Ngoài ra, các cuộc hội thảo khoa học tiêu biểu có nhiều tham luận liênquan đế đề tài luận án như: hội thảo “Nhạc sĩ Cao Văn Lầu” năm 1989, “90 năm– Bản Dạ cổ hoài lang”, “Nghệ thuật âm n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV -
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV
Người hướng dẫn khoa học 1.TS TÀO VĂN ÂN 2.TS TRẦN LONG
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
- Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
- Thư viện Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vọng cổ nhịp 32 là một thể loại hay còn gọi là thể điệu hoặc bài bản trongdòng âm nhạc truyền thống Nam Bộ Đó là một bài ca quen thuộc dễ ca, dễ nhớtrong ca nhạc dân gian Nam Bộ Nó có vai trò và vị trí quan trọng trongĐCTTNB và nghệ thuật Cải lương, mà hai loại hình này thuộc trong lĩnh vựcvăn hóa nghệ thuật truyền thống Nam Bộ nói riêng và nghệ thuật dân tộc nóichung Bởi lẽ, Vọng cổ nhịp 32 từ khi hình thành và phát triển có những đónggóp đáng kể vào đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng cũng như nghệ thuật
Nam, của Trần Văn Khải (1970), NXB Khai Trí, Sài Gòn Các công trình, dù
chỉ ít đề cập đến Vọng cổ nhịp 32, nhưng có những chất liệu đáng quan tâm Sau năm 1975, những công trình ít nhiều có liên quan đến đề tài luận án
như: Tìm hiểu âm nhạc Cải lương của Đắc Nhẫn (1987), NXB Văn nghệ, TP HCM Công trình Nhạc Tài tử - Nhạc sân khấu Cải lương của Trương Bỉnh Tòng (1996), NXB Sân khấu, TP HCM Công trình Sân khấu Cải lương Nam
Bộ của Đỗ Dũng (2003), NXB Trẻ, TP HCM Công trình Tác giả cổ nhạc Bạc Liêu của Trần Phước Thuận (2007), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội… Trọng
tâm những công trình nêu này là nghiên cứu về ĐCTTNB và Cải lương, tuy có
Trang 4phần đề cập đến Vọng cổ nhịp 32, với góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau,nhưng đó là những chất liệu có liên quan đến luận án này
Ngoài ra, các cuộc hội thảo khoa học tiêu biểu có nhiều tham luận liênquan đế đề tài luận án như: hội thảo “Nhạc sĩ Cao Văn Lầu” năm 1989, “90 năm– Bản Dạ cổ hoài lang”, “Nghệ thuật âm nhạc phương Đông – Bản sắc và giátrị” năm 2014, “Văn hóa Cải lương Nam Bộ” năm 2016… Mặc dù đề tài, góc độ
và phạm vi nghiên cứu của các công trình và tham luận có khác nhau, nhưng ítnhiều đều có liên quan đến Vọng cổ nhịp 32
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu vai trò và vị trí của Vọng cổ nhịp 32trong văn hóa Nam Bộ, được giới hạn trên một số lĩnh vực Nhiệm vụ nghiêncứu các vấn đề như: tìm hiểu những tiền đề, sự ra đời và các giai đoạn phát triểncủa Vọng cổ nhịp 32, những đóng góp của Vọng cổ nhịp 32 trong trong lý luận
và thực tiễn, từ đó đề xuất phương hướng về bảo tồn và phát triển Vọng cổ nhịp
32 trong thời đại mới theo xu hướng phát triển chung của văn hóa dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “Vọng cổ nhịp 32 trong văn hóa NamBộ” Luận án miêu tả và phân tích các thành tố cấu trúc và chức năng của Vọng
cổ nhịp 32 và những đóng góp của nó trong văn hóa Nam Bộ nói chung… Phạm
vi nghiên cứu của đề tài về không gian là vùng văn hóa Nam Bộ, thời gian vănhóa là từ năm 1941 cho đến nay, chủ thể văn hóa điển hình là người Việt NamBộ
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
Câu hỏi nghiên cứu: “Vọng cổ nhịp 32 có vai trò, vị trí, đặc trưng và giá trịnhư thế nào trong nhiều sinh hoạt văn hóa cộng đồng; và trong tiến trình củanghệ thuật âm nhạc, sân khấu truyền thống Nam Bộ? Nó đã có đóng góp những
gì về mặt lý luận và thực tiễn trong từng lĩnh vực cụ thể? Giả thuyết nghiên
Trang 5cứu: “Nếu Vọng cổ nhịp 32 có vai trò, vị trí, đặc trưng và giá trị trong nhiềusinh hoạt văn hóa cộng đồng; và trong tiến trình của nghệ thuật âm nhạc, sânkhấu truyền thống Nam Bộ; thì nó đã có đóng góp những đáng kể về mặt lý luận
và thực tiễn trong từng lĩnh vực cụ thể… Khung phân tích những vấn đề củaVọng cổ nhịp 32 trong nghệ thuật truyền thống Nam Bộ, góp phần bổ sung về lýluận cho loại hình Về thực tiễn, những đóng góp của Vọng cổ nhịp 32 trongnhiều sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tập thể và cá nhân ở Nam Bộ
6 Phương pháp và nguồn dữ liệu nghiên cứu
Ngoài việc luận án vận dụng các cơ sở lý thuyết văn hóa, cơ sở lý thuyếtdân tộc học âm nhạc, các phương pháp nghiên cứu trong văn hóa học; nhữngphương pháp cơ bản nghiên cứu trong luận án là phương pháp hệ thống – cấutrúc, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh, phương phápđịnh tính, thao tác tiếp cận liên ngành… Nguồn dữ liệu nghiên cứu là những bàiVọng cổ nhịp 32 và trích đoạn Cải lương tiêu biểu của các tác giả nổi tiếng quanhiều thời kỳ
7 Đóng góp của luận án
Từ kết quả nghiên cứu, hệ thống những lý thuyết bổ sung cho phần lý luận.Giới thiệu những thành tựu đóng góp của Vọng cổ nhịp 32 trong những lĩnh vựcsinh hoạt văn hóa Nam Bộ, góp phần tôn vinh những thành tựu sáng tạo và đónggóp của các thế hệ tác giả, nhạc sĩ, ca sĩ đối với Vọng cổ nhịp 32 về mặt thựctiễn…
8 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận
án được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Cấu trúc và chức năng của Vọng cổ nhịp 32 trong nghệ thuật
truyền thống Nam Bộ
Chương 3: Những đóng góp của Vọng cổ nhịp 32 và xu hướng phát triển
trong văn hóa Nam Bộ
Trang 6Chương 1
CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số khái niệm và định nghĩa văn hóa
Theo Trần Quốc Vượng (2006):
Ở phương Đông, có lẽ Lưu Hướng (năm 77-76 tr CN) là người sử dụng từ
“văn hóa” sớm nhất, trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ “văn” và “hóa” để xem
dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ Thời Tây Hán, “văn hóa”với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa Vănhóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực… (tr 17-18)
Ở phương Tây thế kỷ XX, khái niệm “văn hóa” thay đổi theo F Boas, ýnghĩa văn hóa được qui định do khung giải thích riêng chứ không phải bắtnguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”… (Chris Barker, 2011, tr 317)
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo vàphát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vănhọc, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các
Trang 7phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vănhóa”(1).
E B Tylor (1871), theo ông:
Văn hóa hay văn minh là toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng,nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục… và bất kỳ những khả năng và tậpquán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội(dẫn theo Trần Quốc Vượng, 2006, tr 18)
Tác giả Đào Duy Anh (1938, 1992) định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa tức
là sinh hoạt” Tác giả lý giải: “Văn hóa đã là sinh hoạt thì không kể là dân tộcvăn minh hay dã man đều có văn hóa riêng của mình…” (tr 13)
Tác giả Trần Ngọc Thêm trong (1997, 2014a) như sau:
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữacon người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (tr 56)
1.1.2 Lý thuyết nghiên cứu đề tài luận án
- Văn hóa dân gian
Tác giả Đoàn Văn Chúc (2004) giải thích:
Theo nghĩa từ, “dân” là những người trong một cộng đồng xã hội, “gian” làkhoảng, khu vực, vậy trong cụm từ “văn hóa dân gian”, ta có thể hiểu “dângian” là một danh từ làm chức năng định ngữ, hay cũng có thể là tính ngữ.Trong cả hai trường hợp, “văn hóa dân gian” đều có nghĩa là những tác phẩm
văn hóa do bình dân sáng tạo… (tr 29)
- Văn hóa đại chúng
Văn hóa đại chúng (văn hóa phổ thông) là tổng thể các ý tưởng, quan niệm,thái độ, hành vi lan truyền, hình ảnh và các hiện tượng khác; những gì chorằng có sự đồng tình một cách phổ biến nhưng không tuân theo một thủ tụcquy định của một nền tư tưởng văn hóa nhất định
11 Hồ Chí Minh Toàn tập, in lần 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr 431.
Trang 8the-ki-20.htm)
(https://text.123doc.org/document/4146708-thuyet-trinh-van-hoa-dai-chung Vùng văn hóa Nam Bộ
Theo tác giả Ngô Đức Thịnh (2004):
Nam Bộ là nơi sinh sống xen cài giữa các cộng đồng người Việt, Khmer,Chăm và Hoa, nên nơi đây cũng đã và đang diễn ra quá trình giao lưu, ảnhhưởng văn hóa khá sống động giữa các tộc nói trên, từ đó nẩy nở những yếu
tố, những giá trị văn hóa chung, thể hiện trong đời sống văn hóa vật chất vàtinh thần, như nhà cửa, ăn mặc, đi lại, trong đời sống tôn giáo, vui chơi giảitrí, sinh hoạt nghệ thuật… (tr 111)
- Sinh hoạt văn hóa
Theo tác giả Nguyễn Kim Thản (2005): “Sinh hoạt là những hoạt độnghàng ngày của một người hay cộng đồng người, của một tổ chức (sinh hoạt vấtchất và tinh thần) nói chung” (tr 1022) Như vậy, sinh hoạt văn hóa là nhữnghoạt động hàng ngày, định kỳ hay bất kỳ trường hợp nào mà một người, một tổ
chức, một cộng đồng đối với đời sống vật chất và tinh thần của họ đều là sinh
hoạt văn hóa
- Hệ thống cấu trúc
Lévi-Strauss phân biệt rõ ràng khái niệm hệ thống với khái niệm cấu trúc gắnliền với khái niệm biến đổi Nếu hệ thống là một tổng thể gồm các yếu tố cóvới nhau một số quan hệ, thì trái lại cấu trúc - chỉ được phát hiện nhờ lý luận
- là một cấu hình (configuration) của các quan hệ giữa các yếu tố nằm bêntrong hệ thống: cấu hình này có thể biến đổi tùy theo một số lượng hạn chếcác khả năng logic…
(Tạp chí Sông Hương, 2009; Nguyễn Thị Thu Hiền, 2016)
Trần Ngọc Thêm (2014a, 2016) cho rằng:
Hệ thống có thể hiểu một cách đơn giản là thể thống nhất của tập hợp các
yếu tố cấu thành (thành tố) và mạng lưới các quan hệ giữa chúng (cấu trúc).
Trang 9Trong lý thuyết này, đáng chú ý là hai bộ phận của hệ thống là tập hợp cácthành tố và cấu trúc của nó không có ranh giới rạch ròi: trong thành tố có dấu
vết của cấu trúc, trong cấu trúc lại có dấu vết của thành tố… (tr 81-82; tr.
124-125)
- Lý thuyết chức năng và chức năng văn hóa
+ Lý thuyết chức năng
Quan điểm chính của Spencer là ông phát triển cái gọi là chức năng luận
“yêu cầu” (requisite): “Để thích nghi với môi trường (tự nhiên, xã hội), cơthể đều phải có nhu cầu hay đòi hỏi (requisite) phổ quát cơ bản để được thỏamãn”
Còn quan điểm chính của Durkheim:
Xã hội là một tổng thể, khác biệt với các bộ phận hợp thành, và không thểquy giản về các bộ phận hợp thành Nên phân tích các thành tố bộ phận làxem xét chúng hoàn thành các chức năng, nhu cầu, đòi hỏi cơ bản của cáitoàn thể như thế nào (Chức năng văn hóa, n.d.)
+ Chức năng văn hóa
Tác giả Trần Ngọc Thêm (2014a), khái niệm: Chức năng tổ chức (tính hệ
thống), văn hóa là một khái niệm mang tính hệ thống Chức năng điều chỉnh, đem lại niềm vui hạnh phúc cho con người (tính giá trị), trong cuộc sống, con
người vừa tự biến đổi nhu cầu của mình và cách ứng xử để thích nghi với môitrường tự nhiên và xã hội, đó là chức năng điều chỉnh của văn hóa…Nhờ có
chức năng điều chỉnh, văn hóa trở thành mục tiêu và động lực của sự phát
triển trong xã hội loài người Chức năng giáo dục (tính lịch sử), Nhờ văn hóa,
thông tin được mã hóa bằng những hệ thống ký hiệu tạo thành những sản phẩmnằm ngoài cá nhân con người, do vậy mà nó được khách quan hóa, được tíchluỹ, được nhân bản và tăng lên nhanh chóng từ thế hệ này sang thế hệ khác…
Truyền thống văn hóa, cơ sở tính lịch sử của nó chính là chức năng giáo dục của
văn hóa Chức năng giao tiếp (tính nhân sinh), Một trong những đặc điểm khu
biệt con người với động vật là ở sự hợp quần thành xã hội, mà xã hội không thể
Trang 10hình thành và tồn tại được nếu thiếu sự giao tiếp… Tính nhân sinh là cơ sở cho
chức năng giao tiếp của văn hóa (tr 59, 60)
- Nghệ thuật truyền thống Nam Bộ
Theo Nguyễn Kim Thản (2005): “Nghệ thuật là hình thái ý thức đặc biệt,dùng các hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực vàtruyền đạt tư tưởng, tình cảm; phương pháp, phương thức sáng tạo” (tr 817) Theo tác giả Đình Quang (2004):
Truyền thống chỉ đơn giản là những thói quen có lâu đời được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác trong một khoảng thời gian dài tạo thành bản sắcriêng của một gia đình, một dân tộc, hay là rộng lớn hơn là cả một quốc gia,một khu vực (tr 232)
- Nhạc Tài tử và Đờn ca Tài tử Nam Bộ
Tác giả Đỗ Quốc Dũng & Võ Thị Yến (2016) cho rằng:
“Nhạc Tài tử (nhạc và lời) là tên gọi của một dòng nhạc sinh ra ở Nam Bộ,Đờn ca Tài tử là hình thức diễn tấu – diễn xướng của dòng nhạc Tài tử, tức
có người ca và người đờn để thực hiện một tiết mục nào đó của nhạc Tài tử (tr 19)
- Nghệ thuật Cải lương
Nghệ thuật Cải lương là một loại hình ca kịch truyền thống của Nam Bộ,
nó tổng hợp nhiều bộ môn nghệ thuật như văn thơ (kịch bản văn học), biểu diễn(đạo diễn, diễn viên), âm nhạc (nhạc công, nhạc sĩ, nhạc Tài tử, tân nhạc –phương Tây), hội họa, múa, kỹ thuật (thiết kế sân khấu, âm thanh, ánh sáng) Nhưng vai trò chủ đạo vẫn lấy nhạc Tài tử Nam Bộ làm nền tảng và Vọng cổnhịp 32 được xem là “linh hồn” của các vở diễn…
- Vọng cổ nhịp 32
Vọng cổ nhịp 32 là một thể điệu (bài bản) thuộc hai hệ thống âm nhạc Tài
tử và Cải lương, nên nó có hai chức năng trong ca nhạc và ca kịch truyền thống
Trang 11Nam Bộ Nó có cấu trúc mở và chức năng rộng, thuộc hơi điệu Bắc – Oán, nhịpthức 32 (mỗi câu 32 nhịp) và có nguồn gốc từ bản Dạ cổ hoài lang
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Định vị tọa độ “K-T-C” trong văn hóa Nam Bộ
1.2.1.1 Không gian văn hóa
Theo nhiều tài liệu của Ngô Đức Thịnh (1993, 2004), Nguyễn Hữu Hiếu(2010), Lý Tùng Hiếu (2012), Trần Ngọc Thêm (2014b)… Không gian văn hóaNam Bộ có 19 tỉnh thành, được chia thành ba tiểu vùng văn hóa: Đông Nam Bộ,Tây Nam Bộ và Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh Đông Nam Bộ gồm cáctỉnh: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu TâyNam Bộ còn gọi vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm các tỉnh: Long An, TiềnGiang, Bến Tre, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Thành phố CầnThơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau Sài Gòn –Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố lớn được xem là trung tâm chính trị,kinh tế và văn hóa của Nam Bộ
1.2.1.2 Thời gian văn hóa
Theo Huỳnh Công Bá (2008), Nguyễn Hữu Hiếu (2010), Nam Bộ địnhhình tương đối rõ nét vào cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII Khi chúaNguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý lập dinh, trấn, bổ nhiệm quanlại năm 1698 là mốc quan trọng của thời kỳ đầu trong lịch sử Nam Bộ
Theo Trần Ngọc Thêm (2014b), Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ,
nếu không kể đến thời kỳ văn hóa tiền Việt chứa đựng những dấu tích của lớp
văn hóa Phù Nam – Chân Lạp thì có thể chia thành ba giai đoạn: giai đoạn hình
thành văn hóa (khoảng từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX), giai đoạn phát triển văn hóa (khoảng giữa thế kỷ XIX đến thập niên 1970 của thế kỷ XX), giai đoạn hội nhập toàn diện (khoảng giữa thập niên 1970 của thế kỷ XX đến nay).
(tr 93-94)
Trang 121.2.1.3 Chủ thể văn hóa
Từ bối cảnh của thời vua Lê Uy Mục (1508 – 1509), Lê Tương Dực (1510– 1516) có nhiều cuộc nông dân nổi dậy, vì bị sự đàn áp của triều đình và địachủ phong kiến, nên nhiều cư dân Việt từ miền Bắc, miền Trung phải xa xứ, tìmvùng đất mới Họ dùng thuyền vượt biển đến mũi Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên (Trịnh Hoài Đức, tái bản 1998)
Sau đó, các cuộc di dân với nhiều thành phần lần lượt vào Nam Bộ vớinhiều tộc người đến đây khai phá vùng đất mới Tuy nhiên, người Việt vẫn làchủ thể chính của vùng văn hóa Nam Bộ
1.2.2 Tiến trình hình thành và phát triển của Vọng cổ các loại nhịp
Thể điệu Dạ cổ hoài lang (nhạc và lời) của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, ra đờivào năm 1919, tại Bạc Liêu Sau đó, nhạc sĩ – soạn giả Trịnh Thiên Tư sáng tạo
từ nhịp 2 sang nhịp 4 (mỗi câu 4 nhịp), khoảng năm 1923 Năm Giáp Tuất(1934), nghệ sĩ Năm Nghĩa chuyển bản nhạc từ nhịp 4 sang nhịp 8 và sáng tác
nhạc cả ca từ (mỗi câu 8 nhịp), có tên là Văng vẳng tiếng chuông chùa Trong
những năm 1936 – 1939, nhạc sĩ Trần Tấn Trung (tức soạn giả Mộng Vân)
chuyển từ nhịp 8 lên nhịp 16 (mỗi câu có 16 nhịp), và bài Tôn Tẫn giả điên là
một trong những bài đầu tiên của loại nhịp này Nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (NămNhỏ) năm 1940 sáng tác Vọng cổ nhịp 32 và chính thức công bố trong giới Tài
tử Bạc Liệu năm 1941
Tiểu kết
Về cơ sở lý luận gồm các khái niệm và định nghĩa về văn hóa, lý thuyếtnghiên cứu đề tài luận án Về cơ sở thực tiễn, chương mục khảo sát tiến trìnhhình thành và phát triển của Vọng cổ nhịp 32 và nó định vị trong tọa độ “K-T-C” Các giai đoạn phát triển của Vọng cổ các loại nhịp, từ nguồn gốc và quy luậtphát triển của chúng đều gắn liền mật thiết với quy luật phát triển văn hóa trênvùng đất mới Nam Bộ trong không gian, thời gian và chủ thể văn hóa Đó là cơ
sở thực tiễn của luận án để ứng dụng vào nghiên cứu các chương sau
Trang 13hệ thống âm nhạc Tài tử và âm nhạc Cải lương Nam Bộ…
Trang 14Bố cục theo thể điệu Vọng cổ nhịp 32 có hai thể loại: Tân cổ giao duyên
và Vọng cổ hài Tân cổ giao duyên (có thể 4 hoặc 5 câu), loại Vọng cổ hài (cóthể 4, 5 hoặc 6 câu, nhưng sắc thái âm nhạc vui tươi, tính chất hài hước)…
2.1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của Vọng cổ nhịp 32
- Đặc điểm giai điệu
Mỗi thể điệu đều có một âm mở đầu, đó là âm giai và âm hưởng này được
lặp lại nhiều lần trong bản nhạc, đó là giai điệu Vọng cổ nhịp 32 là một thể điệu
thuộc hơi điệu “Bắc – Oán”, nhưng mỗi tác phẩm giai điệu có thể khác nhau là
do hình thức cấu trúc
- Đặc điểm ca từ
Về văn học, Vọng cổ nhịp 32 được xác định là một tác phẩm nghệ thuật
thanh nhạc, văn bản của nó là một chỉnh thể văn học, gồm đầy đủ những thànhtố: nội dung tư tưởng, hình thức kết cấu, đề tài, chủ đề, cốt truyện và nhân vật,ngôn từ, âm nhạc được biểu hiện qua ca từ
- Đặc điểm truyền khẩu