Trong bối cảnh mở cửa hiện nay, ẩm thực truyền thống của người Thái ở Mường La, cũng như tất cả các dân tộc đã bị ảnh hưởng lẫn nhau và tiếp thu văn hóa ẩm thực phương Tây, sự mai một vă
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Cấu trúc của đề tài 6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA 7
1.1 Tổng quan về huyện Mường La 7
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 7
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 8
1.2 Đặc điểm văn hóa của người Thái ở huyện Mường La 10
1.2.1 Tên gọi, nguồn gốc 10
1.2.2 Văn hóa vật chất 12
1.2.3 Văn hóa tinh thần 13
Chương 2: ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA 15
2.1 Nguyên liệu trong các món ăn truyền thống của người Thái 15
2.1.1 Các loại cây lương thực, rau, củ, quả 15
2.1.2 Nguồn thực phẩm từ chăn nuôi 19
2.1.3 Đồ uống 20
2.2 Cách chế biến món ăn truyền thống của người Thái 20
2.2.1 Chế biến dùng lửa 20
2.2.2 Chế biến không dùng lửa 22
2.3 Một số món ăn truyền thống của người Thái ở huyện Mường La 22
2.4 Những giá trị văn hóa trong món ăn của người Thái 28
Trang 22.5 Một số thay đổi trong cách chế biến các món ăn truyền thống của người
Thái ở Mường La hiện nay 29
Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA 32
3.1 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực truyền thống của người Thái ở Mường La 32
3.2 Một số kiến nghị với các cơ quan chức năng 35
Kết luận 36
Tài liệu tham khảo 38
Phụ lục 39
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ăn uống đó là một nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống của tất
cả mọi người, từ xưa khi các công cụ để sản xuất ra lương thực thực phẩm chưa
ra đời thì tổ tiên của chúng ta đã săn bắn hái lượm để phục vụ nhu cầu sinh sống
và để tồn tại Dần dần khi xã hội phát triển thì nhu cầu ăn của con người cũng phát triển theo và đến ngày này ăn uống không chỉ đơi thuần là nhu cầu ăn uống của con người nữa mà nó còn là thể hiện thính thẩm mỹ trong từng món ăn Hiện nay trong những món ăn còn thể hiện được đẳng cấp và địa vị trong xã hội
Việt Nam có 54 tộc người anh em cùng sinh sống đoàn kết và hòa đồng trên cùng một lãnh thổ, mỗi tộc người khác nhau lại có những bản sắc văn hóa khác nhau, gúp phần tạo nên một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Bản sắc văn hoá của mỗi tộc người thể hiện qua cư trú, trang phục, phong tục, lễ hội, nghệ thuật và một yếu tố quan trọng không thể thiếu là ẩm thực Ăn uống là nhu cầu đầu tiên và thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại, sự sống cho cơ thể con người Ăn uống không đơn thuần là thoả mãn nhu cầu đói và khát của con người mà cao hơn nữa ăn uống còn được coi là văn hoá, văn hoá ẩm thực Văn hóa chính là động lực của sự phát triển, do vậy mà văn hóa đan xen vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó ẩm thực là một loại hình văn hoá quan trọng tham gia cấu thành nền văn hoá dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo Việc ăn uống hàng ngày tạo nên bản sắc văn hóa hết sức riêng biệt giữa vùng này với vùng khác Mỗi vùng miền trên đất nước Việt Nam, ngoài những đặc điểm chung lại có một phong cách ẩm thực riêng, mang sắc thái đặc trưng của vùng đất đó Ăn uống là nơi con người thể hiện mình, thể hiện bản sắc tộc người Mỗi tộc người khác nhau thì lại có cách chế biến, cách tổ chức bữa ăn khác nhau, phụ thuộc vào khí hậu, sản vật, thói quen khác nhau mà chỉ cần nhắc đến tên món ăn đặc trưng người ta sẽ nhận ra ngay họ đang ở vùng nào Những năm gần đây, vấn đề ẩm thực đã được xã hội
Trang 4quan tâm rộng rãi hơn Con người ta không chỉ cần “ăn no, mặc ấm” mà còn hướng tới “ăn ngon, mặc đẹp” Ăn uống là một phần không thể thiếu trong các chuyến đi du lịch, ấn tượng về ăn uống trong chuyến đi góp phần lớn vào thành công của một chuyến du lịch đó Cuộc sống của nền kinh tế thị trường đã mở ra nhiều hướng tiếp cận với văn hoá ăn uống, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh
du lịch Trên khắp mọi miền đất nước các nhà kinh doanh đã nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của khách, của khách du lịch trong và ngoài nước muốn thưởng thức các món ăn, những kiểu ăn khác nhau ở các vùng, các miền Sẽ rất thú vị khi du khách được thưởng thức các món ngon, vật lạ ngay trên chính mảnh đất mà họ đặt chân đến để du lịch Trong bối cảnh mở cửa hiện nay, ẩm thực truyền thống của người Thái ở Mường La, cũng như tất cả các dân tộc đã bị ảnh hưởng lẫn nhau và tiếp thu văn hóa ẩm thực phương Tây, sự mai một văn hóa ngày càng lớn Với mong muốn trau dồi kỹ năng tìm hiểu văn hóa tộc người, đồng thời góp phần vào việc tìm hiểu bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa truyền thống quý giá của người Thái ở Sơn La, đặc biệt là văn hóa ẩm thực người viết đã lựa
chọn đề tài “Ẩm thực truyền thống của người Thái ở huyện Mường La, tỉnh Sơn” cho bài tiểu luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn dề lịch sử - văn hóa người Thái ở Việt Nam đã được sưu tầm, nghiên cứu từ rất lâu nay với các tác phẩm như “Người Thái ở Tây Bắc” của Cầm Trọng : “Văn hóa Thái Việt Nam” (Cầm Trọng – Phan Hữu Dật) Cầm Trọng là tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Thái ở Việt Nam Ông cùng Ngô Đức Thịnh viết tác phẩm “Luật tục Thái ở Việt Nam” xuất bản năm 2003 Năm 2005, cuốn “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” của ông được tái bản, với nội dung là giới thiệu văn hóa Thái trong lịch sử Việt Nam, sự phân chia thành các vùng văn hóa, các nhóm địa phương, nơi cư trú, sinh hoạt kinh
tế, sinh hoạt ăn uống, ở, mặc, đi lại, quan hệ gia đình, xã hội
Ngoài tác giả Cầm Trọng còn có các tên tuoir khác như Phạm ngọc Khuê với “Mỹ thuật dân tộc Thái ở Việt Nam” trong đó giới thiệu về nghệ thuật kiến
Trang 5trúc, nghệ thuật trang trí trên vải, trang sức, đồ gốm Hai tác giả Hoàng Nam và
Lê Ngọc Thắng với “Nhà sàn Thái” Năm 2006, cuốn “Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh hóa và Nghệ an” của Vi Văn Biên được xuất bản, ông đã phân tích sự tương đồng và khác biệt về văn hóa vật chất của người Thái ở Bắc Trung Bộ và người Thái ở Tây bắc
Có thể nói, các tác phẩm cùng vớ những kết quả nghiên cứu đều khẳng định vai trò, vị trí, ý nghĩa của các món ăn với lịch sử - văn hóa của người Thái Nhưng chưa có bài viết nào đi sâu vào những hoạt động bảo tồn và phát huy Chính vì vậy, người viết chọn đề tài này để nghiên cứu và khai khác những món
ăn mới cho đồng bào Thái mà không làm mất đi những giá trị của nó
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận sẽ là:
- Văn hóa ẩm thực truyền thống trong của người Thái ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La và đầy đủ các thành tố của nó
- Những giá trị văn hóa trong món ăn
- Phạm vi nghiên cứu: Người Thái ở huyện Mường La
- Thời gian: Trong giai đoạn hiện nay
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu về những món ăn truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La và những biến đổi của nó trong môi trường chuyển đổi hiện nay
- Tìm hiểu những giá trị và sự biến đổi của các món ăn truyền thống của người Thái, đề xuất giải pháp nhằm khai thác và bảo tồn văn hóa ẩm thực của người Thái cho hiện tại và tương lai
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ đạo được sử dụng trong quá trình điều tra, nghiên cứu :
- Khảo sát thực tế
- Mô tả thực trạng sưu tầm tài liệu
Trang 6- Để bổ sung tư liệu, hỗ trợ tài liệu thu thập ở thực địa, phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, tham khảo các sách, các tạp chí chuyên ngành, thống kê của địa phương có liên quan đến dịch vụ ăn uống, các báo cáo vệ sinh
an toàn thực phẩm được áp dụng
6 Đóng góp của đề tài
Bài tiểu luận sẽ góp phần bổ sung những tư liệu về những món ăn truyền thống của người Thái ở Sơn La nói riêng và ở Việt Nam nói chung
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục bài tiểu luận gồm
3 chương chính:
Chương 1: Khái quát về người Thái ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La Chương 2: Văn hóa ẩm thực truyền thống của người Thái ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực truyền thống của người Thái ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Trang 7Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI
Ở HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA 1.1 Tổng quan về huyện Mường La
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Mường La là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Sơn La Diện tích tự nhiên rộng 1.407,9 km² và có 67,8 nghìn hộ gia đình Mường La có 16 đơn vị hành chính cấp xã, đó là các xã: Chiềng Hoa, Tạ Bú, Mường Chùm, Chiềng San, Chiềng Lao, Pi Toong, Mường Bú, Nậm Giôn, Mường Trai, Chiềng Muôn,Chiềng Ân, Nậm Păm, Chiềng Công, Ngọc Chiến, Hua Trai và thị trấn Ít Ong (huyện lỵ)
Vị trí của huyện: Mường La có tọa độ địa lý là 21°15' - 21°42' vĩ Độ Bắc; 103°45' - 104°20' kinh độ Đông
Mường La giáp với huyện Quỳnh Nhai ở phía Tây Bắc, huyện Thuận Châu ở phía Tây, thành phố Sơn La ở phía Tây Nam, huyện Mai Sơn ở phía Nam, huyện Bắc Yên ở phía Đông Nam, huyện Trạm Tấu (Yên Bái) ở phía Đông, huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) và Than Uyên (Lai Châu) ởphía Bắc
Độ cao bình quân của huyện là 500–700 m Trên địa bàn Mường La có nhiều dãy núi và núi cao ở phía Bắc và Đông Bắc Sông Đà là sông lớn nhất chảy qua huyện Một số sông suối lớn khác là Nậm Mu, Nậm Chiến, Nậm Trai, Nậm Pàn, Nậm Pia Đập thủy điện Sơn La được hoàn thành cùng với hồ thủy điện Sơn La chiếm một phần không nhỏ diện tích toàn huyện Địa hình của huyện hết sức phức tạp, việc đi lại, vận chuyển giữa các vùng và với các vùng xung quanh gặp nhiều khó khăn Địa hình đồi núi chiếm đến 3/4 diện tích đất tự nhiên với nhiều dãy núi cao trên 1.500m xen lẫn với các đồng bằng thung lũng chân núi
Mường La nằm trong vùng khí hậu miền Tây Bắc, mang tính chất "á nhiệt đới", nóng ẩm, gió mùa đã suy yếu và biến tính, đặc biệt là vào nửa đầu mùa hạ
Là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và đặc biệt chịu ảnh hưởng của
Trang 8đới gió phơn tây nam thổi từ Lào sang (mà người dân địa phương quen gọi là gió "nôm Lào" Nhiệt độ trung bình trong năm của huyện là 25.20C, lượng mưa trung bình khoảng 2.500mm/năm Độ ẩm cao chiếm 85%
Với khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa này huyện rất có lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ động vật và thảm thực vật tương đối phong phú đa dạng Hệ thống sông ngòi tương đối nhiều trong đó có hệ thống sông Đà
là lớn nhất và có trữ năng về thủy điện Sông suối xưa cũng như nay vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển đi lại của nhiều tộc người đang sinh sống
ở đây Không chỉ có vậy, sông suối ở đây còn cung cấp nguồn thủy sản vô tận, việc đánh bắt cá bằng cách quăng chài, thả lưới, buông câu đã trở thành tập quán của đàn ông các dân tộc Thái, La Ha, Kháng…góp phần tạo ra nguồn thực phẩm không nhỏ trong đời sống mưu sinh
Hệ thống động vật và thảm thực vật ở đây cũng tương đối phong phú Diện tích rừng không còn nhiều do tập quán chặt phá đốt rừng làm nương rẫy của người dân địa phương, tuy nhiên rừng núi vẫn chi phối mạnh đến đời sống kinh
tế, văn hoá, phong tục tập quán của bà con nơi đây, cụ thể là trong việc dùng vật liệu để làm nhà cửa, chế tác công cụ lao động sinh hoạt, thuốc chữa bệnh… Rừng còn là nơi cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào cho đời sống hằng ngày như: nấm hương, măng, mộc nhĩ, rau rừng các loại.v.v
Tóm lại, thiên nhiên nơi đây rất hùng vĩ hoang sơ và giàu có nhưng có phần khắc nghiệt là điều kiện để các dân tộc thiểu số nơi đây dựa vào tự nhiên
để sinh nhai, dựa vào địa hình núi non để lập làng dựng bản cùng với các hoạt động mưu sinh chiếm đoạt tự nhiên Đồng thời tự nhiên cũng in đậm trong dấu
ấn tri thức địa phương và trong mọi thành tố văn hóa của từng tộc người đang sinh sống trong vùng
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Huyện Mường La được chia thành 2 vùng kinh tế trọng điểm:
+ Vùng phía Bắc chủ yếu là đồi núi cao, đất rừng ít, chủ yếu là diện tích đất nông nghiệp
Trang 9+ Vùng phía Nam gọi là vùng trung tâm, đất đai bị thu hẹp do ảnh hưởng của công trình thủy điện Sơn La Vùng này dân cư tập trung đông đồng thời cũng là trung tâm văn hóa, kinh tế chính trị của huyện
Về kinh tế, huyện tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Các thôn bản chủ yếu phát triển các cây nông nghiệp trong đó cây lương thực là chủ yếu như: lúa nước, ngô, lúa nương, sắn Ngoài ra còn có các cây ăn quả như: mận, đào… Vài năm gần đây huyện đã đưa cây cà phê vào trồng trên diện tích đất rừng
Trong những năm qua, cán bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện đã nỗ lực phấn đấu tận dụng mọi thời cơ, khắc phục khó khăn để phát triển kinh tế Nhờ vậy mà kinh tế huyện phát triển khá toàn diện, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng vật nuôi phát triển khá so với mọi năm trước, không có biến động lớn về giá cả và các mặt hàng Huyện chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và đưa ra thị trường để trao đổi mua bán và tiêu thụ sản phẩm Việc trồng cây lương thực, cây hoa màu trên nương và cây lúa nước
ở huyện bước đầu đã có nhiều tiến triển Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân trong 5 năm (2008 -2013) tốc độ tăng trưởng GDP của huyện đạt 7.5%, thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 2,5 triệu đồng, tăng 1,2% so với năm 2012 Năm 2014 hoạt động dịch vụ đạt 5,7 %
Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và phát triển khá toàn diện, diện tích gieo trồng hằng năm là 7.152,8 ha Trong đó cây lương thực có hạt đạt 5.067,1 ha, tổng sản lượng lương thực có hạt năm
2013 đạt 12932 tấn/năm tăng 20,7% tấn so với năm 2012, tiếp tục cải tạo chăm sóc 985 ha cây ăn quả trong đó có các cây: mận, đào, mơ, dứa, xoài…
Chăn nuôi tiếp tục được quan tâm đầu tư, đàn gia súc, gia cầm phát triển cả
về số lượng và chất lượng Năm 2013, tổng đàn gia súc của huyện là 18.710 con, trong đó: đàn trâu 11.788 con, đàn bò 976 con, đàn lợn 3.972 con, đàn dê 1.974 con Đàn gia cầm 41.770 con Các công trình nuôi cá trong ao hồ, nuôi cá trên đồng ruộng được thực hiện có hiệu quả
Trang 10Công tác bảo vệ và phát triển rừng được quan tâm, công tác di dân tái định
cư được tập trung chỉ đạo và được nhân dân đồng tình ủng hộ
Lĩnh vực đầu tư và xây dựng có nhiều chuyển biến tích cực, có sự đầu tư của nhà nước và nhân dân đóng góp với tổng số vốn đầu tư khoảng 721 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp 53 tỷ đồng, tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển và nâng cao mức sống cho nhân dân Trong 5 năm huyện đã huy động được nhiều nhân lực tập trung cho đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng
mở mới 23 tuyến đường với tổng chiều dài 229km
Công tác giáo dục có nhiều chuyển biến, huyện đã phổ cập giáo dục tiểu học chiếm 98%, số con em được đi học và đến trường ngày càng đông Huyện
đã xây dựng mới 16 trường học, 30 phòng nhà công vụ giáo viên, 11 phòng nhà bán trú cho học sinh, xây dựng mới trụ sở làm việc UBND, trạm y tế Trong công tác y tế cũng có nhiều chuyển biến, công tác khám chữa bệnh phục vụ người dân ngày càng được đảm bảo, việc xây dựng các công trình giếng nước nhà tiêu hợp vệ sinh được chú trọng, đã có 26 công trình cấp nước sinh hoạt cho các thôn bản được xây dựng và đưa vào sử dụng
Công tác an ninh - quốc phòng được giữ vững, các tệ nạn xã hội giảm mạnh Lĩnh vực văn hóa xã hội tiếp tục phát triển, hoạt động dịch vụ có những bước phát triển cả về loại hình và quy mô đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân, mạng lưới dịch vụ thương mại, công tác điểm bưu điện văn hóa
xã, đài phát thanh địa phương ngày càng được hoàn thiện và mở rộng
1.2 Đặc điểm văn hóa của người Thái ở huyện Mường La
1.2.1 Tên gọi, nguồn gốc
Từ trước tới nay người Thái ở Tây Bắc nói chung và ở Sơn La nói riêng vẫn tự gọi là "Côn Tay" hay "Phu Tay" (trong đó "Côn" và "Phu" là người,
"Tay" là Thái) cũng giống như người Tày ở vùng Đông Bắc tự gọi mình là "Cần Tày" Tộc Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai) và chia thành 2 ngành: Thái Đen (Táy Đăm) và Thái Trắng (Táy Đón hoặc Táy Khao)
Trang 11Người Thái Đen đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ X Họ cư trú phần lớn ở Tây bắc, các tỉnh Sơn La (trừ huyện Quỳnh Nhai, Phù Yên, Bắc Yên) các huyện Điện Biên, Điện Biên Đông của tỉnh Điện Biên, Tuần Giáo (Lai Châu) và một
số huyện miền núi Thanh Nghệ
Người Thái Trắng vốn là di duệ của nhóm Bạch y, cư trú tập trung ở các huyện: Quỳnh Nhai, Phù Yên, Bắc Yên (Sơn La), huyện Mường Lay, Mường
Tè (Lai Châu), huyện Mai Châu (Hòa Bình), huyện Sa Pa, Bắc Hà của tỉnh Lào Cai
Người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ X người Thái đã có mặt ở thượng nguồn sông Hồng thuộc Vân Nam (Trung Quốc) và các thung lũng lòng chảo Mường Then, Mường So, Mường Lay
Theo các tập sử thi: Táy Pú Xớc và Quắm Tố Mướng của người Thái, vào
khoảng thế kỷ XI nhóm Táy Đăm từ Mường Ôm, Mường Ai, Mường Tung Hoàng do 2 tù trưởng Tạo Xuông và Tạo Ngần chỉ huy quân đội di cư vào khu vực đầu nguồn sông Thao sau đó tiến sang Tây Bắc Đây là cuộc thiên di lớn
nhất của người Thái được sử thi Táy Pú Xớc ghi lại và Mường Lò là quê hương
chính và vùng đất tổ của họ
Từ Mường Lò, người Thái tiếp tục thiên di khắp Tây bắc vào các vùng: Mường Than, Mường Kim, Mường Cang, Mường Tháo xuôi xuống sông Hồng tới Mường Hằng, Mường Nậm, Mường Piu
Đầu thế kỷ XII sau khoảng 3 đời người Thái lại từ Mường lò tràn vào khu vực sông Đà, sông Mã Đây là cuộc thiên di lớn với mục đích chiếm hầu hết đất Tây Bắc, chiếm Mường Then tạo thế trung tâm thu hút người Thái khắp mọi miền
Nhìn chung, bắt đầu thế kỷ XV - XVI các vùng Thái của Việt Nam đã đi vào ổn định nơi cư trú và bắt tay vào việc xây dựng bản mường Miền Tây Bắc Việt Nam phân thành 3 vùng:
- Phía bắc: các mường của người Thái Trắng liên kết với người Lự quy tụ vào trung tâm Mường Lay
Trang 12- Phía nam: các mường Thái Đen và Thái Trắng cũng hình thành và quy tụ vào trung tâm Mường Sang (Mộc Châu - Sơn La)
- Vùng giữa là các mường của người Thái Đen quy tụ vào trung tâm Mường Muổi (Thuận Châu - Sơn La) và Mường La (Sơn La)…
1.2.2 Văn hóa vật chất
Văn hóa vật chất của người Thái nơi đây t hể hiện ở kết cấu làng bản theo lối mật tập ven các con suối , các dải đồi thấp , ven đường Cũng như người Thái nói chung ở Tây Bắc , người Thái Mường La ở nhà sàn với nhiều dáng vẻ khác nhau nhưng phổ biến là nhà sàn 4 mái, mặt bằng hình chữ nhật có hàng hiên chạy dọc lan can , có các hàng cột tròn , vuông xen kẽ nhau Ngày nay ngôi nhà sàn của họ được cách tân hóa đi rất nhiều
Sống định canh định cư từ lâu đời nay trong vùng , người Thái đ ã lấy nông nghiệp trồng trọt làm nguồn sống chính , chiếm lĩnh các cánh đồng , các thung lũng chân núi làm địa bàn tụ cư và hoạt động mưu sinh , kết hợp giữa việc trồng lúa nước và làm nương rẫy với khai thác các sản vật t ự nhiên Loại hình kinh tế nông nghiệp là chủ yếu trong đó phương thức canh tác ruộng nước là chủ đạo Nghề làm ruộng nước với kỹ thuật cao và hệ thống thủy lợi khá hoàn chỉnh bao gồm; mương, phai, lái, lịn, lốc, cọn… Chăn nuôi và nghề thủ công gia đình đóng vai trò làm phụ trợ cho các hoạt động kinh tế
Trong mỗi gia đình Thái thường dành một số lượng đất đáng kể để trồng bông, chàm cung cấp nguyên liệu cho nghề dệt Theo kinh nghiệm của người dân thì loại đất đen là loại đất trồng thích hợp cho cây bông chàm phát triển Sự phân công lao động trong xã hội Thái rất rõ ràng:
"Đàn bà dệt vải, đàn ông đan chài"
(Nhinh hệt phải, trai xan he)
Nó đã trở thành chuẩn mực xã hội trong việc nhìn nhận, đánh giá con người, nhất là đối với người con gái Thái: trai không thạo đan chài là trai biếng, gái không biết dệt vải là gái hư Việc dệt vải luôn gắn với người phụ nữ Thái như một sự phân công lao động tự nhiên theo giới tính Ngay từ nhỏ các em gái
Trang 13Thái đã được hướng dẫn làm quen với công việc này Trước khi lấy chồng, người con gái Thái phải tự tay dệt may quần áo, vải vóc thổ cẩm làm quà tặng cho cha mẹ chồng và chuẩn bị đầy đủ quần áo, chăn đệm…cho gia đình tương lai của mình
Dệt vải là công việc của phụ nữ Thái, sản phẩm của nó bên cạnh giá trị sử dụng còn có giá trị văn hóa rất bền lâu của tộc người này Hơn thế nữa, người phụ nữ Thái lo cái ăn, cái mặc cho cả gia đình không chỉ bởi sự phân công lao động trong xã hội Thái mà còn cả tấm lòng yêu thương của họ dành cho người thân của mình:
"Yêu chồng năng dệt vải, yêu con năng may vá"
(Mặc phùa sắc hệt phải, mặc lụ sắc phùng sửa) Trang phục của phụ nữ Thái rất đẹp và duyên dáng, thanh thoát Một bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Thái bao gồm: áo cánh ngắn (xửa cỏm) đủ màu sắc, cổ áo đứng, hàng cúc áo được đính khuy bạc hình bướm (mác pém), nhện (xính xao), ve sầu (manh ve) chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân ăn nhịp với chiếc váy vải màu đen hình ống, thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây, đeo dây xà tích bạc ở bên hông Đầu đội "khăn piêu" thêu hoa văn nhiều mô-típ trang trí mang phong cách độc đáo
1.2.3 Văn hóa tinh thần
Gia đình của người Thái là gia đình nhỏ phụ quyền Dòng họ giữ vai trò quan trọng trong đời sống mỗi gia đình Quan hệ d òng họ bao gồm : ải nọng (bên nội), lúng ta (bên ngoại ), nhính sao (anh em rể họ nội ) chi phối mạnh đến quan hệ hôn nhân và ứng xử xã hội trong cộng đồng Vai trò của ông cậu (bên vợ) vẫn còn ảnh hưởng lớn đến bên nội Hôn nhân còn mang tính mua bán thể hiện ở việc ở rể và thách cưới Việc cưới hỏi qua nhiều bước trong đó có hai bước cơ bản là: ở rể và đưa gia đình về bên nội
Do tín ngưỡng văn hóa sơ khai và quan niệm vạn vật hữu linh nên các sinh hoạt lễ hội ở đây cũng tương tự như những vùng Thái khác Hầu hết các nghi thức, nghi lễ và nội dung của nó đều mang ý nghĩa cầu mùa là chính Nét đặc
Trang 14sắc thể hiện ở các làn điệu dân ca gắn với các điệu múa x òe, các trò chơi trong lễ hội như ném còn , thi bắn nỏ, hát đối đáp nam nữ
Về tín ngưỡng , người Thái coi trọng việc thờ tổ tiên ma nhà (phi hươn ),
ma ông bà tổ tiên (phi pu pẩu ), ma họ (phi đẳm ) Các lễ cúng nông nghiệp có : cúng ma ruộng (xớ phi nà ), cúng hồn lúa (xớ khẩu khuẩn ), cúng cơm mới (xớ khẩu mớ)…
Tóm lại, văn hóa Thái nơi đây mang tính chất tiêu biểu và nổi trội của văn hóa Thái vùng Tây bắc Trong phạm vi huyện, nó cũng là nền văn hóa mang tính trội , tác động mạnh mẽ đến văn hóa của các tộc người khác trong vùng và đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở Mường La
Trang 15Chương 2
ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI
Ở HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA 2.1 Nguyên liệu trong các món ăn truyền thống của người Thái
2.1.1 Các loại cây lương thực, rau, củ, quả
Lúa (có khầu) là loại cây lương thực chính, được người Thái trồng khá phổ
biến ở Mường La Hiện nay, tại địa phương có nhiều loại lúa khác nhau nhưng được chia ra thành hai nhóm chính bao gồm lúa nếp và lúa tẻ Trong đó lúa nếp gồm có các loại như: Diện, Hương, Cẩm, Mùn, Tiền hương thường dùng để nấu xôi, làm bánh vào các dịp lễ tết hay những ngày đặc biệt trong năm Loại lúa còn lại là lúa tẻ như: Hế, Tám thường được dùng trong các bữa ăn hàng ngày Lúa gạo là loại cây lương thực có vai trò quan trọng trong cơ cấu bữa ăn của nhiều dân tộc trong đó có người Thái Từ xa xưa, người Thái đã biết tận dụng sức nước cùng với những vùng đất trũng, phì nhiêu để trồng cây lúa làm cây lương thực chính; theo thời gian, kĩ thuật lấy nước, canh tác nông nghiệp của người Thái đã dần hoàn thiện và ngày càng được nâng cao, nhiều giống lúa thơm, năng suất đã được gieo trồng góp phần làm nên nét rất riêng trong văn hóa ẩm thực của đồng bào Thái nói chung và người Thái ở Mường La nói riêng
Ngô (phắc đưới) là một trong những loại cây lương thực quan trọng được
đồng bào Thái trồng khá phổ biến ở nhiều nơi Cây ngô chỉ đứng sau cây lúa, ngô không được dùng thường xuyên trong các bữa ăn hàng ngày, nhưng đây lại
là cây lương thực bổ sung thêm nguồn dinh dưỡng quan trọng cho con người Trước đây, do thiếu thốn hoặc gặp khi mất mùa thì ngô được người dân sủ dụng thay cho gạo Hiện nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật làm cho sản xuất
ổn định hơn, nguồn lương thực được đáp ứng đủ, nhưng cây ngô vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu bữa ăn của đồng bào người Thái Ngô trở thành nguyên liệu chế biến các món ăn phụ, làm bánh, độn xôi, nấu chè… tạo nên hương vị độc đáo của các món ăn
Trang 16Sắn (mên có) là cây lương thực dễ trồng và ít bị mất mùa Tận dụng các
khoảng đất rộng trên các chiền đồi, núi hay khu vực xung quanh nhà, người Thái đã trồng sắn cho năng xuất khá cao, mang tính ổn định Hiện nay, sắn được dùng chủ yếu trong chăn nuôi, làm bánh, nấu rượu
Khoai (mên láng) khác với ngô, sắn được trồng thành từng khoảnh, khoai
chỉ là cây lương thực thứ yếu, trồng xen với các loại cây trong vườn, ngoài soi bãi, ven sông suối, trên rìa đồi Khoai là loại cây tương đối dễ trồng nhưng hay
bị côn trùng phá hoại hoặc ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết bất lợi nên khoai thường được trồng trong một thời gian ngắn và bảo quản không được dài
Như vậy, có thể nói rằng nguồn lương thực chính của người Thái gồm lúa, ngô, khoai, sắn, trong đó mỗi loại lại có nhiều giống khác nhau Các loại cây lương thực được người Thái canh tác vào những thời điểm khác nhau trong năm phù hợp với tình hình thời tiết để có thể đạt năng suất cao, sản lượng ổn định Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng, không thể thiếu để chế biến thành các món ăn của đồng bào người Thái ở Mường La, Sơn La
Trước đây người Thái chưa có thói quen trồng các loại rau trong vườn nhà hoặc trên nương và ruộng nước Nhưng hiện nay trong khuôn viên mỗi nhà thường có một mảnh vườn nhỏ, mùa nào thức ấy, các loại rau, các loại măng, các loại cây gia vị được trồng để tự cung tự cấp cho bữa ăn gia đình hàng ngày Trong cơ cấu bữa ăn không thể thiếu được sự hiện diện của nhiều loại rau xanh,
củ, quá bổ sung nguồn dinh dưỡng quan trọng và là thành phần chính của nhiều món ăn ngon, độc đáo:
Rau cải (phắc cạt) gồm nhiều loại như cải bắp, cải be, cải soong, cải ngọt,
cải cúc Đây là những loại rau ưa khí hậu lạnh và mát mẻ, thường được trồng vào vụ thu đông và đông xuân Vào những dịp cuối năm, khi thời tiết mát mẻ thì người Thái bắt đầu gieo trồng các giống rau cải để phục vụ cho bữa ăn hàng ngày, nhờ có chất đất tốt cùng với sự chăm sóc chu đáo mà nguồn rau xanh trong đó có các giống rau cải phát triển tươi tốt, là nguồn nguyên liệu được sử dụng để chế biến các món ăn hàng ngày
Trang 17Rau ngót (phắc ván) là loại cây thường được trồng vào dịp xuân hè khi
thời tiết ấm áp Tận dụng khu vực đất trống xung quanh nhà, đồng bào trồng cây rau ngót để bổ sung thêm nguồn nguyên liệu chế biến món ăn hàng ngày Đây là loại cây dễ trồng, ít phải chăm sóc và có thể chế biến được nhiều món canh khác nhau
Rau muống (phắc bùng) là loại rau dễ trồng trên nhiều loại đất khác nhau
Rau muống là thức ăn quen thuộc và phổ biến trong bữa ăn gia đình, được trồng chủ yếu vào lúc cuối xuân và đầu hè
Su hào là loại cây được trồng nhiều vào dịp đông xuân, bởi đây cũng là
loại cây ưa khí hậu mát mẻ Tuy nhiên, su hào là loại cây đòi hỏi cần phải được chăm sóc cẩn thận do dễ bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết, sâu bọ…
Bầu là loại cây lấy quả được trồng nhiều vào mùa xuân
Bí xanh là loại cây thuộc giống dây leo, được sử dụng làm thực phẩm và
có tính mát giải nhiệt Đây là loại cây dễ trồng, cho năng suất cao và có thể làm nguyên liệu chế biến thành nhiều món khác nhau trong bữa ăn hàng ngày
Cà (mạc khứa) có nhiều loại như cà ghém tím, cà ghém xanh, cà chua, cà
pháo, cà dái dê đây là loại cây cho nhiều quả, có thể chế biến thành nhiều món
ăn khác nhau
Chuối (mạc cuồi) là loại cây được trồng khá phổ biến để lấy quả, thân cây,
hao chuối, củ chuối và quả chuối còn là nguyên liệu để chế biến những món ăn đặc sản Nhiều món ăn lạ, độc đáo được chế biến với sự kết hợp của nhiều loại nguyên liệu khác nhau trong đó có nguyên liệu lấy từ cây chuối
Đậu có nhiều loại khác nhau như đỗ tương, đỗ xanh, đỗ đen Đây là các
thực phẩm có hàm lượng đạm và vitamin cao, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể con người, dễ bảo quản và chế biến
Lạc và vừng là những loại thực phẩm chứa nhiều tinh dầu thực vật, vitamin
và đạm thực vật, rất tốt cho sức khỏe con người và có thể thay thế một phần thức ăn động vật trong cơ cấu bữa ăn
Trang 18Trong việc chế biến các món ăn, các loại cây lương thực, rau, củ, quả… là phần không thiểu thiếu Tuy nhiên, để cho các món ăn được thơm ngon, tăng thêm phần hấp dẫn, tăng cường sức đề kháng và giúp phòng chống một số bệnh tật, người Thái có nhiều gia vị để cho vào từng món ăn khác nhau một cách thích hợp Những loại cây gia vị dùng cho các món ăn được trồng rất nhiều trong vườn nhà hoặc được lấy tự tự nhiên
Những loại cây gia vị lấy lá gồm có: Cây rau húng, cây rau mùi, mùi tàu,
lá tía tô, lá lốt, rau răm hầu như các gia đình đều tự cấp được các loại cây gia
vị này, vì đây đều là các cây dễ trồng, phù hợp với nhiều loại thời tiết khác nhau Tùy từng mùa mà người Thái lại tận dụng các loại cây gia vị khác nhau
để chế biến thêm vào các món ăn, tạo nên nét độc đáo rất riêng trong món ăn của đồng bào người Thái ở Mường La
Những loại cây lấy lá củ gồm có: Hành là cây có mùi thơm, là gia vị rất
phổ biến và phù hợp với nhiều món ăn, như lấy lá và củ thái nhỏ trộn lẫn với thịt băm viên rồi nướng chả, kho thịt Tỏi thường được sử dụng trong các món xào, như món măng đắng xào tỏi hay dùng làm nước chấm
Những loại cây lấy củ bao gồm: Gừng thường sử dụng để chế biến các
món nấu , như thịt gà kho gừng Củ riềng có vị cay và nóng, thường được rửa sạch, giã nát để nấu thịt chó Củ nghệ, được dùng để chế biến với món thịt gà nấu canh, là món ăn bổ máu, rất thích hợp với sản phụ Củ sả thuộc loại cây thân thảo, được trồng ở các góc vườn, có mùi thơm mát, đồng bào thường cắt phần thân và phần củ, thái nhỏ, đập dập trộn với thịt và ninh nhừ
Cây lấy quả: Chủ yếu là ớt Ớt là loại cây gia vị rất phổ biến ở vùng người
Thái và một số dân tộc khác Ớt tạo nên hương vị đặc biệt cho các món ăn cùng với đó là các loại nước chấm đi kèm
Cây vừa lấy lá, quả tiêu biểu như chanh Đây là loại cây có mùi thơm, tính
mát Lá chanh là gia vị chính cho thịt gà luộc Quả chanh được dùng để pha cùng muối hay nước mắm làm thức chấm, hay hòa với đường và muối làm nước uống giả khát trong những ngày hè nóng nực
Trang 19Bên cạnh những loại cây được người Thái trồng trong vườn nhà hoặc trên nương làm nguồn nguyên liệu phục vụ cho các bữa ăn hàng ngày trong gia đình thì đồng bào còn tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên như các loại măng, rau rừng… đây là nguồn nguyên liệu khá phong phú với nhiều chủng loại khác nhau được tận dụng, chế biến thành nhiều món ăn độc đáo góp phần tạo nên nét riêng biệt trong văn hóa ẩm thực của người Thái ở Mường La
2.1.2 Nguồn thực phẩm từ chăn nuôi
* Các loại gia súc, gia cầm
Trâu bò được nuôi với mục đích chủ yếu là lấy sức kéo (vận chuyển phân
bón, cày, bừa ) Nhiều gia đình có điều kiện còn nuôi trâu bò với số lượng lớn, bên cạnh việc lấy sức kéo còn để lấy thịt Trong những dịp lễ tết, cưới hỏi hoặc những ngày quan trọng thì đây là nguồn nguyên liệu được sử dụng để chế biến tạo thành nhiều món ăn độc đáo, kĩ thuật chế biến cầu kì với hợp với nhiều loại gia vị khác nhau
Lợn là vật nuôi phổ biến ở hầu hết các gia đình người Thái Tận dụng được
lượng thức ăn dư thừa, các loại rau… phục vụ cho chăn nuôi Thịt lợn được đồng bào chế biến thành nhiều món ăn ngon, độc đáo được nhiều người biết tới
Gà, vịt, ngan là vật nuôi không thể thiếu trong mỗi gia đình người Thái bởi
nó là nguồn cung cấp thực phẩm tại chỗ, thường xuyên và là nguồn thực phẩm tươi sống dự trữ cho các dịp lễ, tết, nghi lễ cúng bái, khi nhà có khách, người
ốm hoặc có việc đột xuất là có thể đáp ứng ngay
* Các loại thủy sản
Nói tới các món ăn của người Thái thì không thể không nói tới các món ăn được chế biến từ cá Ngày nay nhiều gia đình người Thái đã phát triển chăn nuôi thủy sản, chủ yếu là các loài cá nước ngọt như cá trắm, cá trôi Đồng bào thường đào ao thả cá ngay trong khuôn viên của gia đình Bên cạnh đó là các loại cá được đánh bắt trong tự nhiên Với mỗi loại cá là mỗi cách chế biến khác nhau vì thế món ăn cũng khá đa dạng và phong phú với nhiều hương vị khác nhau
Trang 202.1.3 Đồ uống
Người Thái vừa uống rượu cất, vùa uống rượu cần làm bằng gạo, sẵn Rượu cần (lầu xá) là loại đồ uống khá đặc sắc, không giống bất cứ một loại đồ uống nào khác Nguyên liệu làm rượu khá đơn giản, chỉ là gạo, gạo nếp, ngô và
lá rừng làm men Tất cả nguyên liệu được bỏ vào một cái vại lớn, đóng kín nắp lại, phủ trên cùng một lớp trấu và đem chôn dưới cát ít nhất 30 ngày, rượu càng
để lâu càng lâu Rượu cần được sử dụng trong các lễ hội, cưới xin, tiếp đãi khách quý Nó là biểu tượng của sự trân trọng, lòng mến khách và tính cộng đồng
Rượu cất của người Thái có nhiều cách làm nhưng chủ yếu là cho cơm rượu vào chõ đồ, hơi nước từ nồi thấm qua lớp rượu hấp thụ hơi men sau ngưng kết lại theo ống chảy ra ngoài Tiêu biểu là hai loại rượu: lẩu chôn và lẩu siếu
Lẩu chôn: Người Thái rất tinh tế khi kết hợp sản vật của núi rừng để tạo
nên thứ rượu này Họ dùng loại nếp nương mà ngươi Mông trồng kết hợp với thứ men lá rừng mà chỉ người Thái mói biết công dụng của nó Sau khi ủ men
và chưng cất, họ đã tạo nên một loại rượu cực nặng, chỉ cần uongs vài chén là
đủ say, mặc dù người uống có tựu luống khá cao
Lẩu xiếu cũng có cách chế biến như trên nhưng nó là loài rượu cực nhẹ,
uống mãi không bao giờ say Vì thế người Thái có câu:
“Uống lẩu chôn để nhớ Uống lẩu xiếu để yêu”
Trước kia người Thái dùng nước lã uống, nay nhiều nơi dùng nước đun sôi uống chè khô hay chè xanh, nước lã hay rẽ cây Nam hút thuốc bằng tẩu hay điếu, phụ nữ có người ăn trầu, nhuộm răng đen
2.2 Cách chế biến món ăn truyền thống của người Thái
2.2.1 Chế biến dùng lửa
Là cách làm chín thức ăn bằng nhiệt năng từ lửa Đây là phương thức làm chín thức ăn được con người sử dụng từ hàng ngàn năm qua Các món ăn chế biến qua lửa khá phong phú và đa dạngbao gồm:
Trang 21Món nấu: Nấu cơm, nấu cháo Các nguyên liệu được làm sạch, kết hợp với
các loại gia vị khác nhau và được đun sôi, làm chin trên lửa
Nấu canh: Nguyên liệu chính là các rau, củ quả và cá, thịt, xương Cách
thức chế biến tùy thuộc vào từng món ăn: Với các món canh rau cơ bản thì người ta xào qua rau với mỡ, gia vị ròi chiêm nước vào đun sôi; với các món canh xương thì xương được ninh nhừ trước khi cho rau, củ, quả vào, với các mon canh thịt và rau sẽ được xào riêng rồ mới nấu thành canh
Món nướng (pình): Hầu như trong ẩm thực của dâ tộc nào cũng ưa món
nướng, cách thức vừa đơn giản, không mát thời gian lại không cần dùng đến các loại gia vị khác phù hợp với điều kiện từng nhà, trên nương rẫy hay đi rừng Người ta dùng một cọng tre, xuyên qua miếng thịt hoặc dọc thân con cá rồi đem nướng
Món hấp: Là cách đặt thức ăn vào trong nồi cơm khi cơm vừa cạn, những
món để hấp là những món dễ chín như cà chua, khoai lang, trứng gà, mướp đắng do tính chất tiện lợi và chỉ cần số lượng ít nên đồng bào thường tận dụng nồi cơm để hấp thức ăn
Món xào (xao): Được dùng nhiều vào mùa đông, xuân hơn mùa hè Do
tính chất nóng bức của mùa hè, người ta thường ăn nhiều món luộc hơn để thanh nhiệt cơ thể, mùa đông lạnh, ăn những món xào sẽ cung cấp nhiều năng lượng hơn Cách thức xào khá đơn giản , mỡ được đun nóng trong chảo gang sau đó mới cho rau, các gia vị khác như tỏi, cà chua, gừng, hành, mùi vào xào
Món đồ (nừng): Dụng cụ đồ thức ăn bao gồm một chiếc chảo gang và
chiếc chõ bằng gỗ Trong chõ bằng gỗ người ta đục lỗ ở phía trong để có thể lót vào đó một tấm mành đan bằng tre, đặt trên lớp mành đó miếng xơ mướp để làm giá đỡ thức ăn và giữ nhiệt cho thức ăn
Món luộc: Là chế biến đơn giản nhất trong các cách chế biến món ăn và lại
hay được sử dụng trong các bữa ăn ngày thường, thức ăn chỉ cần cho vào nồi nước và bắc lên bếp đun đến khi chín là được
Trang 22Món rán: Là món ăn được chế biến rất đơn giản Để rán một loại thực
phẩm cần một chiếc chảo gang và một ít mỡ, thức ăn sau khi được làm sạch mới được thả vào chảo mỡ nóng già, lật qua các mặt cho chín đều
Món lam (lám): Là cách làm chín cơm, rau, thịt bằng cách cho vào ống
tre, ống nứa cùng với một ít nước rồi bịt kín ống lại và đốt với lửa cho đến khi cháy phần vỏ ống bên ngoài là được
2.2.2 Chế biến không dùng lửa
Là phương thức chế biến món ăn sống, có món được làm từ thứ nguyên liệu , có món được làm từ nhiều thứ nguyên liệu kết hợp, do đó cách làm cũng khác nhau
Món chua: Là cách ủ kín thức ăn cho lên men làm thức ăn có vị chua, tùy
loại nguyên liệu có cách muối chua khác nhau như măng chua, cà muối, rau muối, cá chua Đây là phương thức được người Thái ở Mường La khá ưa chuộng vì cách thức chế biến không quá phức tạp, có thể chiến biến nhiều món
ăn khác nhau với hương vị độc đáo tiêu biểu như món cá chua
Món gỏi: Người Thái có món Pá cỏi, là loại cá nhỏ bằng ngón tay út hoặ
cá to thái mỏng, đem gói trong các loại rau thơm, gia vị và chấm với nước mẻ chưng Trước khi ăn, cá được thả vào chậu nước dấm chua để cá nhả hết chất bẩn trong ruột ra
Món sống: chủ yếu là rau sống, các loại rau thơm, xà lách, rau húng, rau
mùi, cải non sau khi được hái về đem rửa sạch là ăn được Khi ăn chấm với một số loại nước chấm như mẻ chưng, cà chua chưng, nước mắm,
2.3 Một số món ăn truyền thống của người Thái ở huyện Mường La
Ẩm thực dân tộc Thái tương đối đặc sắc và đa dạng, đặc biệt người Thái sử dụng rất nhiều gia vị để chế biến các món ăn, người ta dùng gia vị nóng để trung hòa những món ăn lạnh, lấy vị chát bùi trung hòa vị đắng cay… Dùng nhiều loại côn trùng, rau, măng khai thác trong rừng để chế biến thức ăn Các món ăn của người Thái chủ yếu là nướng và đồ, nhưng để dành ăn dần thì người
ta cũng chế biến các món mắm, làm thịt, cá khô…
Trang 23- Pịa – món ăn độc đáo của người Thái ở Sơn La
Pịa nằm trong danh sách những món ăn đặc trưng của người Sơn La Là một món ăn có từ lâu đời và được nhiều người ưa thích Nguyên liệu để chế biến món Pịa là từ những động vật ăn cỏ như trâu, bò, dê… Nhưng Pịa bò và Pịa dê vẫn phổ biến nhất Chế biến Pịa cần chuẩn bị đủ nguyên liệu từ các bộ phận của bò, dê như tiết canh đông, sụn, đuôi, thịt, bạc nhạc, lòng, dạ dày, gan… Điều đặc biệt tạo nên đặc trưng của món Pịa là nó cần cả phần phân non của bò hay dê (ở khoảng giữa dạ dày và ruột già - tiếng Thái gọi là Pịa vì thế món này có tên là Nậm Pịa)
Cách chế biến món Pịa gần giống như món thắng cố Nhưng để nấu ngon được thì chỉ có người dân bản địa mới có cách chế biến riêng Phần ruột non ngay sau khi được lấy ra phải dùng lạt thắt chặt hai đầu ngăn cách với ruột già
và dạ dày, để chất nhũ tương trong ruột non không pha tạp Chất dịch nhũ tương trong ruột non là phần quan trọng nhất, nó mang vị đắng của mật, vị ngọt của protein
Sau khi chuẩn bị được Pịa và các nguyên liệu xong xuôi và bảo quản cẩn thận để tránh ruồi nhặng, người ta bắc nồi nước ninh xương bò hoăc dê trong nhiều giờ cho đến khi nước dùng có đủ vị ngọt và vị ngậy thì mới đổ tất cả những nguyên liệu thịt, sụn và lục phủ ngũ tạng vào nồi ninh Sau đó tiếp tục ninh trong nhiều giờ liền cho đến khi nước chuyển thành một nâu sệt thì cho Pịa vào ninh trong khoảng một giờ đồng hồ nữa
Gia vị đặc trưng của món Pịa là mắc khén (một thứ gia vị từ cây rừng) cùng nhiều gia vị khác như sả, ớt… Để tạo nhiều vị cho Pịa, người ta cho thêm mật bò và lá đắng trong rừng Sự đa dạng về nguyên liệu và gia vị khiến Pịa có mùi vị đặc trưng, mùi thơm của gia vị, vị đắng của lá đắng và vị ngọt ngậy của xương và của pịa
Món Pịa lúc đầu sẽ thấy hơi khó ăn Nhưng ăn vài lần lại thấy hay với cái
vị đắng, cay cay thơm thơm của ma khén có khi nghiện lúc nào không biết