Trong những năm tháng đen tối của đất nước, trước khi xuất hiện ngôi sao Bắc thần ngời sáng là chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quốc dân đồng bào ta đã gửi gắm niềm hi vọng vào Phan Bội Châu và phong trào giải phóng dân tộc mà ông là người đứng đầu. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu tuy ngắn ngủi nhưng để lại tấm gương cách mạng sáng ngời. Phan Bội Châu tấm gương yêu nước thương nòi, xả thân suốt đời vì độc lập cho quốc gia, vì quyền sống cho đồng bào, một nhà tổ chức và chỉ đạo lỗi lạc, một nhà chính trị có bản lĩnh, nhà chiến lược và sách lược tài tình. Người chiến sĩ cách mạng, vị lãnh tụ một thế hệ bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Phan Bội Châu là một nhà văn hoá lớn mà tầm vóc làm đầy đặn những thập kỉ đầu thế kỉ XX trên lịch sử văn hoá nước nhà. Ông đã để lại một di sản trước tác đồ sộ và có giá trị gồm tới số nghìn áng văn thơ bao quát nhiều lĩnh vực: lịch sử, triết học, chính trị, xã hội… Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, tinh thần tự tôn dân tộc, khí phách chiến đấu, tinh thần bình đẳng công dân, hoài bão duy tân và tinh thần lạc quan lịch sử thấm nhuần trong di sản văn hoá Phan Bội Châu làm nên sức sống và giá trị nhân văn bất hủ cho văn hoá Việt Nam đầu thế kỉ XX. Một nhân cách lớn của Phan Bội Châu tiêu biểu cho một thế hệ cách mạng đương thời. Với ý nghĩa mang tính lịch sử và thời đại em chọn đề tài “Tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội Châu” để góp phần tìm hiểu những nét tiêu biểu về thân thế, sự nghiệp của nhà yêu nước Phan Bội Châu; Đặc biệt góp phần làm sáng tỏ những cống hiến của ông trên lĩnh vực tư tưởng chính trị đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta.
Trang 1MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
2
Chương I: Cơ sở hình thành tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội Châu I.1 Điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX I 2 Quê hương, gia đình những ảnh hưởng đối với quá trình hình thành tư tưởng cách mạng của Phan Bội Châu 8
I.3.Bản thân con người Phan Bội Châu 11
Chương II:Những tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội Châu II.1.Tư tưởng của Phan Bội Châu vềvaitrò của nhân dân 16 II.2 Quan điểm của Phan Bội Châu về vấn đề chủ quyền, quân chủ và dân chủ 20
II.3 Quan điểm của Phan Bội Châu về vấn đề phát triển kinh tế
25
II 4 Phan Bội Châu với việc tiếp thu tư tưởng cách mạng CNXH
30
Chương III: Giá trị tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội Châu bài học lớn cho cách mạng Việt Nam 35
1 Giá trị tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội Châu 2 Bài học kinh nghiệm của tư tưởng canh tân đất nước Phan Bội Châu đối với cách mạng Việt Nam 39
3 Liên hệ với công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay 42
C KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm tháng đen tối của đất nước, trước khi xuất hiện ngôi sao Bắc thần ngời sáng là chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quốc dân đồng bào ta
đã gửi gắm niềm hi vọng vào Phan Bội Châu và phong trào giải phóng dân tộc
mà ông là người đứng đầu
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu tuy ngắn ngủi nhưng
để lại tấm gương cách mạng sáng ngời Phan Bội Châu tấm gương yêu nước thương nòi, xả thân suốt đời vì độc lập cho quốc gia, vì quyền sống cho đồng bào, một nhà tổ chức và chỉ đạo lỗi lạc, một nhà chính trị có bản lĩnh, nhà chiến lược và sách lược tài tình Người chiến sĩ cách mạng, vị lãnh tụ một thế
hệ bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Phan Bội Châu là một nhà văn hoá lớn mà tầm vóc làm đầy đặn những thập kỉ đầu thế kỉ XX trên lịch sử văn hoá nước nhà Ông đã để lại một di sản trước tác đồ sộ và có giá trị gồm tới số nghìn áng văn thơ bao quát nhiều lĩnh vực: lịch sử, triết học, chính trị, xã hội… Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, tinh thần tự tôn dân tộc, khí phách chiến đấu, tinh thần bình đẳng công dân, hoài bão duy tân và tinh thần lạc quan lịch sử thấm nhuần trong di sản văn hoá Phan Bội Châu làm nên sức sống và giá trị nhân văn bất hủ cho văn hoá Việt Nam đầu thế kỉ XX Một nhân cách lớn của Phan Bội Châu tiêu biểu cho một thế hệ cách mạng đương thời
Với ý nghĩa mang tính lịch sử và thời đại em chọn đề tài “Tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội Châu” để góp phần tìm hiểu những nét tiêu
biểu về thân thế, sự nghiệp của nhà yêu nước Phan Bội Châu; Đặc biệt góp phần làm sáng tỏ những cống hiến của ông trên lĩnh vực tư tưởng chính trị đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về Phan Bội Châu có thể kể ra một số tác phẩm: Tác phẩm
“Phan Bội Châu niên biểu” ( nxb Văn – Sử - Địa, Hà Nội, 1957); “ Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt Nam” ( nxb Văn hoá, Hà Nội, 1958); “ Phan Bội Châu toàn tập” ( nxb Thuận Hoá, Huế, 1990); “Phan Bội Châu – con người và sự nghiệp”(nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1998 Đây là những tác phẩm ghi lại toàn bộ cuộc đời của Phan Bội Châu.
Trang 3Nội dung chủ yếu của các tác phẩm trình bày lịch sử hoạt động của cụ Phan từ khi xuất dương đến trước khi bị bắt (1905) và cuộc sống bôn ba nơi hải ngoại để tìm đường cứu nước.
Bên cạnh các tác phẩm được xuất bản thành sách còn có nhiều tạp chí
viết về Phan Bội Châu như: Phan Bội Châu dưới nhãn quan triết học, đăng
trên Tạp chí triết học, ngày 4/2/2007 Bài viết đã trình bày những suy nghĩ của tác giả về chủ nghĩa dân tộc của Phan Bội Châu từ góc độ triết học, từ đó tác giả luận giải những biểu hiện chủ nghĩa dân tộc ở Phan Bội Châu
Bài viết: Quan niệm “tự tân” của Phan Bội Châu, đăng trên diễn đàn
suy nghĩ về giáo dục và thời đại, ngày 29/11/2005 đã nói lên nhận xét của Phan Bội Châu về văn hóa giáo dục Việt Nam vào đầu thế kỉ trước
Hiện nay, trên các trang báo điện tử cũng có nhiều bài viết về Phan Bội Châu, đó đều là những đánh giá, nhận xét của các nhà báo, phóng viên Việt Nam giành cho vĩ lãnh tụ yêu nước này
Như vậy, ta có thể thấy các tài liệu này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp cách mạng chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu, làm
rõ những tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu Cho nên cần có những tác phẩm, những bài viết đi sâu vào nghiên cứu các tư tưởng, các quan điểm của
ông Với đề tài “Tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội Châu” tác giả hi
vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trình bày và làm sáng tỏ những nét tiêu biểu về thân thế, sự nghiệp và
những tư tưởng chính trị quan trọng của nhà yêu nước Phan Bội Châu
Mang những đánh giá khách quan về vai trò, vị trí và những ảnh hưởng
của tư tưởng chính trị Phan Bội Châu đối với cách mạng Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu thân thế, sự nghiệp và những tư tưởng chính trị tiêu biểu của Phan Bội Châu
Nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Phan Bội Châu đối với cách mạng Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng Đồng thời kết hợp với các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lôgic – lịch
sử, phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp… Ngoài ra còn có một số phương pháp đặc biệt để tìm hiểu và nghiên cứu về các danh nhân và một số nhân vật nổi tiếng
Mỗi sự kiện và từng vấn đề người viết đều cố gắng trình bày ngắn gọn,
cụ thể về hoạt động và tư tưởng chính trị của nhân vật, nhiều ý gần như được lặp lại có hệ thống nhằm nêu lên những vấn đề mà nhà tư tưởng đó quan tâm
5 Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận tiểu luận gồm
Chương I: Cơ sở hình thành tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội ChâuChương II: Nội dung tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội Châu
Chương III: Giá trị tư tưởng canh tân đất nước của Phan Bội Châu bài học lớn cho cách mạng việt nam
Trong thời gian viết tiểu luận, tác giả nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo ân cần, quý báu của các thầy, cô và các bạn đồng môn Do mức độ nghiên cứu trong còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em xin trân trọng cám ơn những ý kiến đóng góp quý báu để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5
CHƯƠNG I
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN ĐẤT NƯỚC
CỦA PHAN BỘI CHÂU
I.1 Điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Cuối thế kỉ XIX, phong trào Cần Vương thất bại Toàn bộ đất nước ta bị đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp Chúng bắt đầu thực hiện kế hoạch
“ khai thác thuộc địa” Xã hội Việt Nam đình trệ từ lâu, nay đã bị phá vỡ, chuyển thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến Quá trình chuyển biến này đã tạo ra một giai đoạn giao thời kéo dài trong khoảng vài chục năm đầu thế kỉ XX
Nhà nước “bảo hộ” thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước ta thành một thị trường tiêu thụ hàng hoá và bóc lột công nhân để thu về lợi nhuận cao nhất cho tư bản Pháp, đồng thời kìm hãm xã hội Việt Nam trong tình trạng tối tăm của một nước nông nghiệp lạc hậu để dễ bề thống trị
Trên lĩnh vực chính trị, chúng thi hành một chính sách chuyên chế triệt
để, mọi quyền trong nước đều thâu tóm trong tay người Pháp, vua quan Nam triều chỉ là những tên bù nhìn tay sai ngoan ngoãn thi hành mọi mệnh lệnh của bọn thực dân nước ngoài Nhân dân ta không được hưởng chút quyền tự do dân chủ nào, mọi hành động chống đối, yêu nước đều bị thẳng tay đàn áp khủng bố Thực hiện chính sách “chia để trị”, đế quốc Pháp chia Việt Nam thành 3 kì với ba chế độ khác nhau (Nam Kì là thuộc địa, Trung Kì là bảo hộ, Bắc Kì là nửa bảo hộ) nhưng trong thực tế thì tất cả đều là đất của Pháp Đồng thời, chúng còn chia rẽ các dân tộc đa số với thiểu số, lương với giáo Chúng làm cho dân tộc Việt Nam lâm vào cảnh ngột ngạt về chính trị
Trên lĩnh vực văn hoá, giáo dục, chúng triệt để thi hành chính sách văn hoá nô dịch, cốt gây tâm lí tự ti, phục tùng, vong bản, ra sức khuyến khích các hoạt động mê tín, dị đoan, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè… trong nhân dân, nhằm làm cho nhân dân Việt Nam đoạn tuyệt với những giá trị truyền thống tốt đẹp Đồng thời, chúng phục hồi những mặt lạc hâu, phản động trong văn hoá phong kiến Chúng khuyến khích việc truyền bá văn chương yêu đương uỷ mị, đưa văn hoá phương Tây, trước hết là đưa văn hoá Pháp vào nước ta để chống lại văn hoá truyền thống và nhằm làm cho nhân dân ta tưởng thù là bạn Trường học được mở nhỏ giọt, hầu hết là các trường tiểu học, trường trung học chỉ mở ở các thành phố lớn (Hà Nội, Sài Gòn, Huế…)
Trang 6Cùng với việc hạn chế, chúng tiến tới thủ tiêu Nho học, thực dân Pháp đào tạo những người Tây học để phục vụ bộ máy thống trị của thực dân Pháp.
Sách báo xuất bản công khai cũng được lợi dụng triệt để vào việc tuyên truyền chính sách “khai hoá” của bon thực dân và gieo rắc ảo tưởng hoà bình hợp tác với bọn thực dân cướp nước và vua quan bù nhìn bán nước
Tuy vậy, cùng với chế độ thuộc địa nửa phong kiến ra đời và thay thế chế độ phong kiến vốn đã tàn lụi, xã hội Việt Nam cũng có những bước chuyển nhất định Sự thay đổi này không chỉ do hoàn cảnh lịch sử trong nước
mà còn do ảnh hưởng, tác động của trào lưu cách mạng thế giới
Ở Châu Á vào đầu thế kỉ XX, sau khi Minh Trị thiên hoàng cải cách duy tân, Nhật Bản trở thành một nước tư bản chủ nghĩa tương đối phát triển về mọi mặt Đặc biệt, thắng lợi của Nhật Bản trong cuộc đấu tranh với Nga 1904 –
1905 càng làm cho thanh thế Nhật Bản càng vang dội, và Nhật Bản được xem như là một tấm gương đáng học tập
Còn ở Trung Quốc, cuối thế kỉ XIX, Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu
đã tổ chức Cường học hội, chủ trương duy tân Trong quá trình ấy ở Trung Quốc xuất hiện nhiều Tân thư, trong đó có một số sách dịch các tác phẩm của các nhà tư tưởng dân chủ tư sản, và được đưa vào nước ta làm ảnh hưởng đến
tư tưởng các sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ.Khác với tuyệt đại bộ phận sĩ phu của giai cấp phong kiến, hoặc đầu hàng thực dân, hoặc than vãn, bi quan, những sĩ phu yêu nước này ý thức được trách nhiệm trước lịch sử, biết dựa vào nhân dân và cố gắng tìm con đường cứu nước, cứu dân Vừa lúc đó, họ lại tiếp thu được nguồn tư tưởng mới từ các cuộc cách mạng dân chủ tư sản phương Tây, công cuộc cải cách thành công ở Nhật Bản đã làm cho họ có thêm niềm tin vào con đường giải phóng dân tộc
Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, tay sai phong kiến và đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng làm xuất hiện những khuynh hướng sau: Hoặc lấy cường quốc Nhật Bản làm tấm gương để canh tân đất nước; hoặc dựa vào văn minh Pháp để xây dựng, phục hưng dân tộc Những đề nghị cải cách này thể hiện một lối tư duy mới trong xử lí tình hình thực tiễn đất nước, chứa đựng những yếu tố mới trong nhận thức hiện thực Hoàn cảnh đất nước là một trong những tiền đề quan trọng góp phần hình thành tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu Theo Phan Bội Châu, canh tân đất nước lúc này là vấn đề cấp thiết Canh tân đất nước là con đường duy nhất để tiến tới độc lập
Trang 7Canh tân đất nước là những tư tưởng nhằm sửa đổi đường lối, chính sách cai trị, phát triển đất nước, thay thế chúng bằng những đường lối, chính sách tiến bộ hơn, nhằm khắc phục tình trạng lạc hậu, lỗi thời, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đất nước.
I.2 Quê hương và gia đình những ảnh hưởng đối với quá trình hình thành tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu
Phan Bội Châu sinh ngày 26/12/1867 trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước ở xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Làng Sà Nam (nay là thị trấn Nam Đàn), quê ngoại Phan Bội Châu, cũng như làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hoà), quê nội Phan Bội Châu cách nhau khoảng 3km, đều nằm trên tả ngạn sông Lam dọc theo hướng Đông Nam của con đê 42 thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Trong bản đồ ngày xưa, Hoan – Diễn (tức Nghệ An) là một góc rừng biển xa xôi đối với kinh đô Thăng Long Nghệ Tĩnh dân nghèo, con người cần kiệm mà hiếu học Dưới các triều đại phong kiến, Nghệ Tĩnh được coi là chốn
“biên viễn” hiểm yếu Nhưng trải qua nhiều thời kì lịch sử, Nghệ Tĩnh lại là tuyến phòng ngự ngoại xâm khá kiên cố Nghệ Tĩnh từng là địa bàn chiến lược của nhà Trần thời kì chống Nguyên Mông, là căn cứ địa của Trần Quý Khoáng
và của Lê Lợi trong trong cuộc kháng chiến chống Minh Dưới triều Lê – Trịnh, Nghệ Tĩnh cũng là chỗ dựa của Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm để chống nhà Mạc, khôi phục nhà Lê Rồi sau đó, việc Trịnh – Nguyễn chia cắt đất nước để lại nhiều ảnh hưởng quan trọng trong sự phát triển lịch sử vùng này Một mặt, nhiều người theo Lê – Trịnh chống Mạc, theo Trịnh chống Nguyễn trở thành danh tướng lương thần, thành những dòng họ quyền quý gần gũi vua chúa ở Thăng Long Mặt khác, dân Nghệ Tĩnh được tin cậy làm chỗ chọn lính tam phủ – thân binh của vua chúa
Trong cuộc phân tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, Nghệ Tĩnh là cửa ngõ đường ống đi lại giữa Nam – Bắc Dưới thời Tự Đức, trước đường lối đầu hàng của vua quan nhà Nguyễn, văn thân Nghệ Tĩnh đã dâng biểu cho nhà vua từng điểm một bác bỏ những ý kiến thánh chỉ, họ chỉ ra sai làm của vua quan triều đình
Sau khi mất nước, phong trào chống Pháp ở Nghệ Tĩnh là phong trào sâu rộng và kéo dài lâu hơn cả Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Xuân Ôn và Phan Đình Phùng huyện nào cũng lập quân thứ và tổ chức kháng chiến Ngay
Trang 8trên các cánh đồng và thôn xóm vùng Sa Nam và Đan Nhiễm năm 1874, nghĩa quân của Trần Xuân, Vương Thúc Mậu cũng từng mấy phen “đọ sức” với giặc Pháp Phan Đình Phùng mất rồi phong trào chống Pháp ở Nghệ Tĩnh vẫn dai dẳng Do tinh thần đấu tranh bền bỉ như thế chính quyền thực dân đã có lúc phải cấm người Nghệ Tĩnh đi lại, cư trú ở tỉnh khác Có tên tay sai giặc Pháp
đã đề nghị triệt hạ, làm cỏ hai tỉnh với một lí do khét tiếng: “hữu Nghệ Tĩnh bất phú, vô Nghệ Tĩnh bất bần” (có Nghệ Tĩnh cũng không giàu thêm, không
có Nghệ Tĩnh cũng không giàu hơn) Đó là những việc từng xảy ra trên đất Nghệ Tĩnh, về thời gian không cách xa thời Phan Bội Châu bao nhiêu, ảnh hưởng đến Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng của Phan Bội Châu
Điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội có ảnh hưởng đến con người Tính cách địa phương của con người chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện kinh tế, của tình hình đấu tranh xã hội, của lịch sử Trong lịch sử Nghệ Tĩnh có những người thị tài kiểu Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Công Trứ, có những người coi thường công danh như Nguyễn Thiếp, có người chống triều đình như Hoàng Phan Thái; các tác giả của Hoa Tiên, Truyện Kiều đều quê ở Nghệ Tĩnh
Là dân xứ Nghệ nghèo khó, họ phải sống rất tiết kiệm, nhưng trọng danh dự, giàu tình nghĩa, nặng ân tình, nên đối với bà con, làng xóm, khách khứa, bạn bè, nhất là đối với việc dân tộc, họ lại trọng nghĩa, hào hiệp rộng rãi,
dễ coi thường tài sản, tính mệnh Con người ở đây cần cù làm ăn, học hành
Phan Bội Châu sinh ra trên mảnh đất ấy, đã được nuôi lớn bởi truyền thống đấu tranh bất khuất và dòng sữa thơm ngọt của quê hương với tất cả cái
“cốt tính xứ Nghệ”
Thân mẫu của Phan Bội Châu là bà Nguyễn Thị Nhàn, một bà mẹ Việt Nam rất mực nhân hậu, dòng dõi Nho học Bà có tính rất thương người, hay giúp đỡ kẻ khốn khó Đối với mọi người, bà luôn giữ thái độ hoà nhã, có “gặp người nào hỗn xược với mình, thì cũng cười rồi bỏ qua” Đặc biệt, đối với Phan Bội Châu chẳng những bà hết sức chú ý dạy bảo cho những điều hay lẽ phải, mà còn “truyền khẩu” cho những câu ca, câu thơ mà bà học được Cho nên, chẳng bao lâu, khi Phan Bội Châu mới lên bốn lên năm đã có thể nhớ thuộc lòng được mấy thiên Chu Nam trong Kinh Thi, tức là quyển sách chép nhiều thơ ca dân gian Trung Quốc thời xưa
Bà mất lúc Phan Bội Châu 18 tuổi, nhưng ảnh hưởng tình cảm của bà đối với Phan Bội Châu thật là sâu đậm Đúng như đồng chí Lê Duẩn khi nói về
Trang 9“bà mẹ Việt Nam” đã nhấn mạnh: “Chúng ta phải biết ơn những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra những con người anh hùng, những người đã có công giữ cho nước ta tồn tại và phát triển đến ngày nay… Phan Bội Châu trước đây chịu ảnh hưởng rất sâu sắc ở mẹ Bà thường răn con đừng làm điều trái với lẽ phải, và lời khuyên ấy đã hướng Phan Bội Châu đi vào con đường cứu nước”.
Thân phụ Phan Bội Châu là Phan Văn Phổ, một người thâm nho, thông hiểu kinh truyện, nhưng không đỗ đạt gì, suốt đời dạy học để kiếm sống Theo người đương thời truyền lại, ông là một bậc “thiện nhân”, nghĩa là người hiền lành vô sự, nên ông rất được mọi người quý mến Phan Bội Châu thường theo cha đến các nhà chủ nuôi để học Ông Phổ rất chú ý đến việc học tập của Phan Bội Châu, ông gửi Phan Bội Châu đến các thầy giỏi để học
Như vậy, nhờ ảnh hưởng của quê hương, gia đình, nhờ điều kiện giáo dục tốt của thầy học, của bạn bè, nhờ những tác động từ tình hình thực tế của đất nước, nên ở Phan Bội Châu đã bước đầu hình thành tư tưởng yêu nước Tư tưởng này ngày càng phát triển từ chỗ phôi thai đến hoàn thiện trong quá trình hoạt động của Phan Bội Châu
I.3 Bản thân con người Phan Bội Châu
Sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho giàu truyền thống yêu nước, quê hương lại là nơi có phong trào chống xâm lược Pháp mạnh mẽ, Ngay từ nhỏ, Phan Bội Châu đã nổi tiếng thông minh, 8 tuổi đã thông thạo các loại văn
cử tử; 13 tuổi đi thi ở huyện, đỗ đầu; 16 tuổi đỗ đầu xứ, nên cũng gọi là Đầu
Tiếp đến là mười năm ở nhà dạy học, tuyên truyền yêu nước, giáo dục lớp thanh niên ưu tú, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc Thời kì này, Phan Bội Châu giao du mật thiết với những người đã từng tham gia khởi nghĩa Hương Khê như Tán tương Nguyễn Quýnh, Đốc biện Hà Văn Mỹ, Phó lãnh binh Ngô Quảng, Quản cơ Lê Hạ, Đội Quyên… Năm 1897, Phan Bội Châu vào Huế, gặp Nguyễn Thượng Hiền, được xem các Tân thư của Lương Khải Siêu,
Trang 10Khang Hữu Vi như Trung Đông chiến kỷ, Phổ Pháp chiến kỷ, Doanh hoàn chí
lược… tầm mắt ông nhờ vậy được mở rộng thêm.
Năm 1900, Phan Bội Châu đỗ đầu khoa thi Hương (giải nguyên) trường thi Nghệ An Cũng năm đó, cụ thân sinh ra ông qua đời, Phan Bội Châu rảnh việc nhà mới chuyên tâm lo việc cứu nước
Năm 1902, mượn cớ đi xem lễ khánh thành cầu sông Hồng ở Hà Nội, Phan Bội Châu lên đồn Phồn Xương yết kiến Hoàng Hoa Thám nhưng chỉ gặp được Cả Trọng là con trai của Đề Thám, hai bên giao ước Trung Kì khởi nghĩa trước thì Yên Thế sẵn sàng hưởng ứng
Năm 1903, Phan Bội Châu mượn cớ vào học Quốc Tử Giám (Huế) để tiện việc tìm đồng chí Sau đó, ông vào Quảng Nam gặp Tiểu La Nguyễn Hàm, một nhà hoạt động Cần Vương nổi tiếng Theo gợi ý của Nguyễn Hàm, Phan Bội Châu trở về Huế bắt liên lạc với Kỳ Ngoại hầu Cường Để, thuộc dòng dõi Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh là người có tư tưởng ghét Pháp Cũng năm này, Phan Bội Châu viết “Lưu Cầu huyết lệ tân thư” (sách mới viết bằng máu và nước mắt về đảo Lưu Cầu), mượn việc đảo Lưu Cầu để khơI dậy tinh thần yêu nước chống Pháp của một số quan lại triều đình Huế, nhưng không được mấy người hưởng ứng Tuy vậy, nhờ cuốn sách đó, Phan kết giao được với một vài nhà Nho tâm huyết như: Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng…
Đầu năm 1904, Phan vào Nam gặp nhà sư Trần Thị, một nhà hoạt động chống Pháp, bị bắt tù nhiều lần, đang tu ở chùa Thất Sơn; rồi tới Sa Đéc gặp ông hội đồng Nguyễn Thành Hiến, một nhà yêu nước Hai ông này về sau đều giúp việc đắc lực cho phong trào Đông Du
Tiếp đó, ông vào Huế, rồi đi các nơi để kết nạp những người cùng chí hướng, tranh thủ ngay cả sự đồng tình của các linh mục Thiên chúa giáo; nhờ
đó, sau này nhiều giáo dân đã tham gia sự nghiệp cứu nước do ông đứng đầu
Đầu năm 1905, Phan Bội Châu lãnh đạo phong trào Đông Du, từ năm
1905 – 1908, ông đã tổ chức cho gần 200 thanh niên yêu nước xuất dương sang Nhật học tập ở các trường Đồng văn thư viện, Chấn Vũ học hiệu; lại lập
ra công hiến hội để quản lí việc học tập, tu dưỡng tư tưởng, đạo đức của lưu học sinh Đồng thời, ông cũng có liên lạc với các hội, đảng yêu nước tiến bộ của học sinh và các chính khách của các nước có mặt ở Tôkyô (Nhật Bản) nhằm trao đổi kinh nghiệm vận động cứu nước, ủng hộ lẫn nhau Đặc biệt, ông
Trang 11còn sáng tác nhiều thơ văn yêu nước như: Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Tân Việt Nam, Sùng bái giai nhân…
Tháng 3 – 1909, tổ chức Đông Du bị giải tán Phan Bội Châu bị chính phủ Nhật trục xuất, phải về ẩn náu ở Trung Quốc một thời gian ngắn, rồi sang Thái Lan mở trại cày Bạn Thầm để tính kế lâu dài Năm 1911, cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thành công, ông trở lại Trung Quốc tập hợp số anh em còn lại, tuyên bố giải tán Duy Tân Hội, thành lập Việt Nam Quang Phục Hội với tôn chỉ duy nhất: “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hoà dân quốc Việt Nam” Hội cử người về nước hoạt động, đã gây
ra một số vụ bạo động vũ trang có tiếng vang, nhưng kẻ thù thẳng tay đàn áp Phan Bội Châu bị bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam ngày 24/12/1913
Năm 1917, khi ông ra tù, chiến tranh thế giới thứ nhất sắp kết thúc, ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sôi nổi khắp thế giới, đặc biệt là ở phương Đông Ông dần nghiêng về cách mạng thế giới, tìm hiểu cách mạng tháng Mười, viết báo ca ngợi Lênin vĩ đại… Giữa năm 1924, phỏng theo Quốc Dân Đảng của Tôn Trung Sơn, ông đã cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam quốc dân Đảng Tháng 12/1924, sau khi được tiếp xúc và được sự góp ý của Nguyễn ái Quốc, Phan Bội Châu dự định cải tổ lại Việt Nam Quốc Dân Đảng theo hướng tiến bộ Nhưng ngày 30/6/1925 trên đường đI từ Hàng Châu về Quảng Châu để gặp an hem, ông bị thực dân Pháp bắt cóc đem về nước, rồi đem xử ở toà Đề Chính
Hà Nội Một phong trào bãi khoá, bãi công, bãi thị đã bùng nổ rầm rộ khắp cả nước, đòi trả tự do cho Phan Bội Châu Cuối cùng, thực dân Pháp phải tha bổng ông, nhưng bắt an trí ở Huế
Từ năm 1926 trở đi, Phan Bội Châu bị cách li với thực tế đấu tranh của dân tộc Tuy vậy, ông vẫn cố vươn lên, hi vọng tiếp tục hoạt động cứu nước và trong điều kiện sống bị bao vây theo dõi vẫn cố gắng làm một người tuyên truyền yêu nước Thơ văn của ông vẫn tiếp tục nói nhiều đến nỗi khổ nhục của người dân mất nước và trách nhiệm của người dân với nước Đó là các tác
phẩm: Nam – nữ quốc dân tu tri, Thuốc chữa dân nghèo, Cao đẳng quốc
dân…
Những năm tháng cuối đời, nhà chí sĩ Phan Bội Châu vẫn chan chứa biết bao nỗi niềm ưu ái, hi vọng, tin tưởng đồng bào, đồng chí Cho đến trước khi mất ngày 29/10/1940 tại căn nhà tranh ở dốc Bến Ngự (Huế), ông vẫn có lời “Chúc phường hậu tứ tiến mau”
Trang 12Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu đầy gian khổ, khó khăn nhưng ông vẫn kiên quyết một lòng cho sự nghiệp cứu nước Phan Bội Châu được coi là lãnh tụ của cách mạng trước khi Nguyễn ái Quốc xuất hiện.
Trang 13CHƯƠNG II NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CANH TÂN ĐẤT NƯỚC
CỦA PHAN BỘI CHÂU
II.1 Tư tưởng của Phan Bội Châu về vai trò của nhân dân
Theo Phan Bội Châu, để Duy Tân đất nước trước hết phải thấy được vai trò của nhân dân Trong toàn bộ những sáng tác thơ văn của Phan Bội Châu đều là sự phản ánh nỗi đau, nỗi nhục mất nước của dân tộc Việt Nam, mà nguyên nhân được ông chỉ ra là xuất phát từ con người, theo ông: “Biến cố do con người gây nên, vận trời theo liền đến đó” Rõ ràng, quan niệm của Phan Bội Châu khác hẳn với quan niệm của các nhà Nho cũ như: “Cái chỗ dựa để dựng nước chỉ ở nơi luân thường vua tôi, cha con mà thôi”, hay “vua là gốc của nước”, “không có đạo vua thì không có thế gian” Ông khẳng định:
“Người trong một nước đều là chủ tể của một nước để cạnh tranh với các nước khác”, vì vậy “… nhân dân là quan trọng nhất, nhân dân còn thì nước còn, nhân dân mất thì nước mất” Theo đó, Phan Bội Châu đưa ra khái niệm “Quốc dân” thay cho “thần dân”
Theo Phan Bội Châu, “Quốc dân” gắn liền với dân chủ Phan Bội Châu cho rằng ở nước ta vào những năm đầu thế kỉ XX, từ “Quốc dân” vẫn mang tính mới mẻ Chúng ta chỉ biết khái niệm ấy khi tư tưởng dân chủ tư sản thâm nhập vào nước ta Thế nhưng, “Quốc dân” gắn liền với dân chủ không phải là sản phẩm của sự “khai hoá văn minh” của thực dân Pháp, mà là kết quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Ông viết: “Nào Lâm ấp, nào Chiêm Thành, nào Mên, nào Lạp, nếu không dân ta xưa dắt đoàn dắt đội, từ Bắc vào Nam, chải gió gội mưa, trèo non vượt bể, khua nòi Chiêm, đuổi bầy Lạp, hốt mấy nghìn dặm non sông mà bỏ vào trong túi mình, thì cơ
đồ gấm vóc sau này, chúng ta làm sao trông thấy được Suy thấu lẽ ấy mới biết rằng Quốc là Quốc của dân ta, dân là ông chủ tiên chiếm của Quốc ta”
Nói về quyền và vai trò của dân ta đối với đất nước một lần nữa Phan Bội Châu chỉ rõ: “Trên dưới 4000 năm, trong ngoài ba mươi vạn dặm, biết bao giấy máu, hột mủ tuôn đổ ra cung cấp cho nước đó, có một giọt máu nào không phải của dân ta đâu? Vì vậy, nếu không có dân thì ai làm nên nước? Nếu không có nước thời còn quý gì dân?” Và ông khẳng định: “Linh hồn của nước là dân”, “khu xác thịt của dân là nước” Như vậy, trong tư tưởng của ông, “Quốc dân” có nghĩa là dân làm chủ nước, đó chính là quyền thiêng liêng
Trang 14nhất của dân Chính vì lẽ đó, không thể tách rời nhân dân với nước Khi dân mất nước là dân sẽ mất tất cả, kể cả những quyền tối thiểu của con người.
Khảo sát toàn bộ lịch sử nước ta từ đầu thế kỉ XX trở về trước, Phan Bội Châu cho rằng, nước ta chỉ có “gia nô” mà không có “Quốc dân”: “Gặp sinh thời làm nô với sinh, gặp Trần thời làm nô với Trần, gặp Lê - Lí thời làm nô với Lê – Lí, phận con hầu thằng ở, được đòi miếng cơm thừa canh thải thời đã lấy làm hớn hở vinh vang, tối tăm đứng đầu ruộng mới được bát cơm ăn, suốt đêm ngồi trên bàn khung cửu mới có tấm áo mặc, mà thoạt mở miệng ra thời chỉ nói rằng “cơm áo vua chúa” Điều đó có nghĩa là suốt thời kì phong kiến, dân ta không có quyền làm chủ đất nước Cái quyền ấy là quyền của vua chúa, còn dân chỉ biết phục tùng vua chúa một cách mù quáng
Trong suy nghĩ của Phan Bội Châu, thân phận “gia nô” mà người dân nước ta phải gánh chịu trong suốt thời kì phong kiến là một sự bất công, bởi lẽ điều ấy trái với tư tưởng “dân vi quý” của Mạnh Tử và quan điểm “dân vi bang bản” trong Kinh Thư
Trên cơ sở đó, Phan Bội Châu tổng kết lịch sử ở hai vấn đề: đó là, tại sao dân ta mất nước vào nửa sau thế kỉ XX Mất nước trách nhiệm thuộc về ai Theo Phan Bội Châu mất nước không phải do ông vua này hay ông vua kia,
mà mất nước là do chế độ xã hội có vua quan Ông nói: “Một là vua việc dân chẳng biết; hai là dân chỉ biết dân, mặc quân với quốc, mặc thần với ai” đây chính là bước phát triển mới trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu, trách nhiệm mất nước không thể quy về cá nhân cụ thể
Mặt khác, Phan Bội Châu cho rằng: “Dân thờ ơ để cho vua quan muốn làm gì thì làm” do đó đến nông nỗi mất nước Vua không thực lòng làm điều tốt đẹp cho dân, quan lại xu nịnh vua, đàn áp dân, “rồi dân đói dân hàn mặc dân” Vì thế, dù thế nào cũng phải thay đổi chế độ xã hội, bởi nếu được nước
mà dân vẫn như xưa thì cũng không phải là hạnh phúc của dân Tuy nhiên, Phan Bội Châu thấy rằng nếu chỉ kêu gọi lòng người, chỉ kêu gọi người Pháp cải cách thì không thể được và qua quá trình trải nghiệm trong phong trào Cần Vương, Phan Bội Châu nhận ra một điều: đánh đuổi thực dân Pháp không phải
“một tay, một chân” là được mà phải có cuộc nổi dậy của đông đảo nhân dân trong cả nước, phải có sức mạnh của nhiều người Ông viết: “Việc làm cho nước nhà độc lập, vững mạnh không phải một sớm một chiều mà thành công được, cũng không phải một tay một chân mà làm nên, mà do tâm huyết của hàng vạn anh hùng vô danh”
Trang 15Điều đó có nghĩa là, muốn khôi phục chủ quyền và địa vị của Quốc dân thì phải có lực lượng Do vậy, cách duy nhất để cứu nước là nhân dân phải đồng lòng, đồng sức Tư tưởng đoàn kết dân tộc của Phan Bội Châu xuất hiện
từ đây Khác với thế hệ trước, Phan Bội Châu cho rằng những người đứng trên lãnh thổ Việt Nam xưa đứng về một phía còn phía bên kia là thực dân Pháp:
“Cốt rằng người nước chung nhau một lòng”
Với cách phân chia như vậy, Phan Bội Châu đã tiến hành đoàn kết mười lớp người kể cả những người đã làm quan, làm công chức cho Pháp, kể cả lính tập, bồi bếp, kể cả những phú hào giàu có đến những người nghèo khổ vào khối đoàn kết dân tộc Ậng kêu gọi tất cả “Quốc dân” đồng lòng, đồng tâm Ậng hi vọng nhờ khối đoàn kết ấy, sự nghiệp chống Pháp sẽ thành công Từ việc hình thành khối đoàn kết dân tộc, Phan Bội Châu chủ trương đoàn kết quốc tế, đoàn kết những dân tộc “đồng bệnh” để chống kẻ thù chung
Hạn chế của Phan Bội Châu là ở chỗ ông đã đồng nhất người Việt Nam
ai cũng yêu nước như nhau Tuy vậy, ông đã chỉ ra con đường cứu nước cho dân tộc ta, dân tộc muốn đòi quyền quốc dân đã mất trước hết phải có ý thức
về quyền quốc dân §ể làm được điều đó, Phan Bội Châu đã kêu gọi toàn dân
ta phải dành lấy quyền làm chủ của dân với nước Theo đó, Phan Bội Châu yêu cầu mỗi con người phải tự thức tỉnh được thực trạng vong quốc của đất nước
Để khắc phục được những hạn chế của quốc dân, dân tộc phải tự đổi mới (Phan Bội Châu gọi là “tự tân”) Bởi theo ông, có “tự tân” thì mới có “tự cường”, mới có sức mạnh để chiến thắng bản thân và chiến thắng kẻ thù Tinh thần đổi mới theo quan điểm của Phan Bội Châu gồm 6 điểm:
1 Đổi mới ý chí thái độ, nâng cao chí tiến thủ
2 Đổi mới cách sống, đổi mới quan hệ, tăng cường tinh thần thương mến tin yêu nhau
3 Đổi mới hành động nghề nghiệp
4 Đổi mới tinh thần trách nhiệm đối với dân, nước
5 Đổi mới sự nghiệp công đức
6 Đổi mới nhận thức và đổi mới thực hành, mối quan hệ giữa lẽ sống
và cái chết; đổi mới quan hệ giữa tri và hành; danh và lợi; hoạ và phúc
Trang 16Theo Phan Bội Châu, ta phải tự mài “gương tri thức ta” cho trong, ta phải tự khêu “đèn tri thức ta” cho sáng, ta phải tự biết, tự mình suy nghĩ, tự mình làm, ta phải biết “tự tân” để “tự tồn”, ta phải biết tự trọng, tự chủ, tự bán
“cái dã man”, tự mua “cái văn minh trong tuỷ”
Với tư tưởng ấy, Phan Bội Châu muốn gửi gắm kì vọng của ông vào các thế hệ người Việt Nam: hãy bằng chính sức mình đưa đất nước ta lên hàng
“Quốc dân cao đẳng”
Tóm lại, nếu lịch sử tư tưởng Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
là giai đoạn chuyển tiếp về tư tưởng, thì tư tưởng về “Quốc dân tự lập” của Phan Bội Châu là một trong những tư tưởng thể hiện được tính chuyển tiếp ấy Thông qua đó, Phan Bội Châu đã nói lên khát vọng của cả dân tộc về nền độc lập, tự do, dân chủ và vai trò to lớn của người dân trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như canh tân đất nước
2 Quan điểm của Phan Bội Châu về vấn đề chủ quyền, quân chủ và dân chủ
Chủ quyền là quyền làm chủ của một nước trong các quan hệ đối nội và đối ngoại Đặt trong hoàn cảnh một dân tộc bị mất nước Phan Bội Châu cho rằng chủ quyền của một nước là sự độc lập, tự chủ Ông viết: “Điều quan trọng của nước là ở chủ quyền, điều quan trọng của chủ quyền là ở độc lập ý nghĩa chữ độc lập của Châu Âu là nói nước đối với nước, thì nước mình với nước ngoài không phải ỷ vào nhau, nước ngoài với nước mình không dám can thiệp lẫn nhau”
Muốn có độc lập dân tộc, có chủ quyền cho nhân dân thì phải làm cách mạng giải phóng dân tộc ra khỏi ách xâm lược, áp bức bóc lột của thực dân Pháp Về vấn đề này, Phan Bội Châu đã tỏ ra không mệt mỏi, liên tục kêu gọi,
tổ chức nhân dân cả nước đứng lên chống kẻ thù Ông đã viết rất nhiều tác phẩm thơ văn tuyên truyền yêu nước trong thời gian này như: Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Tân Việt Nam, Sùng bái giai nhân, Việt Nam quốc sử khảo…
Bản chất của chủ nghĩa thực dân được Phan Bội Châu vạch trần bằng hai chữ “dương bác”, “âm toan” Ông đã chỉ rõ sự tàn bạo của thực dân Pháp:
“ cái dã tâm của giặc Pháp như hổ ngoạm, tằm ăn, không thể kể xiết, nhưng mối chính là cướp mạch sống của chúng ta Chính phủ giặc đánh thuế chúng ta muôn nghìn thứ, quân buôn của giặc cướp lợi quyền chúng ta đến tức triệu
Trang 17đường, đến như cứt đái dơ bẩn cũng vơ vét hết, và càng năm càng thêm chứ không thôi”.
Bọn thực dân Pháp cướp nước coi dân ta “như trâu, như chó”, “như cỏ, như rơm”, chứ chẳng có gì là khai hoá văn minh cả Ông tố cáo mạnh mẽ chính sách ngu dân của chúng đối với nhân dân ta:
“Trường quốc học đặt tên Pháp – ViệtDạy người Nam đủ biết tiếng Tây
… Trăm nghề Pháp học tinh viNgười mình, mình cứ ngu si mặc mình”
Phan Bội Châu nhận thức giặc là giặc, nước đã mất thì dù có bầu máu nóng đến đâu đi nữa, rồi cũng chả biết đem rưới vào đâu được nữa” Ông luôn nhấn mạnh chủ quyền của dân tộc là vấn đề số một, là nhiệm vụ trung tâm của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, không có sự thoả hiệp giữa người mất nước và kẻ cướp nước Phan Bội Châu xác định trước mắt dân tộc ta chỉ có hai con đường: “một là rưới máu tươi mà đánh kẻ gian nô, hãy vùng lên giết sạch
lũ chúng; hai là diệt chủng” Và ông kiên quyết chọn con đường thứ nhất
Như vậy, Phan Bội Châu đã xác định được một trong những quyền cơ bản nhất, thiêng liêng nhất của loài người nói chung và của người Việt Nam nói riêng là quyền làm chủ vận mệnh đất nước Điều đó cho thấy, mặc dù ông không trực tiếp nói đến dân chủ nhưng ông đã cụ thể hoá dân chủ với tính cách
là quyền lực của nhân dân, thành quyền làm chủ của nhân dân với đất nước
Và sau khi giành được chủ quyền dân tộc, việc thiết lập chính quyền nhà nước sau một cuộc cách mạng là một vấn đề cốt tử, nó là yếu tố quan trọng giúp ta xác định tính chất của một cuộc cách mạng xã hội
Tuy vậy, ỏ Việt Nam đầu thế kỉ XX, việc tranh luận về thể chế nhà nước trong tương lai lại diễn ra trong một bối cảnh khá đặc biệt: Đất nước đang ở giai đoạn giao thời, các yếu tố kinh tế mới đang còn trong giai đoạn manh nha, các giai cấp trong xã hội phân hoá chưa thuần thục, ảnh hưởng của phong kiến còn mạnh, giai cấp tư sản dân tộc chưa hình thành… Những yếu tố đó tác động vào
tư tưởng các sĩ phu yêu nước trong việc xác định mô hình nhà nước tương lai Phan Bội Châu băn khoăn: nếu như cách mạng thành công, thực dân Pháp bị đánh đuổi rồi thì ai? (lực lượng nào? giai cấp nào?) sẽ nắm chính quyền, sẽ xây dựng một chính thể quân chủ hay dân chủ?
Trang 18Năm 1904, Duy Tân hội được thành lập, Phan Bội Châu và những người cùng chí hướng đã sử dụng Kì ngoại hầu Cường để (một ông hoàng thân) làm ngọn cờ cho Duy Tân Hội Các nhà sàn lập Duy Tân Hội theo xu hướng quân chủ trong đường lối chính trị của mình đó là vì: thứ nhất, họ đã chủ trương yêu cầu sự viện trợ của Nhật Bản, mà Nhật Bản là một nước quân chủ Thứ hai, chính Phan Bội Châu giải thích rằng chủ trương quân chủ không phải là do thích quân chủ hơn cộng hoà, chẳng qua là để lợi dụng “chiêu bài”, là sách lược nhất thời, như vậy mới thiết lập được mặt trận thống nhất của tất cả các lực lượng yêu nước, kể cả thân sĩ, quan trường, hoàng tộc, mới huy động được nhiều tiền bạc, của cải và sức người để đánh đổ thực dân Pháp.
Mặc dù theo xu hướng quân chủ, nhưng trong tư tưởng của mình, từ ngày tiếp thu được tư tưởng của Tân thư Phan Bội Châu đã hướng hẳn về các nước Châu Âu rồi, nhưng Phan Bội Châu sợ rằng bây giờ mà đưa ra chủ trương dân chủ cộng hoà thì hàng ngũ yêu nước sẽ bị chia rẽ, nhân tâm li tán
sẽ ảnh hưởng xấu đến phong trào chung Cho nên, năm 1906, khi Phan Châu Trinh trở về nước vẫn tiếp tục công kích chủ trương của Duy Tân Hội, Phan Bội Châu đã viết thư nói rõ ý đồ của mình, rằng đây là “thủ đoạn tuy thời, tuỳ nghi” Phan Bội Châu chân tình bày tỏ với Phan Châu Trinh “dân không còn nữa mà chủ với ai ?” Từ khi thành lập Duy Tân Hội đến trước khi thành lập Quang Phục Hội, Phan Bội Châu đã luôn đề cập đến vai trò của nhân dân:
“Nếu không dân cũng là không có gì”, “nước non rửa mặt cũng nhờ có dân” Nói cách khác, trong tư tưởng của Phan Bội Châu và một số chí sĩ thuộc Duy Tân Hội sẵn có mầm mống dân chủ Một mặt, mầm mống này hình thành nhờ hai lần Phan Bội Châu gặp Tôn Trung Sơn tại Nhật Bản vào đầu năm 1905 Khi ấy, Tôn Trung Sơn đã kịch liệt công kích chủ trương quân chủ lập hiến của Duy Tân Hội, yêu cầu cách mạng Việt Nam tham gia giúp Đảng cách mạng Trung Quốc, sau khi cách mạng Trung Quốc thành công sẽ giúp ta giành độc lập Cuộc gặp gỡ với Tôn Trung Sơn chưa được thoả thuận nào nhưng Phan Bội Châu và một số chí sĩ khác thuộc Duy Tân Hội đã thấy rằng “chính thể dân chủ cộng hoà là hay, là đúng” công nhận chủ trương quân chủ chỉ là nhất thời Mặt khác, trong quá trình cộng tác với Vân Nam tạp chí, tiếp xúc với các nhà hoạt động cách mạng Trung Quốc đã kéo Phan Châu đến gần chủ nghĩa dân chủ hơn Trong Phan Bội Châu niên biểu ông viết: “Tôi được trao đổi với nhiều đảng viên cách mạng Trung Quốc nên ngày càng thấm nhuần được tư tưởng dân chủ… trong bụng đã chứa sẵn một động cơ thay đổi bắt đầu
từ đó” Trong cuộc “Đại hội nghị” Phan Bội Châu là người đầu tiên đề ra và
Trang 19cũng là người tranh luận hăng hái nhất để bảo vệ chủ nghĩa dân chủ, cuối cùng
đã được chấp nhận Tôn chỉ duy nhất khi Việt Nam Quang Phục Hội được thành lập là “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập Cộng hoà dân quốc Việt Nam” Điều đó cũng giải thích vì sao trong tuyên ngôn của Quang Phục Hội có câu:
“Muốn cho ích nước lợi nhà
ắt là dân chủ cộng hoà mới xong”
Nhìn lại từ lúc hình thành con đường cứu nước của Duy Tân Hội, Phan Bội Châu có nói là “chưa có chủ nghĩa gì khác” thì đến đây đã ghi nhận một cái mốc chuyển biến lớn của tư tưởng dân chủ trong Phan Bội Châu Nếu như trước
đó, Phan Bội Châu mới chỉ dừng lại quyền của dân là trừng phạt những vua tệ, quan hư: “Trên là vua nên để hay nên truất, dưới là quan nên thăng hay nên giáng, dân ta đều có quyền quyết đoán cả”, thì nay ông khẳng định dân có quyền khởi nghĩa đánh đổ chế độ quân chủ độc đoán: “Nếu một vài ông vua ngoan cố gian ác không muốn trao quyền cho dân, dân sẽ liên kết thành đại đảng để tranh đấu…” Nhưng muốn thiết thực giải quyết vấn đề dân quyền thì phải xây dựng một chế độ xã hội mới, trong đó vua chỉ giữ vị trí thứ yếu, “vua phải lấy dân làm trời, dân chính là kẻ đứng đầu trị nước” Quân quyền ở đây không còn là tuyệt đối nữa mà theo Phan Bội Châu, nó đã thu hẹp tới mức “sắc chiếu của hoàng đế rất đáng tôn trọng, nhưng nếu nghị viện không đồng ý thì cũng phải thu hồi mệnh lệnh đó”, trong khi đó “phiếu bầu hạ viện do tổng tuyển
cử của tất cả công dân” Chính quyền không được làm trái ý dân, chính phủ là đại diện cho nhân dân cả nước mà thôi, còn cái căn bản, cái chốt thì là ở toàn dân Như vậy, Phan Bội Châu đã tạo nên bước ngoặt trong tư tưởng quân chủ lập hiến sang dân chủ
Nhưng ngay trong bước ngoặt của sự chuyển biến này, tư tưởng Phan Bội Châu cũng có chỗ chưa triệt để Phan Bội Châu bị hạn chế bởi lập trường của giai cấp xuất thân và điều kiện lịch sử nên trong một thời gian dài ông đã không ý thức được vai trò của nông dân trong cách mạng dân chủ Xã hội mà Phan Bội Châu mơ ước thật là một xã hội quyền làm chủ thuộc về người dân, nhưng thực chất cái xã hội ấy, chính phủ là công cụ thống trị của giai cấp tư sản, còn dân quyền, tự do, bình đẳng chỉ là bách vẽ lừa bịp dân Mâu thuẫn đó trong đời sống hiện thực chính là nguồn gốc xã hội quy định mâu thuẫn trong
tư tưởng của Phan Bội Châu