1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ẩm thực trong ngày tết nguyên đán của người Thái Đen ở xã Nghĩa An, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

50 478 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 804,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài được chia làm ba chương chính. Trong đó chương 1 giới thiệu về một số khái niệm liên quan tới đề tài, khái quát về đặc trưng văn hóa của tộc người Thái đen trong đó có ẩm thực và nơi tộc người cư trú. Chương 2 giới thiệu về văn hóa ẩm thực tộc người Thái đen ở Văn Chấn, Yên Bái trong đó tiêu biểu là ẩm thực ngày tết. Chương 3 đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực của tộc người Thái đen.

Trang 1

1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt tiểu luận này lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn trân thành tới Khoa Văn hóa dân tộc thiểu số cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành bài đúng kỳ hạn

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, động viên tôi hoàn thành bài một cách tốt nhất

Trong quá trình tìm hiểu nội dung và đi thực tế, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới UBND xã Nghĩa An- huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái cùng toàn thể đồng bào dân tộc Thái Đen sinh sống ở xã đã giúp đỡ và cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành bài tiểu luận này

Do bản thân người viết còn thiếu kinh nghiệm, kiến thức và tài liệu còn hạn hẹp nên bài viết chắc chắn sẽ có nhiều thiếu xót Vì vậy, kính mong các thầy cô giáo chỉ bảo giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt bài tiểu luận này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Bố cục tiểu luận 8

Chương 1: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ NGHĨA AN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI 9

1 1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội, địa bàn cư trú 9

1.1.1 Khái quát về xã Nghĩa An huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái 9

1.1.2 Đặc điểm tự nhiên 9

1.2 Tên gọi, nguồn gốc, quá trình hình thành cộng đồng người Thái Đen ở xã Nghĩa An huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái 11

1.3 Tập quán mưu sinh 13

1.4 Tổ chức xã hội 14

1.5 Đặc điểm văn hóa 15

1.5.1 Văn hóa vật chất 15

1.5.2 Văn hóa tinh thần 16

Tiểu kết chương 1 18

Chương 2: CÁC MÓN ĂN TRONG NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN 19

2.1 Món ăn chế biến từ lương thực 19

2.1.1 Khẩu cắm( cơm nhuộm màu) 19

2.1.2 Bánh chưng (khẩu tôm) 23

2.2 Các món ăn lấy nguyên liệu từ thiên nhiên 26

2.2.1 Mok (xôi tổng hợp) 26

2.2.2 Tắt chay (rau xôi tổng hợp) 27

2.3 Các món ăn làm từ động vật 29

Trang 3

3

2.3.1 Lượt tả ( tiết canh) 29

2.3.2 Nhứa pỉnh pặc pằm ( thịt băm gói lá dong nướng) 30

2.3.3 Pà (thịt tái) 31

2.3.4 Nhứa giảng ( thịt sấy) 32

2.4 Một số thức uống 35

Tiểu kết chương 2 39

Chương 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG ẨM THỰC NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ NGHĨA AN, VĂN CHẤN, YÊN BÁI 40 3.1 Những xu hướng biến đổi trong ẩm thực 40

3.2.1 Biến đổi trong nguồn nguyên liệu 40

3.2.2 Biến đổi trong cách chế biến 41

KẾT LUẬN 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 48

Trang 4

Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Thái đứng thứ 3 về dân

số sau người Kinh( Việt), và người Tày Việc nghiên cứu văn hóa Thái đã trở thành mối quan tâm lớn không chỉ đối với một quốc gia( như Việt Nam) mà còn được các quốc gia trong khu vực và trên thế giới cùng quan tâm Những cuộc hội thảo quốc tế về người Thái là một ví dụ

Những đặc trưng về lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa của người Thái ở Việt Nam đã được tái hiện khá phong phú trong những công trình ấy Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu thường tập trung ở một số khu vực như Tây Bắc( Sơn La, Lai Châu), Bắc Trung Bộ(Thanh Hóa, Nghệ An) mà ít chú ý đến nơi khác có người Thái cư trú

Do sớm có mặt ở Mường Lò nói chung, xã Nghĩa An nói riêng, lại chiếm

tỷ lệ dân số khá đông, trong tiến trình phát triển của lịch sử, đồng bào Thái nơi đây đã sớm xây dựng cho mình một nền văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng, góp phần xây dựng nên truyền thống văn hóa Việt Nam Nhưng bên cạnh văn hóa truyền thống riêng vốn có của mình, người Thái luôn luôn tiếp thu và giao lưu văn hóa với các dân tộc anh em, trong đó có ẩm thực Trong ẩm thực của người Thái luôn có sự pha trộn và thống nhất giữa cái truyền thống của dân tộc mình và tiếp thu về mặt nguyên liệu, kỹ thuật của các dân tộc khác Khiến người Thái có một nền văn hóa ẩm thực rất phong phú và đa dạng Đặc biệt là

ẩm thực trong dịp tết nguyên đán

Là một sinh viên học ngành Văn hóa dân tộc thiểu số, tôi nhận thấy việc tìm hiểu ẩm thực và gìn giữ những nét đẹp truyền thống của người Thái Đen là việc cấp thiết, góp phần bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa truyền thống quý

Trang 5

5

báu của dân tộc Hơn nữa, với mong muốn trau dồi kỹ năng tìm hiểu văn hóa tộc người, việc thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi tìm hiểu được sâu hơn về đời sống của người Thái nói chung, người Thái ở Nghĩa An nói riêng Xuất phát từ những

mục đích đó, nên tôi chọn đề tài “Ẩm thực trong ngày tết nguyên đán của người Thái Đen ở xã Nghĩa An, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” làm đề tài

nghiên cứu của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề lịch sử- văn hóa của người Thái ở Việt Nam đã được sưu tầm, nghiên cứu từ rất lâu với các tác phẩm như “ Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” của Cầm Trọng; “ Văn hóa Thái Việt Nam” của Cầm Trọng- Phan Hữu Dật Cầm Trọng là tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Thái ở Việt Nam Ông cùng với Ngô Đức Thịnh viết cuốn “ Luật tục Thái ở Việt Nam” xuất bản năm 2003 Năm 2005 cuốn “ Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” của ông được tái bản, với nội dung là giới thiệu văn hóa Thái trong lịch sử Việt Nam, sự phân chia thành các vùng văn hóa, các nhóm địa phương, nơi cư trú, sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt ăn uống, ở, mặc, đi lại, quan hệ gia đình, xã hội Thêm một công trình nữa của Cầm Trọng được mang tên “ Người Thái” do Chu Thái Sơn chủ biên

Ngoài Cầm Trọng còn có các tên tuổi khác như Phạm Ngọc Khuê với “ Mỹ thuật dân tộc Thái ở Việt Nam” trong đó giới thiệu về nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật trang trí trên vải, trang sức, đồ gốm Lê Ngọc Thắng với “ nghệ thuật trang phục Thái” Hai tác giả Hoàng Nam và Lê Ngọc Thắng với “ nhà sàn Thái” Năm 2006, cuốn “ văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An” của Vi Văn Biên được xuất bản, ông đã phân tích sự tương đồng và khác biệt về văn hóa vật chất của người Thái ở Bắc Trung Bộ và người Thái ở Tây Bắc Một loạt những công trình nghiên cứu về nghệ thuật ngôn từ của người Thái cũng được ra đời “ Truyện dân gian Thái” với ba tác giả Cầm Cường, Cầm

Kỳ, Hà Thị Thiệc Gần đây nhất là tác tác phẩm “ Tìm hiểu văn học dân tộc Thái

Trang 6

Viết về Mường Lò( trong đó có xã Nghĩa An) có công trình của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam “ Tìm hiểu một số tục cúng vía của người Thái Đen ở Mường Lò” của nhóm tác giả Hoàng Thị Hạnh- Lò Văn Biến- Nguyễn Mạnh Hùng Hai áng sử thi của người Thái là “ Quắm tố mương” ( kể chuyện bản mường) và “ Táy pú xấc” ( dõi theo bước đường chinh chiến của cha ông) là hai tác phẩm đã dựng nên quá trình di cư- tụ cư và sinh sống của người Thái Đen Trong đó Mường Lò được nhắc đến là nơi Lò Lạng Chượng- ông tổ người Thái Đen ở Tây Bắc Việt Nam bắt đầu sự nghiệp của mình Đồng thời những sự kiện

đó cũng được thuật lại khá sinh động trong áng “ Mo khuôn” ( mo hồn) và “ lời tang lễ dân tộc Thái” mới được xuất bản gần đây Đặc biết nói về ẩm thực của người Thái Đen ở Mường Lò có cuốn “ Ẩm thực người Thái Đen ở Mường Lò” của tác giả Hoàng Thị Hạnh

Có thể nói, các tác phẩm cùng kết quả nghiên cứu đều khẳng định vai trò,

vị trí, ý nghĩa của Mường Lò với lịch sử- văn hóa của người Thái Đen Tuy nhiên chưa có bài viết nào đi sâu tìm hiểu vào văn hóa ẩm thực của một xã cụ thể Chính vì vậy, người viết mạnh dạn lựa chọn đề tài này để nghiên cứu với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình trong việc gìn giữ vào phát huy văn hóa

ẩm thực ở xã Nghĩa An nói riêng và Mường Lò nói chung

Trang 7

7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là văn hóa ẩm thực của người Thái Đen trong ngày tết nguyên đán Qua đó ta có thể hiểu hơn về văn hóa Thái đầy nét riêng biệt và đậm đà bản sắc

Phạm vi nghiên cứu là người Thái Đen ở xã Nghĩa An( thuộc cánh đồng Mường Lò, thị xã Nghĩa Lộ)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu về văn hóa ẩm thực của người Thái Đen và những kiêng kỵ trong ngày tết nguyên đán Từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa người Thái Đen Đưa văn hóa ẩm thực của người Thái Đen vào du lịch

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành bài tiểu luận này, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

 Phương pháp khảo sát thực tế:

Quá trình thực hiện tiểu luận đòi hỏi phải tiến hành một số đợt thực địa, khảo sát các đối tượng nghiên cứu tại xã Nghĩa An nhằm đưa ra những đánh giá xác thực và có thông tin đầy đủ về các đối tượng nghiên cứu

 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu:

Người viết đã tìm tài liệu từ nhiều kênh thông tin khác nhau Sau đó chọn lựa và phân loại các tài liệu đó cho phù hợp với các yêu cầu của bài viết

 Phương pháp phân tích và tổng hợp:

Phương pháp này được sử dụng để phân tích và xứ lý số liệu, tài liệu đã điều tra, bao gồm các thông tin, số liệu được tổng hợp từ một số sách báo, băng hình, Internet Từ những nguồn tài liệu đã phân tích và tổng hợp lại rồi đưa vào bài viết một cách hợp lý

 Phương pháp liên ngành: địa lý học, dân tộc học

Trang 9

9

Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI ĐEN

Ở XÃ NGHĨA AN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI

1 1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội, địa bàn cư trú

1.1.1 Khái quát về xã Nghĩa An huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái

Xã Nghĩa An trước đây là xã thuộc huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái nằm trong cánh đồng Mường Lò cách trung tâm thị xã Nghĩa lộ 2km về phía tây với diện tích 1418 ha( 14,18km2) với dân số khoảng 5000 người Đến năm 1995, thị

xã Nghĩa Lộ được thành lập, 181,05 hecta với 2.566 người của xã Nghĩa An được chuyển về thị xã Đến năm 2003, xã Nghĩa An được sáp nhập vào thị xã Nghĩa Lộ Hiện nay, xã Nghĩa An có diện tích 11,1526 km2.Phía bắc giáp với phường Tân An, phường Pú Trạng, phía đông giáp với phường Cầu Thia thị xã Nghĩa Lộ, phía tây giáp với xã Pá Lau, xã Túc Đán huyện Trạm Tấu, phía nam giáp với xã Hạnh Sơn, xã Thanh Lương huyện Văn Chấn Xã có tổng chiều dài trên 8km, chiều rộng 2km Tổng diện tích tự nhiên là 1155,26ha trong đó diện tích lúa nước là 131,27ha; đất lâm nghiệp là 560,03ha; toàn xã có 701 hộ gia đình với 2916 nhân khẩu được chia thành 8 thôn bản với 5 tộc người cùng sinh sống Trong đó người Thái chiếm 95% dân số; 5% là các tộc người Mường, Tày,Kinh, Hoa( có một hộ người Kinh theo đạo Thiên chúa gồm 3 khẩu) Về đời sống kinh tế: 94,7% sống bằng nghề nông nghiệp; 5,3% sống bằng nghề dịch vụ khác Có hai con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Chảy Đây là cửa ngõ của vùng Tây Bắc cách trung tâm tỉnh lỵ trên 80km Hiện nay, xã Nghĩa An đang phát triển hình thức du lịch cộng đồng với thế nằm trên cánh đồng Mường

Lò rộng thứ hai ở khu vực Tây Bắc

1.1.2 Đặc điểm tự nhiên

Các yếu tố khí hậu mang đặc trưng của tiểu vùng khí hậu Tây bắc trong năm có 4 mùa rõ rệt: mùa hè nóng độ ẩm cao; mùa đông thường khô hanh, ít mưa Mùa xuân khí hậu ấm áp thuận lợi phát triển chăn nuôi đặc biệt chăn nuôi các đàn gia súc lớn Nhiệt độ trung bình cao nhất là 27,5˚c, trung bình tháng

Trang 10

10

thấp nhất là 16,4˚c Là địa phương có số giờ nắng cả năm hơn 1700 giờ, cao hơn các nơi khác trong tỉnh Lượng bức xạ nhiệt luôn dương tạo ra các sinh khối lớn thuận tiện cho sự phát triển của cây lúa và các loại cây ăn quả

Lượng mưa trung bình một năm từ 1400mm-1600mm, là nơi có lượng mưa thấp so với một số địa phương trong tỉnh Mưa lớn tập trung vào các tháng

5, 8; mưa nhỏ, lượng mưa không đáng kể tập trung vào tháng 11,12 Là khu vực nằm sâu trong nội địa, độ ẩm thường thấp hơn so với một số nơi trong tỉnh Độ

ẩm tương đối 84% rất thích hợp phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, cây

ăn quả

Nguồn tài nguyên đất của xã mang đặc trưng địa hình bồn địa, được kiến tạo bồi đắp bằng vật liệu rửa trôi Với tầng mùn tương đối, tầng dày phong hóa lớn, độ dốc thấp đã tạo nên một vùng trọng điểm cây lương thực mà chủ yếu là cây lúa Khoáng sản trong vùng nghèo nàn Hiện tại chưa tìm thấy một điểm mỏ nào tại địa phương ngoài nhóm vật liệu xây dựng như đất pha sét để sản xuất gạch và đá, sỏi được khai thác ở ven ngòi, ven suối

Trên diện tích hẹp, song chế độ thủy văn ở đây khá phong phú Bao quay Ngòi Thia, Ngòi Nung, suối Đôi Ngòi Thia là nguồn phụ lưu cấp I lớn nhât của sông Hồng, được bắt nguồn từ vùng núi Trạm Tấu với chiều dài 165km đoạn chảy qua thị xã Nghĩa Lộ( trong đó có xã Nghĩa An) khoảng 5km Độ cao bình quân của lưu vực Ngòi Thia tới 907km, độ chênh lệch lưu lượng giữa mùa lũ và mùa cạn lên tới 480 lần Đây là yếu tố gây bất lợi cho khai thác tiềm năng nước mặt Ngòi Thia ở những nơi nó đi qua Trong mùa mưa lũ thường gây thiệt hại cho snr xuất, đời sống của nhân dân ven ngòi Tuy nhiên cùng với hệ thống nước ngầm,hệ thống ngòi suối là nơi cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt

Các yếu tố về địa hình, khí hậu, tài nguyên đất, thủy văn…đã tạo điều kiện thuận lợi cho xã Nghĩa An nói riêng và Mường Lò nói chung phát triển kinh tế- xã hội Tuy nhiên những mặt trái của nó cũng ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất và đời sống sinh hoạt

Trang 11

11

Thuộc cánh đồng Mường Lò rộng 2.300ha bằng phẳng nằm lọt giữa đồi núi trùng điệp và những cánh rừng nhiệt đới Sự bồi đắp phù sa của các con suối lớn như Ngòi, Nung, Ngòi Thia, suối Đôi, suối Cò Noong….chảy uốn lượn quay cánh đồng Mường Lò bắt đầu từ Trạm Tấu theo hạ lưu xuôi về đổ ra sông Hồng

đã tạo cho cánh đồng Mường Lò có độ màu mỡ phì nhiêu, kết hợp với nguồn nước dồi dào là điều kiện vô cùng thuận lợi cho người dân nơi đây phát triển lúa nước và các loại lương thực; ngũ cốc khác như: khoai, sắn, ngô, đậu, đỗ…

Các cánh rừng nguyên sinh nhiệt đới vây xung quay như những” lá phổi” vừa giữ và điều hòa khí hậu; đồng thời điều tiết nguồn nước cho cánh đồng Mường Lò luôn tươi tốt mà ít chịu cảnh hạn hán hay lũ lụt thiên tai Vì vậy năng suất lúa luôn ổn định ở mức cao

Sự đa dạng của thảm thực vật và quần động vật thể hiện phong phú ở miền rừng thứ sinh gồm nhiều loại tre nứa, dây leo, cây thân gỗ nhiều tầng

1.2 Tên gọi, nguồn gốc, quá trình hình thành cộng đồng người Thái Đen ở xã Nghĩa An huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái

Người Thái là tên được nhà nước công nhận, còn có tên gọi khác là côn tay, phủ tay, táy… người Thái có hai ngành là Thái trắng và Thái đen Người Thái ở Nghĩa An chủ yếu là người Thái Đen

Trong sử thi” táy pú xóc”- những bước đường chinh chiến của ông cha thì Mường Ôm, Mường Ai là quê cha đất tổ của người Thái Đen trước khi thiên di xuống phía nam xâm nhập miền Tây Bắc nay Vào khoảng thế kỷ VII- VIII tổ tiên các tộc người thuộc hệ ngôn ngữ Tạng- Miến đã chiếm toàn bộ miền Vân Nam, người Thái cũng không còn ở đây được nữa

“ Thình lình xá Mường Chiến, Mường Là đã tràn tới đất Mường

Ôm, Mường Ai ngoài vòm trời”

“ Lúc đó Mường Ôm đoạt không dễ

Mường Ai không tốt lành như xưa”

Đó là những đoạn thơ mở đầu cho 1 thiên sử thi kể về” Những bước đường chinh chiến của ông cha” Các bộ lạc Thái lúc này đã phát triển đến một

Trang 12

12

giai đoạn mà họ gọi là” thời kỳ Tạo đi tìm Mường” ( pang tao tó mướng) Theo

họ thì lúc đó” Mường bản đã đầy ngập người” và do đó có yêu cầu phải tổ chức những đợt thiên di đi tìm đất mới để khai khẩn ruộng đồng, mở mang địa vực cư trú Một trong những hướng thiên di của họ là theo sông Hồng về phía nam vì đó là:” vùng đất còn hoang vu, vắng người”; “ …đất ấy tuy cũng đã có người Thái

ở từ xưa rồi nhưng vẫn còn ít”

Vào khoảng TK XI, 2 anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần thuộc dòng dõi tạo đất Tung Hoàng ngày xưa đã dẫn dắt đoàn quân chinh chiến và các họ của người Thái ra đi Có lẽ phải trải qua nhiều năm với những chặng đường đầy khó khăn vất vả

“ Đi đường thuyền e sợ rơi

Đi đường cạn e sợ chết

Nên phải đi theo đường con đon

Luồn theo đường con dím”

Đoàn người đặt chân đến Mường Min( vùng Gia Hội- Văn Chấn- Nghĩa Lộ) rồi vào Mường Lò Thủa ấy đất Mường Lò còn là một vùng lòng chảo mênh mông rừng hoang vắng tới nay, người Thái Đen đã cùng nhau khai phá thành ruộng đồng, biến nơi hoang vu thành vùng giàu thóc lúa Họ đã dựng lên ở đây những đơn vị bản, mường đầy thi vị Từ đó cư dân Thái bước vào cuộc sống ổn định và 1 bài ca về đất Mường Lò đã vang lên

“ Tiếng đồn có người tới Mường Lò

Một vùng rộng lớn, đất phì nhiêu

Có đồng Hốc, đồng Uôn quanh đất phủ

Một đồng bằng thả sức ngựa phi

Có đồng” da- coi-nang”

Ngồi không cũng được của

Có ao Hôm, ao Hang hàng cau trĩu buồng

Người Mường Lò làm ruộng thu thóc lúa”

Trang 13

13

Từ Mường Lò người Thái Đen lại tiếp tục di chuyển đi khắp nơi Bởi vậy, người Thái Đen ở Tây Bắc vẫn coi đất này là” quê cha đất tổ”

Xã hội Thái trước đây là 1 xã hội tự túc tự túc, người Thái có câu:” Phạ ó, pha liêng”- ( trời sinh trời nuôi) Với điều kiện tự nhiên thuận lợi quanh năm mưa thuận gió hòa kết hợp với các kỹ thuật canh tác truyền thống, nổi tiếng như phương pháp” dẫn thủy nhập điền” bằng hệ thống mương- phai-lái lín Trong đó chiếc cọn nước là 1 phát minh lớn của đồng bào trong việc lợi dụng chính sức nước để đưa nước từ thấp lên cao Phương pháp” hỏa- canh- thủy- nậu” ( đốt rơm rạ cày bừa ngâm ngấu để cấy), cũng được đồng bào sử dụng để cấy lúa nếp

và các loại cây lương thực khác Việc canh tác lúa nương, ngô, khoai, sắn, đậu vừng cũng được chú trọng tăng nguồn thu nhập cho đồng bào Cùng với trồng trọt chăn nuôi cũng được phát triển rất mạnh tại đây Với diện tích rừng, sông suối bao quanh là điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi để phát triển chăn nuôi các gia súc như trâu bò, dê ngựa Các loại gia súc được chăn nuôi chủ yếu theo

hộ gia đình Ngoài việc nuôi gia súc làm sức kéo trong sản xuất, nó còn là tài sản của gia đình và là nguồn cung cấp thực phẩm trong các dịp lễ tết diễn ra trong năm như lễ Xên Mường, Xên Bản, đám cưới…Bên cạnh gia súc, gia cầm

và thủy cầm là nguồn thực phẩm chính được chăn nuôi để cải thiện các bữa ăn hàng ngày và nhất là trong các dịp lễ tết

Đặc biệt, đồng bào người Thái Đen còn có cách nuôi cá ở các ruộng lúa đang thì con gái và đến khi lúa chin thì cá ruộng được tháo thả về ao nhà làm thức ăn và đem bán tại chợ Mường Lò Đây là nguồn thực phẩm dồi dào cho đồng bào nơi đây Bên cạnh đó người Thái Đen còn săn bắt thú rừng, bắt cá ở các con suối bằng các công cụ chài lưới Ở Mường Lò có 1 loại cá có tên là cá Thia, đây là loại cá được xem là loại ngon nhất vùng và chỉ có ở các huyện phía tây của tỉnh Yên Bái Cùng với đánh bắt, săn thú và hái lượm đã tạo tạo ra sự phát triển kinh tế tự nhiên qua đó giúp đồng bào thoát khỏi những ngày giáp hạt

Trang 14

14

mất mùa…Các loại rau rừng như măng, các loại mộc nhĩ; nấm…phần nào đã thay thế được rau nhà những lúc trái mùa

Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống được phát triển, trước hết để phục

vụ cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình, sau đó dùng để trao đổi hàng hóa với các dân tộc khác Các nghề thủ công truyền thống khác nhau như đan lát, rèn, mộc cũng được phát triển khá mạnh Các sản phẩm của đồng bào tự làm ra có giá trị khá cả về thẩm mỹ, văn hóa và giá trị sử dụng

Trong những năm qua nhờ các chính sách của Đảng và nhà nước xã Nghĩa

An nói riêng và Mường Lò nói chung đời sống kinh tế của đồng bào nơi đây đã được cải thiện rõ rệt Theo báo cáo của xã Nghĩa An đến năm 2014:

Về kinh tế: trong sản xuất nông nghiệp đồng bào làm 2 vụ lúa với diện tích 262,54ha; cơ cấu giống lúa chất lượng cao 70%, lúa khác 30% diện tích Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp cung ứng vật tư đảm bảo kịp thời Năng suất lúa đặt 12,6 tấn/ha, sản lượng đặt 1654 tấn; năng suất ngô đạt 3 tấn/ha, sản lượng ước đạt 186 tấn Thả các xen lúa 25,5ha Trong chăn nuôi nhà tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, chống rét cho đàn gia súc, tổ chức tiêm phòng định kỳ theo sự chỉ đạo của UBX không để xảy ra tình trạng dịch bệnh trên địa bàn Tổng đàn trâu bò hiện có là 798 con, đàn lợn

là 2078 con, đàn gia cầm là 11970 con Hiện nay diện tích đất lâm nghiệp là 560,03ha trong đó rừng trồng là 547,88ha

Trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại:

có 200 hộ dệt thổ cẩm, 02 hộ đan lát, 07 hộ làm dịch vụ xay xát lương thực, 25

hộ làm dịch vụ tuốt lúa, 30 hộ làm dịch vụ máy cày, 18 hộ kinh doanh dịch vụ thương mại, 6 hộ làm dịch vụ du lịch cộng đồng duy trì hoạt động HTX nông nghiệp làm ăn có hiệu quả Trong những năm gần đây Nghĩa An đang phát triển kinh tế theo hướng du lịch cộng đồng, tạo ra nguồn thu nhập mới cho đồng bào

1.4 Tổ chức xã hội

Thiết chế xã hội của người Thái trước đây là theo thiết chế bản mường Đứng đầu là Tạo Mường

Trang 15

15

Tổ chức gia đình: Gia đình người Thái là gia đình nhỏ, phụ quyền Trong mỗi gia đình thường có ba đến bốn thế hệ cùng chung sống: ông bà, bố mẹ, con cái và cháu Vai trò người đàn ông trong gia đình rất lớn, mọi viecj phải có sự đồng ý, thông qua ý kiến của người chồng, người cha đặc biệt trong việc bố trí nhà cửa Gian đầu tiên và gian giữa phụ nữ đặc biệt là con dâu không được phép nghỉ ngơi hay ngồi ăn cơm Ngày nay, vai trò người phụ nữ được đề cao hơn,các luật lệ cũng dần bớt khắt khe khi mà trong gia đình có ít thế hệ sinh sống hơn, khi kiến trúc nhà ở không còn như xưa

Sự phân công lao động của người Thái phân theo giới tính và độ tuổi Chỉ

có săn bắn là phụ nữ không tham gia, còn hầu hết công việc nặng nhọc trên nương, dưới ruộng đều có sự tham gia của người phụ nữ sự phân công này tạo

ra sự bất bình đẳng rất lớn trong gia đình người Thái

1.5 Đặc điểm văn hóa

30 nóc nhà, giữa các nhà có hàng rào ngăn cách Bản làng thường nằm xen kẽ với các con suối hay con mương nhỏ vừa thuận tiện cho việc đánh bắt cá, đồng thời có nguồn nước để phát triển nông nghiệp Nhìn chung đồng bào Thái là cư dân nông nghiệp, chính vì thế mà địa bàn cư trú của các bản làng người Thái

không thể tách xa nguồn nước

Trang phục của người Thái Đen nơi đây rất đặc sắc Đồng bào cho rằng, bộ váy áo vừa kín đáo nhưng đồng thời vẫn biểu lộ được các đường cong cơ thể thiếu nữ Trước đây váy áo thường được dệt bằng sợi bông nhuộm chàm bởi vậy

áo váy chủ yếu là màu xanh đen Cho đến ngày nay, những cụ già người Thái

Trang 16

16

Đen vẫn thường xuyên sử dụng loại trang phục truyền thống trong sinh hoạt hàng ngày Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội mà áo váy của người Thái ở Mường Lò cũng có sự thay đổi Màu áo được làm bằng nhiều loại màu khác nhau: trắng, xanh, vàng, đỏ tay áo được xếp bồng( đây là nét sáng tạo về sau này), có nhiều chất liệu khác nhau được dùng để may áo Áo váy phụ nữ Thái bao gồm áo” xửa cóm” may bó sát cơ thể, gấu áo chấm cạp váy, cổ áo được may cao tròn chạy từ cổ áo xuống hết gấu áo, thắt lưng( xai yêu), Xỏi ngẫn( Xà tích) hay dây đeo dụng cụ, đồ trang sức Khăn piêu cùng hệ thống đồ trang sức đã làm nên tổng thể trang phục truyền thống của người phụ nữ Thái, tạo ra những điểm nhấn, điểm xuyết rất riêng của các thiếu nữ Thái Mường Lò

Y phục nam giới xưa mặc quần đen không có túi, không dải rút mà dùng thắt lưng Mặc áo ngắn xẻ ngực gọi là xửa tọng té( áo mở ngực) Màu sắc thường có 3 loại: đen, hoa văn kẻ hoặc tết bằng dây vải có 2 túi ở dưới vạt đằng trước, cần thiết có thể thêm 1 túi con ở ngực bên trái Mùa rét hoặc ngày lễ thì mặc áo dài đen có mặc lót áo dài trắng ở bên trong Loại áo này thường xẻ bên nách và gọi cách ăn mặc này là lối mặc áo đen đè áo trắng Ngày lễ, quấn khăn đen dài hàng sải tay gọi là˝ quấn khăn cuộn˝

1.5.2 Văn hóa tinh thần

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một trong những phong tục cơ bản của đồng bào Thái Đen Đồng bào quan niệm rằng, sau khi chết hồn sẽ được về với tổ tiên lên” Mường trời”, lên “ Nặm Nọi” Do vậy sau khi chết các gia đình đều phải mời thầy mo về cúng để hồn lên Mường trời và tùy vào từng dòng họ lớn hay nhỏ( ở Nghĩa Lộ dòng họ Lò Cầm là dòng họ lớn) Trong nhà của người Thái Đen đều có nơi thờ tổ tiên, hay còn gọi là nơi thờ ma nhà( phi hươn) Có rất nhiều điều kiêng kỵ liên quan đến nơi thờ˝phi hươn˝ mà một điều kiêng kỵ mang tính bắt buộc đó là những phụ nữ về làm dâu tuyệt đối không bao giờ được bước chân vào nơi thờ ma nhà Gian đầu hồi phía cầu thang lên cũng cùng phía với các gian ngủ thờ phi một( các loại ma khác) và tại đây có thể là bàn thờ hay

những giỏ, quạt nhỏ treo

Trang 17

17

Theo chu kỳ một năm, đồng bào có nhiều lễ hội, nhiều nghi thức được tổ chức với mục đích cầu an, cầu yên Nhiều lễ hội mang tính chất cộng đồng, cầu xin các thần thánh phù hộ cho cả bản như lễ Xên Bản, Xên Mường, cầu được mùa màng tốt tươi, mọi người sống chan hòa, khỏe mạnh Đặc trưng nhất là 1 số

lễ tết truyền thống như tết Síp Xí( 14/7 âm lịch), tết nguyên đán hay lễ mừng cơm mới…Các lễ tết này đều được tổ chức long trọng với nhiều hình thức nghi

lễ cả phần lễ và hội được diễn ra vui tươi, mang đậm bản sắc dân tộc nơi đây Hôn nhân của người Thái đặc biệt được chú trọng Đồng thời có rất nhiều luật tục khắt khe trong việc dựng vợ gả chồng Chính vì vậy, hôn nhân của đồng bào Thái rất bền vững, tuy nhiên trước đây tục tảo hôn thường diễn ra khá phổ biến Lễ cưới của người Thái Đen được diễn ra theo 3 bước đó là: ăn hỏi, lễ cưới- lễ này thường được tổ chức 2 ngày, ngày t2 gọi là( Ngài hua) và lễ lại mặt Tuy nhiên, trước lễ cưới còn một số thủ tục khác, nghi thức khác như xem tuổi, dạm ngõ Ví dụ như lễ ˝ tằng cẩu˝ là một nét độc đáo trong lễ cưới của người Thái Đen ở vùng Mường Lò Từ hôm đó, người phụ nữ khi ở nhà cũng như ra đường đều phải búi tóc Đây là điểm khác biệt đối với phụ nữ đã có chồng với người chưa có chồng Nếu không may,người chồng chết trước thì người phụ nữ không búi tóc nữa

Tang ma của người Thái Đen được tổ chức với nhiều nghi thức, nghi lễ hơn so với người Thái Trắng Trong đó tục thiêu xóc là một trong những hình thức an tang đặc biệt so với các dân tộc khác trong vùng Mường lò và chỉ có người Thái Đen mới có Quan tài được đặt chân người chết hướng theo Đông Quái Ha- Nặm Tốc Tát để người chết đi theo hướng đó lên trời Với quan niệm người chết là sang thế giới khác, về mường trời, với tổ tiên Trước đây người chết thường được gia đình cúng cho một con trâu để trâu đi cùng người chết sang thế giới˝ Mường Trời˝ Mồ người chết được trang trí cầu kỳ với nhiều vật dụng đồ dùng được gia đình chia cho người chết mang theo Tất cả đều được đặt tại mộ, để người chết được mang đi cùng về mường trời

Trang 18

18

Văn học- nghệ thuật: kho tàng văn hóa nghệ thuật của người Thái rất phong phú và đa dạng gồm nhiều thể loại: thơ, ca, hò, vè, tuccj ngữ, văn học dân gian, văn học thành văn Người Thái nổi tiếng với làn điệu Khắp, đây là làn điệu vừa mang đậm trữ tình vừa đặc sắc, vừa dân dã Khắp có thể hát bất cứ lúc nào, trong các dịp hát mừng nhà mới( khắp chôm hươn mơ), hát mừng dâu( khắp chôm pợ), hát mừng năm mới( khắp chôm piêng pi mơ) khắp có thể hát một mình hoặc hát đối đáp, lời hát chan chứa, thắm đượm, ngọt ngào tình yêu thiên nhiên, bản mường, tình yêu đôi lứa

Người Thái nơi đây nổi tiếng với những điệu xòe, điệu múa khăn, múa nón nổi tiếng nhất là nhảy sạp Ngày nay các điệu múa vẫn xuất hiện trong các dịp lễ hội

Ẩm thực sẽ được nói tới ở chương II

Tiểu kết chương 1

Nghĩa An là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, xã hội, văn hóa của các dân tộc nói chung và của người Thái nói riêng Vị trí địa lý này thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, trồng các loại cây ăn quả và cây công nghiệp như lê, mận, cam, chè…Cùng với truyền thống văn hóa được đúc ết từ lâu đời với nhiều giá trị về văn hóa vật chất và tinh thần, đó cũng là đặc trưng riêng của người Thái Đen Mường Lò nói chung và người Thái Đen ở Nghĩa An nói riêng Bên cạnh

đó, họ cũng gặp một số khó khăn do điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, cơ sở vật chất, kỹ thuật còn thiếu, một số tập tục đem lại gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội…

Trang 19

19

Chương 2 CÁC MÓN ĂN TRONG NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN 2.1 Món ăn chế biến từ lương thực

2.1.1 Khẩu cắm( cơm nhuộm màu)

Vào các dịp đầu năm (tết nguyên đán), rằm tháng giêng, tết rằm tháng 7(

tết Síp Xí 14/7), lễ cơm mới là những ngày tết lớn trong năm của người Thái.Sau những tháng ngày lao động vất vả, vào các dịp lễ tết này đồng bào nghỉ ngơi, mở hội và tổ chức vui chơi ăn tết, cúng khấn thần linh, các ma nhà( phi hươn ) phù hộ cho những tháng ngày tiếp theo, những năm tới thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi…Trong những dịp này, đồng bào muốn dâng cúng cho tổ tiên, thần thánh những thức ăn ngon nhất, đẹp nhất để tỏ

lòng thành kính, cảm ơn tổ tiên đã phù hộ cho bản mường

Vào dịp này, trong các mâm cơm cúng tế tổ tiên đầu có các loại cơm màu xanh- đỏ- tím-vàng- trắng Điều này thể hiện rằng mọi thứ của trời đất mà con người có được đều muốn dâng cúng tổ tiên- năm màu đó thể hiện cho tất cả các màu của các đồ vật trên thế gian mà con người muốn dâng tặng để cảm tạ tổ tiên thần thánh

Trong tết nguyên đán hay tết Síp Xí 14/7 âm lịch, dù nhà giàu hay nhà nghèo người dân cũng làm cơm xôi năm màu để dâng cúng tổ tiên.Từ các chất liệu màu của thảo dược, người dân đã biết chiết xuất ta các thứ màu khi xôi cúng cơm vừa thơm ngon, vừa đẹp mắt mà hoàn toàn không hại tới sức khỏe

Việc duy trì và cúng tế cơm màu( khấu cắm) cho tổ tiên vào các dịp tết còn biểu hiện các giá trị đạo đức, giáo dục truyền thống cho con cháu sau này của người Thái phải luôn nhớ công ơn tổ tiên, nhớ ơn những người đi trước đã xây dựng cuộc sống Bởi vào các dịp lễ tết quan trọng trong năm, con cháu phải nhớ công ơn của tổ tiên mà dâng cúng mọi thứ cho tổ tiên được thể hiện qua năm màu của cơm xôi được dâng cúng

KHẨU CẮM LANH( cơm xụi đỏ)

Trang 20

20

Cơm xôi đỏ, màu đỏ được người dân quan niệm là màu của mặt trời, do vậy đây là màu quan trọng nhất khi làm 5 màu cúng tổ tiên của người Thái Đen Mường Lò Cơm đỏ được làm từ cơm xôi và màu đỏ chiết xuất từ một loại cây chuyên dùng để làm cơm xôi đỏ mà người Thái gọi là” co khẩu cắm lanh” ( cây cơm xụi đỏ)

Nguyên liệu và cách chế biến

Trong việc làm cơm xụi đỏ, kỹ thuật và cách xôi cơm cũng giống như làm xôi cơm hàng ngày, nhưng việc chiết xuất lấy màu cơm từ cây “ co khẩu cắm lanh” ( hay còn gọi là cây cơm đỏ) là công đoạn quan trọng nhất

Để tạo cơm màu đỏ người dân dùng lá cây cơm đỏ để làm Đây là loại cây

đã có từ lâu đời mà cha ông người Thái Đen ở đây vẫn sử dụng và truyền lại cho con cháu sau này Bởi vậy trong khu vườn của mỗi gia đình người Thái Đen ở Mường Lò đều để dành một góc nhỏ trồng cây này Bên cạnh đó người dân vẫn trồng gấc và lấy gấc xôi cơm ăn và cơm xôi từ gấc cũng rất ngon và ngậy Nhưng để cúng tổ tiên người dân không đùng gaacss và chỉ dùng cây cơm đỏ

Để chiết xuất lấy đỏ màu xôi cơm, đồng bào lấy las và cây” Co khẩu cắm lanh” về rửa sạch cho vào trong nồi luộc luôn Tùy theo lượng gạo cần xôi mà đồng bào lấy cây” co khẩu cắm lanh” với số lượng ít hay nhiều Tuy nhiên, để

có màu đỏ tươi đẹp, người dân sẽ cho nhiều lá Sauk hi đun sôi, màu ddor đã được chiết xuất từ cây” co khẩu cắm lanh” Đồng bào bắc xuống, vớt ra lọc lấy nước màu đỏ để nguội dùng ngâm gạo để xôi cơm đỏ

Ngâm trong nước “ khẩu cắm lanh” từ 3 đến 4 giờ đồng hồ trước khi mang đi xôi để nước đỏ ngấm trong toàn bộ gạo Khi xôi cơm màu để cúng tổ tiên, chõ xôi và Ninh phải được đánh rửa sạch sẽ, để tẩy sạch những bụi bẩn nhằm dâng cúng tổ tiên những món ăn ngon nhất Nếu có chõ mới, các gia đình

sẽ dùng chõ mới để cúng tổ tiên Chõ xôi cơm của người Thái được sử dụng liên tục hàng ngày ngoài việc dùng để xôi cơm, đồng bào còn sử dụng để xôi các loại thức ăn khác như các thịt, hay rau quả

Trang 21

21

Thời gian xôi khoảng từ 45 phút đến 1 giờ đồng hồ theo kinh nghiệm dân gian, để ước thời gian xôi chín mà không phải mở nắp chõ, tránh làm mất hơi trong chõ xôi Khi bắt đầu xôi đồng bào sẽ đốt một que hương, khi hương tàn cũng vừa ddur thời gian xôi chín

Xôi chín, đồng bào cho ra một chiếc mâm lớn có lót lá chuối xanh ở dưới, trước khi cúng và cho xôi vào các Coongs khẩu Khi chưa cúng tổ tiên đồng bào kiêng ăn trước Xôi sẽ cho lên bàn thờ cúng tổ tiên, ma nhà( phi hươn) tại bàn thờ trước khi cho con cháu ăn

KHẤU CẮM LĂM( cơm xôi tím)

Cơm xôi tím cũng được thực hiện và chế biến theo phương cách làm xôi Khẩu cắm lanh Khẩu cắm lăm là loại thảo dược cùng họ với khẩu cắm lanh, chúng chỉ khác nhau đôi chút về màu sắc khi được chiết xuất mọi công đoạn từ lấy, rửa, chiết xuất, ngâm gạo giống như cơm xôi đỏ

Màu tím của cơm” khẩu cắm lăm” là một màu đẹp được chiết xuất từ thảo dược, cơm khẩu cắm lăm khi ăn không thấy mùi lá cây mà chỉ thấy mùi thơm của cơm nếp Khi xôi cơm màu tím, ăn có cảm giác ngon hơn những cơn trắng bình thường Sự thay đổi màu sắc tạo ra cảm giác mới trong ăn uống có lẽ là một trong những bí quyết chế biến các món ăn của người Thái Cùng loại gạo đó, cách chế biến đó và hương vị đó nhưng khi thay đổi màu sắc cho nó, người thưởng thức cảm thấy ăn như ngon hơn, như khác hơn-có lẽ bí quyết này cũng hợp với câu châm ngôn của người kinh: “ ngon mắt rồi mới ngon miệng”

KHẨU CẮM LƯƠNG( cơm xôi màu vàng)

Màu vàng là một trong năm màu được đồng bào làm để dâng cúng tổ tiên trong tết Síp Xí hay tết nguyên đán Các công đoạn chế biến cơm màu vàng hơi khác so với việc làm cơm màu đỏ, màu tím, bởi nguyên liệu để chiết xuất màu vàng được lấy từ nghệ( hản lương)

Nguyên liệu và cách chế biến

Nguyên liệu để chiết xuất màu vàng được lấy từ củ nghệ Nghệ dùng xôi cơm là loại nghệ” ta” đồng bào chọn những củ nghệ nhiều nước, màu vàng tươi

Trang 22

Sau khi được lọc bằng nước lã còn rất hăng và đắng, vì vậy muốn làm mất

vị đắng và hăng của nghệ đồng bào cho toàn bộ số nước nghệ vừa được lọc vào nồi, đun sôi khoảng 30- 40 phút nước nghệ đun sôi vẫn giữ nguyên màu vàng, tuy nhiên vị đắng và mùi hăng sẽ không còn

Để nước nghệ nguội hoàn toàn sau đó cho gạo vào ngâm thời gian ngâm, vớt gạo, xôi gạo như hai laoij màu đỏ và màu tím

KHẨU CẮM KHIÊU( cơm xôi xanh)

Cùng với màu đỏ, tím, vàng, trắng thì cơm xôi xanh là một màu không thể thiếu trong năm màu Màu xanh được lấy từ lá dứa, cùng với các cách thức như trên, người dân chiết xuất màu xanh trong từng lá dứa để ngâm gạo xôi cơm xanh

Nguyên liệu- cách chế biến

Lá dứa để lấy màu xanh là loại dứa ăn quả, lá dứa của cây dứa chưa ra quả

có rất nhiề chất diệp lục( nhiều màu xanh)

Để màu càng đặc và xanh người dân dùng nhiều lá dứa, trong lá dứa có nhiều nước xanh có vị hơi chua, ngọt ngọt không ảnh hưởng tới chất lượng của cơm sau khi xôi

Công đoạn đầu tiên là chọn lá dứa Những lá dứa ngắn mập có gai to là những lá dứa nhiều nước Đồng bào cắt về rửa sạch toàn bộ lớp phấn trắng bám trên các tàu lá Dùng dao dọc hai bên cạnh lá để laoij bỏ toàn bộ gai Tiếp theo

Trang 23

23

đồng bào dùng tay bóc bỏ lớp màng mỏng bám bên ngoài lá dứa cho vào vối giã lấy nước, sau đó hòa vào nước lã rồi gạn lấy nước loại bỏ cái, bã cho vào nồi và đun sôi- để nguội tiếp tục ngâm gạo như cách ngâm xôi các loại xôi màu khác

2.1.2 Bánh chưng (khẩu tôm)

Người Thái đen ở Mường Lò có hai tết lớn nhất là tết nguyên đán là tết síp

xí ứng với mỗi tết sẽ có một loại bánh đặc trưng, một loại bánh biểu trưng cho chính tết ddos Đến tết nguyên đấn, cũng như người Kinh, bánh chưng được

tượng trưng cho tết này của người Thái Mường lò

Bánh chưng của người Thái ở đây có cách làm khác với người kinh và các dân tộc khác từ cách gói, hình thức và một số nguyên liệu Trong một năm bánh chưng được gói duy nhất một lần vào dịp tết nguyên đán Trước đây, đồng bào

ăn tết với thời gian kéo dài từ 30 tháng chạp cho tới rằm tháng giêng năm sau Chính vì thế, nhà nào cũng làm thật nhiều bánh chưng để ăn cho hết rằm tháng giêng Ngày nay tết nguyên đán được rút ngắn làm ba ngày, do đó đồng bào chỉ

tổ chức gói bánh ăn tết cúng tổ tiên làm hai đợt, gói bánh vào dịp tết nguyên đán

và gói bánh cúng tổ tiên và ăn trong rằm tháng giêng

Trước tiên,để chuẩn bị cho công việc gói bánh chưng là việc lấy lá dong

và chuẩn bị lạt gói bánh Trước tết từ 7-10 ngày, người dân đã vào rừng lấy lá dong chuẩn bị gói bánh.Lá gói bánh chưng của người Thái phải chọn những lá

có bản to, lành không bị sâu, không bị rách Lạt gói bánh được chẻ từ những cây giang hoặc những ống nứa to dẻo

Trang 24

24

Lá bánh được lấy từ rất sớm, mang từ rừng về đồng bào rửa sạch sẽ, cất vào chỗ chuẩn bị sẵn sang cho việc gói bánh chưng Lạt được chẻ sẵn treo lên gác bếp

Đồng bào thái đen ở Mường Lò thường gói bánh chưng vào chiều 30 tết, sau khi gia đình mổ lợn lấy thức ăn cho mấy ngày tết cvaf được dùng làm nhân bánh Hiện nay ở Mường Lò vẫn còn tập quan mổ lợn ăn tết, trước đây dù ít hay nhiều gia đình nào cũng có gắng nuôi lấy một con lợn và mổ lợn để ăn tết Đây

là một tập quán hay nhưng hiện nay đang bị mai một dần Khi mỗi gia đình môt lợn tết, họ thường môt từ 28-29 tháng chạp, trong ngày mổ lợn mời anh em đến cùng vui uống rượu với gia đình, gặp gỡ an hem trước tết, bữa cơm này ông chủ nhà thường có lý do: “ hôm nay gia đình mổ con lợn làm nhân bánh có chút lòng mời an hem đến cùng uống chén rượu vui gia đình ) Như vậy tập quán mổ lợn tết được lấy cớ, lấy lý do làm nhân bánh chưng cúng tổ tiên, do đó mà các gia đình đều nuôi sẵn lợn để dành đến tết sẽ mổ, hay người dân còn gọi con lợn đó

là “ lợn tết”

Gạo nếp làm bánh được ngâm trong nước từ 2-3 tiếng đồng hồ sau đó voạch, nhặt bỏ sạn và các hạt thóc còn sót lại vo sạch qua hai, ba lần nước sau khi ngâm, vớt ra để ráo nước trước khi gói bánh

Nhân bánh gồm đỗ nho nhe và thịt lợn ba chỉ Khác với bánh chưng của người Kinh dùng đỗ xanh vì theo đồng bào cho biết bánh chưng làm nhân bánh

từ đỗ nho nhe mới đúng theo truyền thống, tập quán của đồng bào Sau này do quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với người Kinh mà người Thái đen ở đây cũng có nhiều gia đình làm nhân bánh chưng bằng đỗ xanh

Đỗ nho nhe được nghiền vỡ đôi và được ngâm nước từ 2-3 giờ đồng hồ để nguyên cả vỏ đỗ làm nhân bánh mà đồng bào không đãi vỏ ăn sẽ đậm hơn Thịt làm nhân bánh được chọn loại thịt ba chỉ, thịt được thái mỏng miếng to, dài Sauk hi thái xong, thịt làm nhân bánh ướp muối và hạt tiêu khoảng 10- 20 phút cho hạt tiêu và muối ngấm vào nhân bánh

Cách gói bánh chưng

Trang 25

25

Bánh chưng của người Thái ở đây được gói theo hai loại bánh, một loại bánh tròn dài như bánh tét của người Nam Bộ nhưng nhỏ hơn, gọi là bánh Tổm ống Một loại khác có tên là tổm mè( bánh có chap mu giống bánh chưng của người Dao)

• khẩu tổm me: được gói bằng tay, đồng bào trải hai lớp lá dong xuống dưới, đổ một lớp gạo, một lớp đỗ ở giữa là một lớp thịt lợn ba chỉ, tiếp theo đổ một lớp đỗ và một lớp gạo lên, gói bánh theo hình mu có chop

Hai chiếc bánh tổm mè ốp phần lòng vào nhau, buộc thành 1 cặp để bánh

có màu đẹp và xanh khi bóc bánh ăn

• khẩu tổm ống:

Tổm ống được gói giống như bánh tét của người Nam Bộ và giống bánh chưng của người Tày Tổm ống của người Thái có độ dài từ 20-25cm, đường kính của bánh từ 5-7cm

Tổm ống cũng được gúi ở tổm mè Đồng bào chọn hai tàu lá dong lớn, cắt

bỏ đầu đuôi sau đó xếp so le nhau, đổ gạo dài theo chiều dài của lá, một lớp gạo- một lớp đỗ- thịt lợn nhân- một lớp đỗ- một lớp gạo Sau đó gói tròn lại theo hình trụ, dùng lạt buộc nhiều lớp vòng quanh thân bánh Dọc theo chiều dài của bánh

có hai dây lạt buộc đỡ phần đầu bánh

Người Thái ở Mường Lò không gói bánh chưng vuông, không goid bánh bằng khuôn, mà đồng bào chỉ thường làm bánh theo hai loại trên

Bánh gói xong được xếp tất cả vào một nồi lớn để luộc bánh, phía đáy nồi, đồng bào lót một lớp lá dong dầy đến bánh không bị khê, sau đó cho toàn

bộ bánh tổm mè xuống đáy nồi luộc, phía bên trên xếp bánh tổm ống và trên cùng trải lớp lá dong để giữ độ nóng của nồi, đổ nước ngập bánh và đun bánh từ 4-5 giờ

Trong cách chế biến và luộc bánh của người Kinh, họ gói bánh vuông to

và luộc trong nhiều giờ, nhưng người Thái ở Mường Lò chỉ luộc bánh từ 4-5 giờ đồng hồ bánh cũng có thể nhừ vag rền như cách luộc bánh của người Kinh Bởi

Ngày đăng: 12/01/2017, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w