1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự

95 643 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 859,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong TTDS chứng minh cũng có nghĩa là một dạng hoạt động, nhưng là hoạt động tố tụng, bằng việc sử dụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc dân sự giúp Tòa án có t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐẶNG MINH CHIẾN

HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA LUẬT SƯ

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60 38 01 03

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Hà

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện độc lập và dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ luật học Lê Thị Hà

Các kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Trong quá trình thực hiện, Luận văn có tham khảo một số chuyên đề, các bài viết có liên quan nhưng được trích dẫn nguyên văn, nguồn tài liệu trích dẫn được nêu

ra tại danh mục tài liệu tham khảo ở phần cuối Luận văn này

XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 3

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

Trang 4

-o0o -

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: 4

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 4

1.1 Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 4

1.1.1 Khái niệm chứng minh và chứng cứ 4

1.2.2 Hoạt động cung cấp chứng cứ 5

1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh 9

1.2 Vấn đề thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự 11

1.2.1 Luật sư và Nghề Luật sư 11

1.2.2 Hoạt động thu thập chứng cứ và biện pháp thu thập chứng cứ 15

1.2.3 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư 17

CHƯƠNG 2: 22

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 22

2.1 Các quy định chung về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư 22

2.1.1 Quy định về nguyên tắc liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư 22

2.1.2 Quy định chung về các biện pháp thu thập chứng cứ của Luật sư 24

2.2 Hoạt động thu thập chứng cứ trước khi Tòa án thụ lý yêu cầu 25

2.2.1 Thu thập thông tin, tài liệu từ khách hàng 25

2.2.2 Hướng dẫn đương sự viết đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập 30

2.3 Hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 33

Trang 5

2.3.2 Luật sư thu thập chứng cứ từ hồ sơ vụ án 39 2.3.3 Hoạt động thu thập chứng cứ qua việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ 41

2.4 Hoạt động thu thập chứng cứ tại phiên tòa 52 CHƯƠNG 3: 55 THỰC TIỄN THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 55 3.1 Thực tiễn áp dụng các kỹ năng, biện pháp, và quy định của pháp luật

tố tụng dân sự về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư qua một số

vụ án 55 3.2 So sánh hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư với các chủ thể khác 66

3.2.1 Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư và của các cơ quan tiến hành

tố tụng 66 3.2.2 Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư và của đương sự 69

3.3 Đánh giá quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư 70 3.4 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và một số giải pháp khác để nâng cao hiệu quả của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong Tố tụng Dân sự 78 KẾT LUẬN 86

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, trong đó, việc tăng cường vai trò của Luật sư trong hoạt động tố tụng dân sự là điều hết sức cần thiết Với sự am hiểu pháp luật cũng như các kinh nghiệm và kỹ năng nghề nghiệp của mình, sự tham gia của Luật

sư góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, giúp Tòa án đưa ra phán quyết công bằng, đúng pháp luật

Nhằm bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật tố tụng dân sự đã ghi nhận quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong quá trình tham gia tố tụng Do vậy, việc thu thập chứng cứ nói chung và việc thu thập chứng cứ của Luật sư nói riêng góp phần rất lớn vào việc làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ việc dân sự, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ việc dân sự Kết quả của hoạt động thu thập chứng cứ ảnh hưởng trực tiếp đến sự đúng đắn trong các phán quyết của Tòa án trên cơ sở đánh giá chứng cứ một cách khách quan và toàn diện

Tuy nhiên, hiện nay việc thu thập chứng cứ của đương sự, Luật sư vẫn còn nhiều hạn chế, qua thực tiễn của hoạt động tố tụng dân sự cũng như các quy định của pháp luật hiện hành thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án vẫn đóng một vai trò chủ yếu trong giải quyết vụ việc dân sự Các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự, Luật sư vẫn tồn tại nhiều hạn chế, chưa thực sự hợp lý, thiếu tính rõ ràng và tồn tại nhiều bất cập trong thực tiễn

áp dụng Yêu cầu đặt ra là cần sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm, vai trò của đương sự cũng như của Luật

sư trong hoạt động thu thập chứng cứ Đồng thời, để tăng cường hiệu quả của việc thu thập chứng cứ cũng đòi hỏi đội ngũ Luật sư cần phải nâng cao trình độ chuyên môn cũng như các kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu khi tiến hành thu thập chứng cứ

Do vậy, việc nghiên cứu một đề tài về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự là hết sức cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân

sự là rất quan trọng, không chỉ có ý nghĩa trong việc cải cách tư pháp mà còn có ý nghĩa rất lớn với chính đội ngũ Luật sư Tuy nhiên, việc nghiên cứu mới chỉ dừng

Trang 7

lại ở một số công trình khoa học nghiên cứu trên phạm vi rộng về chứng cứ và các hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự hoặc có liên quan về vấn đề vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự Việc nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ dưới góc độ là một gia đoạn của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự, thì tiêu biểu

như đề tài luận văn thạc sĩ năm 2002 “Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ

trong Tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Hằng, hay đề tài khóa

luận tốt nghiệp năm 2010 “Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố

tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Nhung Hoặc có đề cập đến với tư cách là một

hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự như đề tài luận văn thạc sĩ năm 2004

“Vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự” của tác giả Trần Phương Thảo; đề

tài khóa luận tốt nghiệp năm 2011 “Luật sư trong tố tụng dân sự” của tác giả

Nguyễn Văn Minh Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành

có liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ như bài viết “Về sự tham gia của

Luật sư trong tố tụng dân sự” của tác giả Đinh Văn Thanh đăng trên tạp chí Dân

chủ và Pháp luật số 4 năm 2004; bài viết “Luật sư với việc thu thập chứng cứ và

hòa giải trong tố tụng dân sự” của tác giả Hoàng Thu Yến đăng trên tạp chí Nhà

nước và Pháp luật số 9 năm 2007

Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu độc lập nào nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu và toàn diện về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự

3 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

* Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự Ngoài

ra việc nghiên cứ đề tài cũng so sánh, chỉ ra những điểm bất cập trong quy định của pháp luật cũng như những hạn chế trong thực tiễn áp dụng, tìm ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự Từ đó góp phần hiểu rõ được phần nào đó trách nhiệm chứng minh của đương sự cũng như một phần hoạt động của Luật sư (hoạt động bổ trợ tư pháp) trong tố tụng dân sự

* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, và thực tiễn áp dụng Với mục tiêu nghiên cứu nên trên, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, việc nghiên cứu chủ yếu tập trung trong giới hạn những vấn đề sau: + Nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự;

Trang 8

+ Nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ và toàn diện các hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư theo pháp luật tố tụng dân sự;

+ Nghiên cứu thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự và kiến nghị

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, cũng như chủ trương, chính sách về việc xây dựng pháp luật tố tụng dân sự Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sử dụng để hoàn thành luận văn bao gồm: phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp

5 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có ba chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề chung về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong

Trang 9

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA

LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Luật sư có thể tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và cùng với thân chủ trở thành một bên trong quan hệ tố tụng dân sự Trong tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đương sự có quyền, nghĩa vụ chứng minh, và để có cơ sở chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của đương sự khác đòi hỏi đương sự, Luật sư của đương sự phải cung cấp chứng cứ cho Tòa án Chứng cứ là căn cứ quan trọng nhất để xác định sự thật khách quan của vụ

án, là cơ sở để Tòa án đưa ra phán quyết công bằng, hợp tình, hợp lý Vì thế, để thực hiện tốt hoạt động chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ,

Luật sư cũng có quyền, nghĩa vụ thu thập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án

1.1.1 Khái niệm chứng minh và chứng cứ

Theo từ điển Tiếng Việt thì cụm từ “chứng minh” dùng để chỉ dạng hoạt động phổ biến của con người trong đời thường nhằm “làm cho thấy rõ là có thật, là

đúng bằng sự việc hoặc lý lẽ” 1 Trong TTDS chứng minh cũng có nghĩa là một

dạng hoạt động, nhưng là hoạt động tố tụng, bằng việc sử dụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc dân sự giúp Tòa án có thể đưa ra được một phán quyết công bằng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Đối với các đương sự, chứng minh là phương tiện chủ yếu để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Do là một hoạt động mang tính chất pháp lý nên việc chứng minh trong tố tụng dân sự được điều chỉnh và chi phối chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật có liên quan Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình gồm hoạt động của Tòa án, viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình và phán quyết của Tòa án trên cơ

sở quy định của pháp luật

Khái niệm chứng cứ được luật tố tụng dân sự của nhiều nước đề cập đến Cá biệt còn có một số nước xây dựng luật về chứng cứ thể hiện sự quan trọng của vấn

đề này Điều 401 Luật chứng cứ của Mỹ định nghĩa “Chứng cứ là những gì mà hàm

1

Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr 192

Trang 10

chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó ảnh hưởng tới việc xác định được một hành động hơn hoặc kém hơn” Luật tố tụng

dân sự Nhật Bản định nghĩa: “Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết

được Tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyết

lần đầu tiên được ghi nhận tương đối đầy đủ tại Điều 81 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2004:

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có căn cứ hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự

Tiếp theo đó Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về khái niệm chứng cứ:

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp 3

Tóm lại, hoạt động chứng minh là hoạt động thông qua việc sử dụng chứng

cứ để tái hiện lại sự thật khách quan của vụ án Như vậy, chứng cứ là vấn đề mấu chốt trong các tranh chấp dân sự, không có chứng cứ thì cũng không có hoạt động chứng minh và đương sự không thể bảo vệ được mình, Luật sư cũng không có căn

cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ tại tòa Việc cung cấp, sử dụng chứng cứ đúng đắn hợp lý góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1.2.2 Hoạt động cung cấp chứng cứ

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình nhận thức diễn

ra xuyên suốt vụ án dân sự, được bắt đầu khi có quyết định thụ lý đơn khởi kiện cho đến khi Tòa án ra phán quyết Các đương sự, cá nhân, cơ quan tổ chức đang quản

2

“Đương sự - Chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất trong tố tụng dân sự” tại địa chỉ:

chung-minh-trong-to-tung-dan-su.aspx;

https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-dan-su/duong-su-chu-the-dau-tien-va-quan-trong-nhat-cua-hoat-dong-3

Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Trang 11

lý, lưu giữ chứng cứ có nghĩa vụ giao nộp cho Tòa án các chứng cứ Việc cung cấp chứng cứ có thể được tiến hành ngay từ khi khởi kiện và trong cả quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự Luật sư khi tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo Khoản 2 Điều 76 BLTTDS năm 2015 Còn với tư cách là người đại diện của đương sự Luật sư có trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo Điều 86 BLTTDS năm

2015

Về nguyên tắc, các chứng cứ sẽ được lần lượt cung cấp cho Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự Ngay từ khi nộp đơn khởi kiện, theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì người khởi kiện đã có trách nhiệm nộp kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp Trách nhiệm cung cấp chứng

cứ cho Tòa án đã được quy định ngay từ khi đương sự tiến hành nộp đơn khởi kiện Cung cấp chứng cứ chính là hoạt động giao nộp chứng cứ vào hồ sơ vụ án, chứng

cứ nhiều hay ít sẽ giới hạn việc tranh luận giữa các bên, chứng cứ càng cụ thể, chính xác bao nhiêu thì việc tranh luận và vai trò phân xử của Tòa án càng đơn giản bấy nhiêu Tuy nhiên, do bản chất việc cung cấp chứng cứ là không hề đơn giản ngay cả khi đương sự có sự tham gia hỗ trợ của Luật sư Bởi việc cung cấp chứng cứ còn phụ thuộc vào yếu tố khách quan là quá trình thu thập chứng cứ cũng như yếu tố chủ quan là mục đích sử dụng chứng cứ trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự Do vậy, với việc nộp đơn khởi kiện pháp luật chỉ quy định đương sự cung cấp kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ Các tài liệu, chứng cứ khác người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án (Điều 6 Nghị Quyết 05/2012/NQ-HĐTP) Tại phiên tòa, các đương sự cũng có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình (Khoản 3 Điều 248 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015)

Để bảo đảm quyền chứng minh của Luật sư, pháp luật Việt Nam không giới hạn thời điểm cung cấp chứng cứ Luật sư, đương sự có quyền cung cấp chứng cứ

từ giai đoạn nộp đơn khởi kiện cho tới giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Khoản 1 Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015), giai đoạn xét sử sơ thẩm (Khoản 3 Điều 248 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015), xét xử phúc thẩm (khoản 3 Điều 302

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) Điều này đồng nghĩa với việc, hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư cũng được diễn ra ngay từ trước khi nộp đơn khởi kiện

Trang 12

cho đến khi xét xử phúc thẩm Sau khi đã thu thập được các chứng cứ cần thiết Luật

sư cần tự mình hoặc hướng dẫn các đương sự cung cấp các chứng cứ cho Tòa án Tuy vậy, cung cấp chứng cứ nào vào thời điểm nào thì có lợi nhất là một vấn đề khó khăn và là quyết định có tính chất chiến lược Có những chứng cứ cần thiết phải được cung cấp ngay cho Tòa án để nội dung của chứng cứ đó được chuyển tải cho phía đương sự đối lập Tuy vậy, có những chứng cứ nếu cung cấp ngay cho Tòa án

và phía đương sự khác biết được có thể gây bất lợi cho mình Đồng thời, hiện nay chưa có quy định nào buộc đương sự cung cấp ngay tất cả các chứng cứ đương sự

có, việc cung cấp chứng cứ hoàn toàn do đương sự chủ động Do vậy, cần cân nhắc

kỹ cung cấp chứng cứ nào vào thời điểm nào, Luật sư sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong trường hợp này Luật sư sẽ giúp đương sự thu thập và cung cấp chứng

cứ một cách phù hợp, hiệu quả nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Để làm rõ các yêu cầu của mình và phản bác các yêu cầu của đối phương Luật sư hướng dẫn để các đương sự chỉ cung cấp cho Tòa án các chứng cứ theo lộ trình và mục đích đã được tính toán từ trước Những chứng cứ chưa thực sự cần thiết phải cho bên đối tụng biết hoặc các chứng cứ có thể gây bất lợi cho đương sự, Luật sư nên khuyên đương sự chưa cung cấp hoặc không cung cấp cho Tòa án

Mặt khác, với các thông tin, tài liệu đã có, Luật sư giúp đương sự phân loại chứng cứ trước khi giao nộp cho Tòa án Bởi lẽ, trên thực tế trong quá trình thu thập chứng cứ sẽ có rất nhiều thông tin, tài liệu được đương sự và Luật sư thu thập, tập hợp về Tuy nhiên, không phải bất cứ thông tin, tài liệu nào trong đó cũng được coi

là chứng cứ và có giá trị chứng minh Bằng kiến thức sâu rộng và trình độ hiểu biết pháp luật cao, Luật sư sẽ giúp đương sự phân loại các thông tin, tài liệu thu thập được dựa trên cơ sở quy định của pháp luật và sự đánh giá giá trị chứng minh của các thông tin, tài liệu này mà Luật sư tư vấn cho đương sự cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình

Sau khi phân loại, sắp xếp các tài liệu, chứng cứ, Luật sư tư vấn giúp đương

sự giao nộp các tài liệu, chứng cứ này theo những mục đích khác nhau Luật sư cũng lưu ý khách hàng khi giao nộp chứng cứ cho Tòa án cần phải được lập Biên bản giao nhận tài liệu, chứng cứ, trong đó liệt kê đầy đủ các chứng cứ đương sự giao nộp, và ghi rõ các tài liệu bản gốc, bản sao, thời gian giao nhận, chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và con dấu của Tòa án, biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ án và một bản giao cho đương

Trang 13

sự nộp chứng cứ giữ để làm rõ trách nhiệm trong trường hợp thất lạc chứng cứ sau này Thực tiễn tham gia tố tụng cho thấy, phần lớn khi đương sự trực tiếp nộp đơn khởi kiện đều gặp những khó khăn nhất định do đơn khởi kiện và hồ sơ kèm theo còn nhiều thiếu sót hoặc do cán bộ Tòa án có thái độ không thiện chí khi nhận đơn Trong trường hợp này theo quy định tại Điều 190 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sau khi chuẩn bị đơn khởi kiện và hồ sơ gửi kèm, Luật sư có thể hướng dẫn cho khách hàng nộp đơn khởi kiện qua đường bưu điện hoặc bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có) Sau khi nộp đơn khởi kiện, nếu đương

sự thuộc trường hợp được miễn giảm án phí, Luật sư hướng dẫn cho đương sự làm đơn xin miễn giảm án phí có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Pháp lệnh về án phí, lệ phí năm 2009 Trong trường hợp Tòa án ra thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, hoặc trả lại đơn khởi kiện, Luật sư cần xem xét lại hồ

sơ, đối chiếu với các quy định của pháp luật để giúp đương sự sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện cho phù hợp Nếu nhận thấy yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện hoặc việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án không phù hợp với tình hình thực tế, không có căn cứ pháp luật thì Luật sư giúp đương sự soạn thảo đơn khiếu nại gửi cá nhân, cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết

Theo Điều 243; Khoản 3 Điều 248 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì tại phiên tòa các đương sự có quyền bổ sung chứng cứ, nguyên đơn có quyền thay đổi nội dung yêu cầu, bổ sung yêu cầu hoặc đề xuất các yêu cầu Trong quá trình tố tụng có thể phát sinh hoặc sáng tỏ nhiều tình tiết, sự kiện mà trước đó chưa có hoặc bị che giấu Đồng thời từ khi khởi kiện cho đến khi tòa án đưa vụ án ra xét xử, các bên đương sự và Tòa án đã thu thập và bổ sung rất nhiều chứng cứ mới có thể làm thay đổi bản chất của vụ việc hoặc tác động đến việc chứng minh yêu cầu của các bên đương sự Do vậy, Luật sư cần xem xét, nghiên cứu hồ sơ và tư vấn cho đương sự thay đổi nội dung yêu cầu, bổ sung yêu cầu, hoặc đề xuất các yêu cầu sao cho phù hợp với tình hình thực tế và chứng cứ có trong hồ sơ Đối với các chứng cứ cung cấp tại phiên tòa có thể là những chứng cứ mà đương sự đã có, đã thu thập được trước đó nhưng chưa cung cấp cho Tòa án, cũng có thể là các chứng cứ mà đương

sự mới thu thập được Việc cung cấp các chứng cứ tại phiên tòa có thể vì nhiều mục đích khác nhau, có trường hợp đó là các chứng cứ đặc biệt cần nhấn mạnh và gây được sự chú ý của Tòa án, Viện kiểm sát, cũng có trường hợp đó là các chứng cứ

mà khi cung cấp tại Tòa làm thay đổi cục diện vụ án giúp Tòa án nhìn nhận lại vụ việc một cách có lợi cho khách hàng hơn

Trang 14

Như vậy, họat động thu thập chứng cứ từ việc tiếp xúc khách hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc định hướng các hoạt động thu thập chứng cứ tiếp theo

và ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự nói chung Việc thu thập chứng cứ từ khách hàng đòi hỏi Luật sư phải bảo đảm tính chuyên nghiệp, có kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu, tuân thủ các quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp của mình nhằm tạo uy tín nghề nghiệp, nâng cao vai trò, vị trí của Luật sư trong tố tụng dân sự nói riêng và trong xã hội nói chung, góp phần quan trọng vào sự thành công trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng

1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh

Bản chất của chứng minh trong tố tụng dân sự chính là việc cung cấp, sử

dụng chứng cứ “Dùng chứng cứ để chứng minh không chỉ là nguyên tắc tố tụng mà

còn thể hiện sự văn minh, tính lôgic và khoa học mà con người đã đạt được trong

chủ nghĩa Mác LêNin nguyên tắc là kết quả cuối cùng trong sự nghiên cứu “không

phải giới tự nhiên và lịch sử loài người thích ứng với các nguyên tắc mà ngược lại,

nguyên tắc trong pháp luật nói chung và luật tố tụng dân sự nói riêng chỉ đúng khi

nó phù hợp với bản chất của ngành luật, với thực tế các quan hệ xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh

Chương II BLTTDS năm 2015 với 23 điều quy định về các nguyên tắc của hoạt động tố tụng dân sự Và một trong số đó là nguyên tắc về việc cung cấp chứng

cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động

thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng

cứ, chứng minh như đương sự” (khoản 1 Điều 6 BLTTDS năm 2015) Nguyên tắc

nghĩa vụ chứng minh của đương sự là một nguyên tắc cơ bản và có tính chỉ đạo xuyên suốt vì xuất phát từ bản chất của tố tụng dân sự là giải quyết các tranh chấp giữa các bên trên cơ sở pháp luật, mục đích là để bảo vệ các quyền và lợi ích của

Trang 15

mọi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên do những hiểu biết về kiến thức pháp luật và kinh nghiệm tham gia tố tụng của đương sự còn hạn chế, nên khi tham gia tố tụng và đặc biệt là khi tiến hành thu thập chứng cứ đương sự cần có sự giúp đỡ của Luật sư – những người có trình độ hiểu biết pháp luật và có chuyên môn nghiệp vụ

Nguyên tắc về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong BLTTDS năm 2015 được kế thừa từ các quy định trong BLTTDS năm 2004 (Điều 6); Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (Điều 3), Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế năm 1994 (Điều 3) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996 (Điều 2) Tuy nhiên, trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời và sau

là BLTTDS năm 2015 thì thì vẫn tồn tại giai đoạn điều tra của Tòa án trong tố tụng dân sự, và như vậy việc chứng minh, thu thập chứng cứ chủ yếu được tiến hành bởi Tòa án Hầu hết các đương sự thì hoàn toàn phụ thuộc vào việc điều tra của Tòa án, còn các Luật sư tham gia tố tụng một cách thụ động qua việc nghiên cứu hồ sơ tương đối hoàn chỉnh với các tài liệu, chứng cứ đã có sẵn trong hồ sơ dẫn đến hiệu quả hoạt động chứng minh không cao Đến khi BLTTDS năm 2004 ra đời và bỏ quy định về giai đoạn điều tra của Tòa án trong tố tụng dân sự thì lúc này vai trò chứng minh của Luật sư mới được khẳng định và được đề cao

Như vậy, theo quy định của BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2015 đương sự, Luật sư là người đóng vai trò chính trong việc đi tìm và cung cấp các chứng cứ có giá trị chứng minh cho quyền lợi của mình chứ không còn thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng Luật sư với vai trò trợ giúp đương sự, cùng với đương sự trở thành một bên trong tố tụng dân sự, nên khi tham gia tố tụng Luật sư cũng có quyền

và trách nhiệm thu thập chứng cứ, chứng minh Cùng với sự chuyển giao trách nhiệm thu thập chứng cứ, chứng minh cho đương sự thì đây cũng chính là nhiệm vụ hết sức quan trọng của luật sư khi tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự Với các quy định của BLTTDS năm 2015, do nghĩa vụ chứng minh thuộc

về đương sự nên vai trò và trách nhiệm của Luật sư trong hoạt động thu thập chứng

cứ càng trở nên quan trọng hơn, không còn bó hẹp và thụ động như trước đây Dù với tư cách là người đại diện cho đương sự hay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì hoạt động thu thập chứng cứ nói riêng và hoạt động chứng minh của Luật sư nói chung cũng ảnh hưởng và quyết định trực tiếp tới quyền lợi của đương sự và phán quyết của Tòa án

Trang 16

Hiện nay Tòa án chỉ còn tham gia thu thập chứng cứ trong một số ít trường hợp như như lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết (khoản 1 Điều

99 BLTTDS năm 2015), đối chất khi thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng (khoản 1 Điều 100 BLTTDS năm 2015), định giá tài sản trong trường hợp các bên thỏa thuận mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí (điểm c khoản 3 Điều 104 BLTTDS năm 2015 ) Còn lại, các biện pháp thu thập chứng cứ khác được quy định tại chương VII BLTTDS năm 2015 – chứng minh và chứng cứ, đều thuộc về đương sự như: đương sự có quyền được khai báo (Điều 98), yêu cầu lấy lời khai của người làm chứng (Điều 99), yêu cầu đối chất (Điều 100), giám định, giám định bổ xung (Điều 102), yêu cầu định giá tài sản (Điều 104), yêu cầu cơ quan tổ chức, cá nhân đang nắm giữ giao chứng cứ (Khoản 6 Điều 70)

Tóm lại, khi tham gia tố tụng dân sự Luật sư có quyền và trách nhiệm chứng minh Luật sư phải thực hiện hoạt động chứng minh thông qua việc cung cấp chứng

cứ, chứng minh cho yêu cầu của thân chủ là có căn cứ và hợp pháp Và để có chứng

cứ cung cấp cho Tòa án Luật sư phải tiến hành thu thập chứng cứ

1.2 Vấn đề thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự

1.2.1 Luật sư và Nghề Luật sư

Khi nhắc đến Luật sư thì có thể hiểu đó là danh từ chỉ người, một chức danh

tư pháp độc lập, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật và cũng có thể hiểu Luật sư là một nghề thuộc các ngành dịch vụ trong hệ thống ngành nghề quốc gia Pháp lệnh

Tổ chức Luật sư năm 1987 không đưa ra một định nghĩa về Luật sư, mà chỉ quy định muốn làm Luật sư thì phải đủ điều kiện và gia nhập Đoàn Luật sư Đến Pháp lệnh Luật sư năm 2001, khái niệm Luật sư mới được đặt ra, theo đó, Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề Luật sư (Điều 1 Pháp lệnh Luật sư) Người muốn hành nghề Luật sư phải gia nhập Đoàn Luật sư và có Chứng chỉ hành nghề Luật sư (Điều 7 Pháp lệnh Luật sư) Người được gia nhập Đoàn Luật sư, để trở thành Luật

sư phải qua tập sự và kỳ kiểm tra hết tập sự, nếu đạt yêu cầu thì được Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư đề nghị Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư (Điều

13 Pháp lệnh Luật sư).Tuy nhiên, quy định về Luật sư trong Pháp lệnh Luật sư năm

2001 chủ yếu để đưa ra cách hiểu thuật ngữ chứ không hàm ý đưa ra khái niệm Đến Luật Luật sư năm 2006, khái niệm Luật sư được hoàn thiện hơn Theo Điều 2 Luật

Luật sư thì: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định

Trang 17

của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)” Tiêu chuẩn Luật sư là một điểm mới của Luật

Luật sư năm 2006: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến

pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư, có sức khoẻ bảo đảm

tính chất đặc thù của nghề Luật sư là một nghề đòi hỏi có trình độ hiểu biết pháp luật cao, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, và sự đúc kết kinh nghiệm thông qua thực tế Về điều kiện hành nghề Luật sư, Điều 11 Luật Luật sư năm 2006 quy

định: “Muốn hành nghề Luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập

một Đoàn Luật sư”

Như vậy, theo quy định của Điều 2 Luật Luật sư năm 2006 thì có thể hiểu

Luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề Luật sư và Thẻ Luật sư, được thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng Việc thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng có thể được hiểu là việc Luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân,

tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật, tất

cả được gọi chung là việc hành nghề Luật sư Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan niệm Luật sư là một nghề, và yêu cầu cần thiết đối với các Luật sư

là có kỹ năng hành nghề thành thục Một Luật sư thường phải có các kỹ năng cần thiết như kỹ năng phán đoán, kỹ năng tư duy tổng quát, kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, kỹ năng thuyết trình hùng biện, nghệ thuật đặt câu hỏi, đàm phán thương lượng

Xét về tính chất, có thể hiểu nghề Luật sư có ba tính chất cơ bản như sau:

+ Thứ nhất, tính chất trợ giúp, hỗ trợ: Nói đến trợ giúp nghĩa là nói đến sự giúp đỡ,

bênh vực của Luật sư cho những người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm Do đó, tính chất này thể hiện hoạt động của nghề Luật sư không chỉ là trách nhiệm, là việc thực hiện dịch vụ pháp lý mà còn là thước đo lòng nhân ái và tư cách đạo đức của Luật sư

+ Thứ hai, tính chất hướng dẫn: Thông thường, Luật sư hướng dẫn cho khách hàng

hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật, biết cách tìm kiếm, thu thập và sử

6

Điều 10 Luật Luật sư năm 2006

Trang 18

dụng chứng cứ để thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình cũng như bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật

+ Thứ ba, tính chất phản biện: Là dựa trên sự thông hiểu tường tận về pháp lý và

đạo lý để đưa ra những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác Luật sư lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai… từ đó đề xuất những biện pháp, quan điểm phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ sai trái

Theo quy định của pháp luật thì nội dung của nghề Luật sư bao gồm:

1 Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự

2 Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật

3 Thực hiện tư vấn pháp luật

4 Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật

Nhìn chung, Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân Luật sư, phẩm chất và năng lực cá nhân của Luật sư là yếu tố quyết định trong nghề Luật sư Luật sư là một nghề góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân, các tổ chức kinh

tế - xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền và thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về Luật sư như sau: Luật sư là người có trình độ hiểu biết và năng lực chuyên môn trong lĩnh vực pháp lý, được cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư và Thẻ Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của

7

Điều 22 Luật Luật sư năm 2006

Trang 19

khách hàng Đối với khái niệm nghề Luật sư thì có thể hiểu: Là việc Luật sư dùng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của mình để tham gia giải quyết các yêu cầu của khách hàng

Hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự tuy không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động

tư pháp Sự tham gia của Luật sư trong tố tụng dân sự có thể xem như một biện pháp hữu hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Chính vì vậy trong xã hội nói chung và trong tố tụng dân sự nói riêng, vị trí, và vai trò của Luật sư là rất lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo

vệ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

* Vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự trước tòa Trong tố tụng dân sự, Luật sư có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Bởi lẽ trong cuộc sống, khi tham gia các quan hệ xã hội, các cá nhân tổ chức không tránh khỏi phát sinh những tranh chấp cần giải quyết bằng pháp luật thông qua Tòa án Trong khi đó, trình độ nhận thức, hiểu biết về pháp luật của mỗi người là khác nhau, kéo theo những hạn chế nhất định để có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Do đó họ cần sự giúp sức của Luật sư là người có trình độ hiểu biết pháp luật, có kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm tham gia tố tụng để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình

* Vai trò của Luật sư trong việc tư vấn pháp luật góp phần bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự Luật sư trước hết phải là chuyên gia pháp luật, bên cạnh việc trực tiếp tham gia tranh tụng Luật sư còn đóng vai trò tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân để họ nhận thức

và thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng Cụ thể, Luật

sư tư vấn, giải đáp cho đương sự các vấn đề khúc mắc có liên quan đến vụ án trên

cơ sở đối chiếu các quy định của pháp luật, soạn thảo các văn bản liên quan Việc tư vấn pháp luật của Luật sư cũng góp phần giảm thiểu được những tranh chấp trong

xã hội, hạn chế được những vi phạm pháp luật do sự thiếu hiểu biết pháp luật của người dân gây ra

* Vai trò của Luật sư trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật Là người có kiến thức pháp luật sâu rộng, thông qua việc tham gia tố tụng dân sự Luật sư góp phần quan trọng trong việc tuyên

Trang 20

truyền phổ biến giáo dục pháp luật trong cộng đồng và xã hội Bên cạnh đó, Luật sư

có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bằng việc phát hiện những hạn chế, thiếu sót của pháp luật trong quá trình Luật sư tham gia tố tụng

* Sự tham gia của Luật sư trong tố tụng dân sự không chỉ giúp đương sự bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn góp phần trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, khách quan và toàn diện

Có thể thấy rằng vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là rất quan trọng nhằm giúp các đương sự hiểu đúng, hiểu đủ quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật, tránh bị các cơ quan tiến hành tố tụng lạm quyền làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của mình cũng như hiểu được bản án, quyết định của các cơ quan tố tụng tuyên đối với đương sự đã đúng pháp luật hay chưa tránh khiếu kiện, khiếu nại kéo dài làm ảnh hưởng đến thời gian, kinh tế cho các đương sự Cùng với sự phát triển nền tư pháp Việt Nam, Luật sư đang từng bước khẳng định vị trí và vai trò của mình khi tham gia tố tụng dân sự

1.2.2 Hoạt động thu thập chứng cứ và biện pháp thu thập chứng cứ

Chứng cứ cung cấp cho Tòa án có hai loại, một là các chứng cứ có sẵn và các

chứng cứ cần phải đi tìm, thu thập Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì “thu thập” được hiểu là hoạt động “góp nhặt và tập hợp lại” 8 Như vậy, nếu kết hợp hai định

nghĩa “thu thập” và “chứng cứ” đã nêu ở trên thì có thể hiểu một cách khái quát

khái niệm thu thập chứng cứ trong TTDS là: hoạt động tìm kiếm, tập hợp, góp nhặt các tài liệu, các tình tiết có liên quan tới một vụ việc dân sự nhằm khôi phục lại sự thật khách quan của vụ việc đó Do vậy, về mặt khoa học pháp lý có thể thống nhất

với quan điểm cho rằng, “thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ,

tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết

vụ việc dân sự”9

Xét trên góc độ thông tin, thì thu thập chứng cứ là quá trình thu thập thông tin để làm căn cứ xác định sự thật của vụ án Xem xét dưới góc độ pháp luật tố tụng dân sự, hoạt động thu thập chứng cứ là một hoạt động tố tụng dân sự do các chủ thể

Trang 21

của việc chứng minh thực hiện thông qua hoạt động tìm kiếm, phát hiện, thu lại các thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan theo một trình tự thủ tục luật định nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc, và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể chứng minh

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật

sư trong tố tụng dân sự như sau: Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư là hoạt động tham gia tố tụng của Luật sư bằng việc tìm kiếm, phát hiện, thu lại các thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc nhằm làm rõ các tình tiết khách quan của vụ việc qua đó xác định các căn cứ cần thiết trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

Thu thập chứng cứ là một trong những biện pháp để Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ khi tham gia tố tụng, đồng thời cũng là biện pháp nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử Hai yếu tố cấu thành vụ án dân

sự là yếu tố chủ quan (đương sự) và yếu tố khách quan (bao gồm đối tượng – mục đích khởi kiện và nguyên nhân – cách thức bảo vệ quyền của các chủ thể trước Tòa án) Hoạt động thu thập chứng cứ nói chung và của Luật sư nói riêng được xếp vào các yếu tố thuộc mặt khách quan của vụ án Điều này đồng nghĩa với việc các tình tiết, yếu tố cấu thành vụ việc đã vốn có, vốn đã tồn tại, thông qua quá trình thu thập chứng cứ, Luật sư đi tìm lại, diễn đạt lại một cách đầy đủ nhất, đúng đắn nhất về nội dung vụ việc Hay nói cách khác, hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư là hoạt động thông qua việc tìm kiếm, tập hợp lại chứng cứ để tái hiện lại sự thật khách quan của vụ án

Và để chứng cứ có giá trị chứng minh thì việc thu thập chứng cứ phải được thực hiện theo quy định của pháp luật thông qua các biện pháp thu thập chứng cứ

hợp pháp Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì “biện pháp” được hiểu là “cách làm,

và khái niệm hoạt động “thu thập chứng cứ” thì khái niệm biện pháp thu thập

chứng cứ được hiểu là: cách làm, cách thực hiện hoạt động tìm kiếm, tập hợp, góp nhặt các tài liệu, các tình tiết có liên quan tới một vụ việc dân sự nhằm khôi phục lại

sự thật khách quan của vụ việc đó Công tác thu thập chứng cứ là khâu quan trọng nhất trong quá trình chứng minh, là tiền đề cho các hoạt động chứng minh còn lại như cung cấp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ Do vậy, việc tiến hành thu thập

10

Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr.64

Trang 22

chứng cứ của Luật sư cần phải đảm bảo tính hiệu quả và tính hợp pháp của chứng

cứ thu thập được Thu thập chứng cứ vừa là hoạt động mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý nên quá trình phát hiện, thu thập chứng cứ vừa phải thực hiện theo những nguyên tắc, quy luật của nhận thức, vừa phải bảo đảm tính pháp lý, hay nói cách khác là phải khách quan và phải tuân thủ đúng quy định về biện pháp, trình

tự, thủ tục của pháp luật Nói cách khác để mang lại hiệu quả cao nhất cũng như bảo đảm chứng cứ thu thập được có giá trị chứng minh trước tòa thì việc tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ, cần phải được Luật sư thực hiện theo những biện pháp thu thập chứng cứ đã được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân

sự năm 2015

Việc quy định tương đối cụ thể về các biện pháp thu thập chứng cứ, đã tạo cơ

sở cho hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư được tiến hành một cách chặt chẽ, khách quan và đạt hiệu quả cao nhằm mục đích bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp

pháp của khách hàng

1.2.3 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã ghi nhận quyền của người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự trong đó có quyền: “Thu thập và cung cấp tài

liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109

và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền chứ không có nghĩa vụ chứng minh, do việc chứng minh được hay không thì về mặt pháp lý là không ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích của Luật sư, và trong trường hợp này Luật sư tham gia hoạt động thu thập chứng cứ với tư cách là chủ thể mang quyền chứ không phải nghĩa vụ Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, vị trí pháp lý của Luật sư không có gì khác so với đương sự vì Luật sư cùng thuộc nhóm những người tham gia tố tụng

Như vậy, pháp luật tố tụng dân sự đã ghi nhận quyền thu thập chứng cứ của Luật sư khi tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Đây là sự thay đổi rất lớn của Bộ luật Tố tụng dân sự so với PLTTGQCVADS năm 1989 về quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Trước đây theo PLTTGQCVADS năm 1989 thì Luật sư hay nói chung là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia vào quá

11

Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Trang 23

trình tố tụng khi hồ sơ vụ án gần như đã hoàn tất và Luật sư chỉ tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ bằng việc đọc, sao chụp hồ sơ sẵn có để nghiên cứu đưa ra quan điểm bảo vệ cho đương sự theo các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ Do vậy, vị trí, vai trò và tầm quan trọng của Luật sư khi tham gia tố tụng dân sự là khá mờ nhạt, không được đánh giá cao Mãi đến năm 2004 thông qua

Bộ luật Tố tụng dân sự ra đời đã ghi nhận, khẳng định nguyên tắc tự chứng minh, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Đồng thời năm 2011, khi sửa đổi bổ sung BLTTDS 2004, lần đầu tiên nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được Nhà nước

ta ghi nhận trong Điều 23a của BLTTDS sửa đổi 2011 với nội dung: “Điều 23a Bảo

đảm quyền tranh luận tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án bảo đảm để các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” Đây là

sự thay đổi quan trọng, mang tính đột phá trong cải cách tư pháp của nước ta Các quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Luật sư tham ra sâu rộng vào quá trình tố tụng dân sự, đặc biệt qua việc chủ động thu thập chứng cứ để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và hoạt động chứng minh Hơn thế nữa, Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 không chỉ kế thừa Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 trong việc ghi nhận nguyên tắc tranh tụng và quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà còn quy định cụ thể nguyên tắc tranh tụng và các biện pháp thu thập chứng cứ, tạo hành lang pháp lý cho việc gỡ bỏ những khó khăn trong quá trình thu thập chứng của đương sự, Luật

sư trong quá trình thu thập chứng cứ khi áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 Thông qua BLTTDS năm 2015, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng đã được quy định rõ ràng, cụ thể hơn:

Điều 24 Bảo đảm tranh tụng trong xét xử:

1 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này

2 Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của

Bộ luật này…

Trang 24

Như vậy, BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận hoạt động thu thập chứng cứ như một biện pháp bảo đảm tranh tụng trong xét xử Theo đó, trong tố tụng dân sự hiện nay, vai trò và vị trí của Luật sư đang từng bước được nâng cao, là chủ thể quan trọng trong hoạt động thu thập chứng cứ cũng như toàn bộ hoạt động tố tụng dân sự Tuy nhiên, khi áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật

tố tụng dân sự, Luật sư cần thực hiện theo những trình tự thủ tục nhất định, nhằm bảo đảm cho tài liệu chứng cứ thu thập được có giá trị pháp lý cao nhất trong việc chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Về thời hạn thu thập chứng cứ của đương sự cũng như Luật sư tuy pháp luật không quy định nhưng Tòa án vẫn thường ấn định cho đương sự một thời hạn nhất định để họ giao nộp các chứng cứ theo thông báo của Tòa án Điều này xuất phát từ việc quy định quá trình tố tụng dân sự phải được diễn ra trong một khoảng thời gian luật định Đồng thời việc quy định thời hạn cho việc thu thập chứng cứ cũng để tránh tình trạng kéo dài thời gian, việc thu thập chứng cứ không đi vào trọng tâm, không bám sát các vấn đề cần chứng minh trong vụ việc dân sự Đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý lưu giữ chứng cứ có nghĩa vụ giao nộp cho đương sự, Tòa án khi nhận được yêu cầu của đương sự, Tòa án Thời hạn giao nộp các chứng

cứ trong trường hợp này đã được pháp luật quy định cụ thể là 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự, Tòa án Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Tuy nhiên, hiện nay các hoạt động bổ trợ tư pháp còn nhiều hạn chế, chưa có

sự thống nhất thực hiện trên thực tế Vai trò hỗ trợ của Luật sư chưa phát huy được hiệu quả cao Dẫn đến việc các tài liệu, chứng cứ do đương sự xuất trình để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của đương sự khác phần lớn chưa bảo đảm về mặt thủ tục, hình thức cũng như chất lượng nội dung

“Trong thực tiễn việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án thì tỉ lệ số vụ việc dân sự giải quyết dựa vào chứng cứ và việc tự chứng minh của các đương sự là rất ít, hầu hết các vụ việc dân sự được giải quyết đều do Tòa án chủ động, tích cực

mục đích làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc, và đưa ra được một bản án, quyết định đúng pháp luật, phù hợp với thực tế khách quan trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên đương sự Tuy nhiên, do bản thân Tòa

án không thu thập chứng cứ với ý nghĩa là bảo vệ quyền lợi bị xâm phạm của mình

12

Nguyễn Văn Thành (2013), Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự, Luận văn

thạc sĩ, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.4

Trang 25

nên có những hạn chế nhất định về mặt khách quan cũng như chủ quan trong quá trình thu thập chứng cứ đối với mục đích chứng minh của đương sự

Do vậy, có thể thấy sự tham gia thu thập chứng cứ của Tòa án chỉ mang tính chất hỗ trợ cho các đương sự, còn để bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình, thì đương sự cần chủ động thu thập chứng cứ Và để mang lại hiệu quả cao nhất trong việc thu thập chứng cứ của đương sự thì cần phải có sự tham gia, giúp đỡ của Luật sư – những người có trình độ hiểu biết pháp luật và kinh nghiệm tham gia tố tụng

Hiện nay, pháp luật hiện hành quy định trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên đương sự, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế khi chưa tạo ra được cơ chế tốt nhất để các bên đương sự có thể thu thập chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi của mình dẫn đến việc gặp phải rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thu thập chứng cứ Đồng thời cũng do trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế mà phần lớn đương sự khi tham gia tố tụng dân sự không thể thực hiện tốt việc thu thập, sử dụng chứng cứ cũng như trách nhiệm chứng minh

Với sự tham gia của Luật sư trong hoạt động thu thập chứng cứ sẽ bảo đảm tính chính xác cao, có độ tin cậy gần như tuyệt đối, là căn cứ cho việc bảo vệ các yêu cầu của đương sự hoặc bác bỏ yêu cầu của đương sự khác Đồng thời hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư cũng là căn cứ quan trọng cho việc đưa ra các kết luận, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ việc dân sự Các kết luận, phán quyết của các chủ thể tiến hành tố tụng dựa trên những tài liệu, chứng cứ do Luật sư thu thập sẽ là cơ sở khẳng định hoặc phủ định những giả thiết

đã nêu trong quá trình chứng minh

Như đã nói đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Căn cứ vào các chứng cứ mà đương sự cung cấp, Tòa án sẽ tiến hành thẩm định, xác minh, phân tích để thấy rõ giá trị chứng minh cũng như tính hợp pháp của chứng cứ Chính vì vậy đương sự phải ý thức được trách nhiệm của mình trong việc thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, không phải đương sự nào cũng dễ dàng xác định được cách thức thu thập chứng cứ và sử dụng chứng cứ, cũng như cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đang lưu giữ chứng cứ đó Do vậy, Luật sư cần sự hướng dẫn, tư vấn cho đương sự đồng thời

tự mình tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ Với trình độ hiểu biết pháp luật của mình, cũng như kinh nghiệm nghề nghiệp, đối với mỗi yêu cầu của đương sự, Luật sư sẽ xác định được các tài liệu chứng cứ cần phải thu thập, và thời điểm cung

Trang 26

cấp các chứng cứ cho Tòa án để bảo vệ tối đa lợi ích của thân chủ Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư là hoạt động cần thiết, quan trọng, là biện pháp bảo đảm, tạo tiền đề cho các hoạt động tố tụng khác như hoạt động xét xử tại phiên tòa, ảnh hưởng rất lớn tới kết luận tại bản án, quyết định của Tòa án Việc Luật sư trực tiếp tham gia thu thập chứng cứ giúp cho Luật sư làm rõ và hiểu được sự thật khách quan, diễn biến các tình tiết của vụ án, đồng thời giúp Luật sư hệ thống lại các tình tiết liên quan, xác định những chứng cứ cần thiết phải thu thập thêm Thông qua hoạt động thu thập chứng cứ Luật sư bổ sung chứng cứ, củng cố các tài liệu, lý lẽ để đạt được hiệu quả chứng minh tốt nhất tại phiên tòa

Như vậy, Luật sư đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giúp đương sự xác định được giá trị chứng minh của chứng cứ, thu thập và sử dụng chứng cứ qua

đó giúp đương sự thực hiện được tốt nhất quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình Đồng thời hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư giúp bảo đảm chất lượng tham gia của Luật sư trong cả quá trình tố tụng dân sự nói chung cũng như trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nói riêng

Tổng kết Chương 1:

Trong phần 1 tác giả đã đi vào nghiên cứu, xây dựng những khái niệm cơ bản nhất liên quan đến Luật sư và hoạt động chứng minh, thu thập chứng cứ như khái niệm Luật sư và nghề Luật sư, khái niệm chứng minh, khái niệm thu thập chứng cứ và các đặc điểm, vấn đề pháp lý có liên quan của hoạt động chứng minh, cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự… làm cơ sở cho việc nghiên cứu cụ thể về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự

Trang 27

sư cũng góp phần làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án giúp cho việc giải quyết vụ án diễn ra nhanh chóng, chính xác, khách quan và toàn diện Với tầm quan trọng như vậy, nên để tiến hành thu thập chứng cứ, Luật sư cần áp dụng những biện pháp thu thập chứng cứ luật định bằng những kỹ năng, phương thức phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất của hoạt động thu thập chứng cứ Để thấy rõ được các biện pháp, kỹ năng, phương thức cần thiết khi thu thập chứng cứ của Luật sư, tác giả phân tích các quy định chung về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư và làm rõ hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong từng giai đoạn từ trước khi

khởi kiện cho đến khi tiến hành xét xử vụ án

2.1 Các quy định chung về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư

2.1.1 Quy định về nguyên tắc liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư

Khoản 2 Điều 22 Luật Luật sư năm 2006 quy định về phạm vi hành nghề của

Luật sư: “Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, Luật sư có thể trực tiếp tiến hành thu thập chứng cứ với tư cách là

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, hoặc với tư cách là người đại diện hợp pháp của đương sự Cho dù tiến hành thu thập chứng cứ với tư cách nào, pháp luật cũng đều có các quy định nhằm bảo đảm hành lang pháp lý cho hoạt động thu thập chứng cứ Với vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự, Luật sư có quyền: “2 Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho

tòa án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được sao chụp những tài liệu cần thiết trong hồ

định tại Điều 74 BLTTDS năm 2004; Điều 86 BLTTDS năm 2015 thì với tư cách là

13

Điều 64 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

Trang 28

người đại diện hợp pháp của đương sự Luật sư có các quyền, nghĩa vụ của đương sự trong đó có quyền, nghĩa vụ thu thập chứng cứ Như vậy, so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã có sự thay đổi bổ sung về quyền của Luật sư trong việc xác minh, thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự Trước đây, Điều 25 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 chỉ quy định:

2- Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền đề nghị thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch theo quy định tại Chương III của Pháp lệnh này; có quyền cung cấp chứng cứ, đề đạt yêu cầu, được đọc hồ sơ vụ án và ghi chép những điểm cần thiết trong hồ sơ tham dự hoà giải, tham gia phiên toà

3- Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp

do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật của vụ án; giúp đương sự về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ

Khoản 6 Điều 76 và Khoản 6 Điều 70 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 quy

định về quyền của Luật sư: “ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản

lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình”, đồng thời Điều 7 Bộ

luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng ràng buộc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của các

cá nhân, tổ chức, cơ quan như sau:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng

cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ

lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát

Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ được pháp luật tố tụng dân sự quy định như một quyền pháp lý của Luật sư khi tham gia tố tụng Đồng thời quyền thu thập chứng cứ của Luật sư được pháp luật ghi nhận và bảo hộ theo Điểm a Khoản 1

Điều 21 Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012: “Được pháp luật bảo

đảm quyền hành nghề luật sư theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật

có liên quan” Và để đảm bảo cho hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư nói

riêng và hoạt động nghề nghiệp Luật sư nói chung được thực hiện một cách có hiệu

Trang 29

quả trên thực tế, pháp luật cũng quy định những chế tài xử lý trong trường hợp cá

nhân, tổ chức gây cản trở hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư: “Người có chức

vụ, quyền hạn mà có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư hoặc cản trở luật sư, tổ chức hành nghề luật sư thực hiện quyền, nghĩa vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.” 14

Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Luật Luật sư đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi nhằm giúp đương sự, Luật sư thực hiện việc thu thập chứng cứ, đồng thời giúp làm giảm nhẹ gánh nặng và áp lực của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ như trước đây Tạo điều kiện để Tòa án thực sự trở thành cơ quan tài

phán độc lập, bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự 2.1.2 Quy định chung về các biện pháp thu thập chứng cứ của Luật sư

Chứng cứ là căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp đồng thời làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ việc dân

sự Không phải bất cứ tài liệu nào cũng được coi là chứng cứ, mà để được xem là chứng cứ các tài liệu thu thập phải bảo đảm các điều kiện luật định đồng thời phải được thu thập theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Chứng cứ phải hội

đủ ba tính chất, đó là: tính khách quan (có thật, diễn ra và tồn tại trong thế giới khách quan); tính liên quan (phản ánh được các tình tiết sự kiện về quan hệ pháp luật trong vụ án); tính hợp pháp (thu thập bằng các biện pháp hợp pháp, theo trình

tự thủ tục luật định) Do vậy, khi tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ, Luật sư cần phải thực hiện bằng những biện pháp luật định theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ Khoản 1 Điều 97 BLTTDS năm 2015 có quy định chi tiết về các biện pháp thu thập chứng cứ:

“1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:

a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử;

b) Thu thập vật chứng;

c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng;

d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;

14

Điều 91 Luật Luật sư năm 2006

Trang 30

đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm

2.2 Hoạt động thu thập chứng cứ trước khi Tòa án thụ lý yêu cầu

Với bất kỳ một khách hàng nào khi tìm đến Luật sư họ đều mong muốn thông qua quá trình tư vấn, tham gia tố tụng của Luật sư, quyền và lợi ích của họ được bảo vệ một cách tốt nhất Tuy nhiên, do trình độ nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế mà khi tiếp xúc, trao đổi với Luật sư, đương sự không thể hiện được hết các mong muốn, yêu cầu của mình hoặc các yêu cầu, mong muốn mà khách hàng đưa ra chưa phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, và thậm chí có thể gây bất lợi cho khách hàng Cũng có những trường hợp khách hàng do một số lý do mà không cung cấp, cung cấp không đầy đủ các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc cần được giải quyết dẫn đến việc Luật sư không có được cái nhìn toàn diện, đúng đắn để đưa ra cách thức, phương án tốt nhất nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng Chính

vì vậy, khi nói đến hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự thì điều đầu tiên cần phải nói là hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn trước khi khởi kiện Trong giai đoạn này, hoạt động thu thập chứng cứ chủ yếu được tiến

hành đối với khách hàng và áp dụng hai biện pháp thu thập chứng cứ chính là “Thu

thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử;” và “Thu thập vật chứng”

Để thu thập một cách hiệu quả các chứng cứ từ phía khách hàng của mình Luật sư cần thực hiện theo một quy trình:

- Đề nghị khách hàng chuẩn bị các thông tin, tài liệu trước khi gặp mặt;

- Lắng nghe khách hàng trình bày;

- Ghi chép đầy đủ nội dung, và khái quát, đánh giá sơ bộ các thông tin tài liệu khách hàng cung cấp;

- Đặt câu hỏi làm rõ với khách hàng;

- Phân tích thông tin tài liệu khách hàng cung cấp, tham khảo các tài liệu liên quan và đưa ra định hướng thu thập chứng cứ

2.2.1 Thu thập thông tin, tài liệu từ khách hàng

2.2.1.1 Tiếp xúc gián tiếp với khách hàng

Trang 31

Để thu thập thông tin, tài liệu cũng như nắm bắt những yêu cầu của khách hàng, giai đoạn đầu tiên của Luật sư là tiếp xúc với khách hàng Trước khi trao đổi trực tiếp và trong quá trình làm việc, Luật sư có thể trao đổi với khách hàng qua điện thoại, email, … để nắm bắt một cách sơ bộ, khái quát về vụ việc của khách hàng, từ đó Luật sư xác định rõ được mục đích mình cần đạt được trong buổi trao đổi trực tiếp để đưa ra được cho mình cách làm việc hiệu quả nhất Để buổi làm việc trực tiếp diễn ra tốt nhất, thông qua điện thoại, email,… Luật sư cần hướng dẫn khách hàng chuẩn bị các tài liệu quan trọng, cần thiết liên quan đến vụ việc của khách hàng

* Luật sư tiếp xúc với khách hàng qua email: Trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, email là một công cụ trao đổi thông tin phổ biến và tiện dụng giúp tiết kiệm thời gian cũng như xóa nhòa khoảng cách địa lý Cũng giống với hình thức trao đổi qua thư gửi bưu điện, điện tín trước đây, việc tiếp xúc khách hàng qua email giúp Luật sư có thời gian để xem xét, đánh giá và nghiên cứu vấn đề khách hàng đưa ra trên cơ sở tham khảo các tài liệu có liên quan Qua đó, Luật sư xác định được một cách chính xác các vấn đề cần làm rõ, các tài liệu chứng cứ cần thu thập

để giải quyết vụ việc sau đó phản hồi lại với khách hàng bằng các luận điểm, câu hỏi đã được chuẩn bị kỹ nhằm khai thác thông tin, tài liệu từ khách hàng cũng như trao đổi với khách hàng các phương án, cách thức thu thập chứng cứ, chứng minh trong quá trình tham gia tố tụng Tuy nhiên, việc tiếp xúc khách hàng qua email, thư

có phần hạn chế do lượng thông tin truyền tải không lớn, và phong phú như tiếp xúc trực tiếp, đồng thời thời gian truyền tải và xử lý, phản hồi thông tin chậm gây khó khăn đối với các vụ việc cần giải quyết gấp, nhanh chóng

* Luật sư tiếp xúc với khách hàng qua điện thoại: Điện thoại là phương tiện liên lạc phổ biến trong đời sống cũng như trong công việc Việc trao đổi qua điện thoại giúp Luật sư và khách hàng tiết kiệm được thời gian đi lại, truyền tải thông tin nhanh chóng, kịp thời Mặc dù là một hình thức tiếp xúc gián tiếp nhưng việc trao đổi qua điện thoại cũng mang tính đối thoại trực tiếp bởi không giống như tiếp xúc qua thư, email, tiếp xúc qua điện thoại đòi hỏi Luật sư và khách hàng có sự trao đổi, phản hồi thông tin qua lại ngay lập tức Khi trao đổi với khách hàng qua điện thoại Luật

sư không thể nhìn thấy các ngôn ngữ cử chỉ của khách hàng nên gặp nhiều hạn chế trong việc nắm bắt nội dung sự việc, trạng thái tâm lý khách hàng, ảnh hưởng đến khả năng tư duy, phân tích tình huống nhằm đưa ra giải pháp khai thác thông tin, tài liệu từ khách hàng Do vậy, trong việc tiếp xúc khách hàng qua điện thoại đòi hỏi

Trang 32

Luật sư phải hết sức tinh tế, nhạy bén để nắm bắt được nội dung khách hàng đề cập, đồng thời Luật sư phải biết cách sử dụng ngôn từ phù hợp tạo được sự tin tưởng của khách hàng nhằm khai thác thông tin hoặc yêu cầu khách hàng chuẩn bị các thông tin, tài liệu cần thiết

Tóm lại việc tiếp xúc gián tiếp với khách hàng là hoạt động cần thiết trong quá trình tham gia tố tụng dân sự cũng như tạo cơ sở cho buổi tiếp xúc trực tiếp diễn ra hiệu quả Thông qua tiếp xúc gián tiếp, Luật sư nắm bắt được một cách sơ

bộ các yêu cầu của khách hàng và các thông tin, tài liệu cơ bản Qua đó Luật sư định hướng phương án làm việc với khách hàng chuẩn bị các câu hỏi, vấn đề cần khai thác, làm rõ và chuẩn bị địa điểm làm việc phù hợp, phương tiện kỹ thuật như máy ghi âm, ghi hình để nắm bắt tối đa thông tin, tài liệu khách hàng cung cấp

2.2.1.2 Lắng nghe khách hàng

Khi tiếp xúc khách hàng, Luật sư phải lắng nghe, không phản đối, không phê bình và chê bai, tập trung vào phân tích giải quyết khó khăn và nắm bắt nguyện vọng của khách hàng Nghe là một kỹ năng không thể thiếu được trong cuộc sống

và nghề nghiệp của mỗi Luật sư Để thu thập được thông tin từ khách hàng thì Luật

sư cần phải tập trung khi khách hàng trình bày Không ngắt lời khách bằng những gợi ý chủ quan của mình để tránh những hiểu lầm về ngôn ngữ có thể xảy ra trong quá trình trao đổi thông tin giữa khách hàng và Luật sư Hãy để cho khách hàng diễn đạt ý muốn, nguyện vọng theo cách của họ tuy nhiên cũng cần khéo léo hướng khách hàng trình bày vào trọng tâm vụ việc để khai thác thông tin, tránh lan man các vấn đề không liên quan Vấn đề đặt ra cho Luật sư ở giai đoạn tiếp xúc khách hàng là cần phải nắm bắt được sự việc mà khách hàng trình bày Luật sư gợi mở để khách hàng trình bày đầy đủ và đúng sự thật của sự việc mà khách hàng yêu cầu tư vấn, giải quyết, phải cố gắng lắng nghe họ, nếu chưa thông suốt Luật sư có thể yêu cầu họ trình bày lại, đề nghị khách hàng của mình làm rõ những vấn đề cần quan tâm, yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu, đó là Luật sư đang thu thập chứng cứ Khi nói chuyện với khách hàng, để đạt hiệu quả cao nhất trong việc thu thập thông tin, Luật sư nên sử dụng những từ ngữ dễ hiểu, ngắn gọn, tránh dùng các từ chuyên ngành Trong quá trình tiếp xúc khách hàng, Luật sư cần ghi chép đầy đủ nội dung chính, ý chính mà khách hàng trình bày, sau đó đặt câu hỏi đối với khách hàng về các vấn đề chưa rõ, chưa cụ thể

2.2.1.3 Hỏi khách hàng

Trang 33

Hỏi là một trong những kỹ năng thu thập chứng cứ quan trọng của Luật sư khi tiếp xúc với khách hàng Quá trình thu thập chứng cứ trong giai đoạn này là quá trình Luật sư phân tích sự việc bằng cách liên tục đặt các câu hỏi Khi nắm bắt sự việc, Luật sư cần đặt những câu hỏi thật ngắn gọn, rõ ràng, dể hiểu để khách hàng trình bày chi tiết cụ thể hơn, cần khéo léo khai thác hết thông tin từ phía khách hàng

để đưa ra kết luận chính xác nhất, bởi tâm lý chung của con người là luôn bảo vệ, che dấu cái sai của mình và muốn Luật sư biến cái sai của họ thành cái đúng hay hướng Luật sư phải hiểu như họ, tâm lý của người trình bày là luôn muốn Luật sư cuốn theo suy nghĩ chủ quan của mình và luôn cho nó là đúng Từ đó họ luôn che đậy bớt thông tin và không cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin cho Luật sư, gây khó khăn cho công việc của Luật sư và làm cho Luật sư nhận định sai vấn đề Chính

vì vậy, sau khi nghe khách hàng trình bày, Luật sư phải biết phân tích thông tin và đưa ra các câu hỏi mang tính kiểm chứng, xác định Đây là bước quan trọng để xác định chính xác nội dung khách hàng trình bày, cũng như xác định được trọng tâm, tính chính xác của các vấn đề, thông tin khách hàng đưa ra Như vậy, hỏi là một kỹ năng quan trọng nhất mà Luật sư cần phải có, thông qua việc hỏi khi tiếp xúc khách hàng Luật sư nắm bắt, thu thập được các thông tin, tài liệu quan trọng liên quan đến

vụ việc cần giải quyết

2.2.1.4 Khái quát, đánh giá vụ việc ngay tại buổi tiếp xúc khách hàng

Bên cạnh đó, để mang lại hiệu quả tốt nhất cho việc thu thập chứng cứ, Luật

sư cần phải có kỹ năng khái quát, đánh giá trọng tâm vụ việc, phân tích sơ bộ thông tin, tài liệu ngay tại buổi tiếp xúc với khách hàng Sau khi nghe khách hàng trình bày và đã hỏi chi tiết vụ việc thì Luật sư cần có những đánh giá, nhận định ban đầu

về vụ việc, đây là bước quan trọng để xác định đúng nhu cầu, mong muốn của khách hàng Trong giai đoạn này, Luật sư nhận định và sàng lọc các thông tin liên quan đến vụ việc mà khách hàng trình bày một cách công bằng và khách quan, đồng thời loại bỏ các yếu tố chứa đựng sự đánh giá chủ quan thiếu căn cứ của khách hàng Luật sư cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là quan hệ gì? Xác định chủ thể của quan hệ đó, những điểm mấu chốt của sự việc, xác định luật áp dụng và thực tế áp dụng như thế nào, các văn bản pháp luật liên quan Từ đó Luật sư xem xét chứng cứ và đánh giá chứng cứ khách hàng đã cung cấp để phân loại những chứng cứ có lợi, chứng cứ quan trọng và những chứng cứ bất lợi Sau đó, xác định các chứng cứ cần phải thu thập để chứng minh, bảo vệ cho yêu cầu của khách hàng

Trang 34

Thông thường, trong lần đầu tiên tiếp xúc, Luật sư chưa thể nắm bắt một cách đầy đủ bản chất của sự việc cũng như chưa có được những thông tin, tài liệu cần thiết Vì vậy, trên cơ sở phân tích vụ việc một cách khái quát Luật sư đưa ra các vấn đề, các câu hỏi cũng như các tài liệu được cho là cần thiết và đề nghị sau buổi làm việc này khách hàng trong khả năng của mình tìm hiểu, giải đáp các vấn đề này Mặc khác, như đã nói, do yếu tố tâm lý mà khách hàng có thể không cung cấp cho Luật sư các thông tin, tài liệu có liên quan Trong trường hợp này, sau khi nghe khách hàng trình bày, Luật sư nên nhấn mạnh và giải thích rõ với khách hàng rằng chỉ có thể đưa ra giải pháp chính xác, đầy đủ và đúng pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng nếu họ trình bày vấn đề một cách trung thực và khách quan Luật sư yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu liên quan đến vụ việc cần giải quyết mà Luật sư cho rằng khách hàng đang lưu giữ hoặc có thể thu thập được Những giấy tờ tài liệu này phản ánh diễn biến của quá trình tranh chấp hoặc bản chất của vụ việc mà khách hàng đang gặp phải, nếu không có những tài liệu này, việc tư vấn, giải quyết vụ việc có thể sẽ bị sai lệch và không đạt được kết quả như mong đợi

Luật sư không nên vội vàng kết luận vấn đề trong trường hợp khách hàng yêu cầu tư vấn ngay bằng miệng vì một kết luận tư vấn sai có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của khách hàng và uy tín nghề nghiệp của Luật sư Việc tư vấn ngay bằng miệng là việc Luật sư vừa thu thập chứng cứ vừa nghiên cứu và đánh giá chứng cứ do vậy nếu không có trình độ chuyên môn cao Luật sư khó có thể đưa ra các luận điểm sắc bén, có sức thuyết phục để trả lời khách hàng của mình Khi tiếp xúc khách hàng, Luật sư chỉ nên đưa ra phương án cho khách hàng lựa chọn, theo hướng có lợi nhất cho những vấn đề mà khách hàng đang quan tâm, Luật sư không nên đề nghị lựa chọn phương án nào nhưng cũng không phải mở ra nhiều hướng mà

phải lựa chọn kết quả để khách hàng hướng tới

2.2.1.5 Phân tích thông tin tài liệu khách hàng cung cấp, tham khảo các tài liệu liên quan nhằm đưa ra định hướng thu thập chứng cứ

Sau buổi làm việc, tiếp xúc đầu tiên với khách hàng, về cơ bản Luật sư đã nắm được tương đối khái quát nội dung vụ việc cũng như nhận được từ khách hàng các chứng cứ đầu tiên của vụ việc Tuy nhiên, đây chỉ là những thông tin, tài liệu bước đầu, để bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng một cách tốt nhất Luật sư cần

bổ sung thêm rất nhiều chứng cứ trong quá trình tham gia tố tụng Và một phần các chứng cứ này có thể vẫn do khách hàng lưu giữ chưa giao cho Luật sư

Trang 35

Để hiểu rõ hơn về nội dung vụ việc cũng như xác định được các thông tin tài liệu cần phải thu thập, đặc biệt là xác định các thông tin, tài liệu khách hàng đang lưu giữ hoặc có khả năng thu thập, thì Luật sư cần phải dành thời gian để nghiên cứu các thông tin, tài liệu đã thu thập được và tra cứu các tài liệu tham khảo trên cơ

sở áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan Trên thực tế khi quyền và lợi ích bị xâm phạm thì khách hàng là người đầu tiên đưa ra các căn cứ và các tài liệu cũng như các quan điểm, nhận định để đánh giá vấn đề Tuy nhiên phần lớn đó chỉ

là những cảm nhận mang tính cá nhân, dựa trên các lý lẽ thông thường mà không phải dựa vào các căn cứ pháp lý, văn bản pháp luật Và khi nghe khách hàng trình bày, Luật sư dễ bị cuốn theo cách suy nghĩ của khách hàng và đưa ra những cảm nhận, suy luận chủ quan về nội dung cũng như phương thức giải quyết vụ việc Do vậy, đối với Luật sư việc tra cứu tài liệu tham khảo đặc biệt là các văn bản pháp luật

là điều bắt buộc bởi vì nó giúp Luật sư định hướng chính xác cách nhận định, giải quyết vụ việc tránh kết luận vấn đề theo cảm tính, tư duy chủ quan của mình Cũng qua việc tiếp xúc với khách hàng và sau khi nghiên cứu các thông tin, tài liệu đầu tiên do khách hàng cung cấp Luật sư định hình được nội dung vụ việc, xác định được các vấn đề cần chứng minh, và các tài liệu, chứng cứ cần phải thu thập để chứng minh cho vấn đề đó

2.2.2 Hướng dẫn đương sự viết đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập

Đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập là các văn bản có giá trị tố tụng rất lớn, được xem là chứng cứ quan trọng của vụ án Thông qua đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập đương sự thể hiện quan điểm, yêu cầu chính đáng của mình và cũng là căn cứ để bên đương sự đối lập khai thác nhằm phản biện, bác

bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Do đó, việc soạn thảo đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập thế nào cho hợp lý được xem là việc thu thập chứng cứ quan trọng khi tham gia tố tụng dân sự Trong đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập đương sự trình bày quá trình diễn biến của vụ án cũng như những lập luận, tài liệu, chứng cứ mà đương sự dùng để làm căn cứ Thông thường đương sự khi viết đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập thường mang tính diễn giải, tức là đương sự trình bày theo cách hiểu của mình về diễn biến của vụ việc sau

đó nêu lên các yêu cầu của mình cần Tòa án xem xét và giải quyết Do vậy, đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập do đương sự tự viết có thể không bao hàm hết những nội dung mà nguyên đơn muốn trình bày, không đưa ra được những luận điểm, căn cứ bước đầu nhằm bảo vệ cho yêu cầu của mình Hoặc có trường

Trang 36

hợp trong đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập đương sự đưa ra những tình tiết, thông tin tài liệu không phù hợp, chưa phù hợp, hay chưa nên đưa ra tại thời điểm viết đơn Vì vậy, Luật sư phải tư vấn giúp đương sự viết đơn hoặc tự mình soạn thảo đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập cho đương sự để ít nhất các đơn này phải thể hiện được các nội dung theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao

hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại

Tòa án cấp sơ thẩm”

Về hình thức của đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập để tạo ra

sự thống nhất cũng như bảo đảm các thông tin trong đơn khởi kiện được đầy đủ, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định cụ thể về hình thức và nội dung của đơn khởi kiện tại Khoản 4 Điều 189:

4 Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó; d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có)

Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

Trang 37

g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

Như vậy, pháp luật không quy định đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập phải viết tay, đánh máy hay theo mẫu thì mới có giá trị pháp lý Do đó, người làm đơn có thể lựa chọn hình thức viết tay, đánh máy hoặc theo mẫu mà Tòa án đã quy định sẵn Tuy nhiên, Luật sư cần hướng dẫn đương sự viết rõ ràng, mạch lạc, bảo đảm các nội dung mà pháp luật đã quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, và nếu trong trường hợp có điều kiện đánh máy thì tốt nhất Luật sư nên tư vấn để đương sự soạn thảo đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập bằng máy tính

Về nội dung, để soạn thảo đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự, Luật sư phải nắm bắt được rõ nội dung của vụ việc Luật sư sẽ đối chiếu các văn bản pháp luật có liên quan để phân tích các thông tin, tài liệu, các điểm mạnh yếu trong hồ sơ vụ án Từ đó, Luật sư đưa ra cách viết cũng như tư vấn cho đương sự yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập phù hợp, bao quát, lường trước được toàn bộ diễn biến của vụ án trong suốt quá trình tố tụng nhằm tránh việc nội dung khởi kiện, phản tố, yêu cầu độc lập bất lợi làm cơ sở, chứng cứ để bên đối lập khai thác hoặc yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập không bao quát dẫn đến sau này không thể bổ sung do vượt quá yêu cầu khởi kiện, phản tố, yêu cầu độc lập Cũng chính nhờ sự tư vấn kịp thời của Luật sư

mà đương sự mới thấy rõ bản chất của vụ việc và quyền, lợi ích hợp pháp của mình

bị xâm hại

Với sự tham gia tư vấn soạn thảo đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập cho đương sự, Luật sư cũng giúp đương sự định hình được các nội dung, vấn đề cần nhấn mạnh, các thông tin, tài liệu, tình tiết không nên hoặc chưa nên đề cập trong giai đoạn này Sau khi đương sự đã viết xong đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập hoặc Luật sư đã giúp đương sự soạn thảo xong, thì Luật sư và đương sự cần ngồi lại với nhau để cùng xem xét, phân tích và thống nhất lại lần cuối cùng trước khi gửi đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập cho Tòa án

Trang 38

có thẩm quyền Như vậy, có thể thấy việc tham gia của Luật sư trong quá trình viết đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập tranh chấp dân sự là vô cùng quan trọng và cần thiết

2.3 Hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư được diễn ra chủ yếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Sau khi Tòa án thụ lý vụ án thì tư cách tham gia tố tụng của các chủ thể được thiết lập Lúc này các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng trong việc chứng minh, thu thập chứng cứ Đồng thời ở giai đoạn này, các đương sự tiến hành giao nộp chứng cứ và Tòa án xem xét hồ sơ vụ án, và tiến hành thu thập chứng cứ, do vậy vụ

án phát sinh các yếu tố ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên trong vụ án đòi hỏi Luật sư, đương sự phải tích cực thu thập chứng cứ để bảo vệ cho yêu cầu của mình

2.3.1 Hướng dẫn, tư vấn cho đương sự thu thập chứng cứ

* Thu thập chứng cứ trong việc tham gia lập các văn bản liên quan trong quá trình tố tụng

Bên cạnh việc tư vấn, soạn thảo đơn khởi kiện, hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư còn thể hiện qua việc tư vấn, chuẩn bị cho đương sự các văn bản tố tụng khác như: bản tự khai, bản giải trình, các đơn đề nghị Đây cũng là những chứng

cứ được các bên đương sự cũng như Tòa án quan tâm, nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án Do vậy các bản tự khai, bản giải trình, các đơn đề nghị về các vấn

đề liên quan cần trình bày ngắn gọn, xúc tích, phản ánh đúng, đủ, rõ rang, chính xác vấn đề Khi viết bản tự khai Luật sư cần hướng dẫn, tư vấn để đương sự khái quát được nội dung cần diễn đạt, thể hiện rõ được quan điểm, lập luận của mình đối với vấn đề cần giải quyết, đồng thời tránh trình bày lan man nhiều vấn đề không liên quan, hoặc có thể gây bất lợi cho mình Khi viết bản giải trình, đơn đề nghị cần đặt

ra những mục tiêu cụ thể theo những vấn đề nhất định, có nghĩa là: mỗi bản giải trình hay đơn đề nghị cần xác định giải quyết dứt điểm một vấn đề Các bản tự khai, bản giải trình, đơn đề nghị giúp Tòa án nhìn nhận vấn đề một cách chính xác và có hiệu quả, đồng thời cũng là các văn bản cần thiết để nên quan điểm của mình cũng như thể hiện các căn cứ để phản bác lại các lập luận của đối phương Đối với các lập luận phản bác nên ngắn gọn, sắc bén, có tính thuyết phục và phải luôn được phân tích, nhìn nhận từ góc độ pháp lý Khi cung cấp chứng cứ kèm theo bản giải

Trang 39

trình, đơn đề nghị cho Tòa án nên thể hiện rõ quan điểm của mình là chứng cứ này được sử dụng để chứng minh cho yêu cầu nào, vấn đề nào của mình và tại sao? Đồng thời trong bản giải trình, đơn đề nghị cũng cần nêu lên luôn phương án giải quyết vụ việc để Tòa án xem xét

Trong quá trình tham gia tố tụng dân sự, đương sự phải tham gia các buổi làm việc để phục vụ việc giải quyết vụ án, các buổi làm việc này được Tòa án lập thành văn bản: Biên bản lấy lời khai, Biên bản hoà giải, Biên bản đối chất, Biên bản phiên tòa… và các văn bản này trở thành chứng cứ trong hồ sơ vụ án Do vậy, Luật sư cần

tư vấn để khách hàng có sự chuẩn bị tốt trước khi tham gia các buổi làm việc này:

* Đối với biên bản lấy lời khai, trong xét xử, giải quyết các vụ án dân sự thì việc lấy lời khai là hoạt động tố tụng rất phổ biến Lấy lời khai được Tòa án thực hiện và ghi nhận tại Biên bản lấy lời khai Luật sư cần giải thích, hướng dẫn cho khách hàng hiểu và nắm bắt được diễn biến nội dung vụ việc dưới góc nhìn có lợi nhất cho đương sự, đồng thời xác định trước nội dung các câu hỏi Tòa án đưa ra cho khách hàng và chuẩn bị trước nội dung trả lời của người được lấy lời khai Luật sư cũng phải lưu ý cho khách hàng khi kết thúc việc lấy lời khai, khách hàng phải tự đọc lại, hoặc nghe đọc biên bản, và ghi rõ ý kiến của người khai đồng ý hay không đồng ý với nội dung biên bản, cuối cùng để bảo đảm quyền lợi của mình đương sự cần kiểm tra lại chữ ký của Thư ký ghi biên bản, chữ ký của Thẩm phán, dấu đóng của Toà án và chữ ký của mình đã đầy đủ chưa

* Biên bản hoà giải là văn bản ghi nhận phiên hoà giải trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động tại Toà án

Do cơ sở của hòa giải dân sự là quyền tự định đoạt của đương sự nên tại buổi hòa giải đương sự sẽ thể hiện ý chí của mình về cách thức giải quyết vụ việc trên cơ sở đánh giá cân nhắc về các ý kiến bên đương sự đối tụng nêu ra Để chuẩn bị cho buổi hòa giải, Luật sư cần giúp đương sự chuẩn bị các ý kiến sẽ nêu ra và xác định những nội dung các đương sự có khả năng sẽ thoả thuận được với nhau và những nội dung các đương sự không thoả thuận được với nhau Trước khi hòa giải, Luật sư cần phân tích và thỏa thận trước với khách hàng của mình về một số yêu cầu cần đạt được và những vấn đề cần nhượng bộ Sau khi kết thúc buổi hòa giải đương sự đọc lại hoặc nghe đọc biên bản, đồng thời kiểm tra chữ ký của những người tham gia hoà giải

Trang 40

* Biên bản đối chất là văn bản ghi nhận việc đối đáp, chất vấn giữa các bên tham gia về những vấn đề có mâu thuẫn Trước khi đương sự tham gia đối chất, Luật sư cần sao chụp vào nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, đặc biệt là lời khai của các bên đương sự, người làm chứng, các thông tin, tài liệu, chứng cứ mà các bên đương sự cung cấp cũng như chứng cứ do Tòa án thu thập Qua việc nghiên cứu hồ

sơ, Luật sư tìm ra các điểm mâu thuẫn trong lời khai của các bên đương sự, người làm chứng, các vấn đề có sự mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án Từ đó, Luật sư tư vấn cho đương sự các lập luận để bảo vệ quan điểm của mình đồng thời phản bác quan điểm, chứng cứ của bên đối tụng có sự mâu thuẫn với của mình Khác với hòa giải

là mang tính chất thương lượng, điều đình thì ở buổi đối chất các bên đương sự sẽ mang tính đối kháng với nhau, các bên cùng chất vấn, đối đáp với nhau để làm rõ một vấn đề, và đưa ra các thông tin, tình tiết và các luận điểm để bảo vệ quan điểm, chứng cứ của mình và bác bỏ nội dung mâu thuẫn của bên đương sự đối lập Bên cạnh việc tư vấn về mặt nội dung, Luật sư cũng phải tư vấn cho đương sự về mặt tâm lý khi tham gia đối chất Bởi trong buổi đối chất, việc hỏi đồng thời hai người trong cùng bối cảnh không gian thời gian sẽ thiết lập những điều kiện để hai người tri giác trực tiếp nội dung lời khai và thái độ của nhau trong quá trình đối chất, là động lực thúc đẩy tác động tâm lý nhiều chiều đối với những người được đưa ra đối chất dẫn đến những thay đổi trong lời nói, thái độ, cử chỉ của các bên Qua đó thẩm phán có thể đánh giá được sự thật khách quan trong lời khai của mỗi bên Do vậy,

sự tư vấn của Luật sư là cần thiết và quan trọng để sau này khi lập thành biên bản đối chất các bên đương sự sẽ căn cứ vào đó để phục vụ hoạt động chứng minh của mình, đồng thời cũng là căn cứ để Tòa án đánh giá sự thật khách quan và đưa ra phán quyết đúng đắn cho vụ việc cần giải quyết

* Biên bản phiên tòa được coi là chứng cứ có vị trí rất quan trọng, không chỉ thể hiện việc tuân thủ trình tự tố tụng của Toà án, mà còn thể hiện kết quả tranh tụng, là cơ sở để Hội đồng xét xử ra bản án, quyết định về vụ án Tại Toà án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, Biên bản phiên toà sơ thẩm là một trong những căn cứ quan trọng làm cơ sở để đánh giá tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm Theo quy định tại Khoản 1 Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ nội dung:

a) Các nội dung chính trong quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;

b) Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa;

Ngày đăng: 18/03/2018, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Trần Phương Thảo (2004), Vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng Dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng Dân sự
Tác giả: Trần Phương Thảo
Năm: 2004
26. Hoàng Thu Yến (2006), Luật sư trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sư trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thu Yến
Năm: 2006
28. Nguyễn Văn Tuân (2002), Luật sư và hành nghề Luật sư, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sư và hành nghề Luật sư
Tác giả: Nguyễn Văn Tuân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
29. Nguyễn Kim Lượng (2015), Thu thập, nghiên cứ và dánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Trường đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu thập, nghiên cứ và dánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm
Tác giả: Nguyễn Kim Lượng
Năm: 2015
30. Trường đào tạo các chức danh tư pháp (2001), Kỹ năng hành nghề Luật sư, tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng hành nghề Luật sư
Tác giả: Trường đào tạo các chức danh tư pháp
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
31. Ts. Đinh Văn Thanh, tháng 4/2004, "Vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự", Tạp chí luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự
32. Nguyễn Minh Hằng (2002), Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Năm: 2002
33. Tưởng Duy Lượng (2010), Thu thập chứng cứ và trách nhiệm chứng minh trong tố tụng dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Kiểm sát số 24/2010, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu thập chứng cứ và trách nhiệm chứng minh trong tố tụng dân sự - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Năm: 2010
34. Phạm Thị Hương (2013), Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Hương
Năm: 2013
36. Nguyễn Văn Thành (2013), Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
Tác giả: Nguyễn Văn Thành
Năm: 2013
37. Ph. Anghen (1984), Chống Đuyrinh, Nhà xuất bản Sự Thật. Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuyrinh
Tác giả: Ph. Anghen
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự Thật. Website
Năm: 1984
27. Tăng Hoàng My (2012), Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Khác
35. Đinh Văn Thanh (2004), Vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự, Tạp chí Luật học số 04/2004, Trường đại học Luật Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w