1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự trong tố tụng dân sự việt nam

198 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Đoàn Tấn Minh – Nguyễn Ngọc Điệp 2016, Nhà xuất bản Lao động; Bình luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Nguyễn

Trang 1

THÁI THỊ CẨM VÂN

CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ

CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM 2020

Trang 2

THÁI THỊ CẨM VÂN

CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

HỌ VÀ TÊN NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

ThS NGUYỄN TRẦN BẢO UYÊN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM 2020

Trang 3

luận này là kết quả của sự tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân tôi về pháp luật Việt Nam, thực tiễn áp dụng pháp luật và pháp luật nước ngoài liên quan đến đề tài nghiên cứu Những tài liệu tham khảo được trích dẫn, ghi rõ nguồn và liệt kê tại danh mục tài liệu Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 6 năm 2020

Tác giả

Thái Thị Cẩm Vân

Trang 4

BLTTDS Liên bang Nga 2002

Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga (Luật

số 138-Fz) ngày 14 tháng 11 năm 2002, được sửa đổi, bổ sung ngày 06 tháng 02 năm 2012

Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng

02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ

sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng và giao dịch

Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP

Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định về “chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi,

bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự

Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP

Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự

Trang 6

CHỨNG CỨ CỦA ĐƯƠNG SỰ 8

1.1 Quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của đương sự 8

1.2 Khái niệm biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự 11

1.3 Ý nghĩa của quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự 12

1.4 Quá trình ghi nhận quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự trong tố tụng dân sự 14

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA ĐƯƠNG SỰ, THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 20

2.1 Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử; thu thập vật chứng 20

2.2 Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng 41

2.3 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật 46

2.4 Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng 50

2.5 Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản 51

KẾT LUẬN 60

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Chứng cứ có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng nói chung, hoạt động

tố tụng dân sự nói riêng Để tiếp cận sự thật khách quan và làm sáng tỏ nội dung vụ việc dân sự thì phải có chứng cứ”1 Bởi tầm quan trọng của chứng cứ, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình phát triển đã ghi nhận nội dung liên quan đến cung cấp chứng cứ và chứng minh, cụ thể tại Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 ngày 07 tháng 12 năm 1989 của Hội đồng Nhà nước về thủ tục giải quyết vụ án dân sự2, Pháp lệnh số 31-L/CTN ngày 29 tháng 3 năm 1994 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế3, Pháp lệnh số 48-L/CTN ngày 11 tháng 4 năm

1996 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động4 Trong Bộ luật Tố tụng dân sự 20045 và Bộ luật Tố tụng dân sự 20156, cung cấp chứng

cứ và chứng minh đã được khái quát hóa thành một nguyên tắc cơ bản của ngành luật

tố tụng dân sự Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nội dung nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh nhấn mạnh nghĩa vụ chứng minh của đương sự, đề cập quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của đương sự, trách nhiệm hỗ trợ và thu thập

1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị

Hoài Phương, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 207

2 Điều 3 Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 ngày 07 tháng 12 năm 1989 của Hội đồng Nhà nước về thủ tục giải

quyết vụ án dân sự: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Tòa án có nhiệm

vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác”

3 Điều 4 Pháp lệnh số 31-L/CTN ngày 29 tháng 3 năm 1994 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thủ tục giải

quyết các vụ án kinh tế: “Khi cần thiết, Tòa án có thể xác minh, thu thập chứng cứ để bảo đảm cho việc giải

quyết vụ án được chính xác”

4 Điều 3 Pháp lệnh số 48-L/CTN ngày 11 tháng 4 năm 1996 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thủ tục giải

quyết các tranh chấp lao động: “Khi cần thiết, Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu các

bên tranh chấp lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án lao động được chính xác, công bằng Các bên tranh chấp lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn theo yêu cầu của Tòa án”

5 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004:

“1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình

là có căn cứ và hợp pháp

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự

2 Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”

6 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

“1 Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự

2 Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”

Trang 8

chứng cứ của Tòa án Trong đó, đương sự là chủ thể trước tiên và chủ yếu của hoạt động thu thập chứng cứ, với mục đích chính là chứng minh tính hợp pháp và có căn

cứ của yêu cầu hay phản đối mình đưa ra

Quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ là một sự thể hiện của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Nếu Bộ luật Tố tụng dân sự

2004 chỉ ghi nhận các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án thì đến Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các nhà làm luật bên cạnh việc bổ sung một số biện pháp thu thập chứng cứ cho chủ thể Tòa án thì còn ghi nhận minh thị các biện pháp thu thập chứng

cứ của đương sự Vai trò chủ yếu của đương sự trong hoạt động thu thập chứng cứ dẫn đến tính cấp thiết của việc cho ra đời quy định về các biện pháp thu thập chứng

cứ của đương sự để thực hiện được vai trò ấy Thông qua việc thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định, đương sự chủ động hơn khi chứng minh cho yêu cầu mình đưa ra hay phản đối yêu cầu của người khác đối với mình Bên cạnh chứng

cứ mà Tòa án tự mình thu thập trong những trường hợp luật định thì chứng cứ được đương sự thu thập và giao nộp cũng là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu của đương sự, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ

án và từ đó góp phần bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự có được quy định rõ ràng, chi tiết thì khả năng

tự bảo vệ mình thông qua các biện pháp này của đương sự mới được nâng cao Tuy nhiên, trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự chỉ được nêu tên mà chưa có hướng dẫn thực hiện cụ thể, nhiều nội dung bất cập, vướng mắc và không có cơ chế thực thi trên thực tiễn, gây khó khăn cho đương sự trong quá trình thu thập chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi của mình Vì

vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự trong

tố tụng dân sự Việt Nam” với mục đích làm rõ quy định pháp luật liên quan đến các

biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự, đưa ra những quan điểm pháp lý cũng như kiến nghị hướng giải quyết để khắc phục, hạn chế những bất cập, vướng mắc trên, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Theo tìm hiểu của tác giả, đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự trong tố tụng dân

Trang 9

sự Phần lớn các công trình đều chỉ đề cập các biện pháp thu thập chứng cứ của đương

sự thông qua việc nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ, hoạt động chứng minh nói chung hay các biện pháp thu thập chứng cứ của chủ thể khác như Tòa án Cụ thể:

- Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam (Trường Đại học Luật Thành phố

Hồ Chí Minh (2017), Nguyễn Thị Hoài Phương, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật

gia Việt Nam); Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà

Nội (2017), Nguyễn Công Bình, Nhà xuất bản Công an nhân dân): Các giáo trình đã cung cấp những kiến thức cơ bản, phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập của sinh viên Tuy nhiên, do đặc điểm của giáo trình là đề cập những vấn đề mang tính chất lý luận, khái quát nên các công trình này dành một chương để nghiên cứu về chứng cứ và chứng minh cũng như trình bày hoạt động thu thập chứng cứ như một hoạt động của quá trình chứng minh, không đi sâu vào phân tích bản chất của hoạt động này, không chi tiết hóa các biện pháp thu thập chứng cứ cũng như không chỉ ra những bất cập, hướng hoàn thiện pháp luật có liên quan

- Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Đoàn Tấn Minh – Nguyễn Ngọc Điệp (2016), Nhà xuất bản Lao động); Bình luận những điểm mới trong

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Nguyễn Thị Hoài Phương (Chủ biên) (2016), Nhà

xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam); Bình luận khoa học về những điểm

mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Nguyễn Thị Hồng Nhung (Chủ biên)

(2017), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh): Những sách này tập trung vào việc bình luận từng chế định hoặc từng điều luật, có ghi nhận quy định

về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự nhưng vẫn chưa phân tích được cách thức, phương tiện đương sự có thể sử dụng để thu thập chứng cứ

- Luận văn Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình

giải quyết vụ án dân sự (Trương Việt Hồng (2014), Trường Đại học Luật Thành phố

Hồ Chí Minh); Luận văn Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phúc thẩm trong

quá trình giải quyết vụ án dân sự (Nguyễn Văn Hiểu (2015), Trường Đại học Luật

Thành phố Hồ Chí Minh): Các đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ của đối tượng cụ thể là Tòa án và ở cấp xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm mà chưa đi sâu vào hoạt động cũng như các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự

- Luận văn Thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 (Hoàng Hải An (2017), Trường Đại học Luật Hà Nội): Luận văn trình bày các

Trang 10

biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự khi đề cập hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự, nằm trong tổng thể hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể khác theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chưa đi sâu phân tích, làm rõ từng biện pháp cũng như những bất cập có liên quan

- Luận văn Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự (Nguyễn Văn Thành (2013), Trường Đại học Luật Hà Nội); Luận văn Các biện pháp

thu thập chứng cứ của Tòa án và thực tiễn tại Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình

(Mai Thị Quyên (2018), Trường Đại học Luật Hà Nội): Phạm vi nghiên cứu của những đề tài này tập trung vào các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án mà không

đi sâu vào đương sự

- Khóa luận Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự (Trần Quốc Dũng (2010), Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh); Khóa luận Hoạt động

thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự (Trần Phương Thảo (2012), Trường Đại học

Luật Thành phố Hồ Chí Minh): Đối tượng nghiên cứu của các đề tài này là hoạt động thu thập chứng cứ, là khái niệm có phạm vi rộng hơn so với các biện pháp thu thập chứng cứ Hơn nữa, các công trình nghiên cứu trước thời điểm Bộ luật Tố tụng dân

sự 2015 có hiệu lực Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã bổ sung nhiều quy định mới, trong đó minh thị quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự nên cần

có sự tổng hợp, cập nhật kịp thời

- Bài viết “Một số ý kiến về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự” (2013) của tác giả Hà Thái Thơ đăng trên Tạp chí Nghề luật, Học viện

Tư pháp, số 05: Bài viết hướng trọng tâm vào trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa

án trong tố tụng dân sự, do vậy không đi vào nghiên cứu hoạt động thu thập cũng như các biện pháp thu thập chứng cứ của chủ thể đương sự

- Bài viết “Xác minh, thu thập chứng cứ trong các vụ án ly hôn có yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng” (2017) của tác giả Đào Thanh Huyền đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, số 7 (304): Bài viết nghiên cứu về vấn đề xác minh, thu thập chứng cứ trong phạm vi các vụ án ly hôn có yêu cầu chia tài sản chung của

vợ chồng mà không phân tích vấn đề này trong các tranh chấp khác

- Bài viết “Ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự” của tác giả Thái Chí

Trang 11

Bình7; Bài viết “Giải quyết vụ án trong trường hợp không thực hiện được việc ủy thác” của tác giả Kim Thúy, Bích Phượng8; Bài viết “Lấy lời khai đương sự của Tòa

án theo tố tụng dân sự, một số bất cập và kiến nghị” của tác giả Nguyễn Hữu Duyên9; Bài viết “Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Lê Văn Sua10; Bài viết “Những bất cập về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong BLTTDS năm 2015” của tác giả Nguyễn Nam Hưng11; Bài viết “Vướng mắc trong việc ấn định số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản khi giải quyết các vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Văn Phi12; Bài viết “Thực tiễn áp dụng thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ trong các vụ án dân sự” của tác giả Lê Thị Thanh Xuân13; Bài viết “Bàn về nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá, thẩm định giá trong BLTTDS năm 2015” của tác giả Lê Văn Sua14: Các tác giả này chỉ tập trung phân tích một trong những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án mà chưa trình bày về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài được thực hiện hướng đến các mục đích là:

Thứ nhất, phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến các biện pháp thu

thập chứng cứ của đương sự, tìm ra những điểm bất cập, chưa hợp lý, chưa rõ ràng

9 Nguyễn Hữu Duyên, “Lấy lời khai đương sự của Tòa án theo tố tụng dân sự, một số bất cập và kiến nghị”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/cac-ban-an-le/lay-loi-khai-duong-su-cua-toa-an-theo-to-tung-dan-su-mot-so- bat-cap-va-kien-nghi, truy cập ngày 01/4/2020

10 Lê Văn Sua, “Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2044, truy cập ngày 07/4/2020

11 Nguyễn Nam Hưng, “Những bất cập về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong BLTTDS năm 2015”, https://kiemsat.vn/nhung-bat-cap-ve-dinh-gia-tai-san-tham-dinh-gia-tai-san-trong-blttds-nam-2015-

50367.html, truy cập ngày 03/4/2020

12 Nguyễn Văn Phi, “Vướng mắc trong việc ấn định số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản khi giải quyết các vụ án dân sự”, http://vkscantho.vn/vkscantho/index.php/news/Trao-doi-nghiep- vu/Vuong-mac-trong-viec-an-dinh-so-tien-tam-ung-chi-phi-xem-xet-tham-dinh-tai-cho-va-dinh-gia-tai-san- khi-giai-quyet-cac-vu-an-dan-su-1365/, truy cập ngày 08/4/2020

13 Lê Thị Thanh Xuân, “Thực tiễn áp dụng thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ trong các vụ án dân sự”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/thuc-tien-ap-dung-thu-tuc-xem-xet-tham-dinh-tai-cho-trong-cac-vu- an-dan-su, truy cập ngày 02/4/2020

14 Lê Văn Sua, “Bàn về nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá, thẩm định giá trong BLTTDS năm 2015”, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2218, truy cập ngày 03/4/2020

Trang 12

của quy định pháp luật hiện hành có liên quan, từ đó đưa ra đánh giá, nhận xét về các bất cập này

Thứ hai, phân tích, bình luận thực tiễn áp dụng pháp luật về các biện pháp thu

thập chứng cứ của đương sự nhằm tìm ra những vướng mắc khi thực thi những quy định này trên thực tế

Thứ ba, liên hệ một số quy định tương tự trong các ngành luật khác và pháp luật

nước ngoài về các vấn đề cần phân tích để đưa ra những điểm tương đồng, khác biệt của những quy định này so với quy định pháp luật Việt Nam, từ đó đưa ra nhận định, tiếp thu những điểm tiến bộ trong pháp luật nước ngoài, làm cơ sở cho việc xem xét sửa đổi, bổ sung pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự

Thứ tư, mục đích quan trọng nhất của đề tài là đề xuất phương hướng hoàn thiện

pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu giới hạn về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, không tập trung nghiên cứu các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án hay các chủ thể khác trong tố tụng dân sự cũng như các biện pháp thu thập chứng cứ trong tố tụng hành chính, tố tụng hình sự, tố tụng trọng tài Tuy nhiên, tác giả có liên hệ quy định về các vấn đề có liên quan trong ngành luật

tố tụng hành chính, tố tụng hình sự, pháp luật trọng tài thương mại nhằm so sánh, làm

rõ vấn đề Khi phân tích vấn đề dựa trên pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành, tác giả cũng đối chiếu, so sánh với một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004,

Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Tác giả cũng tham khảo những quy định pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài như Cộng hòa Pháp, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Liên bang Nga về các vấn đề có liên quan để mở rộng phạm vi nghiên cứu nhưng không tập trung phân tích các quy định có liên quan của pháp luật quốc gia này mà chỉ trình bày các quy định có liên quan đó với mục đích đối chiếu, so sánh với pháp luật Việt Nam để làm rõ đối tượng nghiên cứu Đối với từng vấn đề, tác giả bình luận, phân tích nội dung có liên quan trong bản án, quyết định của Tòa án để làm rõ thực tiễn áp dụng, nhằm tăng tính thực tiễn cho những kiến nghị pháp luật có liên quan về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

+ Trong Chương 1, tác giả sử dụng kết hợp và đan xen phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp liên hệ, đối chiếu, so sánh Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi tác giả nghiên cứu làm rõ quyền và nghĩa

vụ thu thập chứng cứ của đương sự, đưa ra khái niệm biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự; đây cũng là các phương pháp được tác giả sử dụng khi trình bày về ý nghĩa của quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của chủ thể này Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử, liên hệ, đối chiếu, so sánh khi trình bày về quá trình ghi nhận quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự trong tiến trình phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

+ Trong Chương 2, tác giả sử dụng kết hợp những phương pháp như nêu tại Chương 1 để làm rõ nội dung của từng biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự, nêu ra bất cập, phân tích và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật có liên quan

Chương 2: Các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự, thực tiễn áp dụng

và kiến nghị hoàn thiện

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ

CỦA ĐƯƠNG SỰ 1.1 Quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của đương sự

Trước BLTTDS 2015, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có ghi nhận nội dung

về cung cấp chứng cứ và chứng minh nhưng không quy định minh thị đương sự có quyền hay có nghĩa vụ hay vừa có quyền vừa có nghĩa vụ thu thập chứng cứ

Theo Điều 3 Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8, “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp

chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình” Điều 2 Pháp lệnh số 31-L/CTN quy định

“Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình” Theo Điều 2 Pháp lệnh số 48-L/CTN, “Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Khoản 1 Điều 6

BLTTDS 2004 thể hiện rằng “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” Có

thể thấy các văn bản này không ghi nhận cụ thể về việc đương sự có quyền hay nghĩa

vụ thu thập chứng cứ mà chỉ quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự

Trên tinh thần kế thừa và phát triển những quy định về cung cấp chứng cứ và chứng minh nêu trên, BLTTDS 2015 đề cập minh thị quyền và nghĩa vụ của đương

sự trong việc thu thập chứng cứ Cụ thể, Điều 6 BLTTDS 2015 quy định “Đương sự

có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” Như vậy, thu thập chứng cứ

vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự Quy định này loại bỏ những tranh cãi xung quanh vấn đề đương sự có quyền hay chỉ có nghĩa vụ hay vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ thu thập chứng cứ

Tác giả cho rằng cách quy định thu thập chứng cứ vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự là phù hợp, bởi lẽ quyền và nghĩa vụ lúc này được hiểu theo ý nghĩa bổ sung cho nhau

Thứ nhất, về quyền thu thập chứng cứ của đương sự: Đương sự được pháp luật

trao quyền thu thập chứng cứ để chứng minh khi họ đưa ra yêu cầu hay phản đối một

Trang 15

vấn đề nào đó15 Việc các đương sự cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là một trong những nội dung xuất phát từ cơ sở quyền tự định đoạt của đương sự16 Việc ghi nhận quyền thu thập chứng

cứ cho phép đương sự được ủy quyền cho chủ thể khác thu thập chứng cứ hay yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp chứng cứ cho mình, đồng thời cũng có thể yêu cầu sự hỗ trợ thu thập chứng cứ từ Tòa án Nếu chỉ ghi nhận nghĩa vụ đồng nghĩa với việc đương sự bắt buộc phải tự mình thu thập chứng cứ và cơ quan, tổ chức,

cá nhân khác sẽ có lý do từ chối yêu cầu thu thập chứng cứ của đương sự vì nghĩa vụ của chủ thể nào thì chủ thể đó tự mình thực hiện

Thứ hai, về nghĩa vụ thu thập chứng cứ của đương sự: Đương sự có nghĩa vụ

thu thập chứng cứ vì họ phải có trách nhiệm với chính những yêu cầu hay phản đối của mình Họ phải dùng những chứng cứ mà mình thu thập được để làm rõ yêu cầu

mà họ đưa ra là hợp pháp và có căn cứ, đồng thời dùng những chứng cứ đó để phản đối yêu cầu của người khác đối với họ

Như vậy, quy định quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của đương sự trong trường hợp này là phù hợp và không mâu thuẫn nhau

Quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự nói chung và quy định quyền, nghĩa vụ thu thập chứng cứ của đương sự nói riêng xuất phát từ nguyên nhân “đương

sự là người trong cuộc nên họ biết rõ về vụ việc dân sự, có điều kiện cung cấp các tin tức về vụ việc dân sự và nguồn gốc của nó, từ đó Tòa án có thể xác định được những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Mặt khác, đương sự có quyền, lợi ích liên quan đến vụ việc dân sự đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của đương sự khác nên họ sẽ quan tâm và tìm mọi biện pháp để khẳng định yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của mình”17 Đây là quy định cần thiết để đương sự phát huy vai trò chủ động của mình trong quá trình thu thập chứng cứ, tạo điều kiện để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình một cách tốt nhất

15 Khoản 2 Điều 24 BLTTDS 2015: “Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có

quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng

cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này”

16 Nguyễn Thị Hoài Phương (Chủ biên) (2016), Bình luận những điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 102

17 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Công Bình, NXB

Công an nhân dân, tr 139

Trang 16

Qua nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự một số nước trên thế giới, có thể thấy pháp luật những quốc gia này không quy định minh thị về việc thu thập chứng cứ là quyền hay nghĩa vụ của đương sự Cụ thể:

Theo Quy tắc 301 thuộc Quy tắc chứng cứ Liên bang Mỹ 1972 (sửa đổi, bổ sung

năm 2019), “Trong một vụ việc dân sự, trừ khi một đạo luật liên bang hoặc các quy

tắc này quy định khác, bên chống lại một yêu cầu có trách nhiệm cung cấp chứng cứ

để bác bỏ yêu cầu đó Nhưng quy tắc này không chuyển giao trách nhiệm chứng minh sang bên còn lại, mà trách nhiệm chứng minh vẫn thuộc về bên đã đưa ra yêu cầu

Ngoài ra, Điều 9 BLTTDS Cộng hòa Pháp 1806 cũng quy định “Mỗi bên phải

định này nhấn mạnh nghĩa vụ chứng minh của đương sự và cũng không làm rõ việc đương sự có quyền hay nghĩa vụ thu thập chứng cứ hay không

Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 56 BLTTDS Liên bang Nga 2002: “Một bên

phải chứng minh những tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu hay phản đối của mình,

hòa Pháp 1806, BLTTDS Liên bang Nga 2002 cũng chỉ minh thị nghĩa vụ chứng minh của đương sự

Như vậy, pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Liên bang Nga chỉ ghi nhận đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh, đồng thời không quy định quyền, nghĩa vụ thu thập chứng cứ của đương sự như trong BLTTDS

2015

Có thể thấy, vì BLTTDS 2015 ghi nhận thu thập chứng cứ vừa là quyền vừa là

18 Rule 301 – Presumptions in Civil Cases Generally: “In a civil case, unless a federal statute or these rules

provide otherwise, the party against whom a presumption is directed has the burden of producing evidence to rebut the presumption But this rule does not shift the burden of persuasion, which remains on the party who had it originally”

“Federal Rules of Evidence”, https://www.rulesofevidence.org/article-iii/rule-301/, truy cập ngày 12/4/2020

19 Article 9 Code of Civil Procedure of France 1806: “Each party must prove, according to the law, the facts

necessary for the success of his claim”

“Code of Civil Procedure of France”, https://www.legifrance.gouv.fr/content/location/1745, truy cập ngày 15/4/2020

20 Clause 1 Article 56 Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as

amended up to February 6, 2012): “Each party shall prove those facts to which it refers as to the grounds for

its claims and objections, unless otherwise stipulated federal law”

“Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as amended up to February 6, 2012)”, https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru081en.pdf, truy cập ngày 15/4/2020

Trang 17

nghĩa vụ của đương sự, quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ tại khoản 1 Điều

97 BLTTDS 2015 là “một bước tiến mới về lập pháp”21 giúp đương sự có điều kiện thực hiện quyền cũng như nghĩa vụ của mình một cách tốt nhất, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình

1.2 Khái niệm biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự

BLTTDS 2015 nêu ra khái niệm về “chứng cứ” tại Điều 93 và đề cập các biện pháp thu thập chứng cứ tại Điều 97, tuy nhiên chưa giải thích thế nào là biện pháp thu thập chứng cứ

Biện pháp thu thập chứng cứ được cấu thành bởi ba bộ phận: “biện pháp”, “thu thập” và “chứng cứ”

Thứ nhất, về khái niệm “biện pháp”:

Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2002,

“biện pháp” là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”22 Đây cũng là cách giải thích được tìm thấy trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm

Thứ hai, về khái niệm “thu thập”:

Khái niệm “thu thập” cũng được nhiều tác giả hiểu theo nhiều cách Theo Từ điển Tiếng Việt, thu thập là “góp nhặt và tập hợp lại”25 Cũng có quan điểm khác cho rằng thu thập là “nhặt nhạnh, thu góp lại”26

21 Trần Anh Tuấn (Chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Xã hội

Chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB Tư pháp, tr 252

22 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB TP Hồ Chí Minh, tr 58

23 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, tr 64

24 Nguyễn Văn Xô (2008), Từ điển tiếng Việt 2008, NXB Thanh niên, tr 52

25 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, tr 958

26 Nguyễn Như Ý (1988), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, tr 1593

Trang 18

Tác giả cho rằng thu thập không chỉ là góp nhặt, nhặt nhạnh, tập hợp và thu góp

lại, mà còn là tìm kiếm, phát hiện Có thể hiểu, thu thập là tìm kiếm, phát hiện, tập

hợp, thu nhận

Thứ ba, về khái niệm “chứng cứ”:

“Chứng cứ” cũng là khái niệm được giải thích trong Từ điển tiếng Việt, cụ thể,

“chứng cứ” là “cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định điều gì đó là có thật”27 Theo nghĩa pháp lý, Điều 93 BLTTDS 2015 đưa ra khái niệm chứng cứ trong vụ việc dân

sự như sau: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”

Như vậy, theo cách hiểu thông thường, biện pháp thu thập chứng cứ là cách thức, phương pháp được một hoặc một số chủ thể sử dụng để tìm ra và thu giữ chứng

cứ, nhằm phục vụ cho một hoặc một số mục đích cụ thể Tuy nhiên, trong tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng, cách thức tìm ra và thu giữ chứng cứ phải được tuân theo trình tự, thủ tục luật định thì những chứng cứ được thu thập mới hợp pháp

và có giá trị chứng minh Do đó, một cách đầy đủ hơn, biện pháp thu thập chứng cứ

nên được hiểu là cách thức, phương pháp được một hoặc một số chủ thể sử dụng để

tìm ra và thu giữ chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định, nhằm phục vụ cho một hoặc một số mục đích cụ thể

Vậy thế nào là biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự?

Dựa trên các khái niệm được làm rõ như trên, có thể hiểu biện pháp thu thập

chứng cứ của đương sự là cách thức, phương pháp mà pháp luật tố tụng dân sự quy định cho đương sự, được đương sự áp dụng để tìm ra và thu giữ những chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

1.3 Ý nghĩa của quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự

Quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thu thập chứng cứ của chủ thể này nói riêng và trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nói chung, vì những lý do sau:

27 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, tr 192

Trang 19

Thứ nhất, đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng

dân sự Theo khoản 1 Điều 6 BLTTDS 2015, “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ

động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình

là có căn cứ và hợp pháp” Để thực hiện được quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập,

giao nộp chứng cứ cho Tòa án, đương sự cần những biện pháp thu thập chứng cứ cụ thể, cho phép đương sự thông qua những biện pháp này có thể tự mình tìm kiếm, thu thập chứng cứ để chứng minh tính hợp pháp và có căn cứ cho yêu cầu mình đưa ra hay phản đối yêu cầu của người khác đối với mình Việc ghi nhận quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự thể hiện một trong những nội dung của nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Thứ hai, đảm bảo nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử Khoản 2 Điều

24 BLTTDS 2015 ghi nhận một trong những nội dung của nguyên tắc bảo đảm tranh

tụng trong xét xử như sau: “Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp” Có

thể thấy, quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự bảo đảm quyền của đương sự trong việc thu thập, giao nộp tài liệu chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý

vụ án dân sự Kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, đương sự có thể thu thập chứng

cứ thông qua các biện pháp được đề cập trong BLTTDS 2015 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Thứ ba, tăng tính chủ động cho đương sự trong hoạt động thu thập chứng cứ

Nhờ có quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ, đương sự có quyền chủ động lựa chọn và áp dụng những biện pháp nào thuận lợi cho mình để tìm ra chứng cứ, bảo

vệ tối đa quyền và lợi ích của chính mình Quy định này tạo điều kiện cho “đương sự

có thể thu thập chứng cứ mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với kế hoạch và điều kiện chủ quan của mình, không bị ràng buộc, thúc ép hay phải tuân theo một chỉ đạo hay điều khiển của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào”28

“Đương sự là người hiểu hơn ai hết vấn đề mâu thuẫn của họ, họ cũng là người

rõ ràng nhất tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự của mình là gì, có bao

28 Trần Anh Tuấn (Chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Xã hội

Chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB Tư pháp, tr 17, 18

Trang 20

nhiêu và ở đâu”29 Việc quy định các biện pháp thu thập chứng cứ tạo cơ chế cho đương sự chủ động tìm ra những chứng cứ mà mình biết rõ đó

Thứ tư, giúp rút ngắn thời gian giải quyết vụ án Trước khi yêu cầu sự hỗ trợ từ

phía Tòa án hoặc yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp chứng cứ cho mình, đương sự có thể chủ động tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ do luật quy định, hạn chế thời gian chờ đợi khi yêu cầu hỗ trợ hay giúp đỡ từ chủ thể khác

mà đôi khi sự yêu cầu hỗ trợ, giúp đỡ này không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả

Thứ năm, giảm áp lực thu thập chứng cứ cho Tòa án Bên cạnh quy định các

biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự thì BLTTDS 2015 cũng quy định các biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án được tiến hành30 Trong hoạt động thu thập chứng

cứ, Tòa án đóng vai trò hỗ trợ đương sự và được thu thập chứng cứ trong một số trường hợp luật định Các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự có được thực hiện một cách hiệu quả thì Tòa án cũng giảm bớt gánh nặng trong việc tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ của mình theo quy định

1.4 Quá trình ghi nhận quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương

sự trong tố tụng dân sự

Trước BLTTDS 2015, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam không quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy chỉ có Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 đề cập đến cụm từ “biện pháp điều tra cần thiết”31 khi quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự, song cũng chưa

29 Hoàng Hải An (2017), Thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luận văn

Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 27

30 Khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015:

“Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây

để thu thập tài liệu, chứng cứ:

a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;

b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng;

c) Trưng cầu giám định;

d) Định giá tài sản;

đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ;

e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;

g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự;

h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú;

i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này”

31 Khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8: “Các đương sự có quyền bình đẳng trong việc cung cấp

chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình; được biết chứng cứ do bên kia cung cấp; yêu cầu Tòa án tiến hành biện pháp điều tra cần thiết…”

Trang 21

thể khẳng định cụm từ này mang ý nghĩa tương đồng với “biện pháp thu thập chứng cứ”

Trong BLTTDS 2004, tại Điều 6 ghi nhận “Các đương sự có quyền và nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ

và hợp pháp” Quy định này không minh thị quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ

của đương sự, trong khi đó đối với Tòa án thì nêu rõ “Tòa án chỉ tiến hành xác minh,

thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định” Điều này dẫn

đến Điều 85 Bộ luật này cũng chỉ đề cập các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

mà không quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự Sự không quy định này đã dẫn đến một số bất cập trong quá trình thi hành Cụ thể, trong Báo cáo tổng kết năm năm thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tối cao đưa ra bất cập đối với quy định về chứng minh và chứng cứ như sau: “Những quy định của BLTTDS về chứng cứ và chứng minh chủ yếu là về nguyên tắc, thiếu những quy định

cụ thể về việc đảm bảo quyền thu thập chứng cứ và chứng minh của đương sự”32 Trong Bản thuyết minh về dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), thay mặt Ban soạn thảo, Tòa án nhân dân tối cao đưa ra một trong những quan điểm chỉ đạo và yêu cầu đối với việc soạn thảo BLTTDS (sửa đổi) là “tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”33

Như vậy, để hạn chế hoặc loại bỏ bất cập liên quan đến quy định đảm bảo quyền thu thập chứng cứ của đương sự cũng như “tạo điều kiện cho đương sự chủ động thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” thì việc bổ sung quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự là điều cần thiết và quan trọng Nhờ

có quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ mà đương sự được chủ động hơn trong hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh, nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Chính vì lẽ đó, đến BLTTDS 2015, tại khoản 1 Điều 97 đã minh thị ghi nhận

các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự Cụ thể, “Cơ quan, tổ chức, cá nhân

có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây: a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử; b) Thu thập vật chứng; c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng; d)

32 Tòa án nhân dân tối cao (2010), Báo cáo tổng kết năm năm thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội, tr 23

33 Tòa án nhân dân tối cao (2015), Bản thuyết minh về Dự án Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi), Hà Nội, tr 1

Trang 22

Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý; đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng; e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản; h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật” Quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ này đã mở ra cho đương sự hướng

đi mới để có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình, hạn chế sự phụ thuộc vào việc thu thập chứng cứ của chủ thể khác trong tố tụng dân sự

Liên hệ với pháp luật tố tụng hành chính, khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính 2015 cũng ghi nhận các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự Theo đó,

“Đương sự có quyền tự mình thu thập chứng cứ bằng những biện pháp sau đây: a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử; b) Thu thập vật chứng; c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng; d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý; đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng; e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản; h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các công việc khác theo quy định của pháp luật”

Có thể thấy, nếu khoản 1 Điều 97 BLTTDS 2015 quy định chủ thể tự mình thu thập chứng cứ là “cơ quan, tổ chức, cá nhân” thì khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính 2015 nêu rõ chủ thể này là “đương sự” Điều này có nghĩa chủ thể tự mình thu thập chứng cứ trong Luật Tố tụng hành chính 2015 có phạm vi hẹp hơn so với BLTTDS 2015, bởi trong khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính 2015 nêu trên thì chỉ có đương sự - tư cách phát sinh sau khi Tòa án thụ lý vụ việc mới được tự mình thu thập chứng cứ Trong khi đó, chủ thể tự mình thu thập chứng cứ tại khoản

1 Điều 97 BLTTDS 2015 bao gồm cả cơ quan, tổ chức, cá nhân trong giai đoạn chuẩn

Trang 23

bị hồ sơ gửi kèm đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết vụ việc dân

sự34

Ngoài điểm khác biệt nêu trên thì nhìn chung các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự trong Luật Tố tụng hành chính 2015 đều có sự tương đồng so với BLTTDS 2015 Sự tương đồng này xuất phát từ sự giao nhau giữa BLTTDS 2015 và Luật Tố tụng hành chính 2015 về quy định quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của đương sự Tương tự khoản 1 Điều 6 BLTTDS 2015, nội dung về cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh cũng được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Tố tụng hành

chính 2015 như sau: “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao

nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh như đương sự” Việc quy định quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của đương sự trong

tố tụng hành chính cũng dẫn đến sự cần thiết của quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự để họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình

Nếu BLTTDS 2015 cũng như Luật Tố tụng hành chính 2015 nêu rõ các biện pháp mà đương sự có thể thực hiện để thu thập chứng cứ thì trong Luật Trọng tài thương mại 2010, các biện pháp thu thập chứng cứ của các bên tranh chấp không

được đề cập Khoản 1 Điều 46 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định “Các bên

có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Hội đồng trọng tài để chứng minh các

sự việc có liên quan đến nội dung đang tranh chấp” Khi quy định về thẩm quyền

của Hội đồng trọng tài, Điều 46 Luật Trọng tài thương mại 2010 có nhắc đến quyền

và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của các bên tranh chấp mà chưa cho biết các bên tranh chấp có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ hay không cũng như thực hiện được việc thu thập chứng cứ đó bằng những biện pháp nào Việc Luật Trọng tài thương mại 2010 không quy định cụ thể các biện pháp thu thập chứng cứ của các bên tranh chấp dẫn đến khó khăn cho các bên trong việc chứng minh sự việc có liên quan đến nội dung đang tranh chấp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ Ngược lại, trong BLTTDS 2015, các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự được

34 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), Bình luận khoa học về những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr 66

Trang 24

đề cập rõ cho phép đương sự dễ dàng hơn trong việc lựa chọn biện pháp phù hợp để thu thập tài liệu có giá trị chứng minh cho yêu cầu hay phản đối của mình

Trang 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự là cách thức, phương pháp mà pháp luật tố tụng dân sự quy định cho đương sự, được đương sự áp dụng để tìm ra và thu giữ những chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Theo BLTTDS 2015, đương sự có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ Trong

tố tụng dân sự Việt Nam, các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự lần đầu tiên được ghi nhận cụ thể trong BLTTDS 2015 Quy định về các biện pháp thu thập chứng

cứ là một quy định mới, giúp đương sự có điều kiện thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách tốt nhất, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình

Quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, tạo sự chủ động cho đương sự trong hoạt động thu thập chứng cứ, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như giảm áp lực cho Tòa án trong việc thu thập chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự được khách quan, toàn diện

Trang 26

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA ĐƯƠNG SỰ, THỰC TIỄN

ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Theo khoản 1 Điều 97 BLTTDS 2015, “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự

mình thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây: a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử; b) Thu thập vật chứng; c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng; d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý; đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng; e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản; h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật”

Mặc dù quy định cụ thể các biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự nhưng BLTTDS 2015 và các văn bản có liên quan chưa có hướng dẫn về việc thực hiện các biện pháp này Việc không có cơ chế, trình tự, thủ tục thực hiện từng biện pháp được

đề cập đã dẫn đến nhiều khó khăn cho đương sự khi không biết phải thu thập chứng

cứ bằng những cách thức nào Do đó, cần thiết phải nghiên cứu để làm rõ những cách thức, phương tiện cũng như hình thức mà đương sự có thể áp dụng khi thu thập chứng

cứ để nâng cao hiệu quả áp dụng của những biện pháp nêu trên, bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho đương sự

2.1 Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử; thu thập vật chứng

2.1.1 Thu thập tài liệu đọc được nội dung

2.1.1.1 Khái niệm tài liệu đọc được nội dung

Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành không quy định thế nào là tài liệu đọc được nội dung

Theo Từ điển tiếng Việt, “đọc” là (i) phát thành lời những điều đã được viết ra, theo đúng trình tự; (ii) tiếp nhận nội dung của một tập hợp ký hiệu bằng cách nhìn vào các ký hiệu; (iii) thu lấy thông tin từ một thiết bị nhớ của máy tính, như từ một

Trang 27

đĩa từ; (iv) hiểu thấu bằng cách nhìn vào những biểu hiện bề ngoài35

Tham khảo cách giải thích từ “đọc” nêu trên cũng như xem xét về mặt ngữ nghĩa

của tài liệu đọc được nội dung, có thể hiểu tài liệu đọc được nội dung là tài liệu được

thể hiện dưới hình thức văn bản mà nội dung của tài liệu này có thể được tiếp nhận thông qua việc nhìn vào các ký hiệu trong văn bản đó

Từ cách hiểu này, có thể nhận biết một số tài liệu đọc được nội dung trên thực

tế thường là hợp đồng, văn bản thỏa thuận giữa các bên, giấy tờ khác như giấy chứng nhận, thư từ… và những văn bản khác mà có thể đọc được nội dung của nó

BLTTDS Liên bang Nga 2002 tại khoản 1 Điều 71 có nhắc đến khái niệm về thư chứng, khái niệm này có sự tương đồng nhất định so với khái niệm tài liệu đọc

được nội dung trong BLTTDS 2015 Theo đó,“thư chứng” (bản dịch tiếng Anh là

“written proof”) được hiểu là “văn kiện, hợp đồng, giấy chứng nhận, thư từ, thư tín, những loại văn bản hoặc tài liệu khác được thể hiện bằng chữ số, đồ họa, từ ngữ được nhận thông qua các hình thức điện báo, fax, e-mail hoặc hình thức khác nhờ đó

có thể xác định tính xác thực của văn bản, nếu chúng chứa đựng những tình tiết có ý nghĩa để giải quyết vụ án” và “bản án kết tội, phán quyết khác của Tòa án, biên bản phiên tòa, biên bản thực hiện một số hành vi nhất định, sơ đồ, bản đồ, hình vẽ, đồ án,

thể hiện bằng văn bản, chứa chữ số, đồ họa, từ ngữ - những dạng mà nội dung của nó

là có thể đọc được và không quan trọng là nội dung này được nhận thông qua hình thức hay phương tiện nào

2.1.1.2 Điều kiện để tài liệu đọc được nội dung được xem là chứng cứ

Theo khoản 1 Điều 95 BLTTDS 2015, tài liệu đọc được nội dung được coi là

35 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, tr 330

36 Clause 1 Article 71 Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as

amended up to February 6, 2012): “Seen as written proof shall be the acts, agreements, reference notes,

business correspondence and other documents and materials made out in the form of digital or graphic recordings, including those obtained through the use of facsimile, electronic or other communication devices

or by another method allowing to ascertain the authenticity of the document which contains information on the circumstances of importance for the consideration and for the resolution of the case To written proofs shall

be referred the verdicts and the decisions of the court and the other judicial resolutions, the protocols on carrying out the procedural actions, the protocols of the court sessions and enclosures to the protocols on carrying out the procedural actions (schemes, maps, plans and drawings)”

“Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as amended up to February 6, 2012)”, https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru081en.pdf, truy cập ngày 15/4/2020 Bản dịch tiếng Việt tham khảo từ:

Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung (2005), Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, NXB Tư pháp, tr 87

Trang 28

chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc

do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận Quy định tương tự cũng được

tìm thấy tại khoản 2 Điều 71 BLTTDS Liên bang Nga 2002: “Thư chứng được xuất

Tuy nhiên, BLTTDS Liên bang Nga 2002 còn quy định cụ thể những trường hợp đương sự bắt buộc phải xuất trình bản chính mà không được là bản sao Cụ thể,

“Bản chính phải được xuất trình trong trường hợp theo quy định của pháp luật những tình tiết của vụ án phải được chứng minh bằng bản chính, khi vụ án không thể giải quyết được nếu thiếu bản chính hoặc khi các bản sao đưa ra có nội dung khác

nộp bản chính hay bản sao, điều này tạo sự linh hoạt và thuận tiện cho đương sự khi thu thập và giao nộp tài liệu đọc được nội dung Mặc dù vậy, việc cho phép lựa chọn

mà không quy định những trường hợp bắt buộc nộp bản chính và trường hợp nào bắt buộc nộp bản sao cũng dẫn đến sự tùy tiện của Tòa án khi tự mình quyết định đương

sự phải nộp bản chính hay bản sao thì mới chấp nhận

Thực tiễn ghi nhận một số trường hợp tài liệu đọc được nội dung không tuân thủ điều kiện để được xem là chứng cứ theo khoản 1 Điều 95 BLTTDS 2015 nhưng vẫn được Tòa án chấp nhận và dùng như chứng cứ tại phiên tòa Chẳng hạn, trong tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Văn Ngọc L và bị đơn bà

Huỳnh Thị Ngọc B, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định: “Bà Văn Ngọc L yêu cầu bà

Huỳnh Thị Ngọc B trả số tiền vốn vay 330.000.000 đồng theo hợp đồng vay tài sản

là Giấy vay tiền ngày 22/12/2016 Hợp đồng ký kết giữa hai bên không được công chứng, chứng thực nhưng có hình thức tuân thủ quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân

sự năm 2005, được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật Chứng cứ nêu

37 Clause 2 Article 71 Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as

amended up to February 6, 2012): “Written proof shall be presented in the original or in the form of a properly

attested copy”

“Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as amended up to February 6, 2012)”, https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru081en.pdf, truy cập ngày 15/4/2020 Bản dịch tiếng Việt tham khảo từ: Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung, tlđd (36), tr 87

38 Clause 2 Article 71 Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as

amended up to February 6, 2012): “The original documents shall be presented, if the case circumstances are

subject to confirmation only by such documents in conformity with the laws and the other legal normative acts,

if it is impossible to resolve the case without the original documents or if the copies of the document differing

in their content have been submitted”

“Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as amended up to February 6, 2012)”, https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru081en.pdf, truy cập ngày 15/4/2020 Bản dịch tiếng Việt tham khảo từ: Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung, tlđd (36), tr 87

Trang 29

trên do nguyên đơn cung cấp bản chính cho Tòa án xem xét; Tòa án đã kiểm tra đối chiếu bản chính Chứng cứ đã được bà Huỳnh Thị Ngọc B thừa nhận Vì vậy, có đủ

cơ sở để xác định bà Huỳnh Thị Ngọc B có vay của bà Văn Ngọc L số tiền là 330.000.000 đồng Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh Thị Ngọc B phải trả cho bà Văn Ngọc L số tiền vốn vay là 330.000.000

lập và không được xác nhận, đóng dấu bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó không thuộc những giấy tờ, văn bản được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao từ bản chính40 và đương nhiên cũng không được cấp bản sao từ sổ gốc vì không có sổ gốc trong trường hợp này Tuy nhiên, khi đương sự không giao nộp trực tiếp bản chính mà giao nộp bản photocopy hợp đồng này thì Tòa án vẫn xem xét, kiểm tra đối chiếu bản chính và chấp nhận bản photocopy được cung cấp Như vậy, với tài liệu đọc được nội dung, thực tế đương sự còn có thể thu thập bản photocopy của tài liệu này và nộp bản chính cho Tòa án đối chiếu mà không cần tuân theo quy định để tài liệu này được xem là chứng cứ tại khoản 1 Điều 95 BLTTDS 2015 Tuy nhiên, do điều này chưa được luật hóa nên cũng có Tòa án sẽ căn cứ vào quy định hiện hành

mà từ chối tài liệu photocopy do đương sự cung cấp Thiết nghĩ văn bản hướng dẫn thi hành của BLTTDS 2015 nên quy định những trường hợp mà tài liệu photocopy được Tòa án chấp nhận như chứng cứ để tạo sự thuận tiện cho đương sự khi thu thập

và giao nộp tài liệu đọc được nội dung

Để tài liệu đọc được nội dung đáp ứng điều kiện được xem là chứng cứ theo quy định thì: Đối với bản chính, đương sự có thể nộp trực tiếp bản chính này cho Tòa

án Trường hợp đương sự không có bản chính mà chỉ có bản sao thì có thể nộp bản sao, hoặc có bản chính nhưng không muốn giao nộp bản chính thì đương sự có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính hoặc đương sự không giữ bản chính do được cơ quan nhà nước cấp thì cũng có thể yêu cầu

cơ quan đang quản lý sổ gốc cấp cho mình bản sao từ sổ gốc đó

Trang 30

sở để chứng thực bản sao và bản sao cần chứng thực Trong trường hợp bản chính giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật trước khi yêu cầu chứng thực bản sao; trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh

sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại Trường hợp người yêu cầu chứng thực chỉ xuất trình bản chính thì cơ quan, tổ chức tiến hành chụp từ bản chính để thực hiện chứng thực, trừ trường hợp cơ quan,

tổ chức không có phương tiện để chụp41

- Cơ quan thực hiện: Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh42;

Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn43; Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài44; Công chứng viên tại Phòng công chứng, Văn phòng công chứng45

(ii) Thủ tục cấp bản sao từ sổ gốc:

- Người yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc phải xuất trình bản chính hoặc bản sao

có chứng thực Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị sử dụng để người tiếp nhận hồ sơ kiểm tra46

- Cơ quan thực hiện: cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc

Trong nhiều trường hợp, tài liệu đọc được nội dung không được trình bày bằng

41 Khoản 1, 2 Điều 20 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

42 Điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP:

“Điều 5 Thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực

1 Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Phòng Tư pháp) có thẩm quyền và trách nhiệm:

a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam;

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam liên kết với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc chứng nhận”

43 Điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP:

“2 Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:

a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận”

44 Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP: Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực các việc quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP Viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự ký chứng thực và đóng dấu của Cơ quan đại diện

45 Khoản 4 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP: Công chứng viên có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực các việc quy định tại điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, ký chứng thực và đóng dấu của Phòng công chứng, Văn phòng công chứng

46 Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

Trang 31

tiếng Việt mà được thể hiện bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài Theo khoản

3 Điều 96 BLTTDS 2015, “Đương sự giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ bằng

tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp” Như vậy, đối với tài liệu đọc được nội dung được

thể hiện bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài thì sau khi thu thập được, đương

sự cần kèm theo bản dịch sang tiếng Việt để nộp cho Tòa án Trên thực tế, đối với những tài liệu tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài, trước tiên đương sự phải công chứng, chứng thực tài liệu này Khi có được bản sao được chứng thực từ bản chính, đương sự phải yêu cầu người dịch47 hoặc Cộng tác viên dịch thuật của Phòng Tư pháp48 tiến hành dịch tài liệu sang tiếng Việt và ký vào tài liệu dịch Tài liệu này sau

đó phải được chứng thực tại Phòng Tư pháp49 Tài liệu đọc được nội dung là bản sao được chứng thực hợp pháp, có kèm theo bản dịch có chữ ký của người dịch hoặc Cộng tác viên dịch thuật cùng dấu chứng thực của Phòng Tư pháp sẽ được Tòa án xem xét chấp nhận trên thực tế

Thực tế cũng có trường hợp tài liệu đọc được nội dung là tài liệu của nước ngoài

và đương sự muốn sử dụng tài liệu này để giao nộp cho Tòa án Việt Nam nhưng không rõ cần thực hiện thủ tục nào để tài liệu này được chấp nhận do BLTTDS 2015

và các văn bản hướng dẫn không quy định cụ thể Thực tế tại Việt Nam, đối với những tài liệu này, trước khi được công chứng, chứng thực theo quy định thì cần phải được hợp pháp hóa lãnh sự50 Quy trình hợp pháp hóa lãnh sự, đặc biệt là tài liệu được lập

ở nước ngoài tương đối phức tạp mà nếu không được hướng dẫn bởi cơ quan có thẩm quyền hoặc Tòa án thì đương sự khó có thể biết và thực hiện được Điều này gây khó

47 Tiêu chuẩn, điều kiện của người dịch được quy định tại Điều 27 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

48 Cộng tác viên dịch thuật của Phòng Tư pháp phải thỏa mãn tiêu chuẩn, điều kiện được quy định tại Điều 27 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

49 Thủ tục chứng thực chữ ký người dịch được quy định tại Điều 31 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

50 Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về chứng

nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự, “Hợp pháp hóa lãnh sự là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

chứng nhận con dấu, chữ ký, chức danh trên giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại Việt Nam”

Tuy nhiên, trừ những trường hợp được quy định tại Điều 6 Thông tư số 01/2020/TT-BTP ngày 03 tháng 3 năm

2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định

số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao

từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch; những trường hợp này thì không phải hợp

pháp hóa lãnh sự khi chứng thực bản sao từ bản chính Cụ thể, “Các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của

nước ngoài cấp cho cá nhân như hộ chiếu, thẻ căn cước, thẻ thường trú, thẻ cư trú, giấy phép lái xe, bằng tốt nghiệp, chứng chỉ và bảng điểm kèm theo bằng tốt nghiệp, chứng chỉ thì không phải hợp pháp hóa lãnh sự khi chứng thực bản sao từ bản chính Trường hợp yêu cầu chứng thực chữ ký người dịch trên bản dịch các giấy tờ này cũng không phải hợp pháp hóa lãnh sự”

Trang 32

khăn cho đương sự khi thu thập tài liệu đọc được nội dung là tài liệu của nước ngoài Liên quan đến vấn đề về điều kiện được xem là chứng cứ đối với tài liệu của nước ngoài, tham khảo khoản 4, 5 Điều 71 BLTTDS Liên bang Nga 2002, thấy rằng:

“Văn bản được nhận ở quốc gia khác nếu tính xác thực không bị bác bỏ và nếu nó được xác nhận là thư chứng theo đúng thủ tục chung Những văn bản chính thức của nước khác được thừa nhận là thư chứng không cần phải xác nhận trong trường hợp

ngoài, Tòa án tại Liên bang Nga công nhận đây là thư chứng nếu tài liệu này có tính xác thực và phù hợp với điều kiện trở thành thư chứng theo quy định Ngoài ra, đối với một số tài liệu đặc thù được quy định trong Hiệp định quốc tế của Liên bang Nga thì được xem là thư chứng mà không cần phải xác nhận Quy định này giúp hạn chế khó khăn cho đương sự khi tiến hành những công việc phức tạp, mất nhiều thời gian

và chi phí để tài liệu của nước ngoài được Tòa án chấp nhận như chứng cứ Đây là quy định nên được tiếp thu để xây dựng cách thức thu thập và giao nộp tài liệu đọc được nội dung là tài liệu của nước ngoài một cách hiệu quả

2.1.2 Thu thập tài liệu nghe được, nhìn được

2.1.2.1 Khái niệm tài liệu nghe được, nhìn được

Tương tự tài liệu đọc được nội dung, pháp luật hiện hành cũng không quy định thế nào là tài liệu nghe được, nhìn được

Về cơ bản, có thể hiểu tài liệu nghe được, nhìn được là tài liệu được thể hiện dưới dạng băng, đĩa hoặc tập tin ghi âm; băng, đĩa hoặc tập tin ghi hình hoặc dưới dạng tương tự và có thể được tiếp nhận thông qua việc nhận biết bằng cơ quan thính giác hoặc thị giác

2.1.2.2 Điều kiện để tài liệu nghe được, nhìn được được xem là chứng cứ

Theo khoản 2 Điều 95 BLTTDS 2015, tài liệu nghe được, nhìn được được coi

là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo (i) văn bản trình bày của người có tài liệu

51 Clause 4, 5 Article 71 Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002

(as amended up to February 6, 2012): “4 A document obtained in a foreign state shall be recognized as written

proof in court if its authenticity is not refuted and if it is legalized in the established order 5 Foreign official documents shall be acknowledged in the court as written proof without their legalization in the cases stipulated

in the international treaty of the Russian Federation”

“Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as amended up to February 6, 2012)”, https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru081en.pdf, truy cập ngày 15/4/2020 Bản dịch tiếng Việt tham khảo từ: Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung, tlđd (36), tr 88

Trang 33

đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc (ii) văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc (iii) văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó Dựa vào quy định này, nếu vụ việc có tài liệu nghe được, nhìn được, đương sự ngoài việc thu thập tài liệu nghe được, nhìn được đó thì còn phải thu thập một trong những văn bản theo luật định và nộp kèm cho Tòa án Mục đích của quy định này là nhằm làm rõ xuất xứ, nội dung của tài liệu nghe được, nhìn được Đây là quy định kế thừa của khoản 2 Điều 83 BLTTDS 200452 nhưng chi tiết hơn khi phân biệt văn bản cần nộp kèm đối với trường hợp đương sự tự ghi âm, ghi hình và trường hợp tài liệu nghe được, nhìn được do đương sự được người khác cung cấp

Thực tiễn áp dụng pháp luật đặt ra vấn đề liệu văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình có phải là văn bản thể hiện nội dung trong tài liệu nghe được, nhìn được hay không Chẳng hạn, trong tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa nguyên đơn ông Bùi Nguyễn H và bị đơn

bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: “Theo quy định tại khoản

2, khoản 3 điều 95 BLTTDS và điểm b khoản 2 điều 3 Nghị quyết 04/2012/NQ- HĐTP ngày 03/12/2012 của TAND Tối cao đã quy định về Chứng minh và chứng cứ thì nếu chứng cứ là bản ghi âm thì yêu cầu kèm theo là phải có bản giải trình của người có tài liệu về xuất xứ hoặc văn bản giải trình liên quan tới việc thu âm, Bà X không có các văn bản này là chưa đủ cơ sở theo quy định; Tập tin âm thanh không được giải

xét xử phúc thẩm, “văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình” là “văn bản giải trình liên quan tới việc thu âm, thu hình” và được phân biệt với văn bản giấy

“giải mã” nội dung ghi âm, ghi hình – tức văn bản trình bày nội dung ghi âm, ghi hình đó

Xét về ngữ nghĩa, có thể hiểu “văn bản giải trình liên quan tới việc thu âm, thu hình” là một cách gọi khác của “văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình” bởi “giải trình” trong trường hợp này là trình bày về sự việc liên quan đến việc ghi âm, ghi hình, có thể bao gồm bối cảnh diễn ra cũng như nội dung ghi âm, ghi hình

52 Khoản 2 Điều 83 BLTTDS 2004: “Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất

trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”

53 Bản án số 22/2017/DS-PT ngày 18/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Trang 34

đó Tuy nhiên, do BLTTDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định thế nào là “văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình” nên trên thực tế có thể dẫn đến quan điểm đồng nhất “văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình” và văn bản trình bày nội dung ghi âm, ghi hình Đối với hai văn bản này, tác giả cho rằng cần có sự phân biệt giữa chúng Theo đó, “văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình” có thể là văn bản trình bày nội dung ghi âm, ghi hình nhưng cũng có thể chỉ là văn bản ghi nhận bối cảnh diễn ra việc ghi âm, ghi hình đó “Văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình” nên được hiểu ở phạm vi rộng hơn thay vì cho rằng đây chỉ là văn bản trình bày nội dung ghi âm, ghi hình Điều này cho phép Tòa án thông qua văn bản này có thể xem xét cả bối cảnh diễn ra việc ghi âm, ghi hình và nội dung ghi âm, ghi hình đó để có cơ sở đánh giá vụ việc một cách toàn diện hơn

Khoản 2 Điều 95 BLTTDS 2015 yêu cầu khi giao nộp tài liệu nghe được, nhìn được, đương sự phải nộp kèm theo văn bản trình bày, xác nhận về xuất xứ hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình Đối với tài liệu do đương sự tự mình thu âm, thu hình thì họ phải thu thập và giao nộp cho Tòa án văn bản trình bày của mình về xuất xứ của tài liệu Đối với tài liệu do đương sự được người khác cung cấp thì đương sự phải thu thập văn bản có xác nhận của người đã cung cấp về xuất

xứ của tài liệu đó Trong cả hai trường hợp đương sự tự ghi âm, ghi hình hay tài liệu này do đương sự được người khác cung cấp thì nếu đương sự không có được hai văn bản nêu trên thì họ cũng có thể kèm theo văn bản về sự việc liên quan tới việc thu

âm, thu hình Quy định này dẫn đến cách hiểu rằng đương sự được lựa chọn một trong các văn bản này để thu thập và cung cấp cho Tòa án mà vẫn được chấp nhận

Tuy nhiên, thực tế có Tòa án bắt buộc đương sự phải cung cấp văn bản về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu hình thì mới chấp nhận tài liệu Chẳng hạn, trong tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà DTA và bị đơn ông LMN, Hội

đồng xét xử sơ thẩm nhận định“bà A còn nộp cho Tòa án 05 đoạn ghi âm, bà A không

nộp văn bản phiên nội dung ghi âm, Tòa án đã ấn định cho bà A thời gian nộp nhưng

bà A vẫn không nộp nên 05 đoạn ghi âm còn lại không phải là chứng cứ trong vụ án”54 Thực tế này xuất phát từ sự hạn chế về cơ sở vật chất nên rất hiếm Tòa án nào thực hiện được việc trình chiếu tài liệu nhìn được tại phiên tòa để phục vụ cho mục

54 Bản án số 20/2018/DS-ST ngày 14/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh TN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Trang 35

đích chứng minh của đương sự, do vậy trong đa số trường hợp, nội dung của tài liệu nhìn được đều phải được thể hiện ra văn bản Tương tự, tài liệu nghe được nội dung cũng phải được thể hiện thành văn bản mặc dù Tòa án vẫn có thể mở và nghe đoạn ghi âm tại phiên xét xử55 Phương thức này thuận tiện cho mục đích lưu hồ sơ và cũng phù hợp với điều kiện xã hội tại Việt Nam, song lại chưa phù hợp với khoản 2 Điều

95 BLTTDS 2015 về việc cho phép đương sự lựa chọn một trong những văn bản theo quy định để nộp kèm theo tài liệu nghe được, nhìn được

Đối với văn bản về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu hình, ngoài việc có thể tự mình trình bày nội dung trong tài liệu nghe được, nhìn được ra văn bản thì đương sự có thể yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận sự kiện mở và nghe, nhìn tài liệu nghe được, nhìn được56 Theo yêu cầu của đương sự, Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến việc mở và nghe, nhìn tài liệu nghe được, nhìn được, ghi nhận nội dung cũng như bối cảnh diễn ra việc ghi âm, ghi hình vào vi bằng Việc ghi nhận sự kiện, hành vi trong vi bằng phải khách quan, trung thực Trong trường hợp cần thiết, Thừa phát lại có quyền mời người làm chứng chứng kiến việc lập vi bằng Người yêu cầu phải cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến việc lập vi bằng (nếu có) và chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của các thông tin, tài liệu cung cấp Khi lập vi bằng, Thừa phát lại phải giải thích rõ cho người yêu cầu về giá trị pháp lý của vi bằng Người yêu cầu phải ký hoặc điểm chỉ vào vi bằng57

Thực tế có Tòa án chấp nhận tài liệu nghe được, nhìn được khi đương sự nộp tài liệu này kèm theo vi bằng được lập Chẳng hạn, trong tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Bùi Thị K và bị đơn bà Quách Thị H, Hội đồng xét xử sơ

thẩm nhận định: “Trong quá trình giải quyết vụ án bà K giao nộp chứng cứ là Vi

bằng số 0376.2019/VB-TPLHN ngày 23/05/2019 của Văn phòng Thừa phát lại Hà Nội; Đĩa DVD-R kèm theo; Thông báo về việc đăng ký vi bằng ngày 27/5/2019 của

Sở Tư pháp Hà Nội Thủ tục lập Vi bằng nêu trên đã tuân thủ đúng theo quy định tại Điều 26 Nghị định 61/2009/NĐ-CP và điểm 9 Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP

55 Điều 255 BLTTDS 2015

56 Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ, là nguồn chứng cứ theo khoản 8 Điều 94 BLTTDS 2015, được xem là chứng

cứ nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 93 và khoản 9 Điều 95 BLTTDS 2015

57 Thủ tục lập vi bằng được quy định cụ thể tại Điều 39 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm

2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại

Trang 36

Căn cứ theo quy định tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại; Điều 7 Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTPTANDTC- VKSNDTC- BTC ban hành ngày 28/02/2014, tài liệu nêu trên được coi là chứng cứ

buộc để có được văn bản về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu hình nhưng đây là phương thức được nhiều đương sự lựa chọn áp dụng

Liên quan đến vấn đề thu thập và xuất trình tài liệu nghe được, nhìn được, Điều

77 BLTTDS Liên bang Nga 2002 có quy định: “Người xuất trình băng ghi âm, ghi

hình hoặc đưa ra yêu cầu cung cấp chúng phải làm rõ việc ghi âm, ghi hình do ai

Liên bang Nga 2002 không quy định cụ thể đương sự cần phải nộp văn bản trình bày, xác nhận về xuất xứ hay văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình như BLTTDS 2015 nhưng cũng yêu cầu đương sự phải làm rõ được chủ thể ghi âm, ghi hình cùng thời gian, địa điểm thực hiện việc ghi âm, ghi hình đó, tức cũng yêu cầu đương sự phải chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của tài liệu nghe được, nhìn được mà mình cung cấp Đây là sự tương đồng giữa BLTTDS Liên bang Nga 2002 và BLTTDS 2015 về vấn đề thu thập và giao nộp tài liệu nghe được, nhìn được

2.1.3 Thu thập thông điệp dữ liệu điện tử

2.1.3.1 Khái niệm thông điệp dữ liệu điện tử

Theo khoản 12 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005, “Thông điệp dữ liệu là

thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” Có thể thấy, quy định này ghi nhận thông điệp dữ liệu là thông tin nhưng chưa

làm rõ những dạng thông tin của thông điệp dữ liệu

Tham khảo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005, thấy rằng

“Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc

58 Bản án số 15A/2019/DS-ST ngày 16/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

59 Article 77 Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as amended

up to February 6, 2012): “A person who has submitted the audio and video recordings on an electronic or

another kind of carrier, or who has filed a petition for their supply on demand, is obliged to point out when,

by whom and under what conditions these recordings were made”

“Civil Procedural Code of the Russian Federation No 138-Fz of November 14, 2002 (as amended up to February 6, 2012)”, https://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ru/ru081en.pdf, truy cập ngày 15/4/2020 Bản dịch tiếng Việt tham khảo từ: Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung, tlđd (36), tr 90

Trang 37

dạng tương tự” Khái niệm “dữ liệu điện tử” tại khoản 1 Điều 99 Bộ luật Tố tụng

hình sự 2015 tương tự với khái niệm “dữ liệu” trong Luật Giao dịch điện tử 2005,

theo đó “Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng

tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử”

Kết hợp khái niệm “thông điệp dữ liệu” tại khoản 12 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử

2005 với khái niệm “dữ liệu”, “dữ liệu điện tử” như được đề cập, có thể hiểu, thông

điệp dữ liệu điện tử là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự, được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử

2.1.3.2 Điều kiện để thông điệp dữ liệu điện tử được xem là chứng cứ

Điều 10 Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định về hình thức thể hiện thông điệp

dữ liệu như sau: “Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu

điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương

tự khác” Trong điều khoản về xác định chứng cứ, khoản 3 Điều 95 BLTTDS 2015

cũng ghi nhận “Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ

liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử” Quy định này tại

BLTTDS 2015 được hiểu rằng thông điệp dữ liệu điện tử nếu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử thì được xem là chứng cứ

Trong số những hình thức của thông điệp dữ liệu điện tử nêu trên, pháp luật chỉ mới quy định khái niệm chứng từ điện tử và khái niệm trao đổi dữ liệu điện tử Đối với khái niệm chứng từ điện tử, pháp luật quy định chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại, không phải chứng từ điện tử trong giao dịch dân sự nói chung

Cụ thể, tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013

của Chính phủ về thương mại điện tử, “Chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại

là hợp đồng, đề nghị, thông báo, xác nhận hoặc các tài liệu khác ở dạng thông điệp

dữ liệu do các bên đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện hợp đồng”

Khái niệm “trao đổi dữ liệu điện tử” từng được đề cập trong Quyết định số 37/2008/QĐ-BCT ngày 15 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê về lĩnh vực thương mại điện tử, mặc dù Quyết định

Trang 38

này hiện nay đã hết hiệu lực thi hành song có thể sử dụng để tham khảo về cách hiểu

“trao đổi dữ liệu điện tử” Theo đó, “EDI (Electronic Data Interchange - Trao đổi

dữ liệu điện tử) là sự tự động chuyển thông tin được định dạng theo cấu trúc chuẩn

từ máy tính này sang máy tính khác giữa các doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng và các doanh nghiệp khác bằng phương tiện điện tử”

Ngoài các khái niệm này, văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam chưa đưa ra khái niệm rõ ràng cho các hình thức thể hiện còn lại của thông điệp dữ liệu điện tử Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, các hình thức khác của thông điệp dữ

liệu điện tử được hiểu như sau: “Thư điện tử (email hay e-mail) là một phương thức

tín (telex) là một mạng lưới chuyển mạch Teleprinters nhằm chuyển tin tức từ khách hàng đến khách hàng tương tự như một mạng điện thoại, sử dụng điện báo cấp kết

điện tử gửi bản sao (copy) trực tiếp qua hệ thống dây dẫn điện Máy gửi có khả năng

rà quét bản gốc, đổi thông tin thành tín hiệu rồi phát qua đường dây điện đến máy nhận ở một nơi khác Máy nhận sau đó đổi tín hiệu ngược lại và in bản sao lên giấy”63

Việc nêu ra cách hiểu cụ thể của những hình thức thể hiện của thông điệp dữ liệu điện tử giúp đương sự nhận biết được trong trường hợp nào thì thông điệp dữ liệu điện tử được xem là chứng cứ, từ đó tiến hành thu thập và giao nộp cho Tòa án

2.1.3.3 Dạng thức của thông điệp dữ liệu điện tử khi giao nộp cho Tòa án

Khoản 12 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005 nêu trên đã khẳng định thông điệp dữ liệu điện tử tồn tại dưới dạng thông tin, do đó không được định hình bằng dạng vật chất cụ thể Do vậy, để giao nộp được thông điệp dữ liệu điện tử cho Tòa án thì đương sự cần chuyển hóa thông điệp dữ liệu điện tử thành dạng vật chất Tuy nhiên, thông điệp dữ liệu điện tử cần phải được chuyển hóa thành dạng thức nào thì pháp luật không quy định

60 https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%B0_%C4%91i%E1%BB%87n_t%E1%BB%AD, truy cập ngày 24/5/2020

61 https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90i%E1%BB%87n_t%C3%ADn, truy cập ngày 24/5/2020

62 https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90i%E1%BB%87n_b%C3%A1o, truy cập ngày 24/5/2020

63 https://vi.wikipedia.org/wiki/Fax, truy cập ngày 24/5/2020

Trang 39

Qua nghiên cứu thực tiễn xét xử, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về dạng thức của nguồn chứng cứ là thông điệp dữ liệu điện tử khi giao nộp cho Tòa án Trong tranh chấp hợp đồng vận chuyển giữa nguyên đơn Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu H và bị đơn Công ty TNHH Mạng Lưới Vận Tải Tr, Hội đồng xét xử

phúc thẩm nhận định: “Xét các tài liệu chứng từ của Công ty TNHH Mạng lưới Vận

tải Tr xuất trình để chứng minh cho việc giữ hàng là do có tranh chấp giữa bên gửi

Trong tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa nguyên đơn Công

ty TNHH U và bị đơn ông Hung Hsiang S, Hội đồng xét xử phúc thẩm cho rằng:

Trong tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn Công ty TNHH

CN B và bị đơn Công ty TNHH SX DN, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: “Tại

phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cung cấp các văn bản thể hiện nội dung các email… Tuy nhiên các email đều có nội dung là tiếng nước ngoài, chưa được dịch sang tiếng Việt

và chứng thực theo quy định tại khoản 3 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự, không rõ người gửi và mối quan hệ giữa người gửi với bị đơn… nên các email này không được

Trong ba vụ việc này, Tòa án không chấp nhận thông điệp dữ liệu điện tử được thu thập và giao nộp dưới hình thức văn bản in, photo, không được công chứng, chứng thực hợp pháp, không dịch sang tiếng Việt (đối với tài liệu tiếng nước ngoài)

Tuy nhiên, trong một tranh chấp khác, tranh chấp về khoản phụ cấp ngoài lương giữa nguyên đơn ông Ngô Anh T và bị đơn Trường Đại học Công nghệ V, Hội đồng

xét xử sơ thẩm cho rằng: “đại diện theo ủy quyền của trường Đại học công nghệ V

không biết địa chỉ email “nguyenluuthuypl@gmail.com” có phải là của ông Nguyễn Lưu Th hay không; nhưng các tài liệu mà anh Ngô Anh T cung cấp cho Tòa án là các bản in từ email của anh T trao đổi tới các địa chỉ email

“nguyenluuthuypl@gmail.com”, “nganhadaivn@gmail.com” cũng được dùng để

Trang 40

Tòa án tham khảo và đối chiếu”67 Có thể thấy, trong vụ việc này, Tòa án sử dụng các bản in của thư điện tử để “tham khảo và đối chiếu” khi giải quyết vụ án và không khẳng định giá trị chứng cứ của các bản in này

Như vậy, thực tế các đương sự thường chuyển hóa thông điệp dữ liệu điện tử thành tài liệu đọc được nội dung Tuy nhiên, khi chuyển hóa thành tài liệu đọc được nội dung, Tòa án yêu cầu đương sự phải công chứng, chứng thực tài liệu này Tòa án

có xu hướng không chấp nhận thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới dạng bản

in, bản photo, không được công chứng, chứng thực theo đúng quy định

Tham khảo khoản 4, 5 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thấy rằng: “Việc

phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng theo quy định của Bộ luật này Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử” Như vậy, trong tố tụng hình sự,

kết quả tìm kiếm thông điệp dữ liệu điện tử phải được chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được Ngoài ra, khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử

Tham khảo quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nêu trên, tác giả cho rằng trong tố tụng dân sự, dạng vật chất mà thông điệp dữ liệu điện tử có thể được chuyển hóa thành để giao nộp cho Tòa án là (i) phương tiện, thiết bị chứa đựng, lưu trữ thông điệp dữ liệu điện tử mà có thể truy cập để biết được nội dung của thông điệp dữ liệu điện tử hoặc (ii) tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được thể hiện nội dung của thông điệp dữ liệu đó

Thứ nhất, nếu thông điệp dữ liệu điện tử được chứa đựng, lưu trữ trong thiết bị

điện tử mà có thể truy cập để biết được nội dung của thông điệp dữ liệu điện tử đó, pháp luật tố tụng dân sự không quy định đương sự phải giao nộp thiết bị lưu trữ này cho Tòa án hay cần phải trích xuất, sao chép thông điệp dữ liệu điện tử ra một thiết

bị ghi nhớ khác nhỏ gọn và thuận tiện hơn nếu thiết bị lưu trữ ban đầu (không phải thiết bị lưu trữ được trích xuất, sao chép từ thiết bị lưu trữ ban đầu) khó hoặc không thể di chuyển đến Tòa án Liệu trong trường hợp này, thiết bị lưu trữ ban đầu có thể

67 Bản án số 01/2018/LĐ-ST ngày 31/7/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An về tranh chấp khoản phụ cấp ngoài lương

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w