Đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn LƯƠNG THANH THỦY VAI TRề CỦA NGHỆ NHÂN DÂN GIAN TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC Ở ĐỒNG BẰNG BẮ
Trang 1Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
LƯƠNG THANH THỦY
VAI TRề CỦA NGHỆ NHÂN DÂN GIAN TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC Ở ĐỒNG BẰNG BẮC
Trang 2ii
Đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
LƯƠNG THANH THỦY
VAI TRề CỦA NGHỆ NHÂN DÂN GIAN TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
(Nghiờn cứu trường hợp ở chi hội rối Minh Tõn làng Bảo
Hà, xó Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phũng)
Chuyên ngành: Dân tộc học Mã số : 60.22.54
luận Văn thạc sĩ khoa học Lịch sử
ng-ời h-ớng dẫn khoa học : TS BÙI QUANG THẮNG
Hà Nội, 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 4 tháng11 năm 2008
Tác giả luận văn
Lương Thanh Thuỷ
Trang 4iv
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Bùi Quang Thắng người thầy đã gợi mở cho tôi từ những ý tưởng ban đầu của luận văn, đặc biệt là các định hướng về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cũng như đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng gửi lời cảm ơn đặc biệt đến lãnh đạo địa phương và nhân dân làng Bảo Hà, xã Đồng Minh huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng, đặc biệt là nghệ nhân Đào Minh Tuân người đã hết sức tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu điền dã tại địa phương
Tôi cũng trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo ở Bộ môn Dân tộc học, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam nơi tôi công tác đã động viên khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Luận văn này cũng không thể hoàn thành nếu không có những người thân trong gia đình và các bạn bè, đồng nghiệp của tôi, những người bằng nhiều cách khác nhau đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu của mình
Trang 5MỤC LỤC
DẪN LUẬN 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Đối tượng và phạm vi địa bàn nghiên cứu 3
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
4.Phương pháp nghiên cứu 13
5.Định nghĩa về nghệ nhân dân gian 14
6.Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn 16
7.Cấu trúc luận văn 16 CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Error!
Bookmark not defined.
1.1 Làng Bảo Hà xưa và nay Error! Bookmark not defined 1.1.1.Đặc điểm địa lý tự nhiên Error! Bookmark not defined 1.1.2 Đặc điểm kinh tế Error! Bookmark not defined 1.1.3 Đặc điểm văn hoá- xã hội Error! Bookmark not defined 1.2.Quá trình hình thành phường rối Minh Tân Error! Bookmark not defined 1.2.1.Về mặt tổ chức Error! Bookmark not defined 1.2.2.Cơ chế hoạt động Error! Bookmark not defined.
1.3.So sánh phường hội rối nước Minh Tân với một số phường rối nước cổ truyền
Error! Bookmark not defined Tiểu kết Error! Bookmark not defined.
Trang 6vi
Chương 2:ĐÁNH GIÁ CỦA CỘNG ĐỒNG VÀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
ĐỐI VỚI VAI TRÒ CỦA NGHỆ NHÂN RỐI NƯỚC DÂN GIAN Error!
Bookmark not defined.
2.1 Nghệ nhân Đào Minh Tuân trong việc sáng lập phường rối nước Error!
Bookmark not defined.
2.2 Đánh giá của cộng đồng về vai trò của nghệ nhân Đào Minh Tuân Error!
Bookmark not defined.
2.2.1 Vai trò của nghệ nhân trong tạo hình quân rối Error! Bookmark not defined 2.2.2 Vai trò cuả nghệ nhân trong kỹ thuật biểu diễn ( kĩ năng, kĩ xảo) .Error!
Bookmark not defined.
2.2.3 Vai trò của nghệ nhân trong việc sáng tạo tích và trò diễn Error! Bookmark
not defined.
2.2.4 Quan điểm chỉ đạo nghệ thuật Error! Bookmark not defined 2.2.5 Nghệ nhân Minh Tuân trong bảo tồn và phát triển nghệ thuật rối Error!
Bookmark not defined.
2.2.6 Nghệ nhân Minh Tuân trong bí quyết giữ nghề Error! Bookmark not
defined.
2.2.7 Nghệ nhân Minh Tuân trong vai trò của một nhà quản lý Error! Bookmark
not defined.
2.3 Đánh giá của các nhà quản lý văn hoá và xã hội ở địa phương Error!
Bookmark not defined.
2.3.1 Nghệ nhân Minh Tuân với năng lực thị trường Error! Bookmark not defined 2.3.2 Đào tạo thế hệ trẻ Error! Bookmark not defined Tiểu kết Error! Bookmark not defined.
Trang 7CHƯƠNG 3:CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ NGHỆ NHÂN DÂN GIAN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT RỐI NƯỚC
Error! Bookmark not defined 3.1 Cơ chế, chính sách và tình hình thực hiện Error! Bookmark not defined 3.1.1 Cơ chế, chính sách Error! Bookmark not defined 3.1.2 Tình hình thực hiện Error! Bookmark not defined 3.2 Một số giải pháp Error! Bookmark not defined 3.2.1 Cơ sở để phong tặng nghệ nhân dân gian Error! Bookmark not defined 3.2.2 Một số giải pháp cụ thể Error! Bookmark not defined Tiểu kết Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
Trang 8DẪN LUẬN
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa, đô thị hoá, thương mại hoá… hiện nay đương nhiên có những tác động tiêu cực đến việc bảo tồn các di sản văn hoá truyền thống, nguy cơ mất bản sắc văn hóa dân tộc là nguy cơ có thật đối với các nước đang phát triển Trong vài thập kỷ qua Unesco khuyến khích các quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình thông qua việc công bố “ Công ước về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể 1 Mỗi một quốc gia có những phản ứng khác nhau trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, những giá trị văn hoá truyền thống và sử dụng bản sắc văn hóa trong việc phát triển kinh tế xã hội trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế hội nhập như hiện nay Trước nguy cơ bản sắc văn hoá đang dần bị mai một trong khoảng vài chục năm trở lại đây nhất là từ sau Đổi mới đến nay Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống trước nguy cơ bị mai một Việt Nam đã ký vào “ Công ước bảo vệ văn hoá phi vật thể” của Unesco với tư cách là một thành viên và đã triển khai nhiều chương trình nhằm bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể Thủ tướng chính phủ đã phê chuẩn 6 di sản văn hoá phi vật thể đầu tiên của Việt Nam sẽ lần lượt đăng ký để Unesco công nhận là kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể thế giới, đó là Nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên (2 di sản này đã được công nhận), không gian văn hoá quan họ, ca trù, múa rối nước và sử thi Tây Nguyên Từ đó cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu về vấn
đề này nhưng tôi chọn một vấn đề nghiên cứu rất nhỏ về vai trò của một nghệ nhân dân gian cụ thể đối với vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật rối nước, một “case study” Nghệ nhân dân gian là người đóng vai trò nòng cốt, yếu nhân quan trọng trong vấn đề bảo tồn các giá trị di sản văn hóa phi vật thể Tuy có nhiều nghiên cứu
và cách tiếp cận khác nhau về nghệ nhân dân gian trong việc bảo tồn và phát huy
1 Công ước về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, Pari, 17/10/2003
Trang 9các giá trị văn hoá phi vật thể nhưng cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu nào (nếu không nói là khá hiếm hoi) quan tâm nghiên cứu vấn đề này Hiện nay, bên cạnh tính truyền thống luôn được bảo lưu, những giá trị văn hoá mới trong xã hội hiện đại đã xâm nhập vào đời sống nghệ thuật biểu diễn, cách thức biểu diễn và sự sinh tồn của mỗi phường rối Các yếu tố dân gian, truyền thống và hiện đại đan xen vào nhau tạo nên sự chú ý cho các nhà nghiên cứu ở các vấn đề như: Các yếu tố dân gian, truyền thống của loại hình sân khấu, nghệ thuật này sẽ tồn tại trong xã hội hiện đại như thế nào? Cơ chế vận hành của nó ra sao trong nền kinh
tế thị trường? Quy mô tổ chức và các hình thức hoạt động như thế nào để loại hình nghệ thuật biểu diễn này không những được bảo tồn nguyên vẹn mà còn có một chỗ đững vững chắc trong lòng công chúng trong và ngoài nước? Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chủ trương xã hội hoá văn hoá, phải chăng nghệ thuật rối nước cũng không nằm ngoài mục tiêu đó? Thêm nữa, mỗi một làng rối có những đặc điểm cư trú, lịch sử phát triển khác nhau nên điều kiện hội nhập với nền kinh tế thị trường nhanh hay chậm còn phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý, điều kiện kinh tế, và sự năng động của từng làng rối Xuất phát
từ một làng có nghề tạc tượng nổi tiếng, bản thân cũng là một phường rối cạn có bề dày lịch sử, phường rối nước Minh Tân đã phát huy được những lợi thế vốn có của mình để mạnh dạn xây dựng thành một phường rối nước tư nhân bên cạnh các phường rối nước truyền thống đang tồn tại và phát triển
Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài: “ Vai trò của nghệ nhân dân gian
trong bảo tồn và phát huy nghệ thuật rối nước ở đồng bằng Bắc Bộ” làm luận văn
tốt nghiệp Trong vấn đề nghiên cứu này, luận văn không đi sâu nghiên cứu tính nghệ thuật của rối nước mà đi sâu nghiên cứu sự phát triển nội tại của phường rối nước Minh Tân trong quá trình phát triển với những bước thăng trầm ra sao để trở thành một phường rối tư nhân như hiện nay Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả mong muốn đóng góp thêm thông tin về việc bảo tồn, phát huy nghệ thuật rối nước và phương thức vận hành của nó trong cơ chế thị trường giai đoạn hiện nay
Trang 103
2 Đối tượng và phạm vi địa bàn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghệ nhân dân gian với vai trò là chủ
thể sáng tạo văn hoá đồng thời họ cũng là nhân tố quyết định trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật rối nước ở đồng bằng Bắc Bộ Thông qua luận văn này tác giả xem xét những tác động cũng như những ảnh hưởng của nghệ nhân Đào Minh Tuân ( một cá nhân cụ thể) đối với nghệ thuật rối nước như thế nào? Nhưng trọng tâm nghiên cứu vẫn xoay quanh vai trò của những nghệ nhân dân gian trong việc bảo tồn vốn cổ, sáng tạo cái mới và truyền dạy nghề truyền thống cho thế hệ trẻ hiện nay Hơn nữa, trong cơ chế thị trường họ đã làm như thế nào để đảm bảo đời sống cho bản thân họ và gia đình
Phạm vi và địa bàn nghiên cứu: Mặc dù tên của đề tài đã chỉ ra phạm vi
nghiên cứu là khu vực đồng bằng Bắc Bộ nhưng do hạn chế nhiều mặt nên tác giả
đã chọn điểm để nghiên cứu Việc khảo sát và điền dã đều tập trung chủ yếu vào phường rối nước Minh Tân làng Bảo Hà, xã Đồng Minh huyện Vĩnh Bảo, Thành Phố Hải Phòng trong một thời gian từ tháng 8 năm 2006 đến tháng 7 năm 2008 Ngoài ra tác giả cũng thường xuyên cập nhật thông tin từ các làng rối khác như Đào Thục (Đông Anh- Hà Nội), Phú Đa (Hà Tây), Bồ Dương (Ninh Giang- Hải Dương) Nguyên Xá (Đông Hưng- Thái Bình), Nam Chấn (Nam Trực- Nam Định)…để so sánh từng vấn đề nghiên cứu
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mặc dù nghiên cứu về rối nước đã được chú trọng từ lâu, nhưng cho đến nay, các công trình có quy mô nghiên cứu toàn diện về rối nước chiếm số lượng khiêm tốn, có thể nói là hiếm hoi Thực ra, vấn đề nghiên cứu mới chỉ tập trung ở những bài viết ngắn đề cập đến khía cạnh nào đó của nghệ thuật này được đăng trên các Tạp chí chuyên ngành Song, ta cũng không thể phủ nhận những đóng góp đó của các nhà nghiên cứu
Trang 11Chúng tôi xin chia thành hai vấn đề :
- Thứ nhất là về các công trình nghiên cứu về nghệ nhân dân gian ở nhiều
lĩnh vực khác nhau nói chung và các công trình nghiên cứu về nghệ nhân rối nước nói riêng :
Các công trình liên quan viết về nghệ nhân dân gian tuy mới được sự được quan tâm trong vài năm trở lại đây, đặc biệt là khi Nhà nước ban hành cơ chế chính sách phong tặng đối với đội ngũ nghệ nhân dân gian nhưng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Nhiều bài viết và công trình nghiên cứu đã được đăng tải trên các tạp chí: Dân tộc học, Văn hoá dân gian, tạp chí nghiên cứu văn hoá nghệ thuật v.v…
Tác giả Trần Chính (2000) Nghệ nhân quan họ làng Viêm Xá giới thiệu về
diện mạo đời sống sinh hoạt quan họ của đội ngũ nghệ nhân làng Quan họ Viêm Xá
và một số bài hát quan họ do nghệ nhân Viêm Xá hát trong thế kỷ XX Qua đó tác giả khẳng định, trải qua những chặng đường lịch sử thăng trầm của chính những nghệ nhân ở thế kỷ XX- chính họ đã nắm giữ một vai trò trọng yếu trong việc giữ gìn, khôi phục và phát triển dân ca Quan họ
Ở một công trình nghiên cứu khác như Nghệ nhân lão thành trong lĩnh vực
ca nhạc truyền thống Huế của Phân Viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật Việt Nam
thuộc Viện Văn hoá Thông tin (nay là Viện Văn hoá nghệ thuật Việt Nam ) của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Thông (chủ nhiệm đề tài )- Trần Đình Hằng- Nguyễn Phước Bảo Đàn Đề tài đề cập giới thiệu về sự ra đời của bộ môn ca nhạc truyền thống huế và chân dung các nghệ nhân trong lĩnh vực ca nhạc Huế truyền thống Báo cáo cũng đã đề cập đến vai trò của các nghệ nhân lão thành trong sự nghiệp phát triển Ca nhạc truyền thống Huế Nghệ nhân không chỉ là kẻ mang sứ mệnh thăng hoá nét đẹp của loại hình diễn xướng này mà còn là những người góp phần vào việc lưu truyền và gìn giữ bộ môn ca nhạc truyền thống Huế bằng việc sưu tập văn bảo, truyền thụ kỹ thuật giảng dạy lý thuyết, họ đã tạo nên sự lôi cuốn lòng yêu thích và đánh thức ở thế hệ sau những cảm xúc nghệ thuật và yêu chuộng dòng diễn
Trang 125
xướng này Nhóm tác giả khẳng định các nghệ nhân lão thành đối với bất kỳ giai đoạn phát triển nào cũng có vai trò rất lớn đóng góp cho việc bảo tồn và phát triển ngón sở trường của mình
Tác giả Thanh Dương2
với bài viết “ Nghệ nhân tranh Đông Hồ Nguyễn Hữu
Sam (Thuận Thành – Bắc Ninh)”, qua bài viết tác giả tóm lược về lịch về cuộc đời
gắn bó với nghề tranh Đông Hồ truyền thống với những bước thăng trầm gắn bó với nghệ thuật vẽ tranh của ông Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam là người có công lớn trong việc gìn giữ nghệ thuật tranh Đông Hồ truyền thống Ông dành trọn cuộc đời mình để miệt mài với công việc nghiên cứu, sưu tầm, phục chế tranh; đồng thời sáng tác và sản xuất tranh phục vụ những người yêu mến tranh Đông Hồ
Kiều Phương Giang (2006) 3 “ Hơn 70 năm nặn tò he”, bài viết kể về cuộc đời của nghệ nhân nặn tò he cụ Đặng Văn Tố (81 tuổi) người đã gắn bó trọn đời với nghề nặn tò he Năm 2004, cụ vinh dự là đại diện duy nhất của nghề làm tò he ở
VN, cùng 3 nghệ nhân (vẽ tranh, thêu, đan nón Huế) sang Nhật dự triển lãm Cũng năm đó, cụ được nhận danh hiệu "Nghệ nhân dân gian" và "Ngôi sao quê lụa" do Hội Văn nghệ dân gian VN và UBND tỉnh Hà Tây phong tặng
Còn rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết nghiên cứu về nghệ nhân dân gian trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, từ nghệ nhân làng nghề thủ công mỹ nghệ đến nghệ nhân trên lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng như văn thơ, đàn hát, làm và thả diều, nghề thêu, đúc đồng, điêu khắc gỗ, nhạc cụ và dân nhạc, nói trạng…
Gần đây nhất là cuốn Nghệ nhân dân gian của Hội văn nghệ dân gian Việt
Nam (2007) Cuốn sách thống kê khá đầy đủ các nghệ nhân được phong tặng trong hai năm 2003 – 2007 thuộc mọi mọi lĩnh vực từ nghệ nhân lĩnh vực diễn xướng dân gian và thư pháp đến nghệ nhân các lĩnh vực nghề thủ công truyền thống, nghệ nhân
2 nguồn : http://www.quehuong.org.vn
3 báo Lao Động số 307 Ngày 07/11/2006
Trang 13các thú chơi dân gian và ẩm thực Đó là cuốn sách mô tả tương đối đầy đủ tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp của những nghệ nhân được phong tặng từ năm 2003 – 2007
Đề cập đến nghệ nhân rối nước tác giả Tô Sanh (1976) đã đưa ra một số đặc điểm về nghệ nhân rối nước dân gian: nghệ nhân rối nước thường là những nông dân ở lứa tuổi trung niên, chuyên tay cày, tay cuốc, quanh năm lặn lội với hòn đất cây lúa, ngày ngày một nắng hai sương ngoài đồng ruộng, nên họ coi việc múa rối nước như một thú ăn chơi Họ góp tiền đóng gạo dựng phường lập hội, tạo quân chế máy- bỏ nhiều mồ hôi công sức ra đóng cọc, căng dây, dựng buồng trò, luyện tập và biểu diễn- không đòi hỏi tiền thù lao mà chỉ mua vui cho làng xóm Họ làm nghệ thuật một cách bình dị, tự phát và hy sinh cao độ Nghệ nhân rối nước hành nghề bằng kinh nghiệm là chính nên diễn xuất còn nặng phần bản năng tuỳ tiện
Nghệ nhân rối nước là những người làm ruộng, học theo lối bắt chước mà làm theo Trình độ tinh thông nghề nghiệp quá trình đi làm nhiều mà thành Họ chơi rối là
do yêu thích,do lòng mong muốn làm vui mình và làm vui cho người khác, do thừa
kế ông cha mình và một phần cũng vì cái hư vinh nơi làng xóm Họ chơi rối nước là một thú vui Họ yêu việc mình làm tới mức say mê Nghệ nhân rối nước rất tôn kính ông tổ nghề của mình, nhưng phần đông họ không biết ông Tổ là ai?
- Thứ hai là tổng quan về tình hình nghiên cứu nghệ thuật rối nước
Sự độc đáo của nghệ thuật múa rối nước là đề tài nghiên cứu và cho ra mắt bạn đọc nhiều tác phẩm của các học giả nổi tiếng trong hơn nửa thế kỷ qua như Nguyễn Huy Hồng, Tô Sanh, Hữu Ngọc và Trung Dũng, Lê Văn Ngọ… nhưng cho đến nay, các công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về rối nước chiếm một lượng khá khiêm tốn Thực tế cho thấy vấn đề nghiên cứu mới chỉ tập trung ở những bài viết ngắn đề cập đến một vài khía cạnh cụ thể của nghệ thuật rối nhưng chưa đề cập sâu đến vấn
đề bảo tồn, phát triển, vai trò của nghệ nhân trong vấn đề bảo tồn nhìn từ hướng tiếp cận nhân học Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng các công trình của các học giả đã cung cấp cho bạn đọc những thông tin quan trọng về múa rối nước Việt Nam
Trang 147
Việc tiếp cận vấn đề trong việc giải thích nguồn gốc xuất hiện của rối nước, các tác giả đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau Nhà nghiên cứu Tạ Đức(1986) đã dựa vào việc giải thích nguồn gốc ra đời của rối bóng Gia Va ở hai quốc gia đại diện tiêu biểu Ấn Độ và Inđônêxia Tác giả cho rằng rối bóng ở hai quốc gia trên có mối liên hệ với lễ hội mang tính chất tôn giáo tín ngưỡng vốn xuất hiện từ thời nguyên thuỷ Cùng với việc áp dụng nguyên tắc của phương pháp hệ thống đặt hiện tượng văn hoá Việt trong tổng thể văn hoá Việt Nam- Đông Nam Á - Châu Á- Thế giới, ông cho rằng sự ra đời của rối bóng Gia Va và sự ra đời của rối nước Việt Nam có nguồn gốc quan hệ hữu cơ với nhau Đó chính là sự thu nhỏ của các hội lễ cộng đồng đậm chất tôn giáo được thể hiện ở các không gian biểu diễn khác nhau
Cũng giải thích dưới góc độ tôn giáo, tác giả Nguyễn Huy Hồng (1973) Tìm
hiểu về nghệ thuật múa rối dân tộc chỉ ra rằng từ xa xưa tượng hình rối được sử
dụng với vai trò là vật hiến tế cho người quá cố cùng các trò rước xách, trình diễn được coi là một nghi lễ không thể thiếu trong tang ma Cho đến ngày nay, dấu vết của việc hiến tế này vẫn còn tồn tại ở các dân tộc Việt Nam như trong lễ “bỏ mả” của đồng bào Ba Na (Tây Nguyên), tục “đốt mã” (đốt vàng mã, đốt hình nhân) của người Việt Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh vai trò mua vui giải trí của rối nước và được xem là một thành tố quan trọng trong các lễ hội của đình, chùa, đền, miếu và các hội lớn của cộng đồng
Tiếp tục trình bày của vấn đề này, tác giả Phạm Đức Dương (2001) Sân khấu
múa rối - sứ giả của thế giới tâm linh lại giải thích, sự ra đời nghệ thuật múa rối của
cư dân Đông Nam Á là dựa trên nền tảng sáng tạo của trí tuệ và tâm linh “quan niệm vạn vật hữu linh” vốn có của con người Thế giới luôn bí ẩn được phản ánh dưới sự tưởng tượng phong phú Đó là sự tồn tại của một thế giới siêu nhiên thần thánh Thế giới trần tục của con người bị chế ngự của lực lượng siêu nhiên nói trên
Để cho hai thế giới trên giao tiếp được với nhau, con người đã sáng tạo và dùng con rối làm lực lượng trung gian Như vậy, rối chỉ là vật phục vụ cho mục đích tôn giáo của con người
Trang 15Tác giả Hà Văn Cầu (1996) Múa rối nước Việt Nam đã cố gắng đưa ra
những chứng cứ thuyết phục nhất để chứng minh rằng sự ra đời của nghệ thuật múa rối Việt Nam sớm hơn so với nghệ thuật múa rối của Trung Quốc qua việc giải mã các âm ngữ học và nguồn sử liệu văn bia
Tóm lại các bài viết của các tác giả nêu trên đều cố gắng đưa ra những luận
cứ thuyết phục nhất về nguồn gốc ra đời của nghệ thuật này Nhưng cuối cùng, các bài viết đưa ra sự giải thích giới hạn dưới góc độ tôn giáo là chủ yếu Cho nên nguồn gốc ra đời của múa rối vẫn là cánh cửa mở cho những tìm tòi và phát hiện mới
Ngoài ra, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng (1970; 1985; 1997) còn có các bài viết mang tính tóm tắt, giới thiệu ngắn gọn nhất về nghệ thuật múa rối nước ở Việt Nam Các công trình này thể hiện ở các mặt: lịch sử ra đời, khái quát các đặc trưng và các đặc điểm, liệt kê các thành phần cơ bản của rối nước (nước, sân khấu, quân rối, âm nhạc, biểu diễn trò pháo, nhân vật) và điểm qua các tích trò tiêu biểu
Trong khi đó, các nghiên cứu riêng về những phường rối chỉ mới tập trung ở
những phường tiêu biểu: Hà Nam Ninh ( Nguyễn Huy Hồng (1990) với Truyền
thống múa rối Hà Nam Ninh ), Thái Bình (Nguyễn Huy Hồng (1999); Nghệ thuật múa rối và đồng đất Thái Bình ), Phạm Trọng Toàn (1997) Tìm hiểu nghệ thuất múa rối nước và sự phối hợp âm nhạc trong biểu diễn múa rối nước cổ truyền làng Nguyễn; Rối nước làng Ra và sự ảnh hưởng của Phật giáo Vũ Tú Quỳnh (2006); rối nước làng Ra của Vũ Hạnh Quỳnh (2004) ; Nam Định (Đỗ Đình Thọ (2000) Múa rối một môn nghệ thuật dân gian truyền thống của quê hương Nam Định); Lê
Văn Ngọ (2004)“Bảo tồn và phát triển nghệ thuật múa rối nước cổ truyền Thăng
Long - Hà Nội” nhưng số lượng còn khiêm tốn Đáng tiếc ngay trên cả Tạp chí
Dân tộc học cũng chỉ mới đăng một bài viết khái quát của tác giả Nguyễn Huy
Hồng (1979) “Nghệ thuật múa rối Tây Nguyên” về tìm hiểu múa rối Tây Nguyên-
Việt Nam
Trang 169
Bên cạnh các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học, còn có các nghiên cứu tổng hợp về rối nước Việt Nam Đáng chú ý là những đầu sách của tác giả Nguyễn Huy Hồng như truyền thống múa rối dân tộc, Tìm hiểu nghệ thuật múa rối dân tộc, Nghệ thuật rối Việt Nam, Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình, Rối nước Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật và từ vựng múa rối Việt Nam… Trong đó, tác giả đã đặt vấn đề tiếp cận với nghệ thuật múa rối ở phương diện lịch
sử và đưa ra sự thống kê các cơ sở phường rối nước dân gian phân bố trên khắp cả nước Việt Nam
Tiếp cận với vấn đề nêu trên, nhà nghiên cứu Tô Sanh (1976) Nghệ thuật
múa rối nước đã cố gắng tra cứu các tài liệu cổ, các bản chép tay và gia phả của các
dòng họ… Ngoài ra tác giả còn dùng phương pháp hồi cố, bằng cách gợi lại ký ức của những người giữ các bí truyền trong múa rối Từ nguồn tư liệu đó, Tô Sanh cố gắng xác định lịch sử, nguồn gốc và quá trình phát triển của nghệ thuật múa rối cổ truyền
Trong khi đó, các bài nghiên cứu khác lại tập trung ở khía cạnh như nghệ thuật tạo hình, các tiết mục biểu diễn, âm nhạc, văn học, không gian biểu diễn… của nghệ thuật múa rối
Tác giả Đỗ Trọng Quang (1986) đã dựa vào các sử liệu thành văn đưa ra dự đoán về lịch sử ra đời của nghệ thuật múa rối trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Bên cạnh đó, tác giả đã có sự khái quát quá trình hình thành, phát triển của các phường rối (rối cạn và rối nước) gắn với sự thăng trầm của lịch sử nước nhà Đồng thời tác giả nhấn mạnh mô tả nét đặc sắc của nghệ thuật tạo hình quân rối Đó là nghệ thuật làm rối bóng hoàn hảo của In đô nê xia và Ấn Độ, hay những con rối được cắt gọt công phu và sơn thếp cầu kỳ theo lối cổ truyền của dân tộc ta
Cũng về chủ đề này, tác giả Trần Lâm(2001.) Đôi nét về nghệ thuật tạo hình
trong nghệ thuật rối Việt đã đưa ra ý kiến rằng, lịch sử tạo hình của múa rối Việt
Nam là sự kết hợp của cả ba lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc tượng và trang trí nội thất của ng ành mỹ thuật Điều này thể hiện rõ qua việc khảo sát của tác giả về kiến trúc
Trang 17của nhà thuỷ đình (buồng trò biểu diễn rối), cách thức tạo hình con rối nước qua việc mô tả khá chi tiết về chất liệu chế tác, kích thước, cách thức tạo tác, tô vẽ màu sắc phục trang
Gần đây, tác giả Nguyễn Thành Nhân(2003) Mỹ học rối nước, trong bài viết
của mình một lần nữa lại đồng ý kiến cho rằng rối là sản phẩm sáng tạo của nghệ nhân Việt Nam, là sự kết hợp nhuần nhuyễn của các nghề thủ công và là món ăn tinh thần gắn bó với người nông dân chất phác Theo tác giả, sự lôi cuốn hấp dẫn của rối nước từ nghìn năm qua cho đến nay vẫn được bảo lưu, đó là sự không hoà tan văn hoá trong âm mưu đồng hoá của kẻ xâm lược, là triết lý sống gắn bó trọn vẹn muôn đời với thiên nhiên của người dân Việt Cuối cùng đó chính là sức hút của chính bản thân nghệ thuật múa rối trong việc sáng tạo ra sự lạ mắt gây nên sự bất ngờ thú vị khó lý giải cho người xem Nét đẹp lạ lùng của nghệ thuật này cần được bảo lưu, gìn giữ và phát triển hơn nữa
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến một phần quan trọng khác của múa rối nước, đó là tiết mục biểu diễn, hay ta có thể gọi đó là tiết trò Một trong những tác nhân làm tăng thêm sức hấp dẫn của nghệ thuật này chính là sự đóng góp của văn học
Trên Tạp chí Văn học, tác giả Trần Vượng(1987) Văn học và múa rối đã
nhấn mạnh vai trò của văn học trong việc xây dựng các kịch bản rối Nghệ thuật múa rối muốn thành công phải có những tác phẩm kịch bản rối Nghệ thuật múa rối muốn thành công phải có những tác phẩm kịch bản phản ánh được cuộc sống và khát vọng của con người Các tiết mục diễn phải đảm bảo được “cái lạ cái huyền ảo” trong cốt truyện, tạo nên sức hút cho người xem Tác giả rút ra kết luận, nghệ thuật múa rối trên Thế giới nói chung và nghệ thuật múa rối ở Việt Nam nói riêng, phải biết tận dụng được các kho tàng truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện truyền
kỳ, các truyền thuyết và huyền thoại lịch sử, truyện ngụ ngôn, truyền loài vật, truyện cười dân gian sẽ hứa hẹn những thành công cho các kịch bản rối Đây quả
là một điều đáng ghi nhận