1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ẩm thực trong ngày tết của người Thái Đen ở xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa

40 563 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài được chia làm ba chương chính. Trong đó chương 1 giới thiệu về một số khái niệm liên quan tới đề tài, khái quát về đặc trưng văn hóa của tộc người trong đó có ẩm thực và nơi tộc người cư trú. Chương 2 giới thiệu về văn hóa ẩm thực tộc người Thái đen ở xã Tân Phúc trong đó tiêu biểu là ẩm thực ngày tết. Chương 3 đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực của tộc người Thái đen ở xã Tân Phúc huyện Lang Chánh tỉnh Yên Bái.

Trang 1

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1.Lý do chọn đề tài 3

2.Đối tượng nghiên cứu 4

3.Phạm vi nghiên cứu 4

4.Mục đích nghiên cứu 4

5.Phương pháp nghiên cứu 4

6.Bố cục tiểu luận 5

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ TÂN PHÚC, HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA 6

1.1 Tổng quan về xã Tân Phúc 6

1.2 Khái quát về người Thái Đen ở xã Tân Phúc 7

1.2.1 Tên gọi và nguồn gốc 7

1.2.2 Tập quán mưu sinh 8

1.2.3 Đặc điểm văn hóa 10

1.2.4 Tổ chức xã hội 13

Chương 2: ẨM THỰC TRONG NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ TÂN PHÚC 15

2.1 Nguồn nguyên liệu chế biến 15

2.1.1 Nguyên liệu từ trồng trọt và chăn nuôi 15

2.1.2 Nguồn nguyên liệu tự nhiên 18

2.2 Các món ăn chế biến từ cây lương thực 19

2.2.1 Bánh chưng (khẩu tôm) 19

2.2.2 Cơm màu (khẩu cắm) 21

2.3 Các món ăn làm từ động vật 22

2.3.1 Thịt sấy (Nhứa giảng) 22

2.3.2 Tiết canh 23

2.3.3 Thịt tái (pà) 24

2.4 Đồ uống 25

Trang 2

2

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ TÂN PHÚC

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 27

3.1 Xu hướng biến đổi trong ẩm thực của người Thái Đen hiện nay 27

3.1.1 Biến đổi trong nguồn nguyên liệu 27

3.1.2 Biến đổi trong cách chế biến 28

3.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị ẩm thực của người Thái Đen 28

3.2.1 Giữ gìn bản sắc truyền thống 28

3.2.2 Gắn ẩm thực địa phương với các tour du lịch 30

3.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá 31

3.2.4 Đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư và khơi dậy tiềm năng du lịch 32 3.2.5 Nâng cao chất lượng kinh doanh và phục vụ du lịch 33

KẾT LUẬN 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ LỤC 38

Trang 3

Ở nước ta, bản sắc văn hoá của mỗi tộc người thể hiện trang phục, phong tục, lễ hội, nghệ thuật và một yếu tố quan trọng không thể thiếu là ẩm thực Mỗi vùng miền trên đất nước Việt Nam, ngoài những đặc điểm chung lại có phong cách ẩm thực riêng, mang sắc thái đặc trưng của vùng miền đó Mỗi tộc người khác nhau thì lại có cách chế biến, cách tổ chức bữa ăn khác nhau, phụ thuộc vào khí hậu, sản vật, thói quen khác nhau mà chỉ cần nhắc đến tên món

ăn đặc trưng là người ta sẽ nhận ra ngay họ đang ở vùng miền nào

Người Thái ở Việt Nam phân bố trên địa bàn tương đối rộng, từ khu vực Tây Bắc tới cả miền tây Thanh Hóa, Nghệ An Mặc dù có các nhóm địa phương khác nhau, nhưng người Thái là một dân tộc khá thống nhất với nền văn hóa phát triển đa dạng Người Thái nói chung và người Thái Đen ở xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa rói riêng có sự phát triển về nhiều mặt trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội phần nào tạo nên diện mạo riêng cho văn hóa của người Thái Đen nơi đây Họ đã tạo dựng cho mình nhiều nét riêng trong đó có văn hóa ẩm thực với các món ăn độc đáo, cách chế biến công phu, nguồn nguyên liệu phong phú… chứa đựng tri thức tộc người được tích lũy qua hàng ngàn năm Tuy nhiên hiện nay, do sự tác động của cơ chế thị trường, việc giao thoa tiếp biến văn hóa giữa các tộc người đã làm thay đổi đời sống văn hóa của mỗi dân tộc, trong đó có người

Trang 4

4

Thái Đen ở Tân Phúc dẫn đến sự mai một dần các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có ẩm thực Điều này đặt ra những yêu cầu bức thiết trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực của người Thái Đen trong

giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những lý do trên nên em chọn đề tài “Ẩm

thực trong ngày tết của người Thái Đen ở xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Đối tượng nghiên cứu

Bài tiểu luận tập trung tìm hiểu về ẩm thực của người Thái Đen trong ngày tết nguyên đán: cách thức lựa chọn nguyên liệu, cách thức chế biến, một

số món ăn tiêu biểu… cùng những biến đổi trong văn hóa ẩm thực của người Thái Đen hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: xã Tân Phúc, huyện Lang Cánh, tỉnh Thanh Hóa

- Thời gian: Từ năm 2000 trở lại đây

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp liên ngành: địa lý học, dân tộc học…

Trang 6

6

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ TÂN PHÚC,

HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA 1.1 Tổng quan về xã Tân Phúc

Tân Phúc là một trong những xã vùng cao của huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa Xã Tân Phúc nằm ở phía bắc của huyện Lang Chánh, dọc theo hai bờ sông Âm

Phía đông giáp xã Đồng Lương, huyện Lang Chánh

Phía nam giáp xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh

Phía tây giáp các xã Trí Nang và Tam Văn, huyện Lang Chánh

Phía bắc giáp các xã Văn Nho và Thiết Ống, huyện Bá Thước

Vùng đất thuộc xã Tân Phúc ngày nay, thời Nguyễn thuộc đất mường Chếnh, tổng Tùy Chính, châu Lương Chính Đến trước Cách mạng tháng Tám (1945), thuộc địa bàn hai xã Tân Lập và Hợp Phúc Năm 1948, hai xã Tân Lập và Hợp Phúc sáp nhập thành Tân Phúc, tên gọi Tân Phúc chính thức

có từ đây

Hiện nay, xã Tân Phúc gồm các bản: bản Tân Sơn (bản Trướm), bản Chạc, bản Tân Cương (bản Dạnh), bản Tân Biên (bản Chạc), bản Sơn Thủy (bản Cho Lo), bản Tân Tiến (bản Mô và bản Mỏ), bản Tân Phong (bản Mống), bản Tân Thành (bản Mòng), bản Tân Thủy (bản Bượn), bản Tân Lập (bản Đáy) và bản Tân Bình (bản Chục Ác)

Địa hình chủa yếu là đồi núi và thung lũng nhỏ Nhiều sông suối, ao hồ, núi non trung điệp, nhiều dãy núi cao, đất nông nghiệp nhỏ hẹp, chủ yếu là

để chăn thả gia súc, đất trồng lúa và hoa màu ít hơn rất nhiều, ruộng bậc thang là chủ yếu, đất rừng rất rộng

Trang 7

7

Vùng núi cao thuộc vùng núi đá vôi, chủ yếu là đất fearit có màu vàng

đỏ, hạt thô, rất giàu chất lân, kali, nên độ màu mỡ bền

Vùng núi thấp và các thung lũng, đất đai nói chung đều bị sói lở bào mòn bởi nước mưa dồn xuống chân núi mạnh Tuy vậy do sự tích luỹ cây mục và

có độ ẩm lớn nên nói chung đất có mùn lớn, nhiều đạm tự nhiên, khá tốt cho việc trồng cây và hoa mầu và nơi đây cũng chính là nơi tập trung dân cư sinh sống, giữ nước làm ruộng lâu đời

Trên địa bàn xã chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng khí hậu Bắc Trung

bộ, có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.Có nhiệt độ trung bình biến đổi từ 23 đến 25°C

Chịu ảnh hưởng một phần gió phơn Tây Nam (gió lào) xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 8, gây khô, nóng

Tuy nhiên trong những năm gần đây và dự kiến trong thời gian tới,điều kiện thời tiết, khí hậu trên địa bàn xã có những biến động bất thường nguy cơ hạn hán, thiên tai lũ lụt rất lớn

1.2 Khái quát về người Thái Đen ở xã Tân Phúc

1.2.1 Tên gọi và nguồn gốc

Dân tộc Thái có dân số khá đông đảo, theo con số thống kê năm 1973 là trên 36 vạn người Đến năm 1999, dân số của người Thái có 1.328.725 người sống trải khắp vùng quê miền Tây và Tây Bắc Việt Nam Bắt đầu từ phía Đông là mường Lò, tỉnh Yên Bái (nay chia thành ba huyện thuộc tỉnh Yên Bái: Văn Chấn, Mù Căng Chải, Trạm Tấu và thị xã Nghĩa Lộ) Sang phía Tây gồm toàn bộ địa phận ba tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn La Phía Nam người Thái sinh sống ở miền Tây Bắc Hòa Bình (nay là huyện Đà Bắc và Mai Châu) và miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An Cuối cùng còn thấy

Trang 8

8

những nhóm sống rải rác trong các tỉnh thuộc vùng núi Tây Nguyên, trong

đó huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng là nơi họ ở đông hơn cả

Người Thái ở Thanh Hóa có quan hệ gần gũi và chặt chẽ với người Thái

ở Tây Bắc Nguồn gốc, lịch sử người Thái Đen nơi đây được thể hiện trong các áng mo hồn người chết như khi kể đến đường đi ngày xưa của cây cỏ, xúc vật từ trên trời xuống trần gian, các ông Mo - những người chép sử và kể

sử đã chỉ ra các địa danh ở Tây bắc Việt Nam, ở Lào Nơi đây có Mường Đanh (thuộc xã Yên Khương) là Mường lớn nhất, cái tên đất tên mường này phản ánh một cách rõ ràng rằng người Thái ở nơi đây đã từ Tây Bắc Việt Nam, từ Lào đi dọc xuống

Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 1999, dân số xã Tân Phúc là 5.591 người Đến tháng 8 năm 2009, dân số của xã Tân Phúc là 5.382 người Thành phần dân tộc gồm: người Thái chiếm 48,63%, người Mường chiếm 48,21%, người Kinh chiếm 3,03% và các dân tộc khác chiếm 0,13 %

Người Thái Đen có số lượng dân cư đông nhất trong các dân tộc thiểu số trong xã Tân Phúc, họ cư trú trong nhiều bản làng khác nhau Bên cạnh đó trên địa bàn xã, người Thái Đen còn sống xen kẽ với người Kinh, người Tày…

1.2.2 Tập quán mưu sinh

Bản của người Thái Đen ở xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh được dựng ở các chần đồi, các nhà trong bản được dựng rất gần nhau như thế có thể giúp

đỡ lẫn nhau mỗi khi gặp khó khăn hay ốm đau Người đứng đầu trong bản là người được dân bản tín nghiệm nhất (Trưởng bản), bên cạnh đó cùng tham gia công việc với Trưởng bản là Thầy Mo (Mo Mương) vì Thầy Mo là người hiểu biết về mọi mặt, nhất là rõ về luật tục trong tộc người mình Mỗi thành viên trong làng bản đến tuổi lao động phải tạo được công ăn việc làm, tránh việc

Trang 9

từ thấp lên cao Phương pháp” hỏa- canh- thủy- nậu” (đốt rơm rạ cày bừa ngâm ngấu để cấy), cũng được đồng bào sử dụng để cấy lúa nếp và các loại cây lương thực khác

Việc canh tác lúa nương, ngô, khoai, sắn, đậu vừng cũng được chú trọng tăng nguồn thu nhập cho đồng bào Cùng với trồng trọt chăn nuôi cũng được phát triển rất mạnh tại đây Với diện tích rừng, sông suối bao quanh là điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi để phát triển chăn nuôi các gia súc như trâu bò,

dê ngựa Các loại gia súc được chăn nuôi chủ yếu theo hộ gia đình Ngoài việc nuôi gia súc làm sức kéo trong sản xuất, nó còn là tài sản của gia đình Bên cạnh gia súc, gia cầm và thủy cầm là nguồn thực phẩm chính được chăn nuôi

để cải thiện các bữa ăn hàng ngày và nhất là trong các dịp lễ tết

Đặc biệt, đồng bào người Thái Đen ở Tân Phúc còn có cách nuôi cá làm thức ăn và đem bán Đây là nguồn thực phẩm dồi dào cho đồng bào nơi đây Bên cạnh đó người Thái Đen còn săn bắt thú rừng, bắt cá ở các con suối bằng các công cụ chài lưới Cùng với đánh bắt, săn thú và hái lượm đã tạo tạo ra sự phát triển kinh tế tự nhiên qua đó giúp đồng bào thoát khỏi những ngày giáp hạt mất mùa…Các loại rau rừng như măng, các loại mộc nhĩ; nấm…phần nào

đã thay thế được rau nhà những lúc trái mùa

Các nghề thủ công truyền thống được phát triển, trước hết để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình, sau đó dùng để trao đổi hàng hóa với các dân tộc khác Các nghề thủ công truyền thống khác nhau như đan lát, rèn, mộc

Trang 10

Trang phục của người Thái Đen nơi đây rất đặc sắc Trước đây váy áo thường được dệt bằng sợi bông nhuộm chàm bởi vậy áo váy chủ yếu là màu xanh đen Cho đến ngày nay, những cụ già người Thái Đen vẫn thường xuyên

sử dụng loại trang phục truyền thống trong sinh hoạt hàng ngày Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội mà áo váy của người Thái ở Tân Phú cũng có sự thay đổi Màu áo được làm bằng nhiều loại màu khác nhau: trắng, xanh, vàng, đỏ… tay áo được xếp bồng, có nhiều chất liệu khác nhau được dùng để may

áo Áo váy phụ nữ Thái bao gồm áo “xửa cóm” may bó sát cơ thể, gấu áo chấm cạp váy, cổ áo được may cao tròn chạy từ cổ áo xuống hết gấu áo, thắt

Trang 11

là lối mặc áo đen đè áo trắng Ngày lễ, quấn khăn đen dài hàng sải tay gọi là˝ quấn khăn cuộn˝

1.2.3.2 Văn hóa tinh thần

Tín ngưỡng người Thái nơi đây là tín ngưỡng đa thần, thờ tổ tiên, các thần vá coi mọi vật đều có hồn và có nhiều loại thần linh khác nhau.Việc thờ cúng tổ tiên , thổ công có liên quan đến thần chú được quy về người đứng đầu, họ có công sáng lập và có nhiều ngày lễ như “Xên Bản – Xên Mương” là

để cầu cho mưa thuận gió hoà, thần linh phù hộ cho dân bản Có phần vui chơi múa hát tập thể như: Ném còn, nhảy sạp, hát khắp Có thể nói vốn văn nghệ dân gian của người Thái rất phong phú, những câu chuyện truyền miệng từ lâu được ghi lại đã trở thành những sản phẩm văn hoá tinh thần rộng rãi với lịch

sử của dân tộc, những làn điệu hát khắp của dân tộc Thái đã làm say đắm lòng người cũng như các lĩnh vực văn hoá tinh thần khác

Người Thái cho rằng con người bị ốm hoặc chết đi là do hồn người đó rời khỏi xác do hoảng sợ hoặc bị ma hay hồn người khác khoẻ hơn bắt giữ, hay có thể vì mải mê trên cõi trời mà quên mất trở lại trần gian Họ tin rằng con người có linh hồn, và điều đó được bổ sung bằng linh hồn bản mường, và được tập Theo chu kỳ một năm, đồng bào có nhiều lễ hội, nhiều nghi thức được tổ chức với mục đích cầu an, cầu yên Nhiều lễ hội mang tính chất cộng đồng, cầu xin các thần thánh phù hộ cho cả bản như lễ Xên Bản, Xên Mường,

Trang 12

12

cầu được mùa màng tốt tươi, mọi người sống chan hòa, khỏe mạnh Đặc trưng nhất là 1 số lễ tết truyền thống như tết Síp Xí( 14/7 âm lịch), tết nguyên đán hay lễ mừng cơm mới…Các lễ tết này đều được tổ chức long trọng với nhiều hình thức nghi lễ cả phần lễ và hội được diễn ra vui tươi, mang đậm bản sắc dân tộc nơi đây

Hôn nhân của đồng bào Thái rất bền vững, tuy nhiên trước đây tục tảo hôn thường diễn ra khá phổ biến Lễ cưới của người Thái Đen được diễn ra theo 3 bước đó là: ăn hỏi, lễ cưới- lễ này thường được tổ chức 2 ngày, ngày thứ 2 gọi là (Ngài hua) và lễ lại mặt Tuy nhiên, trước lễ cưới còn một số thủ tục khác, nghi thức khác như xem tuổi, dạm ngõ

Tang ma của người Thái Đen được tổ chức với nhiều nghi thức Với quan niệm người chết là sang thế giới khác, về mường trời, với tổ tiên Trước đây người chết thường được gia đình cúng cho một con trâu để trâu đi cùng người chết sang thế giới ˝Mường Trời˝ Mồ người chết được trang trí cầu kỳ với nhiều vật dụng đồ dùng được gia đình chia cho người chết mang theo Chữ viết: Ngôn ngữ và văn tự của người Thái cũng gần khá phong phú

và hoàn chỉnh Người Thái là một cộng đồng tộc người có ngôn ngữ riêng, có chung cội nguồn ngôn ngữ với tiếng nói của các dân tộc: Tày, Nùng, Lào, Lự,

Bố y, Sán Chay ở Việt Nam; với tiếng Lào và Thái Lan; với tiếng Choang và tiếng Thái ở miền Nam Trung Quốc Về mặt cấu trúc ngôn ngữ, ta có thể thấy tiếng Thái nổi bật lên một số nét cơ bản như sau: Do dùng chung một cội nguồn, ngôn ngữ nhóm người Thái có được một tổng thể thống nhất Là một thứ tiếng có khá nhiều vùng thổ ngữ Song nếu một người có thể tường tận đọc, nói, viết được một loại thổ ngữ có thể giao tiếp được với người Thái ở các nhóm Thái, các vùng khác nhau Tiếng Thái có âm tiết và có thanh điệu - một âm mang một thanh tạo thành một từ biểu đạt ý Về cấu trúc các thành phần trong cú pháp tiếng Thái cùng một mô típ với tiếng Việt, đó là thứ tự: Chủ ngữ - vị ngữ - các thành phần tân ngữ và bổ ngữ Ngôn ngữ Thái rất

Trang 13

13

phong phú, biểu hiện được mọi cung bậc tình cảm Đặc biệt dân tộc Thái có chữ viết riêng, là một trong những dân tộc được đánh giá là có chữ viết sớm nhất ở vùng Đông Nam á cổ đại Đây là thứ tiếng phát triển, đã sớm hình thành ngôn ngữ văn học và có thể diễn đạt được sự vật tự nhiên, xã hội mà con người cần nhận thức Đương nhiên, để thực hiện điều đó người Thái đã du nhập, vay mượn các yếu tố ngôn ngữ sắc tộc khác Trong đó, có phần đóng góp của tiếng Việt hiện nay là quan trọng và chiếm tỉ lệ nhiều nhất Song, đây

là một loại ngôn ngữ chưa được nghiên cứu một cách tường tận để có thể có được một nền ngữ pháp cũng như từ điển Do đó, ngôn ngữ Thái mới chỉ đạt ở trình độ văn hoá dân gian, chưa từcó được một nền ngôn ngữ bác học Có ngôn ngữ, văn tự người Thái đã xây dựng được một nền văn hóa của mình Văn học- nghệ thuật: kho tàng văn hóa nghệ thuật của người Thái rất phong phú và đa dạng gồm nhiều thể loại: thơ, ca, hò, vè, tục ngữ, văn học dân gian, văn học thành văn Người Thái nổi tiếng với làn điệu Khắp, đây là làn điệu vừa mang đậm trữ tình vừa đặc sắc, vừa dân dã Khắp có thể hát bất

cứ lúc nào, trong các dịp hát mừng nhà mới (khắp chôm hươn mơ)… khắp có thể hát một mình hoặc hát đối đáp, lời hát chan chứa, thắm đượm, ngọt ngào tình yêu thiên nhiên, bản mường, tình yêu đôi lứa

1.2.4 Tổ chức xã hội

Gia đình người Thái là gia đình nhỏ, phụ quyền Trong mỗi gia đình thường có ba đến bốn thế hệ cùng chung sống: ông bà, bố mẹ, con cái và cháu Vai trò người đàn ông trong gia đình rất lớn, mọi việc phải có sự đồng

ý, thông qua ý kiến của người chồng, người cha đặc biệt trong việc bố trí nhà cửa Gian đầu tiên và gian giữa phụ nữ đặc biệt là con dâu không được phép nghỉ ngơi hay ngồi ăn cơm Ngày nay, vai trò người phụ nữ được đề cao hơn, các luật lệ cũng dần bớt khắt khe khi mà trong gia đình có ít thế hệ sinh sống hơn, khi kiến trúc nhà ở không còn như trước

Trang 15

15

Chương 2

ẨM THỰC TRONG NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ TÂN PHÚC 2.1 Nguồn nguyên liệu chế biến

2.1.1 Nguyên liệu từ trồng trọt và chăn nuôi

Trong số các loại cây lương thực, lúa là loại cây lương thực chính, lúa gắn liền với đồng bàoThái từ xa xưa Người Thái nói chung và người Thái Đen ở Tân Phúc nói riêng đều thích ăn xôi nên họ thường cấy lúa nếp là chủ yếu Ngày nay chăn nuôi phát triển, lúa tẻ với năng suất cao được ưa chuộng hơn Lúa gạo trở thành cây lương thực chính trong cơ cấu bữa ăn thường ngày của người Thái Đen

Bên cạnh cây lúa thì ngô cũng là loại cây lương thực được trồng khá phổ biến, có vị trí quan rọng đối với đồng bào Thái, bổ sung thêm vào nguồn lương thực hàng ngày Ngô thường được trồng trên nương, trên các vùng đồi núi, có khi ở trong vườn.Ngô thường trồng vào khoảng tháng hai âm lịch.Ngô có hai loại là ngô nếp và ngô tẻ Ngô tẻ màu vàng cho năng suất cao, ngo nếp màu trắng cho năng suất thấp nhưng lại thơm và dẻo hơn Do đặc điểm đó mà ngô tẻ được dùng để chăn nuôi gia súc, gia cầm hoặc nấu rượu, còn ngô nếp được sử dụng để làm lương thự ch người như nấu cháo, độn cơm, độn xôi, nấu chè ngô…

Sắn là loại cây lương thực được trồng khá phổ thông vì có đặc tính là sẵn giống, chịu hạn cao, có thể trồng được nơi đất xấu,đất pha đá và sỏi Củ sắn được sử dụng nhiều cho việc chăn nuôi gia súc, gia cầm, sắn cũng là nguồn nguyên liệu để nấu rượu rất tốt Sắn thường được trồng vào khoảng tháng ba, thu hoạch vào tháng hai năm sau

Khoai sọ được trồng vào tháng chạp và thu hoạch trước tết thanh minh

để tránh bị thối và úng nước Khoai sọ có nhiều loại, mỗi oại có đặc điểm

Trang 16

Bên cạnh các loại cây lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn thì đồng bào Thái Đen ở Tân Phú còn trồng nhiều loại rau, hoa màu khác nhau làm nguyên liệu để chế biến các món ăn hàng ngày cũng như các mon ăn trong những dịp lễ tết:

Bầu: loại cây láy quả, ngoài việc sử dụng làm thực phẩm thì quả bầu già được làm bầu dàn tính và đựng các hat giống, đặc biệt vỏ bầu hồ lô dùng để đựng rượu rất thẩm mĩ

Bí: có hai loại bí là bí đỏ và bí xanh, bí đỏ lấy quả và ngọn làm thức ăn,

bí xanh thuộc loại dây leo có vị ngọt

Rau cải: cũng là loai rau phổ biến thường có trong mâm cơ của người Thái Rau cải gồm nhiều loại như cải bẹ, cải đắng, cải canh, cải bắp

Mướp: có nhiều loại như mướp đắng, mướp hương, mướp lai, mướp thường Mướp đắng có vị đắng dịu, mướp hương khi nấu có mùi thơm rất đăc trưng, mướp thường ăn rất mát, mướp thường dùng nđể xào hoặc nấu canh Mướp già lấy hạt làm giốn, xơ mướp dùng làm đồ rửa bát

Các loại đỗ: đỗ xanh, đỗ tương, đỗ đen, đõ trắng, đỗ đỏ, đỗ cô ve Các loại đỗ này được chế biến thành rất nhiều món ăn khác nhau, thường là các món ăn chay, hàm lượng đạm, vitamin cao cần thiết cho cơ thể con người dễ bảo quản và dễ chế biến

Trang 17

17

Bên cạnh những sản phẩm trồng trọt thì các sản phẩm từ chăn nuôi cũng khá phong phú bao gồm chăn nuôi gia súc, gia cầm Khác với truyền thống từ xa xưa là thường nuôi ngay ở dưới sàn nhà, người Thái đã chăn nuôi với chuồng trại và cách xa nhà

Các loại gia súc phổ biến là trâu, bò, ngựa: được nuôi chủ yếu để làm sức kéo cho nông nghiệp và vận chuyển hàng Trong tâm thức của người Thái, họ rất coi trọng trâu, bò coi nó như là một người bạn là tài sản lớn của gia đình, thường chỉ vào dịp lễ tết hay ngày trọng đại, trâu bò mới bị xả thịt làm thực phẩm

Dê, cừu: được nuôi ít hơn và chỉ có một vài gia đình chăn nuôi hai loại gia súc này Chúng không chỉ dùng để lấy thịt mà còn lấy lông và da

Lợn là loại vật nuôi được nuôi phổ biến và rộng rãi nhất, phần lớn các gia đình đều nuôi một, hai con lợn để thịt vào dịp lễ tết và để bán

Gà có các going như gà hoa mơ, gà ri, gà trắng, gà đen Hầu như gia điình người Thái nào cũng chăn nuôi gà Mỗi khi có khách quí ở lại dùng cơm người Thái không thể thiếu món thịt gà, cũng à món ăn không thể thiếu trong ngày lễ tết Gà không chỉ cho thịt thơm ngon mà còn là nguồn cung cấp trứng ăn hàng ngày cho con người

Vịt: là loại gia cầm nuôi nhiều thứ hai, vịt thường được thả ven các con suối, trong các thửa ruộng đã thu hoạch xong hoặc nuôi nhốt trong ao Cũng như gà vịt là nguồn cung cấp trứng hàng ngày cho con người Vịt thường cho trứng to và đều hơn gà, do vậy vịt đươc nuôi để lấy trứng rất kinh tế

Ngan: được nuôi ít chủ yếu nuôi để phục vụ khi nhà có việc lớn

Nuôi trồng thủy sản ở Tân Phú cũng rất phát triển, tâp trung chủ yếu vào các loại cá Hầu như các gia đình người Thái Đen ở Tân Phú đều có một cái ao, có khi có nhà có hai hoặc ba ao Ao của người Thái thường rất to,

Trang 18

18

nguồn nước được dẫn từ các con suối về, do vậy nước trong ao thay đổi liên tục nên các rất chóng lớn Có nhiều loại các khác nhau như các trắm cá trôi,

cá chép, cá mè Ngoài các loại cá ra còn có các loại cua ốc

2.1.2 Nguồn nguyên liệu tự nhiên

Do sống trong khu vực có nhiều đồi núi, sông suối nên người Thái Đen

ở Tân Phú đã biết tận dụng những thế mạnh mà tự nhiên mang lại đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng phong phú với nhiều loại lâm thổ sản độc đáo cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào cho đồng bào chế biến thành nhiều món ăn với hương vị hấp dẫn

Măng có rất nhiều loại như măng tre đắng, măng trúc, măng dê, măng bói, măng lay, măng loi Từ măng chế biến thành món mang chua, măng khô… Bên cạnh đó còn có hoa chuối rừng, bao gồm hai loại là hoa chuối đỏ

và hoa chuối mốc, nộm hoa chuối là món đặc sản của núi rừng Lang Chánh

Về rau có rau đắng mọc rất nhiều trong rừng, có vị đắng nhưng nuốt vào lại có vị ngọt Rau đắng dùng để nấu canh giải nhiệt, giã rượu rất tốt Hay rau má mọc ở bờ ruộng có vị thơm, vị đắng ngọt dùng để nấu canh hoặc chấm me ăn sống, à một vị thuốc lợi tiểu rất tốt cho những người bị bệnh Khu vực rừng quanh khu vực người Thái Đen sinh sống có các loai nấm như nấm hương, nấm đất, mộc nhĩ mọc trên các thân cây mục hoặc nơi đất

ẩm ướt Nấm rất giàu dinh dưỡng và có hương vị đặc biệt

Ngoài ra còn có các loại rau quả thu hái trong rừng như: rau bướm, rau ngồng, rau nhả hút, rau mơ, rau gai rau sung, rau vả, quả cà dại (mắc khảnh), cây gia vị để tăng mùi vị hấp dã cho các món ăn như: gừng, nghệ, rau hung, rau hẹ, hành hoa, ớt

Bên cạnh chăn nuôi lấy thịt, người Thái có khả năng săn bắn và bẫy bắt rất giỏi Người Thái săn bắn và bẫy bắt những động vật hoang dã không bị

Trang 19

19

ngăn cấm để nhằm khai thác tài nguyên tự nhiên phục vụ vho cuộc sống Đó

là các loại thú như rúi, lợn rừng, sóc, nhím, chồn, chuột ; các loại bò sát như:rắn, trăn ; loài chim như gà rừng, bìm bịp, cu gáy,

Ngoài ra còn có sâu măng là nhộng của một loài bọ cứng rang khô nấu cháo cho trẻ ăn rất tốt, hoặc dùng ngâm rượu bồi bỏ cơ thể

Một số loài côn trùng khác như dế mèn, châu chấu, con dũi, con muống, bươm bướm trắng,mối, bọ xít, sâu gỗ chuông, sâu báng , tằm …cũng là những loại côn trùng dược người Thái tận dụng để làm nên những món ăn ngon

2.2 Các món ăn chế biến từ cây lương thực

2.2.1 Bánh chưng (khẩu tôm)

Người Thái đen ở xã Tân Phú có hai tết lớn nhất là tết Nguyên Đán là tết Síp Xí, ứng với mỗi tết sẽ có một loại bánh đặc trưng, một loại bánh biểu trưng cho chính tết đó

Trong một năm bánh chưng được gói duy nhất một lần vào dịp tết nguyên đán Trước đây, đồng bào ăn tết với thời gian kéo dài chính vì thế, nhà nào cũng làm thật nhiều bánh chưng để ăn cho hết rằm tháng Giêng Ngày nay tết nguyên đán được rút ngắn làm ba ngày, do đó đồng bào chỉ tổ chức gói bánh ăn tết cúng tổ tiên làm hai đợt, gói bánh vào dịp tết nguyên đán và gói bánh cúng tổ tiên và ăn trong rằm tháng giêng

Nguyên liệu chính để làm bánh bao gồm: Gạo nếp, đỗ nho nhe, đỗ xanh, thịt lợn, hạt tiêu, muối, lá dong

Trước tết khoảng 10 ngày, người dân đã vào rừng lấy lá dong chuẩn bị gói bánh Lá gói bánh chưng của người Thái phải chọn những lá có bản to, lành không bị sâu, không bị rách Lạt gói bánh được chẻ từ những cây giang hoặc những ống nứa to dẻo Lá bánh mang về rửa sạch sẽ chuẩn bị cho việc gói bánh chưng Lạt được chẻ sẵn treo lên gác bếp Vào ngày 29 hoặc 30 tết,

Trang 20

20

sau khi gia đình mổ lợn lấy thức ăn cho mấy ngày thì một phần thịt lợn được giữ lại dùng làm nhân bánh chưng, trong ngày mổ lợn thì gia chủ mời anh em đến cùng vui uống rượu với gia đình, gặp gỡ trước tết

Gạo nếp làm bánh được ngâm trong nước từ 2-3 tiếng đồng hồ sau đó nhặt bỏ sạn và các hạt thóc còn sót lại vo sạch qua hai, ba lần nước sau khi ngâm, vớt ra để ráo nước trước khi gói bánh Nhân bánh gồm đỗ nho nhe và thịt lợn ba chỉ Khác với bánh chưng của người Kinh dùng đỗ xanh vì theo đồng bào cho biết bánh chưng làm nhân bánh từ đỗ nho nhe mới đúng theo truyền thống, tập quán của đồng bào Sau này do quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với người Kinh mà người Thái Đen ở đây cũng có nhiều gia đình làm nhân bánh chưng bằng đỗ xanh

Bánh chưng của người Thái Đen ở đây được gói theo hai loại bánh, một loại bánh tròn dài như bánh tét của người Nam Bộ nhưng nhỏ hơn, một loại khác gói vuông gần giống như bánh chưng của người Kinh hiện nay Bánh chưng được gói bằng tay, đồng bào trải hai lớp lá dong xuống dưới, đổ một lớp gạo, một lớp đỗ ở giữa là một lớp thịt lợn ba chỉ, tiếp theo đổ một lớp đỗ

và một lớp gạo lên Khi bánh gói xong được xếp tất cả vào một nồi lớn để luộc bánh, phía đáy nồi, đồng bào lót một lớp lá dong dầy đến bánh không bị khê, sau đó cho toàn bộ bánh tổm mè xuống đáy nồi luộc, phía bên trên xếp bánh tổm ống và trên cùng trải lớp lá dong để giữ độ nóng của nồi, đổ nước ngập bánh và đun bánh từ 4-5 giờ

Trong quá trình luộc bánh, lửa luôn được đun to, nước luôn sôi đều, bên cạnh nồi bánh chưng đồng bào đặt một nồi nước nhỏ để khi nước cạn họ lại tiếp tục cho thêm nước ngay Bánh chưng chín đều, dẻo sau khoảng 4-5 tiếng luộc bánh được vớt ra một chậu nước lã, dùng nước lạnh để rửa bánh sạch sẽ trước khi đưa lên bàn thờ Bánh được treo lên gác nhà để ăn dần trong những ngày tết Trước đây mỗi gia đình thường làm nhiều bánh sẽ ăn qua rằm tháng giêng Trong mâm cúng tổ tiên rằm tháng giêng, mâm cúng “tiễn” các thần

Ngày đăng: 12/01/2017, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Hà (2001), Những áng văn ẩm thực, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những áng văn ẩm thực
Tác giả: Thái Hà
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2001
2. Đinh Gia Khánh (1989), Văn hóa trong ăn uống, Tạp chí văn hóa dân gian Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong ăn uống
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Năm: 1989
3. Vũ Khánh (chủ biên ), Người Thái ở Tây Bắc, Nxb Thông Tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Thái ở Tây Bắc
Nhà XB: Nxb Thông Tấn
4. Mai Khôi (2001), Văn hóa ẩm thực Việt Nam – Các món ăn miền Trung, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực Việt Nam – Các món ăn miền Trung
Tác giả: Mai Khôi
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2001
5. Hoàng Lương (2005), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Lương
Năm: 2005
6. Nguyễn Nhã (2007), Bản sắc ẩm thực Việt Nam, Nxb Tuổi trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc ẩm thực Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nhã
Nhà XB: Nxb Tuổi trẻ
Năm: 2007
7. Nguyễn Thị Diệu Thảo (2007), Văn hóa ẩm thực Việt Nam, Nxb Tuổi trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thảo
Nhà XB: Nxb Tuổi trẻ
Năm: 2007
8. Cầm Trọng (1997), Người Thái ở Tây Bắc, Nxb VHDG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Thái ở Tây Bắc
Tác giả: Cầm Trọng
Nhà XB: Nxb VHDG
Năm: 1997
9. Viện Dân tộc học (1987), Các dân tộc ít người ở Việt nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt nam
Tác giả: Viện Dân tộc học
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1987
10. Một số trang Web http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Ph%C3%BAc,_Lang_Ch%C3 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w