thủ công dệt chiếu xuất hiện, làm ra nhiều sản phẩm chiếu khác nhau
và chất lượng ngày càng được nâng cao theo thời gian
Về giá trị vật chất của chiếc chiếu, đa phần người dân Nam Bộ đều biết đến Chiếu được xem như một phương tiện sinh hoạt hàng ngày: Chiếu để ngồi, nằm, đắp, gối đầu, chiếu dùng để tiếp khách và là một phương tiện mưu sinh Những tác dụng
đó đã làm nên hệ thống giá trị vật chất của chiếc chiếu Nó thật sự rất hữu dụng với các đặc tính mềm mại, dễ giặt, dễ xếp gọn,
Về giá trị tinh thần, chiếc chiếu xuất hiện hầu như suốt quá trình phát triển của đời người Chiếu dùng trong sinh nở, để trải giường tân hôn và dùng để đắp hay quấn
Trang 3để nói lên những cung bậc cảm xúc trong tình yêu đôi lứa: Tỏ tình, nhớ thương, hờn giận Qua nghệ thuật của văn học dân gian Nam Bộ, chiếc chiếu còn là biểu tượng văn hóa cho hạnh phúc vợ chồng, là vật chứng của tình yêu Đặc biệt, hình ảnh chiếc chiếu còn được sử dụng trong ca dao, câu đố như là một biểu tượng về thân phận con người mà chủ yếu là thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến Một số từ ngữ thường dùng để chỉ thân phận người phụ nữ như: Manh chiếu, chiếu rách, chiếu hoa
Chiếc chiếu thật sự có ý nghĩa quan trọng trong đời sống thường ngày và đời sống văn hóa tinh thần của con người Nam Bộ Chiếu là phương tiện sinh hoạt và được sử dụng như một thói quen mà trong nhiều trường hợp không có vật dụng gì có thể thay thế được Chiếu xuất hiện trong văn học dân Nam Bộ với mức độ tương đối nhiều vừa mang nét tự nhiên, phù hợp với tính cách con người Nam Bộ vừa là một vật đặc trưng vùng miền Cuộc sống hiện đại, có thể chiếu được sử dụng ít đi, nhưng những giá trị của chiếc chiếu vẫn mãi trường tồn trong ký ức của con người Nam Bộ nói riêng, người Viêt Nam nói chung./
Trang 4- v -
SUMMARY
Subject : The projection of Southern culture
Author Topic: Chen Han Lock 2 phase 2, the duration of training: from 2013
- 2015 Place of Study: Community College of Hau Giang and Tra Vinh University Discipline: Cultural Study
Instructor: Prof Dr Phan An
Study sites: The author surveyed in the province of Hau Giang, Soc Trang, Kien Giang and Ca Mau perspective, cultural studies, social studies and history according to the survey methodology, fieldwork and meet the grandparents, aunt, uncle, brother, sister in rural areas and urban aforementioned provinces in the South
In this work, the author tries to generalize the material values and the spirit of the cultural life of the projector in southern residents
Contents summary
The projection is a familiar objects in everyday life of people from the South for centuries In new areas where many ethnic and community living residence from the land was wild, man made the most of Southern natural rush to weave mats to cater
to everyday life Then craft mat appearance, making many different lighting products and quality are increasingly improving with time
Regarding the value of the projection material, most people are aware of the South Screening is seen as a means of daily activities: Screening for sitting, lying, cover, pillow, mat for seating and is a means of livelihood These effects system that made the material value of the slideshow It was really useful with soft features, easy to wash, easy to stow,
Regarding spiritual values, mats appear almost throughout the development of human life Projectors used in childbirth, to cover the wedding bed and used to cover
or wrap the corpses of the dead Screening is also very valuable items in some rites
Trang 5- vi -
such as ancestor worship, family festivals, festivals Nguyen Trung Truc Mat to bow, pray ancestors, gods with the notion of abstinence dirty things while performing sacred rites The projector also has a special significance in the festival Nguyen Trung Truc - a national hero In folklore South, a lot compares appear in folk songs, proverbs, poetry, riddles as objects symbolizing conjugal affection in lyrical folk array The author has borrowed folk picture mats to voice emotions of love couples:
Be love, miss, anger Through the art of Southern folklore, the projector also is a cultural icon for the happy couple, the physical evidence of love In particular, the projection image can also be used in folk songs, riddles as a symbol of the human condition which mainly body parts women under feudalism Some words commonly used to refer to women as body parts: Manh projector, projector tear, flower mat
The projector really important significance in everyday life and cultural life of the human spirit of the South Screening is a means of living and be used as a habit which in many cases do not have items can be replaced Appeared in literary projection southern people with relatively moderate levels of natural bore, in accordance with the Southern personality and as a regional characteristic Modern life, the projector can be used less and less, but the value of mats lasting forever remain in the memories of the Southern people in particular and Vietnam in general man
Trang 6- vii -
MỤC LỤC
Trang tựa
Quyết định giao đề tài
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
SUMMARY v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng 3
3.2 Mục đích 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 3
6.1 Phương pháp nghiên cứu 3
6.2 Nguồn tư liệu 4
7 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5
1.1 Khái niệm 5
1.1.1 Văn hóa 5
1.1.2 Văn hóa vật chất 6
1.1.3 Văn hóa tinh thần 6
1.2 Nam Bộ và văn hóa vùng Nam Bộ 7
1.2.1 Đặc điểm vùng đất, tính cách con người Nam Bộ 7
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng Nam Bộ 7
1.2.1.2 Lịch sử hình thành 8
Trang 7- viii -
1.2.1.3 Quá trình hình thành cộng đồng các tộc người Nam Bộ 9
1.2.1.4 Tính cách người Nam Bộ 10
1.2.2 Đặc trưng văn hóa vùng Nam Bộ 12
1.3 Nghề dệt chiếu ở Nam Bộ 15
1.3.1 Tổ nghề dệt chiếu 15
1.3.2 Một số làng nghề dệt chiếu ở Nam Bộ 16
1.3.2.1 Xóm chiếu ở Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh 16
1.3.2.2 Chiếu Cần Đước 17
1.3.2.3 Chiếu Định Yên 17
1.3.2.4 Chiếu Tà Niên 18
CHƯƠNG 2: CHIẾC CHIẾU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT 20
2.1 Chiếc chiếu như một phương tiện sinh hoạt 20
2.1.1 Chiếu để ngồi, nằm, đắp, gối đầu 20
2.1.2 Chiếu để tiếp khách 23
2.2 Chiếc chiếu như một phương thức mưu sinh 25
2.2.1 Nghề dệt chiếu 25
2.2.2 Chiếu là sản phẩm hàng hóa 28
CHƯƠNG 3: CHIẾC CHIẾU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN 33
3.1 Chiếu trong nghi lễ vòng đời 33
3.1.1 Chiếu trong sinh nở 33
3.1.2 Chiếu trong hôn nhân 34
3.1.3 Chiếu trong tang ma 37
3.2 Chiếu trong lễ hội 38
3.2.1 Chiếu trong thờ cúng tổ tiên 38
3.2.2 Chiếu trong lễ hội đình 41
3.2.3 Chiếu trong lễ hội Nguyễn Trung Trực 44
3.3 Chiếu trong văn học dân gian Nam Bộ 45
3.3.1 Biểu tượng chiếc chiếu trong tình yêu, hôn nhân 46
3.3.2 Chiếu là biểu tượng cho thân phận người phụ nữ 60
Trang 8- ix -
KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chiếu là một sản phẩm thủ công thiết yếu, một vật dụng không thể thiếu trong các gia đình dân cư Nam Bộ Người Việt Nam chúng ta đều quen thuộc với vật phẩm này Chiếu gắn bó với con người suốt cuộc đời, từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay Chiếu dùng
để nằm, để ngồi, để đắp, để gối đầu, để trải đón khách quý, cúng kỵ, đờn ca tài tử Chiếu trải trong các buổi giỗ chạp gia đình Chiếu trải giường nằm cho các đôi vợ chồng trẻ bước vào cuộc sống hôn nhân…
Khi đời sống xã hội phát triển hiện đại thì nệm cao
su, nệm mút đã dần thay thế cho chiếc chiếu truyền thống Tuy nhiên, chiếu vẫn có giá trị vật chất và tinh thần nhất định trong đời sống con người:
“Dù cho nệm gỗ chăn bông Đâu bằng tấm chiếu tỏ lòng em trao”
Nam Bộ - khu vực cực nam của Việt Nam, nơi có hai mùa mưa nắng, đất đai bằng phẳng, sông ngòi chằng chịt, khí hậu ôn hòa, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu Nhiều nơi trồng được lác (cói) - một nguyên liệu để dệt chiếu Văn hóa Nam Bộ vốn mang đặc trưng không hòa lẫn với bất kỳ vùng nào Việc nghiên cứu chiếc chiếu gắn với văn hóa sẽ góp phần cung cấp tư liệu tìm hiểu về một vật phẩm quen thuộc trong cuộc sống người dân Nam Bộ, giúp chúng ta hiểu hơn
về đặc điểm văn hóa vùng Nam Bộ, góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa Nam Bộ Mặt khác, gia đình ngoại tôi
Trang 10- 2 - trước đây đã từng dệt chiếu để làm kế sinh nhai, ngay từ nhỏ hình ảnh chiếc chiếu đã đi vào tiềm thức tôi như một kỉ
niệm Vì vậy tôi chọn đề tài “Chiếc chiếu trong văn hóa
Nam Bộ” để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Hiện nay, nghiên cứu về làng nghề truyền thống ở
Việt Nam đang thu hút sự quan tâm của nhiều người Xung
quanh về nghề và làng nghề dệt chiếu có một số tài liệu giới thiệu sơ lược trong một khuôn khổ nhất định
Quyển Các ngành nghề Việt Nam của tác giả Vũ
Ngọc Khánh giới thiệu về các bách nghệ tổ sư các ngành nghề Việt Nam, trong đó có nói đến vị tổ nghề dệt chiếu Phạm Đôn Lễ
Quyển Hỏi đáp về Nghề truyền thống Việt Nam của
Hồ Châu cung cấp thêm những tư liệu về các nghề truyền thống ở Việt Nam nói chung Tác giả giới thiệu về làng chiếu Hới và tổ nghề Phạm Đôn Lễ
Quyển Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam - Nghề
Mây tre đan, nghề dệt chiếu, dệt thảm, làm quạt giấy cổ truyền của Bùi Văn Vượng viết về nghề, làng nghề mây tre
đan, dệt thảm, làm quạt giấy, trong đó nghề dệt chiếu được khai thác ở khía cạnh làng nghề trên cả nước Công trình giới thiệu nhiều làng nghề dệt chiếu tiêu biểu, kỹ thuật dệt chiếu, tuy nhiên tác giả chưa phân tích các giá trị văn hóa của chiếc chiếu
Quyển Nghề truyền thống Hậu Giang do Nhâm
Hùng biên soạn giới thiệu về các làng nghề như: Nghề chằm
lá lợp nhà, nghề đan cần xé, nghề hầm than, nghề đánh bắt
Trang 11cá đồng, nghề đóng ghe xuồng… Riêng nghề dệt chiếu, tác giả tập trung vào kỹ thuật dệt chiếu
Đến Luận văn Thạc sĩ của Thạch Thị LinĐa Nghề
dệt chiếu truyền thống của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh đã
bước đầu nghiên cứu đến giá trị vật chất và tinh thần của nghề dệt chiếu của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh
Đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào viết về các giá trị của chiếc chiếu trong văn hóa Nam Bộ Tuy nhiên, có một số quyển sách có đề cập đến việc bảo tồn
và phát huy làng nghề truyền thống nói chung
Các công trình trên là tài liệu quý báu mà tác giả Luận văn tham khảo cùng với việc khảo sát, đi điền dã để thu thập thêm tư liệu cho đề tài Luận văn là công trình giới thiệu một cách có hệ thống và tương đối đầy đủ về giá trị vật chất và tinh thần của chiếc chiếu
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Luận văn nghiên cứu về chiếc chiếu, sơ lược nghề dệt chiếu và tập trung vào các giá trị văn hóa vật chất (là phương tiện sinh hoạt và phương thức mưu sinh) và giá trị tinh thần (trong nghi lễ vòng đời người, lễ hội và văn học dân gian)
Trang 12- 4 -
4 Phạm vi nghiên cứu
Chiếc chiếu được sử dụng phổ biến trong các gia đình
cư dân Nam Bộ Ở đây chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu
về giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của chiếc chiếu tại một số tỉnh: Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh, Long An, Đồng Tháp và Tp Hồ Chí Minh để khái quát nên giá trị của chiếc chiếu trong văn hóa Nam Bộ
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, Luận văn góp phần khẳng định
và bảo tồn các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của chiếc chiếu ở Nam Bộ
Về ý nghĩa thực tiễn, với kết quả nghiên cứu, Luận văn là tư liệu giới thiệu về chiếu, nghề dệt chiếu và vai trò,
ý nghĩa của nó trong đời sống văn hóa của cư dân vùng đất Nam Bộ Việt Nam, có thể ứng dụng trong một số cơ quan như Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bảo tàng ở các tỉnh
mà tác giả Luận văn khảo sát
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận liên ngành
Bằng phương pháp này, người nghiên cứu kết hợp kiến thức về dân tộc học, sử học để tìm hiểu về lịch sử hình thành nghề dệt chiếu
- Phương pháp điền dã
Nhằm thu thập những số liệu, thông tin liên quan về giá trị vật chất và tinh thần của chiếc chiếu tại địa phương Hậu Giang và một số vùng ở Nam Bộ; sưu tầm, kết hợp phỏng vấn sâu để làm phong phú thêm nội dung Luận văn
Trang 13- Phương pháp so sánh đối chiếu
So sánh, đối chiếu để làm nổi bật giá trị của chiếc chiếu trong đời sống văn hóa người dân Nam Bộ nói riêng, người dân Việt Nam nói chung
6.2 Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng tư liệu từ sách, báo tạp chí và các trang mạng Internet có liên quan đến đề tài Và đặc biệt là các tư liệu điều tra điền dã của tác giả Luận văn tại một số tỉnh như: Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh, Long An, Đồng Tháp và Tp Hồ Chí Minh vào tháng
Phần nội dung nghiên cứu: Gồm 3 chương
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và cơ sở thực tiễn
- Chương 2: Chiếc chiếu trong văn hóa vật chất
- Chương 3: Chiếc chiếu trong văn hóa tinh thần
Phần kết luận
Trang 14- 6 -
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Ở chương 1, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn
đề lý luận và cơ sở thực tiễn bao gồm các khái niệm về: Văn hóa, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần; tìm hiểu về Nam
Bộ và văn hóa vùng Nam Bộ và Nghề dệt chiếu ở Nam Bộ
1.1 Khái niệm
1.1.1 Văn hóa
Có rất nhiều khái niệm về văn hóa nhưng tác giả Luận văn chọn khái niệm văn hóa của Trần Ngọc Thêm để làm cơ
sở nghiên cứu đề tài: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”
1.1.2 Văn hóa vật chất
Văn hóa vật chất là toàn bộ những sáng tạo vật chất của con người để phục vụ, để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình Giá trị văn hóa vật chất của chiếc chiếu chính
là lợi ích từ việc sử dụng chiếu đem lại và nó còn là một sản
phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu mưu sinh của con người
1.1.3 Văn hóa tinh thần
Văn hóa tinh thần là nói chung những ý nghĩ, tình cảm, những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần Chiếc chiếu trong tiềm thức con người Nam Bộ đã trở thành những biểu tượng văn hóa trong ca dao Nam Bộ và trong những
Trang 15nghi thức thiêng liêng lễ hội đình, lễ hội Nguyễn Trung Trực, thờ cúng tổ tiên…
Giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần của chiếc chiếu đã làm nên giá trị văn hóa của nó trong đời sống văn hóa cư dân Nam Bộ
1.2 Nam Bộ và văn hóa vùng Nam Bộ
1.2.1 Đặc điểm vùng đất, tính cách con người Nam Bộ 1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng Nam Bộ
Luận văn giới thiệu về điều kiện tự nhiên vùng Nam
Bộ như: Vị trí địa lý, sông ngòi, khí hậu…
Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam và chính là Nam Kỳ lục tỉnh từ trước thời thực dân Nam Bộ là một trong ba vùng chính của lãnh thổ Việt Nam (gồm Bắc
Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ)
Nam Bộ theo ranh giới địa lý hiện tại bao gồm các tỉnh, thành: Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang
Địa hình trên toàn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và một phần phía tây Bắc giáp Nam Trung Bộ
Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao
Mật độ sông ngòi, kinh rạch dày đặc Ở Nam Bộ có hai nhóm sông chính Tiền giang và Hậu giang
Trang 16- 8 -
1.2.1.2 Lịch sử hình thành
Nam Bộ có lịch sử hình thành khoảng 300 năm, từ thế
kỉ I đến thế kỉ VII thì địa bàn Nam Bộ ngày nay thuộc Vương quốc Phù Nam và cư dân Phù Nam - chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo Phù Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và
có quan hệ mật thiết với nền văn hóa Mã Lai đa đảo
Từ thế kỉ VIII đến thế kỉ XII, vùng đất Thủy Chân Lạp bị bỏ hoang, không có dấu vết của con người cư trú Phải từ khoảng đầu thế kỉ XIII, một số ít người Khmer đến đây sống theo từng nhóm nhỏ thì nơi này mới bắt đầu có dấu vết của con người cư trú Rồi đến thế kỉ XVI, XVII cư dân Việt mới từ Đàng Trong, sau đó từ miền Trung rồi miền Bắc vào lập nghiệp ngày một đông tại Nam Bộ Từ đó phát triển vùng đất Nam Bộ như ngày nay
1.2.1.3 Quá trình hình thành cộng đồng các tộc người Nam Bộ
Người Việt đến khai phá vùng đất Nam Bộ vào khoảng thế kỉ thứ XVI Người Khmer đến vùng này khai phá sớm hơn người Việt khoảng 2 - 3 thế kỉ và sau đó là người Hoa Trong số những lưu dân mới đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long có cả người Chăm Người Chăm đến vùng An Giang, Tây Ninh muộn hơn các tộc người trước
đó, mãi đến đầu thế kỉ XIX, họ mới định cư tại đây