1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự

78 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu Thập Chứng Cứ Của Luật Sư Trong Tố Tụng Dân Sự Và Thực Tiễn Thực Hiện Tại Tỉnh Lạng Sơn
Tác giả Đặng Minh Chiến, Hoàng Thị Thu Huyền, Cao Thị Ngọc Hà, Phạm Hữu Quốc, Hoàng Văn Hướng, Vũ Gia Trưởng
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hà, TS. Nguyễn Triều Dương
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Thành phố Lạng Sơn
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 95,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư là hoạt động thể hiện trí tuệ, khoa học, lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong hoạt động tố tụng dân sự. Do vậy, pháp luật tố tụng dân sự của nước ta ghi nhận đây là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong quá trình tham gia tố tụng nói chung và tố tụng hình sự nói riêng. Việc thu thập chứng cứ của Luật sư đóng vai trò quan trọng, trực tiếp trong quá trình làm sáng tỏ các tính tiết khách quan của vụ việc dân sự. Kết quả thu thập chứng cứ cũng là một trong những nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án. Thực tế, hiện nay việc Tòa án đánh giá chứng cứ ngày càng phải khách quan hơn, thận trọng hơn khi thực thi nhiệm vụ. Chỉ khi làm được như vậy, thì tính giáo dục, thuyết phục và đặc biệt là tính nhân văn trong pháp luật hình sự của nhà nước ta mới phát huy được tác dụng, công lý mới được đảm bảo, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mới được pháp luật bảo vệ, loại trừ hiện tượng oan, sai người vô tội cũng như tránh bỏ lọt tội phạm, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong công cuộc cách mạng đổi mới 4.0 hiện nay, Đảng và Nhà nước đã

và đang thực hiện chủ trưởng cải cách nền tư pháp Trong đó, vai trò của Luật sưtrong hoạt động tố tụng dân sự là một những nội dung quan trọng được quan tâmđổi mới, nâng cao

Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư là hoạt động thể hiện trí tuệ,khoa học, lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng nhằmđảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong hoạt động tố tụng dân

sự Do vậy, pháp luật tố tụng dân sự của nước ta ghi nhận đây là quyền đồngthời cũng là nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong quá trình tham gia tố tụngnói chung và tố tụng hình sự nói riêng Việc thu thập chứng cứ của Luật sư đóngvai trò quan trọng, trực tiếp trong quá trình làm sáng tỏ các tính tiết khách quancủa vụ việc dân sự Kết quả thu thập chứng cứ cũng là một trong những nộidung ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án

Thực tế, hiện nay việc Tòa án đánh giá chứng cứ ngày càng phải kháchquan hơn, thận trọng hơn khi thực thi nhiệm vụ Chỉ khi làm được như vậy, thìtính giáo dục, thuyết phục và đặc biệt là tính nhân văn trong pháp luật hình sựcủa nhà nước ta mới phát huy được tác dụng, công lý mới được đảm bảo, cácquyền và lợi ích hợp pháp của công dân mới được pháp luật bảo vệ, loại trừ hiệntượng oan, sai người vô tội cũng như tránh bỏ lọt tội phạm, góp phần đấu tranhphòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, bảo vệ pháp chế xã hộichủ nghĩa

Tuy nhiên, qua thực tế nhận thấy hiện nay việc thu thập chứng cứ củaLuật sư trong hoạt động tố tụng dân sự còn nhiều những khó khăn, vướng mắccũng như hạn chế, tồn tại Cơ sở để thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ là cácquy định pháp luật hiện hành về thu thập chứng cứ của Luật sư còn nhiều bấtcập, hạn chế, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn, việc nghiên cứu cácquy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng

Trang 3

dân sự, đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệuquả thu thập chứng cứ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng Vì vậy, học viên

lựa chọn đề tài “Thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài Luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đếnhoạt động thu thập chứng cứ nói chung và thu thập chứng cứ của luật sư trong tốtụng dân sự nói riêng, như: Hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong tốtụng dân sự - luận văn thạc sĩ luật học/Đặng Minh Chiến, TS Lê Thị Hà hướngdẫn; Hoạt động thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Luật sư trong tốtụng dân sự - luận văn thạc sĩ Luật học/Hoàng Thị Thu Huyền, TS NguyễnTriều Dương hướng dẫn; Bàn về quyền thu thập chứng cứ của luật sư trong Tốtụng hình sự / Cao Thị Ngọc Hà // Nghề Luật Số 5/2015, tr 30 – 32; Bảo đảmquyền thu thập chứng cứ của Luật sư - giải pháp quan trọng bảo đảm quyền conngười / Phạm Hữu Quốc // Kiểm sát 2018 - Số 22, tr 38-46; Một số giải phápnâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thu thập, sử dụng chứng cứ của luật sưbào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 / Hoàng VănHướng // Nghề Luật Số 5/2017, tr 26 – 31; Vai trò của luật sư trong việc thuthập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự (tiếp số 03/2010)/ VũGia Trưởng // Nghề Luật Số 5/2010, tr 32 – 37; Vai trò của luật sư trong việcthu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự / Vũ Gia Trưởng //Nghề Luật Số tr 39 - 41

Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về thu thậpchứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh LạngSơn Các công trình nghiên cứu trên đây chỉ nghiên cứu, đề cập đến một sốkhía cạnh liên quan đến lý luận về quyền, hoạt động thu thập, phân tích, nghiêncứu chứng cứ của luật sư trong vụ án dân sự mà chưa có công trình nào nghiêncứu đầy đủ, toàn diện và có tính thực tiễn về thu thập chứng cứ của luật sưtrong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn, do đó mục tiêu,đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn không trùng lặp với các công

Trang 4

3 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu

Luận văn sẽ làm rõ những lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của luật

sư trong tố tụng dân sự; thông qua việc nghiên cứu thực tế, luận văn đưa ranhững giải pháp để hoàn thiện pháp luật và một số biện pháp nâng cao hiệu quảhơn hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự trong quá trìnhthực hiện

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu về lýluận, thực trạng quy định pháp luật về thu thập chứng cứ của luật sư trong tốtụng dân sự và thực tiễn áp dụng áp dụng quy định về thu thập chứng cứ củaluật sư trong tố tụng dân sự tại tỉnh Lạng Sơn

- Về phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tác giả tập trung nghiên cứu các quyđịnh pháp luật liên quan đến thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sựtrong Bộ luật TTDS năm 2015; đồng thời nghiên cứu thực tiễn hoạt động thuthập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (từnăm 2016 đến tháng 12/2019) để phân tích, làm rõ và đạt được mục đích nghiêncứu, đưa ra đề xuất, kiến nghị

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã dựa trên cơ sở phương pháp luật của chủ nghĩa Mác – Lêninvới phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong mối tương quan với tình

Trang 5

hính kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Trong quá trình nghiên cứu, tìmhiểu, luận văn còn dựa trên cơ sở của tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủtrương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp như:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tác giả sử dụng phương pháp phântích để phân tích các quy định về thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân

sự để chỉ rõ, giải thích về nội dung của các quy định đó Đồng thời, tác giả sửdụng phương pháp tổng hợp nhằm tổng hợp, kế thừa lại những kết quả của cáccông trình nghiên cứu liên quan từ trước đến nay trên cơ sở sự kế thừa có chọnlọc Trên cơ sở các phân tích, bình luận để thể hiện góc nhìn mới, trực diện vấn

đề về nội dung nghiên cứu theo pháp luật hiện hành

- Phương pháp so sánh: Đề tài thực hiện việc so sánh các quy định phápluật hiện hành với các quy định từ thời trước đây, đồng thời so sánh các với quanđiểm của một số tác giả để phân tích, đưa ra quan điểm của tác giả về vấn đềnghiên cứu

Và các phương pháp khác nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của Luận văn gồm hai chương:Chương 1: Một số vấn đề chung về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật

sư trong tố tụng dân sự

Chương 2: Thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sưtrong tố tụng dân sự tại tỉnh Lạng Sơn và kiến nghị

Trang 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỌAT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố

Trước khi tìm hiểu về khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư

trong tố tụng dân sự, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm “chứng cứ”, “thu thập chứng cứ” là gì? Theo đó, về khái niệm “chứng cứ”, Luật tố tụng dân sự Nhật Bản định nghĩa: “Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được tòa

án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó tòa án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay không?” hoặc theo điều 401 Luật chứng cứ của Mỹ định nghĩa “Chứng cứ là những gì mà hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó ảnh hưởng tới việc xác định được một hành động hơn hoặc kém hơn”

Trong Luật TTDS 2015 quy định: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn

cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”

Về khái niệm “thu thập chứng cứ”, có một vài quan điểm đưa ra khái

niệm về thu thập chứng cứ như sau:

Theo tác giả Tưởng Duy Lượng, thu thập chứng cứ là một hành vi tố tụngcủa Tòa án, Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do đương

sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hoặc do chính Tòa án trực tiếp sử dụngcác biện pháp để thu thập [Tưởng Duy Lượng (2005), Chứng cứ và chứng minh

Trang 7

- Sự thay đổi nhận thức trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Đặc san NghềLuật, Hà Nội, tr.12]

Theo tác giả Nguyễn Công Bình, (1997), Giáo trình Luật tố tụng dân sựViệt Nam của Trường Đại học Luật Hà nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,tr.164 đưa ra khái niệm thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ,tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giảiquyết vụ việc dân sự

Theo tác giả Nguyễn Minh Hằng cho rằng hoạt động thu thập chứng cứđược hiểu là hoạt động tố tụng dân sự của các chủ thể chứng minh trong việcphát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ bằng các phương pháp, biệnpháp theo một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định [NguyễnMinh Hằng, (2007), Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luật

án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.64]

Như vậy, qua việc tìm hiểu về khái niệm thu thập chứng cứ của một số tácgiả cho thấy rằng: Nhìn chung hoạt động thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụngdân sự, người thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ gồm đương sự, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Việt kiểm sát, Tòa án và các cơquan, tổ chức có liên quan có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ trong vụ ándân sự Tuy nhiên, theo tác giả, các quan điểm trên chưa thể hiện được đầy đủ vàtoàn diện về bản chất của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụngdân sự cũng như về quy trình, thủ tục và cách thức thực hiện hoạt động thu thậpchứng cứ của Luật sư trên thực tế chưa được pháp luật quy định cụ thể Do đó,trên thực tế, Luật sư thường chủ động thực hiện hoạt động này để chủ độngnghiên cứu, đánh giá chứng cứ nhằm bảo về quyền lợi cho đương sự

Từ những phân tích trên và sự am hiểu qua quá trình công tác thực tiễn,

tác giả cho rằng: “Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư là một hoạt động trong quá trình tố tụng dân sự của Luật sư nhằm mục đích tìm kiếm, thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án dân sự theo trình tự, thủ nhất mà pháp luật quy định, làm cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự Ngoài ra việc thu thập chứng cứ của Luật sư là căn cứ để yêu cầu, phản đối

Trang 8

yêu cầu của đương sự khác hoặc bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật”

1.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự

Từ khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân

sự nêu trên, có thể tóm lược hoạt động này có các đặc điểm sau đây:

Một là, hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự là

quá trình diễn ra trong suốt vụ án dân sự

Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự được bắtđầu thực hiện khi có quyết định thụ lý đơn khởi kiện cho đến khi tòa án ra phánquyết Ngay từ khi Tòa án thụ lý yêu cầu của đương sự, thông qua việc Luật sư

tư vấn, hướng dẫn cho đương sự soạn đơn khởi kiện, sau đó việc nguyên đơnchứng minh cho yêu cầu của mình thông qua đơn khởi kiện, bị đơn chứng minhthông qua việc bác yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có) và cáchoạt động khác liên quan trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự

Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự là việc táihiện lại sự việc khách quan của vụ án thông qua việc thu thập và sử dụng chứng

cứ của Luật sư Và hoạt động này được xếp vào các yếu tố khách quan của vụ

án Bản chất của quá trình thu thập chứng cứ của Luật sư là việc thu thập các tàiliệu, minh chứng liên quan đến vụ án dân sự để làm cơ sở pháp lý đưa ra nhữngbiện pháp xử lý phù hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự

Hai là, thu thập chứng chứ của Luật sư góp phần đảm bảo tranh tụng

cứ và kết quả của họat động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ sẽ phát sinh nhữngnhận thức từ vụ án dân sự, nhận thức này có đúng đắn, khách quan và toàn diện

Trang 9

hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ

và đúng hay không Bốn giai đoạn này kéo dài, nối tiếp và đan xen nhau, khôngthể tách bạch cơ học từ thời điểm nào đến thời điểm nào là giai đoạn cung cấp,thu thập, nghiên cứu hay đánh giá chứng cứ Nhưng có thể nhận thấy rằngnhững giai đoạn này kéo dài suyên suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự, nó chỉkết thúc khi tòa án ra phán quyết

Trước đây, theo Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định việc cung cấpchứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự:

“1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

2 Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”.

Tại Điều 81, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định “Chứng cứ trong

vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục

do bộ luật này quy định mà tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có căn cứ hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định việc cung cấp chứng cứ

và chứng minh trong tố tụng dân sự như sau:

“1 Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng

cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

Trang 10

2 Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ

và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”.

Như vậy, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã kế thừa các nội dung quyđịnh về việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong vụ án dân sự năm 2004.Ngoài ra, tại Khoản 2 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã quy định cụ thể về tráchnhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ của Tòa án Đây là cơ sởpháp lý quan trọng giúp Luật sư trong quá trình thu thập chứng cứ nhằm gópphần đạt kết quả cao trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự

Bên cạnh đó, tại Khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyđịnh về quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trong

đó có quyền“Thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu

hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ

vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này” Theo quy định

này, pháp luật hiện hành đã ghi nhận quyền thu thập chứng cứ của Luật sư khitham gia tố tụng dân sự với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự Việc ghi nhận hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư là mộtbiện pháp bảo đảm tranh tụng trong xét xử Luật sư đang từng bước khẳng địnhđược vai trò trong hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của minh đối vớiđương sự

Ba là, hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư được tiến hành một cách

độc lập, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Luật sư tham gia với vai trò làngười tham gia tố tụng Khi thực hiện các hoạt động thu thập chứng cứ, chứngminh trong tố tụng dân sự của mình, Luật sư được pháp luật đảm bảo tính độclập của Luật sư

Theo quy định hiện hành, để trở thành Luật sư, một cá nhân có thể mấtmột thời ít nhất trên 6 năm hoặc dài hơn vì phải hoàn thành các khóa học khác

Trang 11

nhau Các điều kiện cơ bản để trở thành Luật sư, gồm: Có bằng cử nhân Luật,bằng tốt nghiệp chương trình đào tạo Luật sư, trải qua thời gian tập sự tại Tổchức hành nghề Luật sư, trải qua kỳ kiểm tra khi hết tập sự hành nghề Luật sư,cấp chứng chỉ và gia nhập đoàn Luật sư, cấp thẻ hành nghề Luật sư, v.v

1.1.2 Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự

Thứ nhất, hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư là tiền đề cho việc giải

quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ việc dân sự

Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ của Luật sư chính là quá trình xâydựng hồ sơ vụ án dân sự Vì vậy, hồ sơ vụ án dân sự là yếu tố có ý nghĩa hết sứcquan trọng trong giải quyết vụ án dân sự Việc Luật sư thu thập chứng nhanhchóng, đầy đủ và chính xác sẽ góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp chođương sự được thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời Về mặt lý luận, Tòa

án là cơ quan có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ

án Việc xác định và thu thập chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diệnhay không phụ thuộc vào việc đương sự và Luật sư có thu thập, cung cấp đầy

đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không

Do vậy, việc ghi nhận quyền thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụngdân sự sẽ góp phần giảm các vụ án bị giải quyết thiếu khách quan do việc thuthập, đánh giá chứng cứ chỉ từ một phái là Tòa án Thực tế cho thấy, trongnhững năm gần đây tỷ lệ vụ án dân sự bị hủy khi có sự tham gia của Luật sưngày càng tăng Để giải quyết vụ án đúng đắn thì Tòa án phải xác định xemtrong vụ việc dân sự phải chứng minh, làm rõ những tình tiết, sự kiện nào? Cácchứng cứ, tài liệu đương sự và những người tham gia tố tụng cung cấp có đủ đểgiải quyết vụ việc dân sự hay chưa? Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án,trường hợp Tòa án không thể hoặc không có khả năng thu thập đầy đủ, toàn diệncác chứng cứ liên quan làm căn cứ giải quyết vụ án do lý do chủ quan hoặckhách quan Lúc này, vai trò của Luật sư trong quá trình thu thập các chứng cứ,tài liệu quan trọng liên quan đến vụ án dân sự và cung cấp cho Tòa án sẽ gópphần quan trọng trong quá trình chứng minh vụ việc dân sự

Trang 12

Thứ hai, hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư giữ vai trò hỗ trợ

đương sự trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ và chứngminh cho yêu cầu của mình

Việt nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, mặt bằng về kinh tếcủa người dân nói chung còn ở mức trung bình, sự hiểu biết và tiếp cận phápluật còn chưa cao nên mặc dù đề cao vai trò chứng minh của đương sự trong tốtụng dân sự, nhưng không thể không ghi nhận vai trò của Luật sư trọng việc thuthập chứng cứ để đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự Thực tê cho thấy, nếuđương sự tự minh thu thập toàn bộ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình

sẽ gặp rất nhiều khó khăn do sự hiểu biết về pháp luật của bản thân có hạn, khóxác định được những chứng cứ nào cần thiết cho vấn đề minh cần chứng minh,hơn nữa việc tiếp cận những tài liệu, chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chứcquản lý cũng gặp nhiều vướng mắc, khó khăn Đặc biệt là đương sự ở nhữngvùng nông thôn và miền núi

Do đó, khi có tranh chấp dân sự xảy ra, họ không biết phải có chứng cứ,tài liệu gì, tìm kiếm ở đâu để cung cấp cho Tòa án nhằm bảo vệ quyền lợi củamình Lúc này, tham gia với vai trò là người bảo về quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự trong vụ án dân sự, Luật sư sẽ là người hỗ giúp, giúp đỡ, làm thaycho đương sự những việc đó Luật sư sẽ giúp đương sự trong việc định hướngcác nguồn chứng cứ; thu thập những chứng cứ mà đương sự khó có khả năngthu thập và cung cấp cho Tòa án để bảo vệ quyền lợi của đương sự

Thứ ba, hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư bảo đảm tranh tụng

trong xét xử

Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành đã ghi nhận hoạt động thu thập chứng

cứ như một biện pháp đảm bảo tranh tụng trong quá trình xét xử Theo đó, vaitrò và vị trí của Luật sư đang từng bước được ghi nhận, nâng cao, là chủ thểquan trọng trong hoạt động thu thập chứng cứ cũng như toàn bộ hoạt động tốtụng dân sự Tuy nhiên, khi áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ theo quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự, Luật sư cần thực hiện theo những quy định vềtrình tự, thủ tục nhất định nhằm đảm bảo cho tài liệu chứng cứ thu thập được là

Trang 13

hợp pháp và có giá trị cao nhất trong việc chứng minh, bảo vệ quyền lợi củađương sự

Để đảm bảo cho việc thu thập chứng cứ đạt hiệu quả, pháp luật hiện hànhtuy không không quy định về thời hạn thu thập chứng cứ, tuy nhiên trên thực tếTòa án vẫn thường ấn định cho đương sự một thời gian nhất định để họ giao nộpchứng cứ theo thông báo của Tòa án Đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức đangquản lý, lưu giữ chứng cứ có nghĩa vụ giao nộp cho đương sự, Tòa án khi nhậnđược yêu cầu của đương sự

Có thể thấy, hiện nay, vai trò hỗ trợ cho đương sự của Luật sư chưa pháthuy được hiệu quả cao dẫn đến việc các tài liệu chứng cứ do đương sự xuất trình

đẻ chứng minh cho yêu cầu của minh hoặc bác bỏ yêu cầu của đương sự kháccòn chưa đảm bảo vệ mặt thủ tục, hình thức và nội dung Pháp luật tố tụng dân

sự hiện hành cũng quy định trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa nhằm mụcđích làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc để từ đó quyết định bản án đúngpháp luật, phù hợp với thực tế khách quan trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi íchhợp pháp của các đương sự Tuy nhiên, do bản thân Tòa án không thu thậpchứng cứ với ý nghĩa là bảo vệ quyền lợi bị xâm phạm của mình nên có nhữnghạn chế nhất định về mặt khách quan cũng như chủ quan trong quá trình thuthập chứng cứ đối với mục đích chứng minh của đương sự Do đó, để mang lạihiệu quả cao nhất trong việc thu thập chứng cứ của đương sự thì phải có sự thamgia, hỗ trợ của Luật sư, là những người có kinh nghiệm, sự hiểu biết về pháp luậtkhi tham gia tố tụng

Với sự tham gia của Luật sư trong hoạt động thu thập chứng cứ sẽ gópphần bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy cao, là căn cứ cho việc bảo vệ các yêucầu của đương sự hoặc bác bỏ yêu cầu của đương sự khác Hoạt động thu thậpchứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự là căn cứ quan trọng cho việc đưa racác kết luận, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụviệc dân sự Như vậy, sự tham gia của Luật sư trong hoạt động thu thập chứng

cứ đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho đương sự xác định được giátrị chứng minh của chứng cứ, thu thập và sử dụng chứng cứ qua đó giúp được sự

Trang 14

thực hiện được tốt nhất quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình Đồng thời hoạtđộng thu thập chứng cứ của Luật sư đảm bảo chất lượng tham gia của Luật sưtrong quá trình giải quyết vụ việc dân sự

1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự

1.2.1 Các quy định chung về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư

1.2.1.1 Quy định về nguyên tắc liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư

* Luật sư tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp của đương sự

Tại điểm 2 Khoản 2 Điều 22 Luật Luật sư năm 2006 quy định phạm vi

hành nghê của Luật sư như sau: “Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật”

Theo đó, Luật sư là người có thể trực tiếp tiến hành thu thập chứng cứ để

từ đó nghiên cứu, đánh giá chứng cứ thu thập được với tư cách là người bảo vệquyền lợi của đương sự, hoặc với tư cách là người đại diện hợp pháp của đương

sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

* Luật sư là người đại diện theo ủy quyền của đương sự

Tại Khoản 1 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như sau:

“Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự” Theo đó, với tư cách là người đại diện theo

ủy quyền của đương sự, Luật sư có các quyền và nghĩa vụ của đương sự trọng

đó có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 86của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Trang 15

Có thể nói đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Luật sư có thể thực hiệntrách nhiệm của mình với vai trò là người được ủy quyền của đương sự, từ đóLuật sư có thể thực hiện thu thập chứng cứ liên quan nhằm đảm bảo quyền lợicho đương sự

* Luật sư có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân lưu giữ cung cấp tàiliệu chứng cứ liên quan

Tại Khoản 6 Điều 76 và Khoản 6 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015 quy định về quyền của Luật sư như sau “Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình”

Đồng thời, theo Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về

nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của cá nhân, tổ chức, cơ quan như sau: “Cơ quan,

tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của

Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản

và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát”

Theo đó, quyền của Luật sư trong việc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhânđang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mìnhcũng là nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, cơ quan Hoạt động thu thập, nghiên cứu,đánh giá chứng cứ được pháp luật tố tụng dân sự quy định như một quyền pháp

lý của Luật sư khi tham gia tố tụng Theo Khoản 7 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015 cũng đã quy định đương sự có quyền đề nghị Tòa án yêu cầuđương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ Ngoài ra, để phùhợp với quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật Giám định tư pháp năm 2012, đương

sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định; Khoản 1 Điều 102 Bộ luật tốtụng dân sự năm 2015 cũng quy định khi đương sự đã đề nghị Tòa án trưng cầu

Trang 16

giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự thì đương có thể tự mìnhyêu cầu giám định theo quy định

Như vậy, quy định này mang lại ý nghĩa to lớn trong việc giúp đương sựthực hiện được quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình, phát huy hơnnữa vai trò chủ động, tích cực của họ trong việc giải quyết tranh chấp vì lợi íchcủa chính mình, tạo điều kiện để họ có thể bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợppháp của mình [Ngũ Thị Như Hoa (2014), Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tàiliệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân

sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội]

Bên cạnh đó, quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ của Luật sư cònđược ghi nhận theo điểm a Khoản 1 Điều 21 Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi, bổsung năm 2012 Theo đó, Luật sư được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề luật

sư theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan

Để hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu của Luật sư được thực hiện cóhiệu quả cao, pháp luật cũng quy định những chế tài xử lý trong trường hợp cánhân, tổ chức gây cản trở hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư tại Điều 91

Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi năm 2012 như sau: “Người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư hoặc cản trở luật sư, tổ chức hành nghề luật sư thực hiện quyền, nghĩa vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”

Các quy định nêu trên là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho Luật

sư trong hoạt động thu thập chứng cứ liên quan đến vụ án dân sự, góp phần đảmbảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án

1.2.1.2 Quy định chung về các biện pháp thu thập chứng cứ của Luật sư

Chứng cứ là vấn đề mấu chốt trong các tranh chấp dân sự, không cóchứng cứ thì cũng không có hoạt động chứng minh và Luật sư không thể bảo vệđược quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Chính vì vậy, công tác thu thập

Trang 17

chứng cứ là khâu quan trọng nhất trong quá trình chứng minh, là tiền đề cho cáchoạt động chứng minh còn lại như cung cấp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ

Để thực hiện tốt việc thu thập chứng cứ liên quan đến nội dung vụ việcdân sự, bên cạnh những nguyên tắc liên quan đến thu thập chứng cứ của Luật sưnêu trên, pháp luật tố tụng dân sự hiện hành còn quy định một số biện pháp thuthập chứng cứ của Luật sư được áp dụng trên thực tế

Theo Khoản 1 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định cụ thể

về các biện pháp thu thập chứng cứ như sau:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:

a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử;

b) Thu thập vật chứng;

c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng; d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;

đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng;

e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;

g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản; h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, đương sự có quyền thu thập chứng cứ, có quyền cung cấpnhững chứng cứ đó cho tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,

có quyền được biết về các tài liệu, chứng của của đương sự khác cũng nhưđược sao chép các tài liệu đó Đồng thời là quyền thì đây cũng là nghĩa vụ củađương sự

Trang 18

Có thể thấy, so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổsung năm 2011 thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhấn mạnh thêm quyền vànghĩa vụ chủ động thu thập chứng cứ của đương sự, bởi để giao nộp được chứng

cứ cho Tòa án thì các đương sự phải thu thập được chứng cứ Do đó, để đương

sự thực hiện được quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ thì khoản 1 Điều 97 Bộluật tố tụng dân sự năm 2015 quy định các biện pháp thu thập chứng cứ màđương sự được thực hiện nhằm đảm bảo các chứng cứ có được mang tính hợppháp Đó là, thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữliệu điện tử; thu thập vật chứng; xác định người làm chứng và lấy xác nhận củangười làm chứng; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấpnhững tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cánhân đó đang lưu giữ, quản lý; yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ

ký của người làm chứng; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương

sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầugiám định, định giá tài sản; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện côngviệc khác theo quy định của pháp luật Ngoài ra, các đương sự có quyền vànghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án nhằm buộc đương sự phải giao nộp tất

cả các chứng cứ mà họ có cho Tòa án, tránh tình trạng họ giữ lại các chứng cứ

để tại phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm họ mới giao nộp nhằm gây khó khăncho Tòa án và các đương sự khác

Tại khoản 2 Điều 97 và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 cũng quy định, chỉ khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thuthập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì mới có quyền yêucầu Tòa án thu thập Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết đểthu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đềnghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản

lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thậptài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn.Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đềcần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý do mình không tự thu thập

Trang 19

được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản

lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập

Tóm lại, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về các biện pháp thuthập chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo các đương sự có đầy

đủ các chứng cứ để cung cấp cho Tòa án cũng như đảm bảo các chứng cứ đó cótính hợp pháp Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 mới chỉ quy định cácbiện pháp thu thập chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức nhưng lại chưa quyđịnh cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp đó, trong khi các biệnpháp thu thập chứng cứ của Tòa án được quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật

tố tụng dân sự năm 2015 lại được quy định rất cụ thể về trình tự, thủ tục thuthập Do vậy, theo tác giả, thiết nghĩ để các chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổchức thu thập có giá trị chứng minh và được Tòa án sử dụng làm căn cứ cho việcgiải quyết vụ việc dân sự thì các nhà làm luật cần bổ sung trình tự, thủ tục thuthập chứng cứ đối với các biện pháp thu thập chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổchức thực hiện

1.2.2 Hoạt động thu thập chứng cứ trước khi Tòa án thụ lý yêu cầu

1.2.2.1 Thu thập thông tin, tài liệu từ khách hàng

Để thu thập thông tin, tài liệu đồng thời nắm bắt các yêu cầu của kháchhàng, giai đoạn đầu tiên của Luật sư là tiếp xúc với khách hàng Trước khi traođổi trực tiếp và trong quá trình làm việc, Luật sư có thể trao đổi với khách hàngqua điện thoại, email, mạng xã hội, v.v để tiếp cận thông tin một cách sơ bộ về

vụ việc của khách hàng Trên cơ sở đó, Luật sư cần xác định cụ thể mục đíchcần đạt được trong buổi trao đổi trực tiếp với khách hàng để đưa ra phươngpháp, cách làm đạt hiệu quả cao nhất Bên cạnh đó, Luật sư cần hướng dẫnkhách hàng chuẩn bị các tài liệu quan trọng, cần thiết liên quan đến vụ việc củakhách hàng để buổi làm việc đạt kết quả tốt nhất

* Tiếp xúc qua điện thoại: Việc trao đổi với khách hàng qua điện thoại sẽgiúp các bên tiết kiệm được nhiều thời gian đi lại, truyền tải thông tin nhanhchóng, kịp thời Đây là một hình thức tiếp xúc gián tiếp nhưng việc trao đổi quađiện thoại cũng mang tính đối thoại trực tiếp khác với phương thức tiếp xúc qua

Trang 20

thư, mail và mạng xã hội đòi hỏi Luật sư và khách hàng có sự trao đổi, phản hồithông tin qua lại ngay tức thì Trong quá trình trao đổi với khách hàng, Luật sư

sẽ gặp một số hạn chế trong việc nắm bắt nội dung vụ việc do không thể nhìnthấy trực tiếp các ngôn ngữ, cử chỉ của khách hàng Điều này ảnh phẩn một phầnđến khả năng phân tích tình huống nhằm đưa ra giải pháp khai thác thông tin, tàiliệu từ khách hàng Do đó, trong việc tiếp xúc với khách hàng qua điện thoại,đòi hỏi Luật sư cần phải nhạy bén, tinh tế nắm bắt được nội dung khách hàng đềcập, đồng thời cần biết cách sử dụng ngôn từ phù hợp tạo được sự tin tưởng củakhách hàng để từ đó có thể khai thác thông tin hoặc yêu cầu khách hàng chuẩn

bị chứng tài liệu, chứng cứ cần thiết phục vụ giải quyết vụ việc dân sự

* Tiếp xúc qua email: Như chúng ta đã biết, email là công cụ trao đổithông tin phổ biến và tiện dụng giúp tiết kiệm thời gian đáng kế trong quá trìnhgiao tiếp Việc tiếp xúc khách hàng thông qua email giúp Luật sư có thời gianxem xét, đánh giá và nghiên cứu vấn đề khách hàng đưa ra trên cơ sở tham khảocác tài liệu có liên quan Trên cơ sở đó, Luật sư có thể xác định được các vấn đềcần làm rõ, các tài liệu, chứng cứ cần thu thập được phục vụ giải quyết vụ án,sau đó Luật sư phản hồi lại với khách hàng bằng các câu hỏi, nội udng đã chuẩn

bị kỹ nhằm khai thác thông tin, tài liệu từ khách hàng cũng như trao đổi vớikhách hàng phương án, cách thức thu thập tài liệu, chứng cứ

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, việc tiếp xúc khách hàng quanemail vẫn có phần hạn chế do lượng thông tin truyền tải giữa Luật sư và kháchhàng không lớn và phong phú như tiếp xúc trực tiếp Đồng thời, thời gian traođổi, truyền tải thông tin và xử lý, phản hồi thông tin còn chậm gây không ít khókhăn đối với các vụ án cần giải quyết nhanh chóng

* Tiếp xúc qua mạng xã hội Zalo, Facebook, v.v.: Trong thời đại côngnghệ 4.0 ngày nay, việc sử dụng các phần mềm, ứng dụng mạng xã hội để giaotiếp hàng ngày và trong công việc rất phổ biến, bởi sự tiện lợi và nhanh chóngcủa các phần mềm này tạo ra rất hữu ích Có thể nói các ứng dụng, phần mềmmạng xã hội này là tích hợp cả điện thoại và email, nên việc giao tiếp giữa Luật

sư và khách hàng được diễn ra rất thuận tiện và nhanh chóng Việc giao tiếp

Trang 21

được thực hiện trực tiếp, có thể nhìn được trực tiếp các hành động, cử chỉ củakhách hàng, đồng thời có thể trao đổi thông tin, gửi tài liệu, minh chứng liênquan đến vụ việc ngay tức khắc, giúp tiết kiệm thời gian tối đa so với các hìnhthức giao tiếp khác Do vậy, hình thức này có thể giúp Luật sư chủ động và đadạng các hình thức, cách thức và phương pháp thu thập chứng cứ, tài liệu liênquan đến vụ việc cần giải quyết Tuy nhiên, ngoài các thuận tiện, ưu điểm nêutrên, Luật sư và khách hàng cần quan tâm đến vấn đề bảo mật trong quá trìnhgiao tiếp, bởi có những trường hợp giao tiếp qua mạng xã hội bị lộ thông tin,hack tài khoản, v.v dẫn đến những vụ việc đáng tiếc xảy ra, ảnh hưởng khôngnhỏ đến quá trình giải quyết vụ án cũng như thu thập thông tin, chứng cứ

Tóm lại, hoạt động tiếp xức với khách hàng là hoạt động rất cần thiếttrong quá trình giải quyết vụ án Có nhiều cách thức, phương thức tiếp xúckhách nhau, nhưng chung quy lại đều nhằm mục đích tạo cơ sở cho buổi tiếpxúc trực tiếp diễn ra hiệu quả, chất lượng Thông qua tiếp xúc gián tiếp, Luật sư

có thể nắm bắt được một cách sơ bộ các yêu cầu, mục đích của khách hàng vàcác thông tin, tài liệu liên quan Từ đó, Luật sư khao thác, làm rõ và chuẩn bị địađiểm phù hợp, phương tiện kỹ thuật như máy ghi âm, ghi hình để nắm bắt tối đathông tin, tài liệu khách hàng cung cấp

1.2.2.2 Hướng dẫn đương sự viết đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập

Đơn khởi kiện, đơn yêu cầu độc lập hay đơn khởi tố là các văn bản có giátrị tố tụng rất cao, được xem là chứng cứ quan trọng trong vụ án Thông quakhởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập đương sự thể hiện được quan điểm,các yêu cầu chính đang của mình cũng như là căn cứ để bên đương sự đối lậpkhai thác nhằm phản biện, bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Vì vậy,việc hướng dẫn đương sự viết đơn khởi kiện, đơn phản tố hay đơn yêu cầu độclập cho hợp lý, phù hợp được xem là việc thu thập chứng cứ quan trọng trongquá trình tham gia tố tụng dân sự

Trong đơn khởi kiện, đơn phản tố hay đơn yêu cầu độc lập đương sự trìnhbày quá trình diễn biến của vụ án cũng như những nội dung lập luận kèm theocác chứng cứ, tài liệu để làm căn cứ giải quyết vụ việc Khi đương sự viết đơn

Trang 22

khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập, thông thường mang tính diễn giải,tức là đương sự trình bày theo cách hiểu của mình về diễn biến của vụ việc sau

đó nêu lên các yêu cầu của mình cần Tòa án xem xét và giải quyết Do đó, đơncủa đương sự viết khó bao hàm hết các nội dung quan trọng mà nguyên đơnmuốn trình bày, chưa đưa ra được đầy đủ các luận điểm, căn cứ bước đầu nhằmbảo vệ cho yêu cầu của mình Có trường hợp đương sự không trình bày, đưa racác tài liệu, minh chứng phù hợp, quan trọng, nên đưa ra tại thời điểm viết đơn

Vì vậy, vai trò của Luật sư lúc này rất quan trọng, đó là hướng dẫn đương sự viếthoặc tự mình viết đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập cho đương sự

để ít nhất các đơn này phải thể hiện được các nội dung theo quy định

Trong quá trình soạn đơn, Luật sư cũng như đương sự cũng không tránhkhỏi trường hợp không trình bày hết các nội dung, các tài liệu, chứng cứ liênquan kèm theo đơn khởi kiện Khi đó, theo quy định, đương sự cũng như Luật

sư có thể tự nộp bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trìnhgiải quyết vụ án dân sự Về vấn đề này, tại Điều 6 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân nhân tối cao đãquy định: Về nguyên tắc, khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án, người khởi kiệnphải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền khởikiện và những yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp Tuy nhiên, trong trườnghợp vì lý do khách quan nên họ không thể nộp ngay đầy đủ các tài liệu, chứng

cứ, thì họ phải nộp các tài liệu, chứng cứ ban đầu chứng minh cho việc khởi kiện

là có căn cứ Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sunghoặc bổ sung theo yêu cầu của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án

Ví dụ 1: Khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án yêu cầu giải quyết ly hôn (cóđăng ký kết hôn hợp pháp), nuôi con, chia tài sản, thì về nguyên tắc người khởikiện phải gửi kèm theo đầy đủ các tài liệu, chứng cứ về quan hệ hôn nhân, con,tài sản chung của vợ chồng; nếu họ chưa thể gửi đầy đủ các tài liệu, chứng cứnày, thì cùng với đơn khởi kiện, họ phải gửi bản sao giấy đăng ký kết hôn, bảnsao giấy khai sinh của con (nếu có tranh chấp về nuôi con)

Trang 23

Ví dụ 2: Khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án yêu cầu giải quyết tranh chấphợp đồng, thì người khởi kiện phải gửi kèm theo bản sao hợp đồng có tranhchấp, hoá đơn thanh toán tiền, nhận tài sản, biên bản thanh lý.v.v; nếu họ chưathể gửi đủ các tài liệu, chứng cứ này, thì cùng với đơn khởi kiện họ phải gửi bảnsao hợp đồng.

Ngoài ra, Luật sư hay đương sự soạn đơn khởi kiện cần lưu ý phải tuânthủ về hình thức của đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập Theo quyđịnh tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, gồm: Ngày, tháng, năm làmđơn khởi kiện; Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; Tên, nơi cư trú, làm việc củangười khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức;

số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) Trường hợp các bên thỏa thuậnđịa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó; Tên, nơi cư trú, làm việc củangười có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người cóquyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉthư điện tử (nếu có); Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặctrụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thưđiện tử (nếu có) Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người

bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng củangười bị kiện; Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơquan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) Trường hợpkhông rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng củangười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởikiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người

bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Họ, tên, địa chỉ của người làmchứng (nếu có); Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

Đồng thời, kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minhquyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Trường hợp vì lý dokhách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm

Trang 24

theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minhquyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Người khởi kiện bổsung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa ántrong quá trình giải quyết vụ án.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật tố tụng dân sự hiện hành không quy định

về hình thức đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập phải viết tay hayđánh máy Do vậy, đương sự hay Luật sư của đương sự có thể lựa chọn hìnhthức viết đơn phù hợp hoặc có thể viết đơn theo mẫu mà Tòa án đã quy định.Tuy nhiên, để đảm bảo sự chuyên nghiệp, rõ ràng, Luật sư cần viết hoặc hướngdẫn đương sự viết đơn rõ ràng, mạch lạc, đảm bảo các nội dung mà pháp luật đãquy định, trường hợp có thể, Luật sư nên tư vấn đơn được soạn thảo bằng máyđảm bảo rõ ràng, dễ nhìn

Trong quá trình tư vấn của Luật sư về việc soạn thảo đơn cho đương sự,Luật sư cũng giúp đương sự định hình được một số nội dung, vấn đề liên quanđến vụ việc cần phải nhấn mạnh kèm theo các tài liệu, thông tin, chi tiết khôngnên hoặc nên đề cập vào đơn Khi viết nội dung đơn, Luật sư phải nắm bắt được

cụ thể nội dụng của vụ việc, từ đó đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan đến nghiên cứu, phân tích thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung

vụ án Sau khi phân tích hồ sơ vụ án, Luật sư hướng dẫn hoặc trực tiếp soạn nộidung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập phù hợp với nội dung,diễn biến của vụ án trong suốt quá trình tố tụng Qua hoạt động nêu trên, đương

sư sẽ thấy rõ hơn, cụ thể hơn về bản chất của vụ việc và quyền, lợi ích hợp phápcủa mình

1.2.3 Hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hoạt động thu thập chứng cứ củaLuật sư được thực hiện xuyên suốt quá trình Khi thực hiện hoạt động thu thậpchứng cứ, Luật sư cần phải nắm vững các thuộc tính của chứng cứ, đồng thờixác định các yêu cầu của đương sự, quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong

vụ án, những vẫn đề cần phải làm rõ và những chứng cứ cần thiết cho việc làm

Trang 25

rõ các nội dung trong vụ án đang được lưu giữ ở đâu, từ đó thực hiện các biệnpháp thu thập cho phù hợp

1.2.3.1 Hướng dẫn, tư vấn cho đương sự thu thập chứng cứ

Hoạt động hướng dẫn, tư vấn cho đương sự thu thập chứng cứ của Luật sưđược thực hiện sau khi Luật sư đã thu thập, nghiên cứu, đánh giá các tài liệu,thông tin đương sự thu thập một cách hợp pháp, thể hiện đúng nội dung cốt lõi

và có giá trình chứng minh trước Tòa án Ở giai đoạn này, Luật sư sẽ tư vấn chođương sự về những kiến thức pháp luật để đương sự có thể hiểu cơ bản vềquyền, nghĩa vụ của minh trong hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân

sự Thông qua sự trợ giúp về mặt pháp lý của Luật sư, đương sự có thể tự nghiêncứu, đánh giá thông tin, tài liệu mà mình thu thập được, đồng thời xác định đượcnhững tài liệu, chứng cứ cần phải thu thập, nơi có thể thu thập chứng cứ, hìnhthức thu thập ra làm sao để giúp đương sự có thể bảo vệ tốt nhất quyền lợi củamình Hoạt động hướng dẫn, tư vấn cho đương sự thu thập chứng cứ của Luật sưđược thể hiện qua các nội dung công việc sau:

Thứ nhất, hướng dẫn, tư vấn đương sự tham gia lập các văn bản liên quan

trong quá trình tố tụng

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, ngoài việc tư vấn, soạn đơn khởikiện hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư còn thể hiện qua việc tư vấn,chuẩn bị cho đương sư các văn bản tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ việcdân sự, như: bản giải trình, bản yêu cầu, bản tự khai, đơn đề nghị Tòa thẩm định,giám định, v.v Các văn bản này là những chứng cứ được Tòa án và các bênđương sự quan tâm, nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Do đó,các văn bản này cần được trình bày ngắn gon, xúc tích, phản ánh đúng, đủ, rõràng, chính xác các nội dung cần trình bày

Khi viết bản tự khai, Luật sư cần hướng dẫn, tư vấn cho đương sư kháiquát các nội dung cần diễn đạt, thể hiện rõ quan điểm, lập luận của mình đối vớivấn đề cần giải quyết Ngoài ra Luật sư cũng lưu ý tránh trình bày lan man cácvấn đề không liên quan đến nội dung vụ việc hoặc có thể gây bất lợi cho mình

Trang 26

Khi viết bản giải trình, đơn đề nghị cần đặt ra các mục tiêu cụ thể theonhững vấn đề nhất định, xác định giải quyết dứt điểm một vấn đề

Bản tự khai, bản giải trình hay đơn đề nghị là cơ sở để Tòa án xem xéttrong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo khách quan, công bằng Do đó, ngôn

từ, lập lập khi viết các văn bản này cần ngắn gọn, sắc bén, có tính thuyết phục vàphải được phân tích, nhìn nhận từ góc độ pháp lý kèm theo các chứng cứ đểchứng minh cho các luận điểm mà mình đưa ra

Bên cạnh đó, trong quá trình đương sự tham gia các buổi làm việc để phục

vụ việc giải quyết vụ án Các buổi làm việc đều có biên bản thể hiện, ghi nhậnbuổi làm việc, như: biên bản lấy lời khai, Biên bản hòa giải, biên bản đối chất,biên bản phiên tòa, v.v Các văn bản này là chứng cứ quan trong trong hồ sơ vụ

án để Tòa án căn cứ vào để quyết định vụ án Do đó, trong quá trình tham giacác buổi làm việc này, Luật sư cần tư vấn, hướng dẫn cho đương sự của mìnhchuẩn bị tốt các nội dung liên quan của từng buổi làm việc để đạt hiệu quả, kếtquả cao Cụ thể:

- Về biên bản lấy lời khai của đương sự: Luật sư cần tư vấn, hướng dẫncho đương sự hiểu và nắm bắt được diễn biến nội dung vụ việc dưới góc nhìn cólợi nhất cho đương sự, đồng thời xác định, lường trước các câu hỏi mà Tòa án sẽtiến hành hỏi và chuẩn bị trước nội dung câu trả lời để đương sự có sự chuẩn bịtốt nhất trước khi lấy lời khai Sau khi lấy lời khai, Luật sư cũng cần tư vấn chođương sư cần phải đọc lại chi tiết nội dung biên bản và ghi rõ ý kiến của ngườikhai đồng ý hay không đồng ý với nội dung biên bản, cuối cùng để đảm bảoquyền lợi của mình đương sự cần kiểm tra lại chữ ký của các thành phần thamgia buổi lấy lời khai xem đã đầy đủ hay chưa

- Về biên bản đối chất: Trước khi tham gia đối chất, Luật sư cần sao chụp

và nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ vụ án, trong đó lưu ý lời khai của các bênđương sự, người làm chứng, các thông tin, tài liệu, chứng cứ mà bên đương sựcung cấp cũng như chứng cứ do Tòa thu thập Sau khi nghiên hồ sơ liên quan,Luật sư cần xác định mâu thuẫn trong lời khai của các bên đương sự, người làmchứng và các vấn đề có sự mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án Từ đó, Luật sư cần

Trang 27

hướng dẫn, tư vấn cho đương sự chuẩn bị các lập luận để bảo vệ quan điểm củamình, phản bác các quan điểm của bên đối trọng với mình Tại buổi đối chất, cácbên sẽ cùng chất vấn, đối đáp nhau để làm rõ vấn đề đang mâu thuẫn, cùng đưa

ra những thông tin, nội dung tình tiết và các luận điểm để bảo vệ quan điểm,chứng cứ của mình Do đó, ở buổi đối chất này, ngoài việc tư vấn về nội dung,Luật sư cần lưu ý tư vấn, hướng dẫn cho đương sự về thâm lý, cách diễn đạt khinói, thái độ, cử chỉ, diễn giải vấn đề khi tham gia đối chất Bởi qua buổi đốichất, thẩm phán có thể đánh giá được sự thật khách quan trong lời khai của cácbên đương sự, là căn cứ để Tòa án đưa ra phán quyết đúng đắn cho vụ việc cầngiải quyết

- Về biên bản tại phiên tòa: Biên bản phiên toàn là biên bản ghi nhận cácthông tin thể hiện buổi làm việc tại Tòa án có các bên đương sự, Tòa án, Việnkiểm sát và các đối tượng khác liên quan tham gia Biên bản tại phiên Tòa đượccoi là một trong những chứng cứ rất quan trọng, thể hiện kết quả tranh tụng, là

cơ sở để Hội đồng xét xử quyết định về vụ án dân sự Tại Khoản 1 Điều 236 Bộluật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

1 Biên bản phiên toàn phải ghi đầy đủ các nội dung sau đây:

a) Các nội dung chính trong quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;

b) Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa;

c) Các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên tòa.

2 Ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, Hội đồng xét xử có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.

3 Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký phiên tòa ký biên bản đó.

4 Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi,

bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận.

Trang 28

Theo quy định trên, có thể thấy các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tạiphiên tòa của đương sự sẽ được ghi nhận đầy đủ vào biên bản phiên tòa Do vậy,

để đạt kết quả tốt, Luật sư cần chuẩn bị, xác định những nội dung cần trả lời, ýkiến hay những luận điểm khi trình bày cho đương sự khi tham gia phiên tòa.Đây là điều hết sức quan trọng, bởi tại phiên Tòa có sự tham gia của đầy đủ cácthành phần liên quan đến vụ án, đồng thời Hội động xét xử sẽ căn cứ vào biênbản phiên Tòa để ra bản án

Sau khi kết thúc phiên Tòa, Thư ký phiên Tòa ghi chép biên bản tại phiênTòa, theo quy định tại Khoản 4 Điều 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy

định “Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản và

ký xác nhận hoặc điểm chỉ” Theo đó, sau khi kết thúc phiên Tòa, Luật sư và

đương sự cùng xem lại biên bản phiên Tòa, nếu thấy cần thiết thì đề nghị thư kýghi lại những sửa đổi, bổ sung trước khi ký vào biên bản

Thứ hai, hướng dẫn đương sự tự thu thập chứng cứ

Đương sự chính là các chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung đang tranhchấp, họ hiểu vụ án hơn bất kỳ chủ thể nào khác tham gia tố tụng Tòa án chỉ cóthể nhận thức được vụ án thông qua những chứng cứ, lập luận do đương sự cungcấp, những chủ thể tham gia tố tụng khác thì xuất phát từ vị trí, chức năng tốtụng của mình mà có những quyền và nghĩa vụ phối hợp làm rõ một phần vụ ánnhư người làm chứng, người giám định v.v Còn đương sự họ có mặt từ đầu khixác lập các mối quan hệ pháp lý về nội dung, quá trình vận động của quan hệ đódẫn đến phát sinh tranh chấp Họ hiểu vụ án nên có thể tiếp cận một cách dễdàng các chứng cứ đang có trong tay cũng như biết được cần thiết phải lấy cácchứng cứ khác ở đâu khi có yêu cầu Chẳng hạn như trong một tranh chấp vềthừa kế tài sản thì các bên sẽ là người biết rõ nhất có hay không có di chúc, tàisản để lại là bao nhiêu, ở đâu, hình thành như thế nào? v.v tranh chấp về hợpđồng vay tài sản thì đương sự sẽ biết rõ nhất có hay không hợp đồng này, bên

Trang 29

vay đã trả tài sản cho bên cho vay chưa, trả bao nhiêu, thời gian nào, phươngthức thanh toán ra sao? v.v

Do đó, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được tốtnhất, hoạt động thu thập chứng cứ không chỉ được thực hiện từ một phía – Luật

sư, mà cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Luật sư và đương sự Trong quá trình giảiquyết vụ án dân sự, việc Luật sư hướng dẫn đương sự thu thập chứng cứ sẽ đảmbảo cho các thông tin, tài liệu đương sự thu thập được là hợp pháp, có giá trịchứng minh trước Tòa Với kinh nghiệm và sự hiểu biết về pháp luật, Luật sưhướng dẫn, tư vấn cho đương sự những kiến thức pháp luật nội dung cũng như

tố tụng để đương sự có thể hiểu rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình tronghoạt động thu thập chứng cứ cũng như hoạt động tố tụng dân sự

Thông thường, các chứng cứ mà đương sự có thể tu thập được, gồm: Cáctài liệu, thông tin cá nhân mà đương sự giữ (như: di chúc, giấy chứng nhận kếthôn, giấy khai sinh, v.v) Trường hợp, các tài liệu này bị thất lạc hoặc do cá nhânkhác chiếm giữ, Luật sư sẽ tư vấn cho đương sư cách tìm kiếm, thu hồi hoặc xincấp lại Hoặc trường hợp các tài liệu này đang do tổ chức khác giữ thông quamột giao dịch với đương sự thì Luật sư hướng dẫn khách hàng xin cấp lại hoặcxin sao chụp lại, trích sao thông tin từ hồ sơ gốc Trường hợp tài liệu của đương

sự đang do người khác chiếm giữ bất hợp pháp thì Luật sư hướng dẫn đương sựyêu cầu các cơ quan có thẩm quyền can thiệp buộc người đang chiếm giữ tráipháp luật giao trả lại tài liệu cho đương sự

Bên cạnh đó, trong một số trường hợp cần thiết, việc hướng dẫn đương sựthu thập chứng cứ không chỉ dừng lại ở việc giải thích, tư vấn để đương sự tự đithu thập chứng cứ mà Luật sư còn trực tiếp đi thu thập cùng với đương sư Thực

tế, có nhiều trường hợp dù đương sự đã được Luật sư tư vấn, giải thích quyền vànghĩa vụ trong việc thu thập chứng cứ, nhưng khi thực hiện việc thu thập chứng

cứ đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ vẫn gặp nhiều khó khăn khi đương

sự tự mình đi thu thập Các cá nhân, cơ quan, tổ chức giữ tài liệu có thể dùngbiện pháp làm khó đương sự hoặc kéo dài thời gian cung cấp hoặc cung cấpkhông đầy đủ, không chính xác khi đương sự tự mình đi thu thập tài liệu Cũng

Trang 30

có nhiều trường hợp do có nhận thức pháp luật còn hạn chế, ngại tiếp xúc với cơquan chính quyền để thu thập chứng cứ, khi gặp các cơ quan này còn rất lúngtúng, ngại ngùng, đồng thời một số cán bộ làm trong các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền gây khó khăn, sách nhiễu đối với đương sự, dẫn đến việc thu thậpchứng cứ do đương sự tự mình thực hiện gặp nhiều khó khăn Trong nhữngtrường hợp này, Luật sư cần giúp đương sự củng cố hơn về mặt tâm lý, kịp thờiphản ứng với các tình huống bất ngờ chưa lường trước được, đồng thời một sốtrường hợp gặp khó khăn như trên, Luật sư cần đứng ra thay mặt cho đương sự

để thu thập chứng cứ, tài liệu nhằm đảm bảo kịp thời gian để nghiên cứu, gópphần tham gia giải quyết vụ án đúng hạn

Trong một vụ án thông thường có rất nhiều loại chứng cứ khác nhau, Luật

sư cần tư vấn, hướng dẫn cho đương sự năm bắt được sơ bộ chững chứng cứ nào

là quan trọng trong việc xem xét, giải quyết vụ án, trên cơ sở đó giúp đương sựtập hợp các chứng cứ lại một cách logic theo hướng dẫn của mình Thôngthương việc sắp xếp các tài liệu, chứng cứ theo thứ tự ngày tháng, theo nội dunghoặc theo hình thức của chứng cứ đó Qua việc sắp xếp chứng cứ, Luật sư giúpkhách hàng có cách nhìn sơ bộ về số lượng cũng như nội dung của chứng cứ để

từ đó xác định những tài liệu, chứng cứ cần thu thập thêm để đưa ra biện phápthu thập kịp thời Đối với chứng cứ là bản gốc duy nhất, Luật sư cần hướng dẫnđương sự photo công chứng lại từ các bản gốc và nộp cho Tòa án bản photocông chứng bởi theo Khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì tàiliệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nêu là bản chình hoặc bản sao cócông chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cungcấp, xác nhận Vì vậy, Luật sư cần tư vấn, hướng dẫn cho đương sự nộp bản saocông chứng cho Tòa án các tài liệu chứng cứ, đồng thời các chứng cứ mà đương

sự đã thu thập được cần sao lại ít nhất hai bản, trong đó một bản gửi cho Tòa án,một bản còn lại đưa cho Luật sư hoặc đương sự lưu giữ

1.2.3.2 Luật sư thu thập chứng cứ từ hồ sơ vụ án

Luật sư có thể thu thập chứng cứ, tài liệu từ chính hồ sơ vụ án đã có bằngviệc nghiên cứu giá trị chứng minh của các thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vụ

Trang 31

án do các bên đương sự, Tòa án thu thập cung cấp theo quy định Tại Điều 76

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“1 Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự.

2 Thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ

vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án

để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.

3 Tham gia việc hòa giải, phiên họp, phiên tòa hoặc trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét.

4 Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.

5 Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền thì thay mặt đương

sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự.

6 Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 16, 17, 18, 19 và 20 Điều 70 của Bộ luật này.

7 Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định”

Theo đó, Luật sư có thể thu thập chứng cứ từ chính hồ sơ vụ án đã cóbằng việc nghiên cứu giá trị chứng minh của các thông tin, tài liệu có trong hồ

sơ vụ án do các bên đương sự Tòa án thu thập cung cấp Hoặc Luật sư thông qua

tư cách đại diện cho đương sự, hay tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho đương sự, Luật sư có quyền ghi chép, sao chụp các tài liệu có trong hồ

sơ vụ án để nghiên cứu hồ sơ Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, Luật sư có thểphát hiện ra các thông tin, tài liệu mà qua đó Luật sư nhận thấy cần phải thu thậpthêm các tài liệu, chứng cứ khác có liên quan đến vụ án Bởi trong quá trình tốtụng dân sự, các bên ao gồm các đương sự khác và Tòa án sẽ tiến hành thu thậpchứng cứ để làm sáng tỏ sự thật khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Trang 32

của đương sự Do đó, trong quá trình tố tụng, có thể có nhiều tình tiết mới phátsinh hoặc được làm sáng tỏ làm cho các tài liệu, chứng cứ ban đầu không cònphù hợp, hoặc mất giá trị chứng minh dẫn đến định hướng chứng minh của Luật

sư lúc đầu bị sai lệch Lúc này, đòi hỏi Luật sư phải thu thập tài liệu, chứng cứkhác để củng cố giá trị chứng minh của các tài liệu chứng cứ trước đó và bảo vệquyền lợi cho đương sự mình bảo vệ Cũng có trường hợp khi xem xét tài liệu,chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Luật sư phát hiện ra các chứng cứ mà đương sựkhác cung cấp, hoặc Tòa án thu thập bất lợi cho khách hàng của mình, lúc nàyđòi hỏi Luật sư phải xác định các tài liệu, chứng cứ, lập luận phù hợp để bác bỏnhững chứng cứ đó nhằm bảo vệ quyền lợi cho đương sự mình

Để hoạt động thu thập chứng cứ từ hồ sơ vụ án đạt hiệu quả cao nhất,Luật sư cần nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện, khách quan, không được

bỏ sót bất cứ tài liệu, thông tin nào Trước khi thu thập tài liệu, chứng cứ, Luật

sư cần phân loại hồ sơ Việc phân loại hồ sơ có thể thức hiện theo các đề mục:Tài liệu do người khởi kiện cung cấp; tài liệu về phía bị kiện cung cấp bản khaicủa nguyên đơn và đương sự không có quyền, nghĩa vụ đối lập; lời khai của bibjđơn và đương sự có quyền và nghĩa vụ đối tập; tài liệu phía cơ quan, tổ chức cóliên quan; văn bản về lời trình bày của cơ quan, tổ chức có liên quan, người làmchứng; tài liệu chứng cứ thu được khi xem xét, thẩm định tại chỗ và các tài liệukhác do Tòa án thu thập được, v.v

Sau khi phân loại hồ sơ, thông thường Luật sư nên thực hiện việc nghiêncứu theo trình tự:

+ Nghiên cứu thông tin, tài liệu của bên đương sự đối lập cung cấp: Khixem xét các tài liệu mà nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liênquan cung cấp Luật sư cầm xem xét, đánh giá các tài liệu này có thỏa mãn haykhông các điều kiện về nội dung, đối tượng yêu cầu và thời hiệu yêu cầu giảiquyết, sơ bộ đánh giá các chứng cứ, căn cứ pháp lý mà bên đối tụng đưa ra để cóhướng suy nghĩ, cách thức lập luận phản bác các yêu cầu đó;

+ Nghiên cứu thông tin, tài liệu do Tòa án thu thập: Những tài liệu do bênđương sự đối lập cung cấp phần lớn là các tài liệu mang tính một chiều, theo

Trang 33

hướng có lợi cho bên đương sự đối lập Do vậy, các tài liệu do Tòa án thu thập lànhững cơ sở đẻ xem xét về tính có căn cứ các yêu cầu của đương sự, việc nghiêncứu các tài liệu này giúp Luật sư đánh giá về vụ án một cách đầy đủ và toàn diệnqua đó xác định được hướng giải quyết vụ việc, đánh giá được khả năng thànhcông của việc chứng minh Bên cạnh đó, khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ Tòa

án thu thập, Luật sư cần xem xét đến trình tự thủ tục thu thập các tài liệu này đãđược tiến hành theo quy định của pháp luật hay chưa nhằm đảm bảo tính chấtpháp lý, giá trị chứng minh trước tòa [Đặng Minh Chiến (2016), Hoạt động thuthập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự, , Luận văn thạc sĩ Luật học,Trường đại học Luật Hà Nội, tr40]

Như vậy, qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, Luật sư xác định được trong sốcác tài liệu, nguồn chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án thì nội dung nào liênquan đến việc chứng minh cho yêu cầu của đương sự mà mình bảo vệ Trườnghợp chứng cứ, tài liệu chưa đầy đủ hoặc bất lợi cho đương sự thì Luật sư cần thuthập các chứng cứ, tài liệu khác để bổ sung, khắc phục bất lợi này hoặc bác bỏchứng cứ bất lợi Nếu nhận thấy điểm bất hợp lý, mẫu thuẫn giữa các chứng cứ,Luật sư cần có biện pháp xử lý kịp thời nhằm bảo đảm giá trị chứng minh củachứng cứ mình cung cấp Đồng thời khi xem xét, đánh giá tài liệu có trong hồ sơ

vụ án, Luật sư cần xem xét các tài liệu, chứng cứ có thỏa mãn điều kiện về nộidung, đối tượng, yêu cầu và thời hiệu yêu cầu giải quyết, sơ bộ đánh giá cácchứng cứ, căn cứ pháp lý mà bên đối tụng đưa ra để có hướng suy nghĩ, cáchthức lập luận phù hợp Ngoài ra, trong quá trình xem xét, nghiên cứu tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Luật sư cần xem xét đến trình tự, thủ tục thu thậpcác tài liệu của Tòa án đã được tiến hành theo quy định của pháp luật hay chưanhằm đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ, có giá trị chứng minh trước tòa

1.2.3.3 Hoạt động thu thập chứng cứ qua việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ

Để tham gia vào việc thu thập chứng cứ, Luật sư sử dụng các biện phápthu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật, gồm:

Trang 34

Một là, biện pháp yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc

cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan tổchức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý

Để giúp Luật sư có thể thực hiện được quyền thu thập chứng cứ cũng nhưbảo vệ quyền lợi của đương sự, pháp luật tố tụng dân sự đã quy định việc yêucầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu là một biện pháp thu thậpchứng cứ được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Áp dụng biện pháp thu thậpchứng cứ này khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự chính là quyền của Luật sưtheo quy định tại Khoản 6 Điều 70, Khoản 6 Điều 76, Khoản 1 Điều 106 Bộ luật

tố tụng dân sự 2015

Tại Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng đã quy định về tráchnhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan tổ chức có thẩm quyền.Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án,Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ màmình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sáttheo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việccung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thôngbáo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát

Do vậy, để thực hiện tốt hoạt động thu thập chứng cứ, Luật sư cần xemxét nguồn, địa điểm lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập, ý nghĩa của chứng

cứ, tài liệu đó đối với việc giải quyết vụ án như thế nào Khi tiến hành thu thậpchứng cứ, Luật sư cần chuẩn bị các giấy tờ pháp lý liên quan đến tư cách chủ thểnhư: Thẻ Luật sư, Giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự, Hợp đồng ủy quyền hợp pháp của đương sự đối với Luật sư, v.v

Trong trường hợp bên thứ ba vẫn không thực hiện việc cung cấp chứng cứtheo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì có thể bị xử phạthành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.Theo Điều 383 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội từ chối khai báo, từ

chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu như sau: “Người làm

Trang 35

chứng nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, người giám định, người định giá tài sản, người dịch thuật từ chối khai báo, trốn tránh việc kết luận giám định, định giá tài sản, thẩm định tài sản hoặc từ chối cung cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm”.

Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn”.

Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án

ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn

15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Cơ quan, tổ chức,

cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì

tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án”

Như vậy, trong trường hợp gặp khó khăn khi thu thập chứng cứ, Luật sư

đã sử dụng mọi biện pháp cần thiết để yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đanglưu giữ, quản lý cung cấp chứng cứ mà không được cung cấp, thì đương sự hoặcLuật sư đại diện cho đương sự có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập

Trang 36

chứng cứ Khi đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ, Luật sư cần làm đơn đề nghịtrong đó thể hiện các nội dung theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết04/2012/NQ-HĐTP như: văn bản yêu cầu ghi rõ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp;

lý do cung cấp; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chứcđang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp Ngoài ra, theo quy địnhnêu trên, để đề nghị Tòa án thu thập giúp chứng cứ thì đương sự phải chứngminh là mình không thể tự thu thập được chứng cứ bằng văn bản có ghi rõ lý docủa việc cung cấp được chứng cứ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân lưu giữchứng cứ

Có thể thấy, pháp luật tố tụng dân sự đã ghi nhận quyền thu thập chứng cứcủa Luật sư cũng như trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của tổ chức, cánhân, cơ quan giúp Luật sư có cơ sở pháp lý trong quá trình thu thập chứng cứcủa mình, góp phần đảm bảo quyền lợi cho đương sự Tuy nhiên, thực tiễn chothấy không phải trường hợp nào, Luật sư cũng có thể dễ dàng thu thập tài liệuchứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Chẳng hạn như việc yêucầu ngân hàng, tổ chức tín dụng cung cấp thông tin tài khoản, số dư tài khoản,sao kê tài khoản của đương sự, v.v thường bị từ chối bởi việc cung cấp cácthông tin nêu trên là vi phạm nguyên tắc bảo mật thông tin tài khoản của kháchhàng

Bênh cạnh đó, tại Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nêutrên quy định trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp tài liệuchứng cứ phải có “lý do chính đáng” để từ chối việc cung cấp tài liệu, chứng cứ.Câu hỏi đặt ra ở đây là lý do chính đáng cụ thể là gì? Điều này, pháp luật tốtụng dân sự hiện hành chưa lý giải, hướng dẫn cụ thể, do vậy, trên thực tế vẫncòn những vướng mắc, khó khăn nhất định cho Luật sư cũng như đương sựtrong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ để góp phần giải quyết vụ án dân sựđược nhanh nhất và đạt hiệu quả tốt nhất Bởi, trường hợp tổ chức, cá nhân, cơquan không muốn cung cấp hoặc kéo dài thời gian cung cấp tài liệu, chứng cứ

mà mình đang lưu giữ, họ có thể tạo ra nhiều lý do khác nhau mà cơ quan cóthẩm quyền khó xử phạt hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự Thiết

Trang 37

nghĩ, các nhà làm luật cần lưu ý trường hợp trên để có thể sớm sửa đổi, bổ sungquy định, hướng dẫn cụ thể về các trường hợp được coi là chính đáng Điều nàygiúp pháp luật nói chung được minh bạch, công bằng hơn và pháp luật về tốtụng dân sự được đi vào thực tiễn cuộc sống hơn

Hai là, biện pháp xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người

làm chứng thu thập thông tin, tài liệu của các bên đương sự

Tại điểm c Khoản 1 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định trongquá trình tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, Luật sư cần thực hiện bằng biệnpháp xác định người làm chứng và lấy lời khai của người làm chứng là một biệnpháp thu thập chứng cứ mà Luật sư có thể sử dụng trong quá trình bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp cho đương sự Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc xác định vàlấy lời khai của người làm chứng phải được thực hiện một cách hợp pháp, phảnánh đúng sự việc khách quan và phù hợp với các tình tiết, chứng cứ khác của vụ

Ba là, biện pháp thu thập tài liệu nghe được, nhìn được

Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015, một trong những biện pháp thu thập chứng cứ, tài liệu là ghi âm, ghi hình.Thông qua việc thu thập ghi âm, ghi hình, Luật sư có thể thu thập thêm nhiềuthông tin để chứng minh sự thật khách quan của vụ việc dân sự Thực tế, hiệnnày với sự phát triển của công nghệ, có rất nhiều thiết bị ghi âm, ghi hình được

cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng nhằm mục đích bảo vệ an ninh nói chung.Đây cũng là những chứng cứ, tài liệu phản ánh rõ về hành vi, thông tin lien quan

có thể thu thập được Tuy nhiên, không phải bất cứ việc ghi âm, ghi hình nào

Trang 38

cũng được coi là biện pháp thu thập chứng cứ hợp pháp mà việc ghi âm, ghihình được coi là có giá trị chứng minh trước Tòa chỉ khi thỏa mãn các điều kiện

và trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định Theo quy định tại Khoản 1Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì tài liệu đọc được, nghe được, nhìnđược, dữ liệu điện tử được coi là một nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự

Theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 5 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2015, băng ghi âm, ghi hình là chứng cứ hợp pháp chỉ trong trường hợp tàiliệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu xuất trình kèm theo văn bảntrình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thuhình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình vềxuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thuhình đó Nguồn chứng cứ do ghi âm, ghi hình được ghi nhận làm căn cứ pháp lý

để chứng minh cho yêu cầu của đương sự và giúp Tòa án xác định được sự thậtkhách quan của vụ án

Bốn là, biện pháp thu thập vật chứng

Biện pháp thu thập vật chứng là một trong những biện pháp thu thậpchứng cứ có vị trí rất quan trọng của Luật sư Quá trình thu thập vật chứng tạichỗ cần phải được Luật sư tiến hành một cách cẩn thận, tỉ mỉ và chính xác, đặcbiệt lưu ý những nội dung, chi tiết, sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với việcgiải quyết vụ án một cách công bằng, khách quan Những chứng cứ được thuthập bằng biện pháp thu thập vật chứng cần phải được lập thành biên bản và có

sự xác nhận của người làm chứng thì mới có giá trị pháp lý trong việc chứngminh yêu cầu của đương sự trước Tòa Để ghi nhận đầy đủ, chi tiết các nội dung

vụ việc, Luật sư cần chuẩn bị các thiết bị hỗ trợ như máy ghi âm, ghi hình trongquá trình tiến hành thu thập chứng cứ Bên cạnh đó, Luật sư cần lưu ý khi tiếnhành thu thập chứng cứ tại chỗ phải đảm bảo các đối tượng xác minh tại chỗđược bảo đảm nguyên hiện trạng, không xáo trộn, không được làm hư hỏng, mấtmát, thất lạc

Trang 39

Để hoạt động thu thập chứng cứ đạt hiệu quả, pháp luật tố tụng dân sựquy định cụ thể về một số trường hợp Luật sư cũng như đương sự có thể ápdụng trong quá trình tiến hành thu thập như:

- Luật sư đề nghị Tòa án trưng cầu giám định

Quá trình thu thập chứng cứ, khi nhận thấy tài liệu, chứng cứ trong hồ sơkhông đáp ứng được điều kiện là chứng cứ, có dấu hiệu giả mạo, thiếu logic, v.v

có thể ảnh hưởng đến đương sự, Luật sư có thể đề nghị Tòa án tiến hành trưngcầu giám định theo quy định tại Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhằmđánh giá, kết luận chính xác về tài liệu, chứng cứ, góp phần đảm bảo sự thậtkhách quan của vụ việc

Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 22 Luật Giám định Tư pháp năm 2012 quy

định: “Người yêu cầu giám định có quyền gửi văn bản yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định”

“Người yêu cầu giám định chỉ được thực hiện quyền tự yêu cầu giám định trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm”

Như vậy, trong vụ án dân sự, đương sự hoặc Luật sư có quyền yêu cầuTóa án trưng cầu giám định, trường hợp Tòa án từ chối trưng cầu giám định thìđương sự hoặc Luật sư có quyền tự yêu cầu giám định Để thực hiện quyền giámđịnh trong vụ án dân sự, Tòa án thụ lý vụ án phải từ chối trưng cầu giám định,đồng thời, việc thực hiện quyền giám định phải trong thời hạn trước khi Tòa án

ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm Tuy nhiên, việc Luật sư hoặc đương

sự trực tiếp thực hiện trưng cầu giám định tư pháp có được Tòa án chấp nhậnhay không lại là vấn đề cần xem xét Theo quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 80

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người thực hiện giám định không được tựmình thu thập tài liệu để tiến hành giám định và không được tiếp xúc với nhữngngười tham gia tố tụng nếu việc tiếp xúc ảnh hưởng đến kết quả giám định

Ngày đăng: 16/08/2021, 18:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w