1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hệ thống theo dõi chất lượng và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng ở huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa

120 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là chính sách đầu tiên về lâm nghiệp đã coi việc bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của rừng là các dịch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

- -

HÀ MINH TÂM

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG THEO DÕI

CHẤT LƯỢNG VÀ CƠ CHẾ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

- -

HÀ MINH TÂM

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG THEO DÕI

CHẤT LƯỢNG VÀ CƠ CHẾ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HOÁ

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS PHÙNG VĂN KHOA

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn "Nghiên cứu xây dựng Hệ thống theo dõi chất lượng và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa" được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam theo chương

trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp - Khoá 19A, giai đoạn 2011 - 2012

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã được Khoa Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Lâm nghiệp, Kiểm lâm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thanh Hóa và các cấp chính quyền địa phương đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả thu thập tài liệu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS Phùng Văn Khoa (người hướng dẫn khoa học) đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn Khoa đào tạo sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập cũng như thực hiê ̣n luận văn Qua đây, tác giả xin cảm ơn Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Lâm nghiệp, Kiểm lâm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thanh Hóa và các cấp chính quyền địa phương huyện Thường Xuân đã cung cấp những thông tin, tư liệu cần thiết và

tạo điều kiê ̣n cho tác giả thu thập số liệu phục vụ cho luận văn tốt nghiệp

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng đề tài sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp

Tôi xin cam đoan số liệu thu thập và kết quả tính toán là hoàn toàn trung thực và được trích dẫn rõ ràng

Hà Nội, tháng 03 năm 2013

Ta ́ c giả

Hà Minh Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT V MỤC LỤC BẢNG BIỂU VI MỤC LỤC HÌNH VẼ VII

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 3

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.1.1 Các hoạt động của PES ở Mỹ La Tinh 4

1.1.2 Các hoạt động PES ở Châu Âu 7

1.1.3 Các hoạt động PES ở Châu Á 7

1.1.4 Hoạt động PES tại Châu Úc 10

1.1.5 Nhận xét Từ các mô hình PES ở các nước cho thấy: 10

1.2 Tại Việt Nam 11

1.2.1 Những nghiên cứu về chi trả DVMTR tại Việt Nam 11

1.2.2 Kinh nghiệm của Lâm Đồng trong vấn đề thiết lập hệ thống giám sát và đánh giá PES 15

1.2.3 Kinh nghiệm của Lâm Đồng và Sơn La trong quản lý, sử dụng và chi trả tiền DVMTR 16

1.1.4 Nhận xét về kết quả thực hiện PES ở nước ta 18

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG 21

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 21

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

2.3 Nội dung nghiên cứu 21

2.4 Phương pháp nghiên cứu 22

2.4.1 Phương pháp luận 22

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 23

Trang 5

2.4.3 Phương pháp chuyên gia 24

2.4.4 Phương pháp xác định lưu vực, diện tích rừng, xác định chủ quản lý, hệ số K điều chính mức chi trả cho từng lô rừng trong lưu vực 24

2.4.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 27

CHƯƠNG 3 28

KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 28

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 28

3.1 Điều kiện tự nhiên 28

3.1.1 Vị trí ranh giới 28

3.1.2 Địa hình, địa thế 28

3.1.3 Khí hậu thời tiết 29

3.1.4 Thuỷ văn 30

3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 30

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

3.2.1 Dân số và lao động 32

3.2.2 Thực trạng kinh tế qua các giai đoạn trên địa bàn huyện 32

3.2.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội trên địa bàn huyện 33

CHƯƠNG 4 38

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Hiện trạng rừng và tình hình quản lý và bảo vệ rừng huyện 38

4.1.1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp 38

4.1.2 Tình hình thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng 47

4.2 Kết quả rà soát, thống kê các đối tượng sử dụng và cung ứng DVMTR trong lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt 53

4.2.1 Kết quả xác định lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt 53

4.2.2 Kết quả rà soát, thống kê các đối tượng sử dụng DVMTR 55

4.2.3 Kết quả rà soát, thống kê các đối tượng cung ứng DVMTR 56

4.3 Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ chi trả DVMTR tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt 63

Trang 6

4.3.1 Xác định hệ số K điều chỉnh mức chi trả DVMTR của các lô rừng 63

4.3.2 Xác định tiền chi trả DVMTR cho các chủ rừng trong năm 2012 66

4.4 Đề xuất Hệ thống theo dõi và đánh giá chất lượng dịch vụ môi trường rừng tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt 71

4.4.1 Đánh giá các trạm quan trắc thủy văn đã có trong khu vực 71

4.4.2 Đề xuất Hệ thống theo dõi và đánh giá chất lượng dịch vụ môi trường rừng tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt 72

4.5 Đề xuất cơ chế quản lý sử dụng và chi trả dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Cửa Đạt, huyện Thường Xuân 85

4.5.1 Những căn cứ pháp lý làm cơ sở đề xuất 85

4.5.2 Nội dung cơ chế quản lý sử dụng và chi trả dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Cửa Đạt, 85

4.6 Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện chi trả DVMTR tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt, huyện Thường Xuân 95

4.6.1 Giải pháp tổ chức thực hiện chi trả DVMTR 96

4.6.2 Giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững diện tích rừng cung cấp DVMTR tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt 98

4.6.3 Giải pháp về cơ chế chính sách: 100

4.6.4 Năng lực phục vụ giám sát và đánh giá chi trả DVMTR: 101

4.6.5 Giải pháp về vốn 102

CHƯƠNG 5 104

KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KHUYẾN NGHỊ 104

5.1 Kết luận 104

5.2 Tồn tại 105

5.3 Khuyến nghị 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

I Tài liệu tiếng Việt: 107

II Tài liệu tiếng Anh: 110

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DVMTR Dịch vụ môi trường rừng

PES Chi tra ̉ di ̣ch vu ̣ hê ̣ sinh thái

HST Hệ sinh thái

FONAG Quỹ bảo tồn nước quốc gia

CTO Chứng chỉ hấp thụ các bon thương mại

GEF Qũy Môi trường Toàn cầu

IFAD Quỹ phát triển Nông nghiệp Quốc tế

ICRAF Trung tâm Nông – Lâm Thế giới

GTZ Tổ chức hợp tác phát triển Việt Nam và Đức

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PAM Chương trình lương thực thế giới

PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng

QLRBV Quản lý rừng bền vững

UBND Uỷ ban nhân dân

WTO Tổ chức thương mại quốc tế

ĐHLN Đại học lâm nghiệp

GĐGR Giao đất, giao rừng

HGĐ Hộ gia đình

KNTS Khoanh nuôi tái sinh

NLKH Nông lâm kết hợp

Trang 8

MỤC LỤC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1 Diện tích tự nhiên và cơ cấu sử dụng đất huyện Thường Xuân 38

Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp huyện Thường Xuân 39

Bảng 4.3 Hiện trạng trữ lượng rừng theo diện tích huyện Thường Xuân 40

Bảng 4.4 Hiện trạng rừng và đất rừng phân phân theo chủ quản lý 40

Bảng 4.5 Số lượng các loài thực vật trong lưu vực 45

Bảng 4.6 Một số nhóm động vật ở lưu vực 47

Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu phát triển rừng 49

Bảng 4.8 Diện tích tự nhiên lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt 54

Bảng 4.9 Diện tích đất có rừng phân theo chức năng và theo ranh giới hành chính các xã trong lưu vực 57

Bảng 4.10 Diện tích đất chưa có rừng phân theo chức năng và theo ranh giới hành chính xã trong lưu vực thủy điện Cửa Đạt 60

Bảng 4.11 Diện tích rừng đặc dụng phân theo trạng thái 61

Bảng 4.12 Diện tích rừng phòng hộ phân theo trạng thái 62

Bảng 4.13 Diện tích rừng sản xuất phân theo trạng thái 62

Bảng 4.14 Bảng tra hệ số K điều chỉnh mức chi trả cho các lô rừng thực tế 66

Bảng 4.15 Bảng tổng hợp tiền chi trả DVMTR của các tỉnh 68

Bảng 4.16 Bảng tổng hợp kết quả xác định diện tích rừng quy đổi theo hệ số K cho các chủ rừng trên địa bàn huyện Thường Xuân 69

Bảng 4.17 Bảng tổng hợp kết quả xác định số tiền chi trả cho chủ rừng trên địa bàn huyện Thường Xuân theo hệ số K quy đổi 70

Bảng 4.18 Tiêu chí và chỉ số giám sát đánh giá chất lượng DVMTR tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt 79

Trang 9

địa phận Việt Nam) 55

Hình 4.3 Hiện trạng quy hoạch 3 loại rừng tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa

Đạt (thuộc địa phận huyện Thường Xuân) 58

Hình 4.4 Hiện trạng tài nguyên rừng theo trạng thái tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy

điện Cửa Đạt (thuộc địa phận huyện Thường Xuân) 59

Hình 4.5 Bản đồ bố trí các tổ đội quan trắc thuỷ văn môi trường 77 Hình 4.6 Đề xuất mô hình chi trả DVMTR gián tiếp tại Thường Xuân 89

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một trong những hướng

đi quan trọng của Chính phủ Việt nam, nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch khoảng 44% diện tích của quốc gia cho phát triển lâm nghiệp Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng (chi trả DVMTR) đã được Chính phủ áp dụng thí điểm trên địa bàn các tỉnh Lâm Đồng và Sơn La Sau hơn 2 năm thực hiện thí điểm chính sách chi trả DVMTR, chúng ta đã thu được nhiều kết quả tích cực

và những bài học kinh nghiệm ban đầu Ước tính tại các vùng rừng thí điểm, không còn xảy ra tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp và số vụ vi phạm về lâm luật (chặt, phá, đốt rừng ) đã giảm hơn 50% Bên cạnh đó là sự đồng thuận cao của các cấp, ngành, các hộ đồng bào dân tộc, đặc biệt là các hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa Nhiều hộ dân hưởng ứng chính sách thí điểm đã xin được nhận khoán thêm rừng để quản lý bảo vệ và phát triển

Để góp phần nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ, khai thác nguồn lợi rừng một cách chặt chẽ, hiệu quả Ngày 24/9/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả DVMTR Đây là chính sách đầu tiên về lâm nghiệp đã coi việc bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của rừng là các dịch vụ, mọi cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức trong xã hội được

sử dụng và hưởng thụ các dịch vụ này phải trả tiền cho những người trực tiếp cung ứng Thực hiện chính sách là bước đổi mới quan trọng để chuyển nền lâm nghiệp Việt Nam phát triển phù hợp với quy luật của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, nhằm phát huy các giá trị sẵn có của lâm nghiệp, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững và trường tồn của đất nước; góp phần cùng với những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ

Trang 11

môi trường, chống suy thoái rừng, ngăn chặn các tác hại của biến đổi khí hậu toàn cầu, mà Việt Nam là một trong những nước sẽ bị thiệt hại nặng nề nhất

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện chính sách tại các tỉnh thí điểm và đang được triển khai nhân rộng trên địa bàn

cả nước thì vấn đề chia sẻ lợi ích của DVMTR tại mỗi địa phương vẫn chưa rõ ràng, thêm vào đó hiện vẫn đang trong tình trạng thiếu Hệ thống theo dõi và đánh giá chất lượng dịch vụ (người mua phải trả tiền nhưng không được biết chất lượng của dịch vụ) Vì vậy, việc thực hiện chính sách đã gặp không ít khó khăn và trở ngại, đặc biệt là ở các tỉnh thành mới bắt đầu triển khai thực hiện, như Thanh Hóa nói riêng cũng như các địa phương khác nói chung

Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, có 627.833 ha rừng

và đất lâm nghiệp, chiếm 56,44% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Trong đó diện tích có rừng 540.740 ha, độ che phủ 49,2% là một trong những tỉnh có độ che phủ rừng cao trong cả nước Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, những người làm nghề rừng, tái tạo rừng ở đây chỉ được hưởng một phần giá trị sử dụng trực tiếp hoặc tiền công do Nhà nước chi trả, còn giá trị sử dụng gián tiếp của rừng thì chưa được quan tâm Nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh nói chung và huyện Thường Xuân nói riêng theo hướng xác định rõ lợi ích, quyền hạn và nghĩa vụ của các đối tượng được được chi trả và phải chi trả tiền DVMTR theo chất lượng rừng cung cấp; đồng thời bổ sung cơ sở lý luận và thực tiển cho việc chi trả DVMTR tại huyện Thường Xuân, cần thiết phải nghiên cứu, xây dựng một Hệ thống theo dõi chất lượng và đề xuất được một cơ chế chi trả DVMTR khoa học, đúng pháp luật và đạt đồng thuận cao giữa các bên trong việc thực hiện chính sách Xuất

phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài "Nghiên cứu xây dựng Hệ thống theo dõi chất lượng và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa"

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Trên thế giới

Chi trả di ̣ch vu ̣ hê ̣ sinh thái (Payment for ecosysterm servieces - PES) hay cò n go ̣i là chi trả di ̣ch vu ̣ môi trường là mô ̣t lĩnh vực hoàn toàn mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó

đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước Sự phát triển của DVMTR ngày càng được lan rộng và ở một số nước thì DVMTR còn được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật Hiện nay, DVMTR đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội

Trên thế giới chi trả DVMTR đã được chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20, đến nay đã được đề cập và thực thi ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới [16] Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình chi trả DVMTR sớm nhất và chính phủ một số nước Châu Âu cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình chi trả DVMTR [21] Cho đến nay, hàng trăm sáng kiến mới về dịch vụ môi trường đã được xây dựng trên khắp toàn cầu, như:

Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình PES sớm nhất Và PES đã bắt đầu thực hiện ở các nước Châu Á, mà điển hình là dự án

“RUPES – Xây dựng cơ chế mới để cải thiện sinh kế và an ninh tài nguyên cho cộng đồng nghèo vùng cao ở Châu Á”, và đã thu được một số thành công nhất định trong công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho nhân dân vùng đầu nguồn Ở Châu Phi, mặc dù cũng đã cố gắng nghiên cứu, đánh giá điều kiện thực hiện PES, tuy nhiên, tiềm năng và cơ hội còn rất hạn chế ở châu lục này Hiện tại, chỉ có hai chương trình về dịch vụ thủy văn đang được thực hiện ở Nam Phi và một số ít sáng kiến đang được đề xuất ở

Trang 13

Nam Phi, Tunisia, Kenya Ở Châu Âu, Chính phủ một số nước cũng đã lưu tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình PES Ở Châu Úc, đã pháp luật hóa quyền phát thải cacbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ cacbon của rừng

1.1.1 Các hoạt động của PES ở Mỹ La Tinh

Hoa Kỳ đã áp dụng PES sớm nhất và khá thành công: Điển hình là: Hawai, áp dụng chính sách mua lại đất hoặc mua nhượng quyền để bảo tồn nhằm bảo vệ rừng đầu nguồn để duy trì nguồn nước mặt và nước ngầm phục

vụ đời sống sinh hoạt và tạo điều kiện phát triển nông nghiệp, du lịch [10]

Ở Oregon, Portland, nhằm bảo tồn và phát triển cá hồi và môi trường sinh thái của chúng, họ đã phát triển du lịch sinh thái, lấy dòng sông cá hồi đẻ

là nơi tham quan du lịch, lấy khu rừng được khai thác quá mức xưa kia là nơi giáo dục cho học sinh, sinh viên, du khách về ý thức bảo vệ rừng [14]

Ở New York, chính quyền thành phố đã thực hiện các chương trình mua đất để quy hoạch và bảo vệ vùng đầu nguồn và nhiều chương trình hỗ trợ các chủ đất áp dụng phương thức quản lý tốt nhất nhằm tích cực hạn chế các nguy cơ ô nhiễm đối với nguồn cung cấp nước thành phố Các hoạt động hỗ trợ sản xuất cho chủ đất được đầu tư từ nguồn tiền nước bán cho người sử dụng nước thành phố, kể cả du khách Chính quyền thành phố cũng đã lập ra công ty phi lợi nhuận để tiếp thu nguồn kinh phí này và hỗ trợ các hộ nông dân là chủ rừng đã nhượng quyền sử dụng đất cho thành phố [16]

Ecuador: Các chính sách đa dạng sinh học quốc gia giúp tạo các thị trường dịch vụ hệ sinh thái Năm 1999, những cải cách quy chế cho phép khu vực công cộng phân bổ nguồn lực cho cơ chế tài chính khu vực tư nhân Cũng năm đó, Quỹ bảo tồn nước quốc gia (FONAG) được thành lập để quản lý PES tại lưu vực Quito Theo đó, tất cả các đơn vị công cộng sử dụng nước dành 1% doanh thu đóng góp vào FONAG Việc đóng góp này được thực hiện dưới

Trang 14

hình thức áp phí sử dụng dịch vụ HST vào phí sử dụng nước Mỗi đơn vị đóng góp cho FONAG đều là một thành viên của Ban giám đốc và có quyền biểu quyết theo tỷ lệ mà họ đóng góp Quỹ này được đầu tư cho việc bảo tồn lưu vực đầu nguồn và chi trả trực tiếp cho những người sở hữu rừng

Colombia: Những người sử dụng nước ở thung lũng Cauca đã thành lập các hiệp hội để thu các khoản chi trả tự nguyện cho các gia đình ở lưu vực đầu nguồn

Trung mỹ và Mehico: Có chương trình về dịch vụ môi trường thủy văn (PSA - H), nhằm bảo tồn rừng tự nhiên bị đe dọa nhằm duy trì các dòng chảy

và chất lượng nước Đây là chương trình PES lớn nhất Mỹ La Tinh

Mexico: Thành lập Quỹ Lâm nghiệp Mexico năm 2002 Vào năm 2003, chương trình chi trả dịch vụ môi trường thủy văn được thực hiện, chương trình đã sử dụng phí sử dụng nước để chi trả cho việc bảo tồn những khu vực rừng đầu nguồn quan trọng [16]

Brazil: Chính phủ đã công bố “Chương trình ủng hộ môi trường”, trong

đó, PES được sử dụng để thúc đẩy sự bền vững môi trường ở khu vực Amazon Một số sáng kiến các bon được thực hiện, ví dụ Dự án Plantar được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới (WB), nhằm cung cấp các biện pháp kinh tế cho việc cung cấp gỗ bền vững để sản xuất gang ở bang Minas Gerais Một số thành phố ở miền nam Bazil cung quan tâm đến PES trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn [16]

Bolivia: Hai công ty năng lượng Mỹ đang làm việc với một tổ chức phi chính phủ của Bolivia và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên (TNC) để tài trợ cho việc ngừng khai thác gỗ và các hoạt động khác nhằm mở rộng diện tích và chất lượng của Vườn Quốc gia Noel Kempff với mục đích tăng cường hấp thụ các bon

Costa Rica: Năm 1996, Luật Lâm nghiệp số 7575, xác định các dịch vụ môi trường của hệ sinh thái rừng gồm: giảm phát thải khí nhà kính; dịch vụ thủy văn bao gồm việc cung cấp nước cho người tiêu thụ; bảo tồn đa dạng sinh học, và cung cấp vẻ đẹp cảnh quan về giải trí và du lịch sinh thái Bắt đầu

Trang 15

từ năm 1997, nước này đã tiến hành xây dựng cơ chế chi trả DVMT trên các văn bản luật Theo Luật Lâm nghiệp năm 1997, người chủ sử dụng đất có thể nhận được sự chi trả cho một số hình thức sử dụng đất bao gồm trồng rừng, khai thác gỗ bền vững, và bảo tồn rừng nguyên sinh Ngoài ra, Costa Rica còn tiến hành xây dựng chương trình chi trả dịch vụ môi trường (PSA) Chương trình chi trả DVMT ở Costa Rica được biểu diễn qua sơ đồ tại Bảng 1.1 [10]

Hình 1.1: Chương trình chi trả dịch vụ môi trường của Costa Rica

Chương trình được giám sát từ ba cơ quan cao nhất của nhà nước thuộc các lĩnh vực khác nhau (như Bộ Môi trường và Năng lượng, Bộ Nông nghiệp

và hệ thống Ngân hàng quốc gia) và hai đại diện từ phía khu vực tư nhân (do

Cơ quan Lâm nghiệp Quốc gia trực tiếp chỉ định)

Nguồn tài chính thu được bao gồm: Thuế nhiên liệu hóa thạch, bán tín chỉ các bon, tài trợ nước ngoài và các khoản chi trả từ các dịch vụ hệ sinh thái Trong đó thuế tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch chiếm 1/3 tổng nguồn thu

Trang 16

của chương trình Ngay từ khi chương trình được đi vào thực hiện, người ta

đã hi vọng rất lớn vào nguồn thu từ việc bán các tín chỉ các – bon Năm 1998, Chính phủ Costa Rica đã tuyên bố bán ra 300 triệu đô la trái phiếu các – bon, hay còn gọi là chứng chỉ hấp thụ thương mại CTO, vì vậy một Tổ chức đặc biệt OCIC đã được thành lập để trợ giúp cho việc mua bán các tín chỉ các – bon Tuy nhiên, kết quả đạt được lại không như mong đợi, chỉ có một hóa đơn duy nhất trị giá 2 triệu đô được bán ra Từ năm 2000, chương trình chi trả dịch vụ môi trường PSA đã được Ngân hàng Thế giới cho vay vốn ưu đãi 32.6 triệu USD nhằm giúp Chính phủ nước này duy trì các hợp đồng dịch vụ môi trường, và Qũy Môi trường Toàn cầu - GEF đã tài tài trợ 8 triệu USD để xem xét sự chi trả từ phía cộng đồng thế giới về dịch vụ đa dạng sinh học mà Costa Rica đang cung cấp Và cuối cùng là, những người được hưởng lợi từ dịch vụ nước (bao gồm: nhà máy thủy điện, nhà máy cung cấp nước, người sử dụng trong nước, các nhà máy) sẽ phải chi trả cho dịch vụ nguồn nước mà họ được nhận Hiện tại, các nhà máy thủy điện đã chấp nhận chi trả cho loại dịch

vụ này Tuy nhiên khoản tài chính thu được từ phía nhà máy thủy điện vẫn con khá nhỏ, khoảng 100.000 đô kể từ khi chương trình được bắt đầu [10]

1.1.2 Các hoạt động PES ở Châu Âu

Pháp: Công ty đóng chai Perrier Vittel đã cung cấp tài chính cho nông dân vùng đầu nguồn và vùng lọc nước để xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp và chuyển sang hoạt động nông nghiệp hữu cơ

Đức: Chính phủ đã đầu tư các chương trình để chi trả cho các chủ đất tư nhân nhằm duy trì hệ sinh thái, ví dụ như, trợ cấp cho sản xuất cà phê và ca cao trong nông dâm, quản lý rừng bền vững [14]

1.1.3 Các hoạt động PES ở Châu Á

Trong những năm đây, các chương trình về PES đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại Châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ,

Trang 17

Nepal và Việt Nam nhằm xác định điều kiện để thành lập cơ chế chi trả dịch vụ môi trường Đặc biệt là Indonesia, Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển hình về chi trả dịch vụ môi trường đối với quản lý khu vực đầu nguồn [16]

Năm 2002, trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD), Trung tâm Nông – Lâm Thế giới (ICRAF) đã hỗ trợ dự án đền đáp cho người nghèo vùng cao cho dịch vụ môi trường mà họ cung cấp (RUPES) tại 6 điểm nghiên cứu hành động Chương trình chi trả cho người nghèo vùng cao đã hỗ trợ việc thiết kế chi trả cho dịch vụ lưu vực sông vì người nghèo tại Kulekhani (Nepan) và Bakun (Philippin) Điều thú vị là tại cả

2 vùng này, người ta đã chọn cách chi trả tập thể Trong trường hợp của Bakun, các quyền sở hữu không chính thức về đất đai do tổ tiên để lại đã được chính phủ thừa nhận và BITO (một tổ chức của người dân bản địa) đã được giao đất

và được giao chuẩn bị và thực hiện một kế hoạch quản lý Việc được giao đất như trường hợp ở Bakun được xem là một hành động chỉ trả cho việc quản lý đất bền vững Về phía cộng đồng, việc chi trả theo hướng vì người nghèo, có nghĩa là tất cả mọi người đều được lợi trong việc trao đổi để tiếp tục cung cấp các dịch vụ lưu vực [11]

Ở Kulekhani, kế hoạch quản lý và kế hoạch hoạt động được xây dựng 5 năm một lần bởi các nhóm quản lý rừng địa phương cùng với Ủy ban Phát triển thôn bản và được trình lên Ủy ban Phát triển huyện để được phê chuẩn

Kế hoạch này được coi là một văn bản pháp quy đặt ra các quy định và điều luật về quản lý rừng và có xu hướng bao trùm cả các cách sử dụng đất thích hợp với PES Phí từ công trình thủy điện đang hoạt động được Hiệp hội Điện lực quốc gia trả cho việc bảo tồn lưu vực là nguồn chi trả cho cộng đồng vỡ các hoạt động sử dụng đất bền vững

Ngoài ra nhằm liên kết người cung cấp dịch vụ môi trường với người sử dụng dịch vụ môi trường trong chương trình thử nghiệm cơ chế chi trả Trong

Trang 18

khi, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với cộng đồng địa phương thường xuyên xảy ra xung đột, và điều đó chứng tỏ rằng cộng đồng vùng cao cũng nhận

ra được tầm quan trọng và vai trò của họ Các doanh nghiệp như nhà máy thủy điện, công ty cung cấp nước thành phố là đối tượng thường không đưa ra cam kết dài hạn với cộng đồng địa phương vì hộ cho rằng đây là mặt hàng không có nhiều người mua để lựa chọn Vì vậy, các kế hoạch chi trả môi trường có thể hợp thức hóa cơ chế chia sẻ trách nhiệm về sinh kế và đạt được mục tiêu kinh tế bền vững việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường bao gồm các hợp đồng bảo tồn giữa người cung cấp dịch vụ và bên hưởng lợi từ dịch vụ [19]

Indonesia: Thành phố Mataram và huyện Tây Lombok thiết lập cơ chế chuyển giao dịch từ các chức năng rừng phòng hộ đầu nguồn Các khách hàng của công ty PDAM (40000 hộ gia đình) ở Mataram đồng ý trả 0.15 – 0.20 USD hàng tháng cho công tác bảo tồn chức năng rừng phong hộ đầu nguồn tại huyện Tây Lombok [19]

Trung Quốc: Loại hình chi trả công cộng đã được tiến hành từ năm

1998 ở Trung Quốc Khi đó, Luật Bảo vệ và phát triển rừng được sửa đổi nhằm thể chế hóa và cho phép hệ thống đền bù HST rừng Giai đoạn 2001 -

2004, hệ thống đền bù HST rừng lần đầu tiên được tiến hành thí điểm làm cơ

sở cho Quỹ đền bù HST rừng được thành lập vào năm 2004 Tháng 6/2007, Quỹ Các bon Quốc gia cũng đã được thành lập với sự hỗ trợ của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (CI), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên (TNC) và Chính phủ Trung Quốc (Cục Lâm nghiệp) nhằm thúc đẩy trồng rừng, quản lý rừng bền vững và bảo vệ rừng của các cộng đồng địa phương cho mục đích hấp thụ các bon Công ty China Petrol, CI, TNC, Chính phủ và một số doanh nghiệp khác đó đóng góp vào quỹ này [19]

Nepal: Ban quản lý rừng địa phương và Ủy ban phát triển thôn bản xây dựng kế hoạch quản lý và hoạt động, trình lên ủy ban phát triển huyện để phê

Trang 19

duyệt Hiệp hội Điện lực quốc gia trả phí từ công trình thuỷ điện đang hoạt động cho hoạt động bảo tồn đầu nguồn, được sử dụng làm nguồn chi trả cho cộng đồng vì hoạt động sử dụng đất bền vững [19]

Tại Ấn Độ: Cơ chế khuyến khích được thực hiện bằng cách tạo nguồn chi trả từ người nhận đến người cung cấp dịch vụ HST thông qua các đóng góp đầu vào, đầu ra hoặc các đền bù cơ hội tại 3 lưu vực sông Quỹ Bảo vệ đập đã được thành lập và hoạt động từ nguồn phí phụ trội thêm vào phí bơm nước theo giờ Các khuyến khích khác bao gồm bảo vệ bãi chăn thả, trồng cây tại bãi chăn thả, chia sẻ nhân công và vật liệu trong việc xây dựng 9 đập nhỏ

1.1.4 Hoạt động PES tại Châu Úc

Tại Australia, loại thỏa thuận thị trường được áp dụng tại bang New South Wales Năm 1998, Pháp chế về quyền các bon ra đời cho phép các nhà đầu tư đăng ký làm chủ sở hữu hấp thụ các bon của rừng [9]

1.1.5 Nhận xét Từ các mô hình PES ở các nước cho thấy:

Chi trả PES được áp dụng khá thành công trong việc bảo vệ môi trường, đặc biệt là công tác bảo tồn đa dạng sinh học; Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết các mô hình chi trả dịch vụ môi trường, thể hiện ở các vấn đề như: xây dựng khung pháp luật và chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính thông qua các chương trình tổng hợp, giám sát quá trình giao dịch các tín chỉ của dịch vụ hệ sinh thái; Kinh nghiệm cho thấy, quá trình thực hiện PES, phải thành lập các quỹ, xây dựng các chính sách hỗ trợ PES, đồng thời đầu tư cho các chương trình điều tra, nghiên cứu về sinh thái, lượng giá kinh tế và môi trường; Việc xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường phụ thuộc vào cơ chế quản lý của mỗi quốc gia Các cơ chế thị trường và thỏa thuận trực tiếp trong thực hiện PES hiện nay thường được thực hiện tại các nước phát triển Trong khi đó, các hình thức chi trả công cộng thông qua các quỹ hoặc trung gian bằng tiền mặt nhưng thường đi kèm hoặc chỉ có các lợi

Trang 20

ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho toàn bộ cộng đồng hoặc các hộ gia đình, lại thường được lựa chọn tại các nước đang phát triển, có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ ngành liên quan

1.2 Tại Việt Nam

1.2.1 Những nghiên cứu về chi trả DVMTR tại Việt Nam

Ở Việt Nam, thuật ngữ dịch vụ hệ sinh thái được sử dụng phổ biến hơn thuật ngữ dịch vụ môi trường bởi vì dịch vụ môi trường đang được hiểu là theo nghĩa bảo vệ môi trường như các vấn đề ô nhiễm Thuật ngữ dịch vụ hệ sinh thái được sử dụng trong dự thảo Luật Đa dạng sinh học và khung chính sách thí điểm của Bộ Nông nghiệp và PTNT Hơn 10 năm qua, khái niệm chi trả dịch vụ môi trường và các ứng dụng của nó đã và đang nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu môi trường, các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam

Việc sử dụng công cụ thị trường để bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và góp phần cải thiện sinh kế không phải là hoàn toàn mới mẻ tại Việt Nam Bắt đầu từ đầu những năm 1990, Chính phủ Việt Nam đã bỏ ra hàng triệu đô la để chi trả cho những người dân bảo vệ rừng đầu nguồn (chủ yếu là chương trình trồng rừng theo Quyết định số 327-CT ngày 15/9/1992 và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định số 661/QDD-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ) Các chương trình này kéo dài cho tới tận ngày nay, giúp bảo vệ hàng triệu ha rừng quý hiếm khỏi bị tàn phá

Gần đây, Chính phủ cũng đang rất nỗ lực để phối hợp với các tổ chức quốc tế xây dựng và thực hiện chương trình Giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng, nhằm góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực do phát thải khí CO2

gây ra Việt Nam đã được chọn là một trong 9 quốc gia được Chương trình giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng của Liên Hợp Quốc trợ giúp để xây dựng chương trình Quốc gia về giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng

Trang 21

Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 quy định "tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học có trách nhiệm trả tiền cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ" và đây cũng là nguồn tài chính cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã đề cập đến việc xây dựng cơ chế chính sách chi trả DVMTR, coi đó là một trong những nguồn tài chính tiềm năng đầu tư lại trực tiếp vào rừng

Hiện tại, Quỹ Bảo tồn Hoang dã Thế giới (WWF) đang thực hiện một

số dự án về các mô hình chi trả DVMTR như bảo vệ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, và du lịch sinh thái; tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) còn thực hiện Dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực ven biển Những dự án này được tổ chức thực hiện trong các chương trình do Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Tổ chức Winrock International Ngoài ra, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) còn thực hiện dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực ven biển

Dự án xây dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ các-bon trong lâm nghiệp, thí điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình do Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường Rừng thực hiện [20]

Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đang đề xuất nghiên cứu đề tài khoa học công nghệ

“Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường đất ngập nước ở Việt Nam”, với mục tiêu đề xuất cơ chế DVMTR phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng hỗ trợ một số hoạt động đánh giá và tìm cơ hội thị trường cho DVMTR ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị

Trang 22

Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng - Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện đề tài "nghiên cứu lượng giá kinh tế môi trường rừng

và dịch vụ môi trường của một số loại rừng chủ yếu ở Việt Nam" Bằng phương pháp xây dựng mô hình SWAT (Soil & Water Assesement Tool), tạo ra những kịch bản để tính toán thiệt hại, đã lượng được giá trị của rừng về hạn chế xói mòn đất và điều tiết nước của một số loại rừng ở lưu vực Sông Cầu và vùng đầu nguồn hồ Thác Bà (thuộc địa giới hành chính các tỉnh: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc và Hà Nội) [15]

Tại Lâm Đồng, Nghiên cứu đã sử dụng Mô hình SWAT-Mô hình đánh giá đất và nước cho hai tình huống khác nhau: bảo vệ độ che phủ rừng hiện tại và chuyển 45.000 héc-ta rừng thông sang làm nông nghiệp Mô hình SWAT

đã được sử dụng để dự báo sự chảy tràn bề mặt và mức phù sa lơ lửng đi vào

hồ chứa Đa Nhim [14] Một mô hình đã được thiết lập xem xét lượng phù sa lắng đọng trong hồ cho hai tình huống Tổng sản lượng điện bị mất đi do sự chuyển đổi giữa hai tình huống đã được ước lượng, và tài chính từ việc sản xuất điện trong thời gian tuổi thọ của hồ chứa Sự thay đổi trong giá trị ròng hiện tại giữa hai tình huống đã được ước lượng, cũng như giá trị ròng hiện tại của các tổn thất Cuối cùng, giá trị của các dịch vụ môi trường mà rừng cung cấp trong việc giảm bồi lắng phù sa lòng hồ đã được ước lượng, làm cơ sở xem xét ban hành Nghị định về chi trả môi trường cấp quốc gia [14]

Chương trình Bảo tồn Đa dạng Sinh học Vùng Châu Á đã hoàn tất một

số nghiên cứu tạo cơ sở cho việc lập kế hoạch du lịch bền vững ngắn hạn và trung hạn tại Lâm Đồng Các nghiên cứu này bao gồm Phương án chọn lựa cho các cơ chế tạo tài chính cho đa dạng sinh học và du lịch; phân tích chi phí

- lợi ích của du lịch bền vững; gắn du lịch và chi trả DVMTR ở Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, Lâm Đồng Kết quả nghiên cứu được đưa ra thảo luận,

Trang 23

Chương trình Bảo tồn Đa dạng Sinh học Vùng Châu Á đã đưa ra mức chi trả

là 0,5 - 2% doanh thu ròng hàng năm của các công ty du lịch [20]

Từ đầu năm 2008, chi trả DVMTR lần đầu tiên được được thực hiện thí điểm tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng theo Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10 tháng 04 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Sau 2 năm thực hiện, kết quả

đã thu được thành công nhất định, rừng được bảo vệ tốt hơn

Tại Sơn La, bên sử dụng dịch vụ được xác định là các nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình, nhà máy thuỷ điện Suối Sập, công ty Cấp nước Phù Yên và công ty Cấp nước Mộc Châu, bên cung cấp dịch vụ là các chủ rừng trên địa bàn 2 huyện thí điểm Mộc Châu và Phù Yên Mức chi trả của từng công ty được xác định dựa trên tổng lượng điện/tổng lượng nước kinh doanh hàng năm trong đó đối với 1Kwh là 20 đồng, 1m3 nước là 30 đồng và bình quân/ha

là 100.432 đồng [23]

Chủ rừng đã nhận được mức chi trả tiền DVMTR như sau: rừng phòng

hộ là rừng tự nhiên 140.243 đồng/ha/năm; rừng phòng hộ là rừng trồng: 126.219 đồng/ha/năm; rừng sản xuất là rừng tự nhiên: 84.146 đồng/ha/năm

và rừng sản xuất là rừng trồng: 70.121 đồng/ha/năm [23]

Tại Lâm Đồng, chương trình thí điểm đã nhận được sự đồng thuận cao của các bên liên quan và hiện nay các nhà máy thuỷ điện Đa Nhim và Đại Ninh đã chi trả khoảng 55 tỷ đồng cho hơn 8.000 hộ dân bảo vệ rừng [23]

Người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tại lưu vực hồ thuỷ điện

Đa Nhim đã nhận được mức chi trả tiền DVMTR là 290.000 đồng/ha/năm; lưu vực hồ thuỷ điện Đại Ninh là 270.000 đồng/ha/năm Tại lưu vực hai nhà máy thuỷ điện, bình quân mỗi hộ gia đình nhận khoán từ 15-20 ha, mỗi năm nhận được khoảng từ 4- 5 triệu đồng [23]

Tuy nhiên, thực hiện chi trả DVMTR tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng còn có những hạn chế nhất định, đó là một số diện tích rừng chưa có chủ quản

Trang 24

lý cụ thể do đó tiền DVMTR chưa được tri trả trực tiếp cho chủ rừng; cơ sở

để tính toán hệ số K điều chỉnh mức chi trả DVMTR ở các tỉnh rất khác nhau (tỉnh Sơn La: hệ số K chưa được dựa trên yếu tốt về mức độ khó khăn, thuận lợi bảo vệ rừng; tỉnh Lâm Đồng: hệ số K chưa được dựa trên yếu tố về trạng thái lô rừng được chi trả)

Căn cứ kết quả thí điểm chi trả DVMTR tại 2 tỉnh Sơn La, Lâm Đồng

và kết quả thực hiện tại một số quốc gia, xét đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT, ngày 24/9/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP

về chính sách chi trả DVMTR để thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước Ngày 13/12/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2284/QĐ-TTG phê duyệt Đề án triển khai Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả DVMTR

Đến nay đã có 24 tỉnh, thành triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR, với tổng số tiền thu được năm 2012 là 1.164.810 triệu đồng (bao gồm cả tiền truy thu năm 2011), năm 2013 dự kiến là 710 triệu đồng [23] Tuy nhiên hoạt động chi trả còn rất hạn chế, ở các tỉnh, thành cơ bản mới thực hiện chính sách mới chỉ thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, đa phần các tỉnh chưa thực hiện chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng, theo báo cáo của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, đến nay các tỉnh mới chỉ giải ngân được 35% tổng số tiền trên Nguyên nhân do nguồn ngân sách tỉnh hạn hẹp nên UBND tỉnh chưa bố trí được vốn để điều tra, rà soát xác định lưu vực nội tính, xác định trạng thái, diện tính rừng và chủ quản lý các khu rừng

1.2.2 Kinh nghiệm của Lâm Đồng trong vấn đề thiết lập hệ thống giám sát và đánh giá PES

Trong quá trình thực hiện PES tại Lâm Đồng, đã nảy sinh nhu cầu hình thành một Hệ thống giám sát, đánh giá nhằm hoàn thiện các thủ tục và đảm bảo cân đối các nhu cầu chính đáng của bên mua cũng như bên bán dịch vụ

Trang 25

Vì vậy, ngày 05/8/2010, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng đã có công văn số 1591/SNN-KH về việc thành lập Ban kiểm tra, giám sát chi trả DVMTR (Gọi tắt là Ban KTGS PES) gửi tới các huyện Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng và Thành Phố Đà Lạt Công văn này quy định rõ thành phần cũng như chức năng, nhiệm vụ của các Ban KTGS PES Tiếp đó, ngày 30/8/2010, UBND thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng đã có Quyết định số 3009/QĐ-UBND về việc thành lập Ban kiểm tra, giám sát chi trả DVMTR thành phố Đà Lạt Theo đó, Ban KTGS PES bao gồm 1 trưởng ban và các thành viên thuộc các đơn vị khác nhau như cán bộ kiểm lâm, cán bộ chính quyền phường xã, cán bộ Trưởng/Phó thôn và người dân Như vậy, Ban KTGS PES ở thành phố Đà Lạt đã được thành lập có cơ sở pháp lỹ rõ ràng, với thành phần và chức năng, nhiệm vụ cụ thể Đây là một trong những cơ sở tham khảo có giá trị cho việc thiết lập hệ thống giám sát và đánh giá PES ở các tỉnh [31]

1.2.3 Kinh nghiệm của Lâm Đồng và Sơn La trong quản lý, sử dụng

và chi trả tiền DVMTR

Nguyên tắc để thực hiện là đặt công việc quản lý quỹ ở cấp thấp nhất

có thể nhưng phải đi kèm với các yêu cầu về hiệu quả, minh bạch và quản lý được Điều này có nghĩa là cấp quốc gia sẽ có vai trò giải ngân từ trung ương xuống cấp tỉnh dựa trên báo cáo của tỉnh được chứng nhận bởi một cơ quan độc lập theo các thông tin trong hệ thống theo dõi, báo cáo và kiểm chứng quốc gia Sau đó, tỉnh sẽ phân phối chi trả cho các cấp hành chính thấp hơn Tất cả các cấp cần có hệ thống giám sát, báo cáo và kiểm chứng riêng [24]

Kinh nghiệm tổ chức chi trả và quản lý Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng

ở Lâm Đồng và Sơn La trong năm 2010 được thể hiện ở Hình 4.4

Đây là hình thức chi trả gián tiếp: Kinh phí chi trả DVMTR do các đối tượng phải chi trả được nộp vào Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Quỹ Bảo vệ

Trang 26

và phát triển rừng là đơn vị được ủy thác, có trách nhiệm thanh toán lại cho các đối tượng được chi trả thông qua các chủ rừng Nhà nước Các đơn vị chủ rừng chi trả tiền công khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cộng đồng dân

cư thông qua hợp đồng khoán bảo vệ rừng

Hình 1.2 Cách thức chi trả và phân bổ dòng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng Lâm Đồng

Sở Nông nghiệp và PTNT cùng với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng đã

tổ chức làm việc với 02 Nhà máy thủy điện Đa Nhim và Đại Ninh để ký Biên bản cam kết thực hiện nộp tiền chi trả DVMTR Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được tính từ ngày 01/01/2009; kỳ nộp tiền được tính theo quý, thời gian chậm nhất là sau 20 ngày kết thúc quý, trường hợp Công ty có khó khăn về nguồn thu thì sẽ kéo dài thêm 10 ngày; thời gian nộp hết kỳ của năm chậm nhất là sau 60 ngày kết thúc năm Dựa theo sản lượng thương phẩm để căn cứ kê khai và nộp tiền

Đối với các đơn vị kinh doanh du lịch, mức chi trả tiền sử dụng DVMTR của các đơn vị kinh doanh du lịch là 1% (theo Quyết định số

Trang 27

3240/QĐ-UBND ngày 03/12/2008 của UBND tỉnh Lâm Đồng) Doanh nghiệp nộp theo từng quý, ngày 25 của tháng cuối quý Tờ khai tự quyết toán

và chứng từ chuyển khoản làm cơ sở hạch toán tiền chi trả DVMTR vào giá thành sản xuất Sau khi thu tiền, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Lâm Đồng căn cứ vào kế hoạch chi trả để thông báo diện tích và kinh phí khoán bảo vệ rừng cho các chủ rừng Các bước chi trả như sau:

(1) Đối với diện tích khoán bảo vệ rừng mới: chủ rừng lập hồ sơ thiết

kế giao khoán gửi Chi cục Lâm nghiệp thẩm định và trình Sở NNPTNT phê duyệt Sau khi hồ sơ thiết kế hoàn thiện, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng ký Hợp đồng chi trả DVMTR với chủ rừng trên diện tích rừng được chi trả;

(2) Đối với diện tích rừng đã có hồ sơ giao khoán cũ (thuộc dự án 661, chương trình 304 và kế hoạch của tỉnh): Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng kiểm tra

hồ sơ trên nguyên tắc: kế thừa hồ sơ, tài liệu giao khoán bảo vệ rừng trước đây

và không làm thay đổi đối tượng, diện tích, địa điểm giao khoán cùng với danh sách hộ nhận khoán có xác nhận của UBND xã, Hạt Kiểm lâm thẩm định và trình UBND huyện sở tại phê duyệt danh sách Sau đó, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tiến hành ký Hợp đồng chi trả DVMTR với chủ rừng [24, 25]

1.1.4 Nhận xét về kết quả thực hiện PES ở nước ta

Tại Việt Nam hơn 10 năm qua, khái niệm PES và ứng dụng của nó đã

và đang nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà ngiên cứu môi trường, các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách Đầu năm 2008, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Nông nghiệp và PTNT xây dựng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho Ngành lâm nghiệp Để thực hiện chính sách này trên phạm vi toàn quốc, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008

về chính sách chi trả DVMTR tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng (năm 2008 và

2009 Ngày 24/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về

Trang 28

chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Nghị định gồm 5 chương và 25 điều và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 [6]

Theo Nghị định 99 thì rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng

là các khu rừng có cung cấp một hay nhiều dịch vụ môi trường rừng gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất với 5 loại dịch vụ môi trường: Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông; Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; Hấp thụ và lưu giữ các bon; Bảo vệ cảnh quan tự nhiên của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên cho nuôi trồng thuỷ sản Và 2 hình thức chi trả: Chi trả trực tiếp: là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo nguyên tắc thỏa thuận; Chi trả gián tiếp: là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch

vụ môi trường rừng [6]

Như vậy chi trả DVMTR là bước ngoặt về chính sách đối với nghề Rừng

ở nước ta Nếu thực hiện tốt sẽ mở ra một trang mới để nghề rừng nước ta có bước phát triển mới; tổng giá trị sản phẩm nghề rừng sẽ đóng góp vào GDP đất nước không phải như hiện nay mà tăng lên nhiều trong những năm tới

Việt Nam là đất nước có diện tích che phủ rừng khá cao, trong đó đặc biệt chứa đựng tính đa dạng sinh học đa dạng và phong phú Hơn nữa, phần lớn diện tích rừng là rừng tự nhiên và đặc dụng có giá trị cao về phòng hộ đầu nguồn ven biển và bảo tồn đa dạng sinh học Bởi vậy, PES có tính khả thi cao và có ý nghĩa rất lớn trong chiến lược phát triển bền vững của cả nước Tuy nhiên, để Nghị định 99 của Chính phủ có tính khả thi và hiệu quả trên phạm vi toàn quốc thì 4 nội dung dưới đây cần phải được đặc biệt quan tâm thực hiện:

Trang 29

- Lượng hóa các giá trị môi trường và dịch vụ môi trường: nhằm xác định giá trị môi trường và dịch vụ môi trường của rừng trong từng trường hợp và khu vực cụ thể liên quan đến các đối tượng hưởng lợi dựa trên các cơ sở khoa học

- Xây dựng và phát triển các cơ chế chi trả DVMTR: các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường như phòng hộ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, lưu giữ hấp thụ các bon…Tuy nhiên không có cơ chế nào có thể áp dụng cho tất cả các trường hợp Do vậy phải nghiên cứu tập hợp các cơ chế chi trả DVMTR

- Tăng cường nhận thức về chi trả DVMTR: sự nhận thức về lợi ích của dịch vụ môi trường phải được tuyên truyền sâu rộng trong các đối tượng hưởng lợi nhằm khởi xướng thị trường hóa các dịch vụ môi trường do rừng đem lại

- Thiết lập quan hệ đối tác hiệu quả: đẩy mạnh hợp tác giữa các đối tượng nghiên cứu và phát triển nhằm hình thành và xúc tiến thương mại hóa dịch vụ môi trường rừng [23]

Từ những vấn đề nghiên cứu trên, việc nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu xây dựng Hệ thống theo dõi chất lượng và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa" là rất cần thiết

Trang 30

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm để đạt được hai mục tiêu sau:

(i) Đề xuất được Hệ thống theo dõi và đánh giá chất lượng dịch vụ môi trường rừng ở huyện Thường Xuân;

(ii) Xác định được cơ chế quản lý sử dụng và chi trả dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Cửa Đạt, huyện Thường Xuân

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

(i) Đối tượng nghiên cứu: vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng tại lưu vực Nhà máy thủy điện Cửa Đạt, huyện Thường Xuân

(ii) Phạm vi nghiên cứu: lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt, huyện

Thường Xuân

(iii) Giới hạn nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu các vấn đề về chi trả DVMTR tại lưu vực Nhà máy thủy điện Cửa Đạt trên phạm vị ranh giới hành chính của huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập chung nghiên cứu những nội dung sau:

(i) Nghiên cứu và đánh giá hiện trạng rừng và tình hình quản lý và bảo

vệ rừng tại huyện Thường Xuân trong những năm gần đây (2008-2012)

(ii) Rà soát, thống kê các đối tượng sử dụng và cung ứng DVMTR trong lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt, huyện Thường Xuân

(iii) Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ chi trả DVMTR tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt, huyện Thường Xuân

Trang 31

(iv) Nghiên cứu đề xuất thiết lập Hệ thống theo dõi và đánh giá chất lượng dịch vụ môi trường rừng tại lưu vực hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt

(v) Đề xuất cơ chế quản lý sử dụng và chi trả dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy thủy điện Cửa Đạt, huyện Thường Xuân

(vi) Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện chi trả DVMTR tại lưu vực

hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt, huyện Thường Xuân

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp luận

Chi trả DVMTR được thực hiện trên cơ sở cam kết tham gia có sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa bên tạo ra các hàng hóa (bên cung ứng DVMTR) thông qua việc bảo vệ, cải thiện hệ sinh thái và bên sử dụng (bên sử dụng DVMTR) DVMTR là một hình thức đã được áp dụng tại một số nước trên thế giới, tuy nhiên nó là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với Việt Nam Chi trả DVMTR cần có sự đồng thuận của các cấp, cách ngành và đặc biệt là các đối tượng cung ứng DVMTR, cần thiết phải nắm bắt được: những băn khoăn của các đối tượng tham gia; tình hình quản lý bảo vệ và sử dụng rừng rừng; nhận thức của họ về chi trả DVMTR Vì vậy, cần phải tham vấn ý kiến phản hồi của những đối tượng là cơ quan quản lý, bên tạo ra các hàng hóa và bên sử dụng để củng cố cơ sở thực tiễn cho việc xác định hệ số điều chỉnh mức chi trả DVMTR cho phù hợp, làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ, phát triển rừng và các giải pháp thực hiện chính sách chi trả DVMTR

Có thể nhận thấy, trạng thái rừng, loại rừng và nguồn gốc hình thành rừng khác nhau sẽ tạo ra các DVMTR khác nhau và theo đó cũng tạo ra các giá trị DVMTR khác nhau Những khu vực khó khăn về bảo vệ rừng sẽ có mức chi phí tạo rừng và bảo vệ rừng cao hơn ở những khu vực thuận lợi về bảo vệ rừng Cần phải nghiên cứu, xác định một hệ số điều chỉnh mức chi trả cho phù hợp với các đặc điểm về trạng thái, loại rừng, nguồn gốc hình thành rừng và mức độ

Trang 32

khó khăn, thuận lợi đối với việc bảo vệ rừng, đảm bảo cho việc chi trả DVMTR được công bằng, minh bạch

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa: Kế thừa các nguồn tài liệu liêu quan đến

nội dung nghiên cứu đã được công bố của các cơ quan có thẩm quyền:

Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: vị trí địa lý địa lý; đặc điểm tự nhiên; sông, suối; khí hậu, thủy văn; dân số; nguồn nhân lực; thực trạng kinh tế - xã hội; thực trạng văn hóa xã hội

Kế thừa kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; kết quả tình hình thực hiện công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng hàng năm;

số liệu giao đất giao rừng; báo cáo thống kê về các Nhà máy thủy điện, nhà máy sản xuất nước, các trạm quan trắc thủy văn và doanh thu của các Nhà máy điện, nhà máy nước hàng năm; những kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới có liên quan đến chi trả DVMTR

2.4.2.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thiết lập hệ thống câu hỏi

phỏng vấn nhà quản lý, chủ rừng và bên cung ứng và bên sử dung và bên trung gian chi trả dịch vụ môi trường rừng về những nội dung liên quan đến quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng; phản hồi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Cụ thể thực hiện phỏng vấn 3 chủ rừng là tổ chức (01 Khu Bảo tồn, 01 Ban quản lý rừng phòng hộ, 01 chủ rừng là lực lượng vũ trang), 25 chủ rừng là hộ gia đình, 2 chủ rừng là tập thể (diện tích rừng giao UBND xã quản lý) và 10 nhà quản lý (hạt kiểm lâm, chi cục lâm nghiệp, Ủy ban nhân dân huyện, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

2.4.2.3 Phương pháp điều tra chuyên ngành: Được sử dụng trong việc

thu thập thông tin về hiện trạng rừng (Điều tra 45 ô tiểu chuẩn theo tuyến ngẫu nhiên hệ thống để kiểm tra, đánh giá hiện trạng rừng giữa bản độ cập nhập diển biến rừng với thực địa); thông tin, cơ sở dữ liệu về công tác hoạt động của thủy

Trang 33

điện, công tác quản lý của các bên trung gian nhằm thu thập đủ thông tin, số liệu

đề xuất Hệ thống theo dõi chất lượng và xây dựng cơ chế chi trả DVMTR

2.4.3 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia được sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện, Cụ thể: Đề tài đã tham kiến ý kiến của 8 chuyên gia trong các lĩnh vực quản lý tài chính, quản lý rừng; tham kiến ý kiến của các bên liên quan tại 03 hội thảo cấp tỉnh (01 Hội thảo về triển khai chính sách chi trả DVMTR; 01 Hội thảo xây dựng cơ chế quản lý sử dụng tiền DVMTR, 01 Hội thảo xác định hệ số K điều chỉnh mức chi trả DVMTR) 02 Hội thảo tại cấp huyện (01 Hội thảo về triển khai chính sách chi trả DVMTR; 01 Hội thảo về đề xuất phương án chi trả DVMTR)

2.4.4 Phương pháp xác định lưu vực, diện tích rừng, xác định chủ quản lý, hệ số K điều chỉnh mức chi trả cho từng lô rừng trong lưu vực

Phương pháp xác định lưu vực, diện tích rừng, xác định chủ quản lý được thực hiện theo nguyên tắc, phương pháp xác định tại Thông tư số 60/2012/TT-BNNPTNT ngày 09/11/2012 của Bộ Nông nghiệp và PTNT

2.4.4.1 Xác định lưu vực cho các Nhà máy thủy điện

Sử dụng kỹ thuật GIS và phần mềm ArcGIS để tạo mô hình số hóa độ cao (DEM) từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000

Dùng máy định vị toàn cầu GPS xác định điểm đầu ra của lưu vực và nhập tọa độ đó vào máy tính, thể hiện nó trên bản đồ mô hình số hóa độ cao

Sử dụng bộ công cụ "Hydrology" trong ArcGIS hoặc phần mềm mở rộng "Hydromodeling" cho ArcGIS để vẽ lưu vực tự động theo nguyên lý đường ranh giới lưu vực đi qua và vuông góc với đường phân thủy, khép kín tại điểm đầu ra của lưu vực

2.4.4.2 Xác định diện tích từng loại rừng và danh sách các chủ rừng có cung ứng dịch vụ và danh sách các đối tượng sử dụng DVMTR

Trang 34

Ứng dụng phần mềm MapInfor để chuyển ranh giới lưu vực đã được xác định lên bản đồ số) diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp năm

2011 Từ bản đồ số diễn biến tài nguyên rừng, sử dụng công cụ Export trong phần mềm Mapinfo để kết xuất dữ liệu sang dạng Table, sau đó chuyển sang Microsoft Office Excel để lọc dữ liệu, sắp xếp và thống kê diện tích rừng theo các loại rừng, chủ quản lý, trạng thái, nguồn gốc hình thành rừng của những

lô rừng có cung ứng DVMTR cho Nhà máy thủy điện Kết quả tổng hợp về diện tích rừng theo Biểu mẫu 2.1, 2.2 (ở phần phụ biểu)

a) Phương pháp điều tra đối tượng được chi trả Việc điều tra, phân loại các đối tượng cung ứng dịch vụ được tiến hành theo các bước:

Bước 1: Thu thập và phân tích dữ liệu, xác định danh sách đối tượng Bước 2: Tổ chức các hội nghị, các cuộc họp để thống nhất danh sách các đối tượng cung ứng dịch vụ (đối tượng được chi trả DVMTR)

Bước 3: Tổng hợp toàn bộ các số liệu thu thập, phân loại đối tượng và các ý kiến tại các hội nghị, hội thảo, cuộc họp cộng đồng để viết thuyết minh

dự thảo quyết định đính kèm dữ liệu danh sách các đối tượng cung ứng và sử dụng DVMTR trong tiến trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR

b)Phương pháp điều tra bên cung ứng dịch vụ và sử dụng DVMTR Tiến hành điều tra, khảo sát các đơn vị trong và ngoài vùng có cung ứng và sử dụng DVMTR; thống kê, lập danh sách các đối tượng (số lượng, địa điểm, doanh thu ) Tổng hợp số liệu thu thập, phân loại đối tượng và tổ chức lấy ý kiến tại các hội nghị, hội thảo để xác định các đúng đối tượng, tránh bỏ sót và tranh thủ sự đồng thuận cao của các cấp chính quyền

c) Xây dựng hệ số K điều chính mức chi trả ứng với lô rừng

Phương pháp xác định hệ số K điều chính mức chi trả ứng với lô rừng được thực hiện theo Thông tư số 80/2011/TT-BNNPTNT ngày 23/11/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT

Trang 35

Bản chất của hệ số K là là để điều chỉnh sao cho lô rừng tạo ra giá trị dịch vụ môi trường cao sẽ được trả tiền cao, lô rừng tạo ra giá trị dịch vụ thấp

sẽ được trả tiền thấp Vì vậy, ta sử dụng phương pháp so sánh và phân tích tổng hợp về khả năng tạo DVMTR, về mức độ khó khăn bảo vệ rừng để xác định hệ số K điều chỉnh mức chi trả tương ứng với lô rừng có cung ứng DVMTR cho Nhà máy thủy điện Cửa Đạt Các bước cụ thể như sau:

Bước 1: Xác định hệ số K* thành phần theo từng yếu tố: (1) Trạng thái rừng (rừng nghèo, rừng trung bình, rừng giàu); (2) loại rừng (đặc dụng, phòng

hộ, sản xuất); (3) nguồn gốc hình thành rừng (rừng tự nhiên, rừng trồng); (4) mức độ khó khăn, thuận lợi đối với việc bảo vệ rừng (yếu tố xã hội và địa lý)

Bước 2: Căn cứ kết quả xác định hệ số K* thành phần để xác định hệ số

K điều chỉnh mức chi trả cho lô rừng cụ thể Hệ số điều chỉnh mức chi trả DVMTR tương ứng với lô rừng được chi trả, theo công thức sau:

Trong đó: K là hệ số điều chỉnh của lô rừng được chi trả; KTrTh là hệ

số điều chỉnh theo trạng thái rừng; KLR là hệ số điều chỉnh theo loại rừng; KNG là hệ số điều chỉnh theo nguồn gốc hình thành rừng; KBV là hệ số điều chỉnh theo mức độ bảo vệ rừng

2.4.4.3 Phương pháp rà soát các chủ rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng là hộ gia đình, cá nhân, công đồng dân cư thôn

Sau khi xác định được ranh giới lưu vực Nhà máy thủy điện Cửa Đạt, tiến hành chồng xếp các lớp Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng, Bản đồn cập nhập diễn biến 3 loại rừng có đầy đủ các thông tin (tiểu khu, lô, loại rừng, trạng thái, chủ quản lý, địa giới hành chính) và Bản đồ giao đất, giao rừng có đầy

đủ các thông tin (thửa đất, tên chủ hộ giao đất lên bản đồ lưu vực

Cắt bỏ phần bản đồ nằm ngoài ranh giới lưu vực (kể cả 3 lớp bản đồ) Sau đó kết xuất dữ liệu sạng EXCEL để lọc dữ liệu (lô, khoảnh, tiểu khu,

K = KTrTh x KLR x KNG x KBV

Trang 36

trạng thái rừng gắn kết với thửa đất và tên chủ hộ trong giao đất) Sau đó thống nhất với các chủ rừng về diện tích, trạng thái rừng đã giao trước đây, thông qua đó để các chủ rừng có ý kiến phát hiện các diện tích, địa điểm không chính xác trước đây và có thay đổi (tăng, giảm)

Kiểm trả các dữ liệu đã kết xuất: (i) Đối với những diện tích đã trùng khớp về lô, khoảnh, tiểu khu, trạng thái rừng và đã gắn kết được với thửa đất

và tên chủ hộ trong giao đất thì chuyển sang lập hồ sơ các chủ rừng để chi trả (tiến hành kiểm tra chéo ngoài hiện trường để giảm thiểu mức độ sai xót) (ii) Đối với những diện tích chưa trùng khớp về lô, khoảnh, tiểu khu, trạng thái rừng với các thông tin về thửa đất và tên chủ hộ trong giao đất thì tiến hành rà soát ngoài thực địa để thống nhất trên thực địa và trong bản đồ, đặc biệt là những khu vực có sự thay đổi (tăng, giảm về diện tích) Trình tự tiến hành các bước ngoài thực địa cần rà soát từ tổng thể đến chi tiết tới từng chủ rừng để kiểm tra diện tích và trạng thái rừng thay đổi Phương pháp khoanh vẽ lên bản

đồ ngoài thực địa: chủ yếu sử dụng phương pháp khoanh lô theo dốc đối diện Phương pháp này áp dụng đối với những lô rừng có địa hình phức tạp, có độ dốc lớn; đối với những lô rừng ở địa hình thuận lợi, độ dốc không lớn, khó phân biệt trên bản đồ, các diện tích nhỏ lẻ có thể tiến hành tác nghiệp đơn giản thì sử dụng máy định vị GPS

Trên cơ sở kết quả rà soát lập hồ sơ các chủ rừng, tổ chức họp thôn để thống nhất kết quả rà soát và công khai kết quả danh sách hồ sơ các chủ rừng tại Nhà văn hóa thôn để người dẫn tiện theo dõi và phát hiện những sai xót nếu có

2.4.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Toàn bộ các thông tin và số liệu thu thập được sẽ được phân tích theo các nội dung và mục tiêu của đề tài dựa trên các các công cụ phân tích tổng hợp như: kỹ thuật phân tích không gian bằng bản đồ; kỹ thuật xử lý thống kê;

kỹ thuật xử lý bảng hỏi và kết quả phòng vấn; kỹ thuật phân tích SWOT và kỹ thuật tham kiến chuyên gia

Trang 37

Chương 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí ranh giới

Khu vực nghiên cứu thuộc lưu vực hồ thuỷ lợi, thủy điện Cửa Đạt và Dốc Cáy trên địa giới hành chính của 5 xã Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, huyện Thường Xuân Tổng diện tích lưu vực là 53.350 ha

Về toạ độ địa lý: Lưu vực hồ thuỷ lợi, thủy điện Cửa Đạt nằm ở phía Tây Bắc của huyện Thường Xuân, có tạo độ X: 0529.599 Vĩ Bắc, Y: 2.198.265 Kinh Đông (Hệ tọa độ VN2000)

Về giới cận: Phía Bắc giáp huyện Lang Chánh và tỉnh Hủa Phăn (Lào); Phía Nam giáp xã Xuân Lẹ và một phần xã Xuân Cẩm; Phía Đông giáp một phần diện tích đất của các xã: Lương Sơn, Xuân Cẩm và Ngọc Phụng; Phía Tây giáp tỉnh Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn (Lào)

3.1.2 Địa hình, địa thế

Địa hình của lưu vực thấp dần từ Tây Bắc và Tây xuống phía Đông và phía Nam Có nhiều dãy núi cao tạo thành địa hình lòng chảo; phía Đông Bắc xuất phát từ đỉnh núi Phạy Mạy kéo dài xuống núi Pù Hại, Huối Sài qua đỉnh núi Bù Rinh kéo xuống Bù Hun, Bù Hao và kết thúc tại núi Khoai; phía Tây Nam xuất phát từ núi Phạy Mạy dọc biên giới Việt Lào qua đỉnh Pù Huột, Kẻng Phạ, giáp tỉnh Nghệ An theo đỉnh Pù Nhịp và kết thúc đỉnh Pù Chó Đỉnh cao đại diện Chòm Vịn xã Bát Mọt cao 1.442 m so với mặt nước biển

Ngoài ra địa hình bị chia cắt bởi các sông chính: sông Khao, sông Chu,

và các suối chính: suối Bọng, suối Yên Có thể chia địa hình lưu vực làm 3 vùng sinh thái theo ranh giới hành chính xã: Vùng cao: gồm 2 xã: Bát Mọt,

Trang 38

Yên Nhân, độ cao trung bình từ 500-700m Vùng giữa: Gồm 2 xã: Lương Sơn, Vạn Xuân, độ cao trung bình từ 150-200m Vùng thấp: Gồm xã Xuân Cẩm, độ cao trung bình từ 50-150m

Số liệu điều tra đất năm 2000 theo FAO - UNESCO Địa hình lưu vực được phân theo các cấp độ như sau: Độ dốc từ 30- 80 chiếm khoảng 10% diện tích lưu vực; Độ dốc từ 90- 150 chiếm khoảng 10% diện tích lưu vực; Độ dốc

từ 160- 250 chiếm khoảng 35 % diện tích lưu vực; Độ dốc > 250 chiếm khoảng

45 % diện tích lưu vực;

3.1.3 Khí hậu thời tiết

Lưu vực nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng lớn của vùng núi cao, nền nhiệt độ cao với 2 mùa chính: Mùa hè khí hậu nóng đặc biệt là sự xuất hiện gió phơn Tây Nam (gió Lào) vào đầu mùa Hạ (cuối tháng

4, đến tháng 6 có tới 20-30 ngày gió Tây) Mùa Đông lạnh giá khô hanh, khu vực núi cao hay có sương muối

Nhiệt độ, không khí: Qua theo dõi nhiều năm của Trạm khí tượng Bái Thượng và Đài khí tượng Thanh Hoá, cho thấy tổng nhiệt độ năm từ 8.0000C-8.6000C Nhiệt độ trung bình năm từ 230C-240C; Nhiệt độ cao nhất năm từ

370C-410C (tháng 5,6,7,8); Nhiệt độ thấp nhất nhiều năm từ 10C-30C (tháng 1,2,3 và 12)

Độ ẩm không khí: Độ ẩm thấp nhất xảy ra thường vào tháng 1 hoặc tháng 12 (khô hanh) và tháng 5 - 9 (gió Tây khô nóng); Độ ẩm trung bình năm từ 85% - 86%; Độ ẩm trung bình cao 90% - 91%; Độ ẩm trung bình thấp 75% - 80%

Độ bốc hơi: Lượng bốc hơi hàng năm trung bình 788mm; Lượng bốc hơi trung bình cao 900mm; Lượng bốc hơi trung bình thấp 600mm Bốc hơi nhiều nhất vào tháng 5 đến tháng 8 (thời kỳ rất nóng) Bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12 đến tháng 3 năm sau

Trang 39

Gió bão: Có hai hướng gió chính: Gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 - 4, gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 xen kẽ có gió mùa Tây khô nóng (tháng 4 - 7) Bão ảnh hưởng thường vài ba cơn bão (tháng 8, 9, 10) Sau bão kèm theo mưa lớn; khu vực hay có lũ ống, lũ quét phá hỏng nhiều cơ sở vật chất, công trình, làm tổn hại nhiều đến sản xuất nói chung và sản xuất nông, lâm nghiệp nói riêng

Mưa: Tổng lượng mưa (1600 - 2000 mm) phân bố không đều thường tập trung 60 - 80% lượng mưa vào tháng 5 - 10 Mưa tiểu mãn vào tháng 5 hoặc đầu tháng 6 Kỳ mưa lũ tiếp theo là tháng 7 - 10 gây ra lũ lụt kéo dài gặp nhiều khó khăn trong sản xuất Các tháng ít mưa từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau dễ gây ra hạn khô, một số cây công nghiệp vùng đồi dễ bị hạn

3.1.5 Tài nguyên thiên nhiên

3.1.5.1 Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt: Hiện nay hồ chứa nước Cửa Đạt đã hoạt động Theo thiết kế, diện tích lưu vực (Fv = 5.708km²), diện tích mặt hồ đến mực nước chết đạt 14 km² Diện tích mặt hồ đến mực nước dâng bình thường 33 km²

Để điều tiết nước cho các huyện sản xuất ở hạ lưu và phát triển thuỷ điện Hồ Cửa Đạt phục vụ tưới cho 86.862 ha gồm Nam sông Chu là 54.031 ha, Bắc sông Chu (hạ lưu sông Mã) 32.831ha; cắt giảm lũ cho hạ lưu sông Chu Đẩy lùi ranh giới mặn ở hạ lưu sông Mã (Hàm Rồng), cung cấp nước sinh hoạt cho các KCN, khu kinh tế Nghi sơn với lưu tốc 7,7m3/s; giảm thiểu thiên tai và

Trang 40

bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời cấp nước cho nhà máy thuỷ điện Cửa Đạt công suất 97 MW để bổ sung cho lưới điện quốc gia, nâng cao hiệu quả kinh tế của công trình

Nguồn nước ngầm: Trên địa bàn lưu vực có nguồn nước ngầm khá phong phú, thuộc hai dạng chính là nước ngầm lỗ hổng trong các tầng trầm tích

và nước trong các tầng chứa khe nứt Các kết quả thăm dò cho thấy nước ngầm phân bố ở khắp các khu vực trong vùng Tại các thung lũng, tầng phân bố nước chỉ ở độ sâu khoảng 2 m, sâu nhất là 8-9 m Tuy nhiên cho đến nay nước ngầm trong vùng chưa có số liệu điều tra cụ thể cả về trữ lượng và chất lượng

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thường Xuân, năm 2011) 3.1.5.2 Tài nguyên đất

Theo tài liệu FAO - UNESCO năm 2000, trên lưu vực có 4 nhóm đất chính với diện tích 42.267 ha

Nhóm 1: nhóm đất xám Acrisols (AC), chiếm 89,84%, phân bố trên núi cao chủ yếu cho phát triển lâm nghiệp

Nhóm 2: nhóm đất phù sa: Fluvisols (Fl), chiếm 2,05%, phân bố ven khe suối Những nơi khá bằng phẳng độ dốc thấp dành cho sản xuất cây ngắn ngày (lúa, hoa màu)

Nhóm 3: nhóm đất đỏ Ferrlsols (FR), chiếm 3,15%, phân bố các vùng đồi thấp, dành cho cây dài ngày, cây ăn quả, sản xuất nông lâm kết hợp xen cây ngắn ngày khác, xen kẽ hoa màu, ngắn ngày

Nhóm 4: nhóm đất đỏ tầng mỏng - Leptosols (LP), chiếm 4,96% phân

bố ở độ dốc không cao lắm (đất nương rẫy cố định) , đã bị rửa xói mòn, cần phải có quy trình cải tạo

(Nguồn: Bản đồ các loại đất năm 1990, cập nhập năm 2010 do Việt Điều tra Quy hoạch rừng thực hiện năm 2010)

Ngày đăng: 01/09/2017, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nguyễn Thành Công (2007), “Chi trả dịch vụ môi trường và đúi nghốo – Những bài học kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí kinh tế môi trường, trang 10–13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chi trả dịch vụ môi trường và đúi nghốo – Những bài học kinh nghiệm quốc tế”
Tác giả: Nguyễn Thành Công
Năm: 2007
12. Hoàng Minh Hà, Vũ Tấn Phương (2008), Chi trả dịch vụ môi trường: Kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam, Nhà xuất bản Thông Tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chi trả dịch vụ môi trường: "Kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam
Tác giả: Hoàng Minh Hà, Vũ Tấn Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông Tấn
Năm: 2008
13. Heal G (1999), Định nghĩa dịch vụ hệ sinh thái, Trường kinh doanh Columbia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định nghĩa dịch vụ hệ sinh thái
Tác giả: Heal G
Năm: 1999
14. Vũ Thị Thu Hương (2010), “Chi trả dịch vụ môi trường – kinh nghiệm thế giới và áp dụng tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chi trả dịch vụ môi trường – kinh nghiệm thế giới và áp dụng tại Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương
Năm: 2010
16. Jackie Prince Roberts và Sissel Waage (2007), Đàm phán cho các dịch vụ từ thiên nhiên, Tổ chức Forest Trends Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàm phán cho các dịch vụ từ thiên nhiên
Tác giả: Jackie Prince Roberts và Sissel Waage
Năm: 2007
20. Vũ Tấn Phương (2006), Giá trị môi trường và dịch vụ môi trường rừng, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Bộ Nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị môi trường và dịch vụ môi trường rừng
Tác giả: Vũ Tấn Phương
Năm: 2006
21. Pagiola S và Platais G (2002), Báo cáo ý tưởng chiến lược môi trường: Chi trả dịch vụ hệ sinh thái, Ngân hàng Thế giới Washington Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo ý tưởng chiến lược môi trường: Chi trả dịch vụ hệ sinh thái
Tác giả: Pagiola S và Platais G
Năm: 2002
22. Ngô Đình Quế (2008), Ảnh hưởng của một số loại rừng đến môi trường ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của một số loại rừng đến môi trường ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đình Quế
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2008
24. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng (2012), Những vấn đề thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng. Tài liệu Hội nghị tập huấn cở chế chi trả DVMTR tại Đăk Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng
Năm: 2012
25. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Sơn La (2012), Kinh nghiệm tổ chức hệ thống chi trả dịch vụ môi trường rừng đến từng chủ rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La. Tài liệu Hội nghị tập huấn cở chế chi trả DVMTR tại Đăk Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức hệ thống chi trả dịch vụ môi trường rừng đến từng chủ rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La
Tác giả: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Sơn La
Năm: 2012
30. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 2284/QĐ-TTG phê duyệt Đề án triển khai Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2284/QĐ-TTG phê duyệt Đề án triển khai Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2010
34. Bosch, J. M. and J. D. Hewlett (1982), A review of catchment experiments to determine the effects of vegetation changes on water yield and evapotranspiration, Journal of Hydrology Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of catchment experiments to determine the effects of vegetation changes on water yield and evapotranspiration
Tác giả: Bosch, J. M. and J. D. Hewlett
Năm: 1982
35. Brown, S (1997), Estimating biomass and biomass change of tropical forests. A primer, FAO Forestry Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimating biomass and biomass change of tropical forests. A primer
Tác giả: Brown, S
Năm: 1997
36. Camillie Bann (2003), An Economic Analysis of Tropical Forest Land Use Options, Cambodia Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Economic Analysis of Tropical Forest Land Use Options
Tác giả: Camillie Bann
Năm: 2003
37. Camille Bann and Bruce Aylward (1994), The Economic Evaluation of Tropical Forest Land Use Options: A Review of Methodology and Applications, iied, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economic Evaluation of Tropical Forest Land Use Options: A Review of Methodology and Applications, iied
Tác giả: Camille Bann and Bruce Aylward
Năm: 1994
38. David W Pearce and Corin G T Pearce (2001), The value of Forest 8ecosystems, Report to the Secretariat Convention on Biological Diversity, Montreal Sách, tạp chí
Tiêu đề: The value of Forest 8ecosystems, Report to the Secretariat Convention on Biological Diversity
Tác giả: David W Pearce and Corin G T Pearce
Năm: 2001
40. Hoang minh Ha, Menie van Noordijk, Pham Thu Thuy, Vu Tan Phuong, (2008), “Payment for Environmental Services: Experiences and Lessons in Viet Nam”, VNA Publishing House Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Payment for Environmental Services: Experiences and Lessons in Viet Nam
Tác giả: Hoang minh Ha, Menie van Noordijk, Pham Thu Thuy, Vu Tan Phuong
Năm: 2008
42. Stefanco Pagiola, Loshua Bishop and Natasha Landell- Mills (2004) “Selling Forest environmental Services – Market – based Mechanism For Convervation ang Development”, London, sterling, VA Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Selling Forest environmental Services – Market – based Mechanism For Convervation ang Development”
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), Phát triển rừng bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu Khác
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), Báo cáo số 898/BC-BNN- PC ngày 31/3/2010 về sơ kết tình hình triển khai Quyết định số 380/QĐ- TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w