Và cứ mỗi lần đứng trước cảnh đất nước bị xâm lăng, nền độc lập đang bị đe dọa, lại xuất hiện những bậc anh hùng hào kiệt họ mang trong mình một ý chí quyết tâm chiến thắng giặc, một tư
Trang 1Lời cam đoan
Khóa luận tốt nghiệp “ảnh hưởng của Nhật Bản đối với tư tưởng cứu
nước của Phan Bội Châu” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của
Thạc sĩ Trần Thị Thu Hà
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng bản
thân tôi không trùng lặp với bất kì kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực và chưa có trong một đề tài nào Đồng thời đề tài của tôi là sự tập hợp những cứ liệu xác thực, có cơ sở rõ ràng
Người thực hiện
Tạ Thị Hải
Trang 2Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong
khoa Lịch sử, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ, chỉ bảo và truyền
đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Trần Thị Thu Hà đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trong thời gian thực hiện khóa luận do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu xót, rất mong được sự đồng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn sinh viên
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện
Tạ Thị Hải
Trang 3Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề 6
3.Mục đích, nhiệm vụ 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của khóa luận 9
7 Bố cục của khóa luận 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG I:KHÁI QUÁT VỀ PHAN BỘI CHÂU VÀ TÈNH HÈNH VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 10
1.1.Khái quát về Phan Bội Châu 10
1.1.1 Tiểu sử và hoạt động của Phan Bội Châu 10
1.1.2 Quê hương và các mối quan hệ xã hội 16
1.2 Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp tác động đến Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 19
1.2.1 Xã hội thực dân nửa phong kiến 19
1.2.2 Sự phân hóa giai cấp trong xã hội 23
1.3 ảnh hưởng của tình hình thế giới tới Việt Nam 26
1.4 Nhiệm vụ lịch sử mới 29
TIểU KếT
CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 35
2.1 Cải cách Minh Trị - Duy Tân (1868-1912) và sự phát triển của đế quốc Nhật Bản 35
Trang 42.2 Sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu 40
2.2.1 Tư tưởng vũ trang bạo động 40
2.2.2 Từ chủ trương cầu viện đến tư tưởng cầu học 46
2.2.3 Từ quan điểm “Đồng văn, đồng chủng, đồng châu” đến đồng bệnh.50 2.2.4 Từ nền quân chủ lập hiến sang nền dân chủ cộng hòa 52
2.2.5 Tư tưởng đoàn kết dân tộc của Phan Bội Châu 55
2.3 Đánh giá tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu 61
2.3.1 Tích cực 61
2.3.2 Hạn chế 64
KếT LUậN 66
TÀI LIệU THAM KHảO 68
Trang 5Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam có bề dày lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Trong lịch sử chúng ta đã không ít lần phải đương đầu với nhiều kẻ thù lớn mạnh, nhưng với truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết chống ngoại xâm, những âm mưu xâm lược của kẻ thù cuối cùng đều thất bại Và cứ mỗi lần đứng trước cảnh đất nước bị xâm lăng, nền độc lập đang bị đe dọa, lại xuất hiện những bậc anh hùng hào kiệt họ mang trong mình một ý chí quyết tâm chiến thắng giặc, một tư tưởng cứu nước lớn lao như: Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Quang Trung - Nguyễn Huệ…và đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì một tư tưởng lớn xuất hiện để đảm đương trách nhiệm cứu nước cứu dân đó là Phan Bội Châu - người đã hi sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp cứu nước cứu dân
Phan Bội Châu, bậc anh hùng dân tộc, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng [24, tr 4] Cái tên Phan Bội Châu đã chiếu sáng một phần tư thế kỷ, cùng với cuộc đời hoạt động và những lời tâm huyết của cụ đã vang vọng khắp non sông, cất lên như những hồi kèn giục giã thúc giục cả thế hệ đứng lên chống giặc cứu nước, trước khi xuất hiện ngôi sao Bắc thần là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quốc dân đồng bào ta đã gửi gắm niềm hi vọng vào Phan Bội Châu và phong trào giải phóng dân tộc do cụ lãnh đạo
Trong cái gia tài mà Phan Bội Châu để lại cho phường hậu tử là sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc mà cốt lõi là tư tưởng cứu nước của ông- một trong những di sản quý báu nhất Để kế thừa và phát huy những di sản quý báu ấy, từ trước đến nay tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau Đúng như Đặng Thai Mai nói: “Gần 20 năm sau khi nắp quan tài đã đậy lên trên hình hài nhà chí sĩ, cho đến ngày nay, cũng chưa thể nói là đã có một “định luận”, một nhận thức dứt khoát, nhất trí về nhân cách, tư tưởng, sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu” [24, tr 6]
Trang 6Tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu chịu ảnh hưởng rất lớn từ Nhật Bản, và từ đó được ông vận dụng vào sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc của mình Tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu đã có sự thay đổi dần dần phù hợp với những yêu cầu của lịch sử đề ra, đặc biệt là từ sau khi xuất dương sang Nhật cầu viện Vậy sự ảnh hưởng của Nhật Bản đến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu đươc thể hiện như thế nào? Dưới sự tác động của Nhật tư tưởng đó được thay đổi ra sao? Đây là vấn đề mà không ít các nhà nghiên cứu
đã đặt ra để giải quyết Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu sắc về: “ảnh hưởng của Nhật Bản đối với tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu” Chính vì vậy tôi chọn đề tài:
“ảnh hưởng của Nhật Bản đối với tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu”
làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu là đề tài được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải có sự đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu
Trong nước có nhiều công trình nghiên cứu về con người, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu trong đó phải kể đến:
Tác phẩm Phan Bội Châu và một giai đoạn chống Pháp của nhân dân Việt Nam (xuất bản năm 1958) của Tôn Quang Phiệt Trên cơ sở thu thập
được thêm nhiều tài liệu tác giả đã nghiên cứu tỉ mỉ cuộc đời nhà chí sĩ từ đầu đến cuối Công trình nghiên cứu này về cơ bản đã đáp ứng lại sự mong đợi của đông đảo bạn đọc, đã giúp độc giả đi đến một nhận định dứt khoát, công bằng về sự nghiệp và địa vị chính trị của Phan Nam Sào trong lịch sử cách mạng Việt Nam
Năm 1967, góp phần kỉ niệm 100 năm ngày sinh Phan Bội Châu viện
triết học đã xuất bản tập sách Phan Bội Châu – Tư tưởng chính trị và tư tưởng triết học (Bùi Đăng Duy, Nguyễn Đức Sự và Chương Thâu) Tác phẩm trình
bày một cách hệ thống tư tưởng chính trị và tư tưởng triết học của nhà chí sĩ,
Trang 7phát triển qua ba giai đoạn của hai thời kì trước và sau năm 1925, từ sau khi những quan điểm chính trị của Phan Bội Châu được xây dựng trên lập trường dân chủ tư sản hình thành, phát triển và đi đến hoàn thiện trải qua một thời gian dao động và chấm dứt vai trò của nó trong lịch sử và bị thời đại vượt qua
Ngoài mấy cuốn sách nghiên cứu trọn vẹn về Phan Bội Châu trên đây cũng còn một số sách viết về tiểu sử và một số hoạt động cách mạng của Phan
Bội Châu như cuốn Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh (xuất bản năm 1956)
của Tôn Quang Phiệt
Luận án phó tiến sĩ khoa học Phan Bội Châu con người và sự nghiệp cứu nước của Chương Thâu viết năm 1981 Luận án viết về con người, gia
đình và sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu
Hàng chục bài nghiên cứu về Phan Bội Châu đã được đăng trên các tạp
chí như Góp phần tìm hiểu tư tưởng Phan Bội Châu về con người qua tác phẩm “Nhân sinh triết học” của cụ (tạp chí triết học, số 1 – 1981); Tình hình nghiên cứu Phan Bội Châu từ trước đến nay (tạp chí nghiên cứu lịch sử, số
104, tháng 11 – 1967)
Trên thế giới các nhà nghiên cứu khoa học Trung Quốc, Nhật Bản, Liên Xô, Tiệp Khắc, Hung-ga-ri, Ba Lan, Pháp, Mỹ… cũng có những công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu Trung Quốc, năm 1959 có Hoàng Nhật
Cầu “Giới thiệu thơ chữ Hán Phan Bội Châu” và năm 1980 có thêm công trình: nghiên cứu Phan Bội Châu của Từ Thiện Phước ở trường Đại học Ký
Nam - Quảng Châu
ở Liên Xô, đồng chí Xu-vô-rin, Xvet-tốp có viết mấy luận văn về nhà yêu nước Phan Bội Châu (1973)
ở Mỹ, David G Mair với cuốn sách Phong trào chống chủ nghĩa thực dân của Việt Nam từ 1895-1925, trong đó giành nhiều chương viết về Phan Bội Châu, năm 1978 ông lại dịch và giới thiệu tác phẩm Ngục trung thư của
Phan Bội Châu để giới thiệu tới đông đảo bạn đọc Mỹ
Trang 8Trên đây là một số công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu, có tác giả
đã đề cập đến con người và sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu, có tác giả
đã đề cập đến hệ tư tưởng của Phan Bội Châu
Trên cơ sở tìm hiểu các tài liệu viết về cuộc đời, con người, sự nghiệp cưú nước, tư tưởng giải phóng dân tộc của Phan Bội Châu mà các nhà nghiên cứu, các tác giả đã biên soạn, chúng tôi đã kế thừa những kiến thức quý báu
đó để thực hiện đề tài: “ảnh hưởng của Nhật Bản đối với tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu”
3 Mục đích, nhiệm vụ
Mục đích
Đề tài nhằm làm rõ những tác động, ảnh hưởng của Nhật Bản đối với việc hình thành nên những tư tưởng cứu nước giải phóng dân tộc của Phan Bội Châu, qua đó đánh giá những mặt tích cực và hạn chế trong tư tưởng cứu nước của ông
Nhiệm vụ
Tìm hiểu về con người Phan Bội Châu, hoàn cảnh gia đình, quê hương
có ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách, hình thành tư tưởng cứu nước giải phóng dân tộc trước khi xuất dương cầu viện của Phan Bội Châu
Tình hình Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Sự phát triển của đế quốc Nhật Bản sau cuộc cải cách Minh Trị - Duy Tân (1868 - 1912)
Nghiên cứu ảnh hưởng của Nhật Bản đến việc hình thành các tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phan Bội Châu và ảnh hưởng của Nhật Bản đến tư tưởng cứu nước giải phóng dân tộc của cụ
Phạm vi nghiên cứu
Trang 9Không gian, đề tài nghiên cứu về vùng đất xứ Nghệ nơi Phan Bội Châu
sinh ra và gắn bó tuổi thơ ở đây, hoạt động của ông ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ Ngoài ra, đề tài còn đề cập đến đất nước Nhật Bản nơi mà Phan Bội Châu đã đặt chân đến trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình
Thời gian, đề tài nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ năm 1867 đến
năm 1941, nghĩa là từ lúc Phan Bội Châu sinh ra đến lúc cụ từ giã cõi đời này
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khi nghiên cứu đề tài người dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu
Ngoài ra khóa luận còn sử dụng phương pháp: sưu tầm, thu thập, xử lí
tư liệu, thống kê, phân tích và đối chiếu để xác minh sự kiện, nội dung lịch sử
6 Đóng góp của khóa luận
Về mặt khoa học: Đề tài góp phần vào việc tìm hiểu về tư tưởng cứu nước giải phóng dân tộc của phan Bội Châu từ khi xuất dương cầu viện Nhật Bản, qua đó thấy được tác ảnh hưởng của Nhật Bản đến sự hình thành tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Về mặt thực tiễn: Khóa luận đóng góp về mặt tư liệu cho những ai quan tâm đến Phan Bội Châu, đặc biệt là tư tưởng cứu nước của ông
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Khái quát về Phan Bội Châu và tình hình Việt Nam cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Chương 2: ảnh hưởng của Nhật Bản đối với tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Trang 10Nội dung Chương 1 KHáI QUáT Về PHAN BộI CHÂU Và TìNH HìNH VIệT NAM
CuốI THế Kỷ xix ĐầU THế Kỷ xx 1.1 Khái quát về Phan Bội Châu
1.1.1 Tiểu sử và hoạt động của Phan Bội Châu
Phan Bội Châu biệt hiệu là Sào Nam, sinh năm Đinh Mão (1867), ở thôn Sa Nam, xã Đông Liệt, sau dời về xã Đam Nhiệm, tổng Xuân Liễu, hai nơi đều thuộc Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Gia đình họ Phan là một gia đình Nho học nghèo đã lâu đời Cha là Phan Văn Phổ làm nghề dạy học, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn có hiểu biết chữ Hán ít nhiều Theo Phan Bội Châu kể lại thì ông cha là người thâm nho, thường đi dạy xa nhà “lấy nghiên làm ruộng, lấy bút làm cây mới có thể tự túc được” Bà mẹ là người hiền lành có lòng thương người nghèo khó, ăn ở không mất lòng ai
Lúc Phan Bội Châu ra đời thì toàn bộ Nam Kỳ đã bị người Pháp chiếm đóng Lớn lên Phan Bội Châu đã từng bước chứng kiến cái chính sách “tằm
ăn lá” của bọn cướp nước, thực dân Pháp đã chiếm dần dần từ tỉnh này đến tỉnh khác, từ xứ này đến xứ khác, hoặc bằng chính trị hoặc bằng quân sự, chủ yếu bằng quân sự cho đến khi nuốt cả Đông Dương
Thưở bé Phan Bội Châu học rất thông minh, khoảng 8, 9 tuổi đã làm được những bài văn ngắn và dự các cuộc khảo hạch ở làng hay ở phủ huyện
Một điều đặc biệt là lòng yêu nước ghét thù đã nảy nở ở Phan Bội Châu
từ rất sớm Lúc lên 7 tuổi (1874) văn thân Nghệ Tĩnh nổi dậy nêu khẩu hiệu:
“Bình Tây”, Phan Bội Châu đã tập hợp một số lực lượng học sinh trẻ con lấy tre làm súng, hột vải làm đạn, giả đò làm quân Bình Tây Ông thân đã qưở trách nhiều lần đối với hành động đó, nhưng Phan Bội Châu vân giữ tính hiếu động, hiếu kì như thế Năm 17 tuổi, khi Pháp đánh ra Hà Nội lần thứ hai,
Trang 11nghĩa binh nổi dậy như ong, Phan Bội Châu cảm kích viết bài hịch: “Bình Tây Thu Bắc” (Đuổi Pháp lấy lại Bắc Kỳ) đem dán lên một cây to ở ngoài đường,
để cổ động nhân dân nổi dậy chống Pháp
Năm 19 tuổi (1885) kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn
và kế đó Pháp kéo quân vào tỉnh Nghệ An, Phan Bội Châu đã bước một bước mạnh hơn: ông đã tụ tập các bạn đọc thành một đội quân thí sinh trên 60 người hưởng ứng theo chiếu Cần Vương Nhưng đội quân vừa tổ chức dược
10 ngày chưa hành động gì thì Pháp kéo đến đốt phá làng tan tành, nhà của Phan Bội Châu cũng bị đốt, ông bị mọi người oán trách và phải giải tán đội quân thí sinh và tự cho việc mình làm là việc yêu nước trò trẻ con
Ông rất hâm mộ các ông Phan Đình Phùng, Đinh Văn Chất, Nguyễn Xuân Ôn và phong trào Cần Vương nhưng vì địa vị chưa có và gia đình khó khăn nên chưa theo ngay phong trào được Năm 20 tuổi, Phan Bội Châu viết quyển: “Song tuất lục” ca ngợi những người cần đầu phong trào văn thân năm giáp tuất lúc Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất và những người cần đầu phong trào Cần Vương năm Bính tuất sau khi Hàm Nghi xuất bôn ở hai tỉnh Nghệ
An và Hà Tĩnh
Từ năm 21 tuổi đến năm 31 tuổi, Phan Bội Châu vì cảnh nhà nghèo đói, mẹ đã chết, cha đang bị ốm, nên phải lo dạy học nuôi gia đình, sống một cách ẩn nấp, chăm chỉ học hành để đi thi hương cho đỗ cho có danh vọng Vì ông nhận thấy đời còn ham chuộng danh tước này danh tước nọ mà mình không có thì khó bề hoạt động Tuy vậy ông vẫn bí mật liên kết với các dư đảng Cần Vương và các khách lục lâm, và đã gặp nhiều tâm phúc sau này cùng hoạt động cách mạng Đây chính là lúc ông chuẩn bị lực lượng để hoạt động sau này
Trang 12Năm 34 tuổi ông thi đỗ giải nguyên trường Nghệ An, danh tiếng lẫy lừng cũng là lúc cha ông từ trần Từ đây không còn vướng gánh nặng gia đình nữa ông tích cực cho hoạt động cách mạng
Từ năm 1900 cho đến 1905, Phan Bội Châu ráo riết vận động trong nước với ba kế hoạch hoạt động cụ thể Thứ nhất là: liên kết với những dư đảng Cần Vương và những tay tráng kiện ở sơn lâm, xướng khởi nghĩa binh, mục đích là đánh Pháp phục thù mà thủ đoạn là bạo động Thứ hai là: tìm người hoàng thân lập làm minh chủ, ngầm liên kết với những người có thế lực
để họ ứng viện lại tập hợp những người trung nghĩa ở Trung - Bắc kỳ cùng nhau khởi sự Thứ ba là: thi hành hai kế hoạch trên, lúc nào cần đến ngoại viện thì phái người xuất dương cầu viện
Năm 1901, nhân ngày lễ tập trung 14-7 Phan Bội Châu cùng một số đồng chí đã đánh úp tỉnh Nghệ An nhưng thất bại Năm 1903, Phan Bội Châu mượn tiếng vào Huế học để tìm kiếm người yêu nước trong đám quan trường
và sĩ phu Năm 1904, Phan Bội Châu cùng 20 đồng chí đã hội nghị ở nhà ông Tiểu La lập thành hội và bầu Cường Để làm hội trưởng, hội này sau khi Phan Bội Châu xuất dương mới được goi là hội Duy Tân Cũng trong hội nghị này Phan Bội Châu được cử xuất dương cầu viện Nhật Bản Năm 1905, Phan Bội Châu sang Trung Quốc rồi Nhật Bản Phan Bội Châu xuất dương nhằm mục đích cầu viện binh và mua khí giới của Nhật để trang bị cho nghĩa binh ở nhà
Hoạt động của ông ở nước ngoài gặp nhiều khăn Lúc đến Hồng Kông ông giao thiệp với các nhà báo Trung Quốc như Thương báo của Đảng bảo hoàng và Trung Quốc nhật báo của Đảng cách mạng Sự yêu cầu giúp đỡ đều không có hiệu quả Sau đó ông sang Nhật Bản, ở đây ông gặp Lương Khải Siêu, Lương Khải Siêu khuyên ông nên viết nhiều bài văn gửi về nước để cổ động nhân dân và khuyên thanh niên xuất dương du học
Trang 13Giữa năm 1905, Phan Bội Châu trở về nước đưa một số thanh niên sang Nhật và chuẩn bị cho việc đưa Cường Để xuất dương
Năm 1906, Cường Để đến Hồng Kông, Phan Bội Châu lúc đó mới thảo
ra chương trình của hội Duy tân in gửi về nước Cũng lúc đó Phan Chu Trinh chốn ra gặp Phan Bội Châu, cả ba người cùng sang Nhật Nhờ vào số tiền Cường Để mang sang Nhật và trong nước gửi sang do sự vận động của các đảng viên, Phan Bội Châu mới mở rộng nhà Bính ngọ hiên làm cơ quan và xin cho học sinh vào trường Chấn Vũ, tại đây Phan Bội Châu lại mượn tên Cường Để thảo bài tuyên cáo phụ lão toàn quốc phân phát khắp ba kỳ Bắc, Trung, Nam
Hưởng ứng theo lời kêu gọi của Phan Bội Châu, học sinh ra ngoài học càng ngày càng nhiều Các học sinh Việt Nam được vào học trong trường Đông á đồng văn, buổi sáng học tiếng Nhật và các môn phổ thông, buổi chiều học quân sự Năm 1907, các lưu học sinh lập ra Công hiến hội Năm 1908, một mặt chính phủ Pháp đàn áp các gia đình có con xuất dương du học, một mặt chúng liên kết với chính phủ Nhật bắt giải tán lưu học sinh Việt Nam ở Đông Kinh Đầu năm 1909, Pháp Nhật kí kết hiệp ước với nhau, Đảng cách mạng của Việt Nam bị trục xuất, Phan Bội Châu và Cường Để bị trục xuất khỏi Nhật
Trong nước nhiều việc quan trọng xảy ra, ở Quảng Nam và một số tỉnh khác ở Trung Kỳ xảy ra vụ án “xin xâu” nhân dân bị khủng bố, các nhà chí sĩ
bị bắt đầy ra Côn Đảo (1908), ở Hà Nội trường Đông Kinh Nghĩa thục bị đóng cửa, các hội học, hội buôn ở trong nước đều bị khủng bố
Năm 1909, Pháp bội ước tiến công Hoàng Hoa Thám ở Phồn Xương, nhân dân cả nước phẫn uất Phan Bội Châu đã dùng tiền vận động được trong nước để mua khi giới, ông mua được 500 khẩu súng Trong khi Phan Bội Châu đang chạy khắp nơi để tìm cách trở khí giới về nước thì trong nước ông
Trang 14Ngư Hải bị hi sinh, quân Hoàng Hoa Thám bị tan rã Trước tình hình đó ông đem vũ khí giúp cho đảng Tôn Dật Tiên
Tháng 10 năm Tân Hợi (1911) cách mạng Trung Quốc thành công Ông trở về Quảng Đông tập hợp lại các đồng chí phân tán từ bấy lâu nay, tụ tập lại để tổ chức lại lực lượng
Năm 1912, hội Việt Nam quang phục được thành lập Tôn chỉ duy nhất của hội là: Đánh đuổi thực dân Pháp khôi phục nước Việt Nam thành lập nước cộng hòa dân quốc Việt Nam Cường Để được bầu làm hội trưởng, Phan Bội Châu làm tổng lý Hội đã chế ra quốc kì Việt Nam, xuất bản sách nói về phương lược của hội, in quân dụng phiếu và tổ chức ra hội Chấn hoa hưng á, mục đích là nâng cao địa vị Trung Hoa và giúp cách mạng Việt Nam
Năm 1913, toàn quyền Đông Dương Sa-rô yêu cầu chính phủ Trung Hoa bắt những đảng viên cách mạng Việt Nam trong đó trọng yếu nhất là Phan Bội Châu, Phan Bội Châu bị bắt gian 3 năm sau đó được thả
Được ra tù vào năm 1917, là lúc cuộc đại chiến thế giới thứ nhất bước vào giai đoạn quyết liệt, Phan Bội Châu đã bắt liên lạc với công sứ Đức tại Trung Quốc, mong sự viện trợ của Đức để đánh Pháp Cuộc vận động này cũng có gây được vài cuộc phá rối đối với Pháp và thu được một ít kết quả
Đầu năm 1918, là lúc tên Sa-rô làm toàn quyền Đông Dương Hắn lừa bịp nhân dân bằng vài việc cải lương như ban hành bộ luật mới ở Bắc Kỳ, mở thêm vài trường học cho thành lập một vài cải hội Bộ tân luật Bắc Kỳ chẳng qua là để bênh vực quyền lợi cho địa chủ và tư sản, trường học nhằm mục đích đào tạo tay sai cho chúng
Cuối năm 1918, Phan Bội Châu từ Hàng Châu về nước theo con đường Vân Nam Về đến Vân Nam thì cái tin Pháp thắng trận đã đăng trên khắp các báo Thất vọng Phan Bội Châu lại trở về Hàng Châu Đầu năm 1919, được Phan Bá Ngọc làm trung gian Phan Bội Châu gặp tên Nê-rông, đại diện của
Trang 15toàn quyên Sa-rô ở Hàng Châu Đó là kết quả của bài luận “Pháp Việt đề huề” Tên này đã mang bức thư của Sa-rô yêu cầu Phan Bội Châu viết một bài gửi về nước thủ tiêu ý chí cách mạng, và hứa sẽ bổ nhiệm chức quan cho Phan Bội Châu Phan Bội Châu đã kịch liệt phản đối, nói rõ ý đề huề của ông
và viết thư trả lời cự tuyệt những điều kiện không chính đáng của Sa-rô
Năm 1920, ông đến gặp đại sứ Nga ở Bắc Kinh và được tiếp đón niềm
nở, được hứa giúp đỡ nếu ông muốn gửi học sinh Việt Nam sang du học bên Nga Nhưng rồi sự giao thiệp cũng không được tiếp tục
Từ đây Phan Bội Châu chỉ viết báo viết sách một là để sinh sống và để nuôi một số thanh niên ta sang Trung Quốc, hai là để truyền bá tư tưởng của mình
Năm 1922, tên việt gian Phan Bá Ngọc bị một thanh niên cách mạng giết ở Hàng Châu
Tháng 6-1924, Méc-lanh tên toàn quyền Đông Dương gặp chính phủ Trung Quốc để thương lượng việc can thiệp vào cách mạng Việt Nam tại Quảng Đông Nhà cách mạng trẻ Phạm Hồng Thái đã ném tạc đạn vào tên Méc-lanh ở khách sạn Vích-to-ri-a tại Sa diện trong tô giới Pháp Tiếng bom
Sa diện làm cho nhân dân ta phấn khởi và thế giới biết đến có Đảng cách mạng Việt Nam
Lần này về Quảng Đông ông đã được gặp Nguyễn ái Quốc, Phan Bội Châu đã cùng thảo luận nhiều và định cải tổ Đảng cho thích hợp với phong trào mới
Tháng 6-1925, ông bị một bọn mật thám Pháp bắt và đưa về tô giới Pháp
Đưa về nước, Phan Bội Châu bị tòa án đề hình tại Hà Nội xử khổ sai chung thân… Nhân dân rất phẫn uất họ kí tên vào truyền đơn và rải nhiều nơi trong nước phản đối việc bắt và làm án Phan Bội Châu Trước sự phản đối
Trang 16gay gắt của đông đảo quần chúng tên tên toàn quyền Va-ren-nơ đã thả Phan Bội Châu và đưa về Huế Về Huế ông tiếp tục viết sách ca ngợi lòng ái quốc của nhân dân Thời gian này ông sống khá ảm đạn trong một ngôi nhà tranh vách đất do đồng bào góp tiền làm cho khi ông trở về Huế
Đến ngày 29-10-1941, sau một thời gian ốm khá lâu ông già Bến Ngự
đã chút hơi thở cuối cùng Đám tang được cử hành tại vườn riêng của ông ở Bến Ngự, có hàng trăm câu liễn gửi đến phúng viếng Hơn nữa nhân dân đã bí mật góp tiền xây dựng một cái mộ lớn xứng đáng với một người yêu nước và gian khổ vì nước
Sau quãng đời 74 tuổi với ngót 30 năm hoạt động cách mạng, Phan Bội Châu đã để lại trong trí nhớ chúng ta một ấn tượng sâu sắc, tinh thần diệt thù cứu nước của ông làm cho mọi người khâm phục
1.1.2 Quê hương và các mối quan hệ xã hội
Quê hương
Làng Sa Nam (nay là xã Nam Diên), quê ngoại Phan Bội Châu cũng như làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hòa) quê nội Phan Bội Châu cách nhau khoảng ba kilômét đều nằm trên tả ngạn sông Lam dọc theo hướng Đông Nam của con đê 42 của Nam Đàn, tỉnh Nghệ Tĩnh
Nghệ Tĩnh là một tỉnh nghèo, con người cần cù mà hiếu học Trong lịch
sử đấu tranh của dân tộc, Nghệ Tĩnh là nơi diễn ra nhiều cuộc chiến đấu của nhân dân ta với kẻ thù Thời Trần Nghệ Tĩnh là căn cứ của Trần Quý Kháng
và Lê Lợi trong kháng chiến chống quân Minh Thời Lê – Trịnh nơi đây là chỗ dụa của Nguyễn Kim, Trọng Kiểm trong việc chống nhà Mạc khôi phục nhà Lê…
Sau khi đất nước rơi vào tay Pháp, Nghệ Tĩnh là nơi diễn ra phong trào chống Pháp sâu rộng và kéo dài hơn cả, tổ chức kháng chiến đã được ra đời ở tất cả các huyện Đây là nơi diễn ra các cuộc đọ sức của nhân dân ta với giặc
Trang 17Pháp, như cuộc đọ sức của nghĩa quân do Nguyễn Xuân Ôn rồi Phan Đình Phùng đứng đầu, là cuộc đọ sức của nghĩa quân do Trần Tấn, Đặng Như Mai sau đó là của Trần Xuân diễn ra vào năm 1974 trên các cánh đồng và thôn xóm của vùng Sa Nam và Đan Nhiễm
Phan Bội Châu sinh ra trên mảnh đất ấy, đã được nuôi dưỡng bởi truyền thống đấu tranh bất khuất với dòng sữa thơm của quê hương với tất cả cái “cốt tính xứ Nghệ” Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Các mối quan hệ xã hội
Sinh ra trong một gia đình cha là người thâm nho, thông hiểu kinh truyện, làm nghề dậy học để kiếm kế sinh nhai Theo người đương truyền lại, ông là một bậc “thiện nhân”, sống cảnh đạm bạc được mọi người yêu quý Mẹ
là bà Phan Thị Nhàn là người rất mực hiền hậu thuộc dòng dõi Nho học, sống trong cảnh nghèo khó, hàng ngày bà phải tất bật chợ sớm chợ trưa với nghề hàng sáo hàng xay, để mong kiếm được mớ tấm nuôi Phan với hai em gái của Phan Bà vốn tính hay thương người đối với mọi người thì luôn ôn hòa, hay giúp đỡ những kẻ khốn khó Phan Bội Châu chịu ảnh hưởng rất sâu sắc ở mẹ ông Bà thường răn con không được làm điều gì trái với lẽ phải, và lời khuyên
ấy đã cùng Phan Bội Châu đi vào con đường cứu nước
Ngoài ảnh hưởng từ bố mẹ, Phan Bội Châu còn chịu ảnh hưởng từ những người thầy dạy học của mình Trong số những người thầy mà Phan Bội Châu theo học như thầy Đinh Văn Uyển, Nguyễn Thúc Kiều, Nguyễn Đức Đạt, nhưng người có ảnh hưởng lớn nhất đến với tư tưởng của Phan Bội Châu, thì phải kể đến thầy Nguyễn Thức Tự, thường gọi là cụ Sơn Cụ từng ra làm quan dưới triều đình đầu hàng giặc cụ treo ấn từ quan biểu thị thái độ phản đối, về mở trường dạy học tại trường Đông Chữ huyện Nghi Lộc Cụ là người có khí tiết thanh cao, danh vọng lớn, học trò khắp nơi đến học rất đông
Trang 18đến 400 người Học trò của cụ phần lớn đều đỗ đạt cao khoa Một số ít ra làm quan, còn một số đông nhờ được cụ giáo dục tinh thần yêu nước về sau trở thành những yếu nhân của các phong trào Đông Du, Duy Tân… như Phan Bội Châu, Đặng Thúc Hứa, Đặng Tử Kính, Vương Thúc Quý… Về văn chương cũng như con người, cụ là người mẫu mực điển hình được các sĩ phu Nghệ Tĩnh hết lòng hâm mộ Sau ngày cụ mất năm 1917, chính Phan Bội Châu khi đang hoạt động ở nước ngoài đã soạn một bài “bi kí” gửi về trong đó có câu:
“Kinh sư dị đắc, nhân sư nan tầm” (là thầy về kinh điển còn dễ gặp, còn như thầy về nhân thì thật khó tìm) Chính người thầy đáng kính này đã có công tác thành cho Phan Bội Châu về cả sự nghiệp văn chương lẫn tư tưởng yêu nước
Trong quan hệ của Phan Bội Châu, còn phải kể đến những người bạn thân từ thưở thiếu thời Đó là những người đồng hương, đồng chí với nhau Thưở nhỏ Phan Bội Châu có rất nhiều bạn nhưng đáng chú ý hơn cả là những người bạn học Ngày nay ở quê hương Nam Đàn còn lưu truyền nhiều giai thoại về mấy người bạn thân, cũng là mấy người giỏi nhất thời đó và được mệnh danh là “Nam Đàn tứ hổ” Đó là: Phan Văn San (tức Phan Bội Châu), Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Bác Hồ),Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương Những người bạn này ảnh hưởng khá sâu sắc đến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu Ngoài là bạn học và bạn chơi, họ còn gắn bó với nhau sâu sắc hơn bởi tình “đồng chí” Những người bạn này đều thấy được cái nhục của cảnh nước mất nhà tan, dân tộc sống trong cảnh cực khổ Họ đều tham gia hoạt động chống Pháp hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp như Trần Văn Lương là một trong những thủ lĩnh của đội sĩ tử cần vương ở Nghệ An năm 1885, Vương Thúc Quý cũng là một tay kiệt xuất trong đám sĩ tử, một “thí sinh quân” hăng hái lúc đó Nguyễn Sinh Sắc cũng vậy, người thanh niên yêu nước này khi ra làm quan đã có một câu tuyên ngôn nổi tiếng: “quan trường thị nô
lệ trung chi nô lệ hựu nô lệ (quan trường là nô lệ trong đám nô lệ, lại càng nô
Trang 19lệ hơn) Rồi khi làm qua ở Bình Khê (Nghĩa Bình) đã tìm cách thả những tù nhân can tội “chống thuế” năm 1908 Sau đó đã bỏ quan về làm thầy thuốc chữa bệnh cứu người
Như vậy nhờ ảnh hưởng của quê hương, gia đình, nhờ điều kiện giáo dục của nhà trường, của thầy học, của bạn bè, những tác động của tình hình thực tế của đất nước, nên bước đầu ở Phan Bội Châu đã hình thành tư tưởng yêu nước Tư tưởng này sẽ ngày càng được phát triển từ chỗ phôi thai đến hoàn thiện trong con người Phan Bội Châu qua các thời kỳ và các giai đoạn hoạt động của ông
1.2 Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp tác động đến Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
1.2.1 Xã hội thực dân nửa phong kiến
Từ cuối thế kỷ XIX, toàn bộ đất nước ta bị đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp Chúng Bắt đầu thực hiện kế hoạch “khai thác thác địa lần thứ nhất” (1897 – 1914) Xã hội phong kiến Việt Nam vốn đình trệ lâu dài, vì trong lòng nó không có mầm mống đủ mạnh cho chủ nghĩa tư bản ra đời, giờ đây dưới sự cai trị của Pháp trở thành một xã hội thực dân nửa phong kiến
Về chính trị-xã hội
Nhà nước bảo hộ thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước
ta thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa và bóc lột nguồn nhân công để thu
về lợi nhuận cao nhất cho tư bản Pháp, đồng thời vẫn kìm hãm Việt Nam trong tình trạng trì trệ của một nước nông nghiệp lạc hậu để dễ bề thống trị, thực dân Pháp nắm quyền điều khiển bộ máy thống trị và câu kết với phong kiến phản động lầm tay sai cho chúng Cả bộ máy quan lại Nam Triều từ trên xuống đến tỉnh huyện xã cùng với bè lũ thực dân xâm lược ra sức đàn áp bóc lột nhân dân ta Đứng đầu cai trị Đông Dương có tên thực dân Pháp giữ chức toàn quyền, về phía Việt Nam có triều đình Huế làm bù nhìn Đứng đầu các
Trang 20Xứ, Kỳ có tên thực dân Pháp giữ chức thống đốc, thống xứ hoặc khâm sứ, bên cạnh đó có chức kinh lược người Việt, chức này có khi có khi không, tùy theo
sự cần thiết Đứng đầu các tỉnh có các tên công sứ người Pháp, bên cạnh có các tên tuần phủ hoặc tổng đốc người Việt ở Nam Kỳ có thời kỳ thực dân Pháp còn có người của chúng đến cấp huyện ở Bắc và Trung Kỳ từ cấp huyện trở xuống, huyện có tri huyện, tổng có chánh tổng, xã có lý trưởng… đều là người Việt Những tên nắm quyền hành từ huyện trở xuống, phần lớn đều thuộc giai cấp địa chủ, cường hào, trước đây phần lớn đã từng áo bức, bóc lột nhân dân, nay chúng câu kết làm tay sai cho thực dân Pháp, tiếp tục áp bức bóc lột nhân dân để phục vụ cho quyền lợi thực dân
Song song với việc củng cố bộ máy hành chính trên đây, thực dân Pháp còn tăng cường lực lượng quân đội và nắm quyền chỉ huy tất cả quân đội Pháp và Việt Chúng còn ra sức củng cố các cơ quan cảnh sát, mật thám, nhà tù… ở các địa phương để sẵn sàng đàn áp phong trào cách mạng và những người có hành động chống đối
Thủ đoạn độc nhất của chính quyền thuộc địa là chính sách “chia để trị”, “Dùng người Việt trị người Việt” Chúng thực hiện ba chế độ chính trị cho ba kỳ, gây chia rẽ giữa người Nam với người Bắc và người Trung, gây thù hằn dân tộc giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số
Ngoài ra, về mặt xã hội, chúng còn duy trì và phát triển các phong tục
hủ bại thời phong kiến, khuyến khích cờ bạc, uống rượu, hút thuốc phiện, phát triển mê tín dị đoan trong nhân dân Khuyến khích thành lập và tuyên truyền các tôn giáo nhằm ru ngủ nhân dân Tất nhiên những người đi ngược lại và đả phá sự hủ bại, thối nát, mê tín ấy đều bị chúng ngăn cấm và trùng trị, như các phong trào cải cách của Đông Kinh nghĩa thục năm 1907, cuộc vận động Duy tân năm 1905-1908 ở Trung Kỳ…
Trang 21Tóm lại trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, song song với việc đàn áp các phong trào chống lại Pháp, thì bộ máy thống trị của Pháp cũng dần dần được thiết lập và kiện toàn Đó cũng là những việc làm trước tiên để bọn thực dân Pháp đi đến mục đích chính là nhằm khai thác thuộc địa qua sự bóc lột tàn nhẫn đối với nhân dân Việt Nam
Về kinh tế
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, nền kinh tế nước ta chỉ là một nền
kinh tế nông nghiệp tự nhiên, tự cấp, tự túc Thủ công nghiệp có nhiều nghề nhưng quy mô nhỏ bé, phân tán khắp nơi, về mặt hàng thủ công nghiệp có kỹ nghệ khá tinh xảo, nhưng do kinh tế hàng hóa kém phát triển, nên còn ở mức phường bạn chứ chưa thành phân xưởng và chỉ đóng khung trong từng địa phương nhỏ hẹp Thương nghiệp chỉ là buôn bán nhỏ, làm nhiệm vụ trao đổi trong vùng, do giao thông không thuận lời và thuế khóa nặng nề nên cũng kém phát triển Việc buôn bán với nước ngoài bị chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình Huế ngăn chặn
Kết quả đó là nền kinh tế tự nhiên cũ kỹ bị đẩy vào phá sản Việc giao lưu hàng hóa thuận lợi hơn Tỉ trọng kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa có tăng lên, nhưng không phải là phát triển theo hướng công nghiệp hóa, mà ngày càng lệ thuộc vào tư bản thương nghiệp Pháp Đất nước ta bị kéo vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa nhưng là một thứ tư bản thuộc địa, phụ thuộc vào tư bản Pháp Tuy vậy do có sự mở rộng giao lưu hàng hóa, và do bè lũ thực dân muốn khai thác nguồn tài nguyên mà buộc chúng phải mở mang giao thông, xây dựng đường sá, cầu cống Thực chất thì thực dân Pháp không muốn mở mang kinh tế thuộc địa, và vẫn chủ trương chia rẽ Bắc Trung Nam bằng cách tạo ra ba chế độ chính trị khác nhau ở ba kỳ Nó cũng làm phá sản chính sách
bế quan tỏa cảng của triều đình Nguyễn, làm cho Việt Nam tiếp xúc được với thế giới, nhất là đối với châu Âu tư bản chủ nghĩa, mặc dù thực dân Pháp đã
Trang 22chăng một hàng rào thuế quan khá chặt chẽ, bắt buộc Việt Nam chỉ được sống với thân phận kẻ phụ thuộc, làm cái đuôi của tư bản Pháp và chỉ được phép có quan hệ với riêng một nước Pháp mà thôi
Về văn hóa-giáo dục
Để đào tạo được những người trực tiếp giúp việc cho các tổ chức chính
trị và kinh tế của chúng, bọn thực dân Pháp phải đẩy mạnh nền giáo dục Tùy theo yêu cầu chính trị của từng giai đoạn cụ thể mà chúng đưa ra những chủ trương cụ thể Nhưng nhìn chung lại tất cả những chủ trương của chúng đưa
ra là nhằm xây dựng một nền giáo dục thực dân nửa phong kiến với mục đích nhằm nô dịch và đồng hóa nhân dân Việt Nam Một mặt chúng lợi dụng nền Nho học với chế độ khoa cử lỗi thời, mặt khác chúng chỉ mở ra tại đô thị lớn một số trường học Pháp - Việt, trường thông ngôn trong phạm vi tối cần mà thôi Mục đích của chúng nhằm đào tạo đội ngũ tay sai phục vụ cho lợi ích của chúng
Những tên toàn quyền thực dân đều thực hiện chính sách giáo dục nhằm cổ súy nho học, mua chuộc Nho sĩ Nhưng càng về sau chủ trương này càng không được nho sĩ hưởng ứng, hoan nghênh, sau đó họ đã ra sức tẩy chay, phản đối Đến giữa cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp
đã phải cải cách nền giáo dục quá ư cổ hủ này Chúng bãi bỏ mọi chế độ thi
cử theo hệ thống giáo dục nho học cũ và thay vào đó một hệ thống giáo dục lại căng, què quặt gọi là: “giáo dục Pháp - Việt” đóng khung trong bậc tiểu học, dạy bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp, nhằm đào tạo đội ngũ giúp việc có
“trình độ Tây học” để tuyển chọn nhân viên thừa hành rẻ tiền cho bộ máy chính quyền thuộc địa Nền giáo dục cải cách này cũng là để phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa với quy mô lớn để tăng cường dụ dỗ nhân dân ta về mặt tư tưởng, ý thức, về văn hóa giáo dục
Trang 23Và thực chất nội dung của chương trình giáo dục mới ấy trong “Sách giáo khoa chỉ là ca tụng công đức của người Pháp, khoe khoang sức mạnh quân đội Pháp, ngoài ra chẳng có gì hay ho như vấn đề tổ tiên người Việt Nam dựng nước ra làm sao, những bậc anh hùng nghĩa sĩ Việt Nam báo đền
ơn nước ra làm sao đều cấm không cho dậy Trẻ em sáu tuổi một khi vào trường đọc sách giáo khoa là đã quên khuấy mình là người Việt Nam rồi Tóm lại, thực dân Pháp đã lập nên một nền giáo dục mà không bao giờ
đi chệch với tôn chỉ mà chúng đã quy định từ đầu Trước tiên nền giáo dục có kết quả tăng cường dồi dào giá trị sản xuất của thuộc địa, ngoài ra chính sách
đó còn nhằm mục đích đào tạo ra đội ngũ tay sai người Việt phục vụ đắc lực cho chúng, trong công cuộc khai thác và bóc lột thuộc địa
1.2.2 Sự phân hóa giai cấp trong xã hội
Những điều kiện chính trị-xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục đã gây tác động mạnh mẽ trong xã hội, làm cho sự phân hóa giai cấp trở nên sâu sắc hơn Việt Nam sau khi Pháp vào xâm lược là một xã hội phong kiến phương Đông lạc hậu, nhưng lại là một chỉnh thể độc lập, thống nhất, từ nay trở thành
bị chia cắt, đô hộ, thành một xã hội thực dân nửa phong kiến, có đổi mới nhưng không phải là thực hiện tiến bộ và khai phóng, mà là phụ thuộc nặng
là khác nhau Nhưng nhìn chung cả giai cấp là thỏa hiệp, đầu hàng giặc Bọn quân thần nhà Nguyễn, thế lực tiêu biểu nhất của giai cấp địa chủ phong kiến
đã cam chịu sống kiếp tay sai của bọn thực dân, chống lại phong trào đấu
Trang 24tranh của nhân dân chống Pháp Bên cạnh bọn Việt gian, một số khác tuy cũng ra làm quan nhưng mang tâm lí thỏa hiệp để yên tâm hưởng lạc Một số
bộ phận khác có nhận thức hơn nhưng thiếu bản lĩnh, bi quan trước thời cuộc, cáo quan về nhà, cũng không tham gia tích cực gì cho kháng chiến Ngoài ra
có một số sĩ phu thức thời thấy rõ quyền lợi của phong kiến chỉ là làm tay sai cho thực dân Pháp, họ tiếp thu truyền thống của dân tộc, sống gần gũi với nhân dân, hăng hái cùng nhân dân tham gia chống giặc, cứu nước Họ chiến đấu dũng cảm không sợ hi sinh, không tiếc xương máu Nhưng vốn xuất thân
từ một giai cấp suy tàn, kiên trì với hệ tư tưởng lỗi thời, lại chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ, nên cuối cùng không tránh khỏi thất bại Về sau, tư tưởng cứu nước của số sĩ phu này sẽ còn được thế hệ con cháu tiếp tục trong một hoàn cảnh khác có phần mới mẻ hơn, tức là thế hệ các nhà nho yêu nước chống Pháp ở đầu thế kỷ XX
Giai cấp nông dân: Chiếm đại đa số trong nhân dân (chiếm 90% trong
xã hội), trước kia với chế độ phong kiến, họ đã từng bị áp bức bóc lột nặng
nề Lúc này họ lại bị thêm một tầng áp bức mới nữa của đế quốc xâm lược, do
đó sức phản kháng của họ ngày càng mạnh, ý chí đấu tranh của họ ngày càng cao Họ là đội quân chủ lực của mọi cuộc khởi nghĩa chống Pháp và chống bè
lũ phong kiến tay sai đầu hàng giặc suốt từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ
XX
Tầng lớp tiểu tư sản thành thị: Song song với kế hoạch khai thác thuộc địa và củng cố kiện toàn bộ máy hành chính sự nghiệp của bọn thống trị giai cáp tiểu tư sản thành thị cũng ra đời Họ là những tiểu thương, tiểu chủ, thầu khoán, thầy thông, thầy ký, các công sở, sở tư ở các đô thị lớn nhỏ lần lượt ra đời trong cả nước Họ đóng vai trò là một giai cấp trung gian trong xã hội Tầng lớp tư sản: Sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân Pháp vào Việt Nam làm sản sinh ra một số người tư sản đầu tiên, làm môi giới giữa Pháp và
Trang 25người bản xứ, trong đó có một số nhỏ là tư sản mại bản, quyền lợi gắn chặt với tư bản pháp Trong tầng lớp tư sản đầu tiên ấy, có một số là tư sản dân tộc Họ là những người vố dĩ kinh doanh công thương nghiệp, họ là một số địa chủ tư sản hóa Việc kinh doanh của họ bị tư bản Pháp chèn ép, nên chậm phát triển, do đó mãi đến đầu thế kỷ XX mới có một số cửa hàng buôn và một vài công ty của người Việt lực lượng còn yếu không đủ sức chèm ép với tư bản Pháp Cho nên nói rằng giai cấp tư sản Việt Nam sinh ra và hình thành chậm
Giai cấp vô sản (giai cấp công nhân): Giai cấp vô sản Việt Nam ra đời cùng với cuộc khai thác tài nguyên, xây dựng đường sá, cầu cống của thực dân Pháp ở Việt Nam Đồng thời với chính sách áp bức, bóc lột chiếm đoạt đất đai của cải một cách tàn bạo của thực dân Pháp đối với nhân dân ta, đã phá vỡ nền kinh tế tự cấp tự túc và do đó làm cho khá đông nông dân, thợ thủ công bị phá sản, đời sống vô cùng cực khổ Cũng như vậy song song với việc phát triển công thương nghiệp của tư bản Pháp, đã khiến không ít người bị phá sản, thất nghiệp vào làm phu mỏ, phu đồn điền, phu khuân vác, khu cầu đường…ngày một đông và đã hình thành nên một giai cấp mới Khác với những người thợ trong các công trường thủ công thời phong kiến, họ bị bóc lột theo kiểu tư bản chủ nghĩa, đó là giai cấp những người vô sản, một lực lượng mới và rất quan trọng của cách mạng Việt Nam
Giai cấp vô sản Việt Nam trong giai đoạn này đang là giai cấp: “tự nó” Nó sẽ lớn lên nhanh chóng sau cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất và nhất là từ những năm 20 trở về sau Nó sẽ trở thành giai cấp “vì nó” và phất cao ngọn cờ lãnh đạọ cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đi đến toàn thắng sau này
Trang 261.3 ảnh hưởng của tình hình thế giới tới Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, các nước tư bản chính trên thế giới đã dần phát triển thành đế quốc chủ nghĩa và bắt đầu đi xâm chiếm thi trường Trong những nước này mâu thuẫn giai cấp do chủ nghĩa đế quốc sản sinh ra ngày càng trở nên sâu sắc Trong khi đó ở các nước phương Đông chậm tiến hơn, những tư tưởng cách mạng mà đã sớm nảy sinh ở các nước phương Tây từ thế kỷ trước
từ đây mới phát triển mạnh mẽ và tác động đến các nước phương Đông thuộc địa và nửa thuộc địa Tư tưởng này thể hiện ở cuộc duy tân của Minh Trị nước Nhật Bản năm 1868, tiếp theo là ở Trung Quốc với các trào lưu tư tưởng
có tính chất cải lương tư sản của Khang Hữu Vi, Lương khải Siêu sôi nổi một thời, rồi đến các cuộc vận động cách mạng của Tôn Trung Sơn mà đỉnh cao nhất của nó là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 đã làm cho “Châu á thức tỉnh” trong đó có Việt Nam
Những tư tưởng ấy đã thông qua cuộc vận động duy tân của Trung Quốc, qua các tân thư, tân báo, đặc biệt là qua cuộc chiến tranh Nga - Nhật ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng việt Nam đầu thế kỷ XX
Cuộc vận động duy tân của Trung Quốc
Từ cuối thế kỷ XIX, khi mà các nước phương Tây đã sang Viễn Đông
tìm thị trường, đối tượng chính của chúng là Trung Quốc, một nước đông dân, đất rộng, tài nguyên trù phú Kể từ cuộc chiến tranh thuốc phiện (1840) Trung Quốc đã lâm vào tình trạng nước nửa thuộc địa Vương triều Mãn Thanh suy bại dần Giai cấp phong kiến Trung Quốc trở nên phản động, không đảm đương được sứ mệnh lịch sử của mình Bấy giờ có một số sĩ phu tiến bộ hướng về phương Tây kiếm tìm chân lý để cứu nguy cho nước nhà Họ chủ trương làm một chính sách “khai phóng” học tập khoa học kỹ thuật phương Tây, cải cách kinh tế, chính trị xã hội, học tập mau chóng để tiến kịp các nước tiên tiến trên thế giới, nhất là cuộc chiến tranh Trung - Pháp (1885) và họ đã
Trang 27từng đề xướng ra khẩu hiệu: “lấy Trung học làm chủ, lấy Tây học giúp sức”
để làm nội dung cốt lõi cho cuộc vận đông duy tân cải cách Nhưng phải đến cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1894) với điều ước Mã Quan với việc bắt đầu tranh “tô giới”, vạch “phạm vi thế lực” chia cắt Trung Quốc, nguy cơ dân tộc trở ngày càng trở nên nghiêm trọng, thì các sĩ phu có tên tuổi như Khang Hữu
Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục mới nhảy nên vũ đài chính trị hô hào biến pháp Do đó cuộc chính biến Mậu tuất (1898) nổi tiếng tồn tại được 100 ngày, từng gây trấn động dư luận thế giới Cùng tiến hành song song với quá trình “vận động biến pháp”, các nhà trí thức này cho xuất
bản nhiều sách báo tiến bộ nhằm truyền bá tư tưởng duy tân do Cường học hội, Cường học thư cục Cuộc vận động này lan khắp toàn quốc lấy Quảng
Châu, Thượng Hải làm trung tâm Phong trào duy tân này cuối cùng bị Tây Thái Hậu và tập đoàn phong kiến phản động đàn áp Khang, Lương phải chốn sang Nhật, một số người chủ chốt khác bị kết án tử hình Nhưng nó cũng góp phần thức tỉnh được tinh thần yêu nước của nhân dân, đề cao ý thức độc lập dân tộc chống ngoại xâm, ý thức dân chủ chống chuyên chế Trào lưu văn hóa tiến bộ của phương Tây đã xâm nhập vào Trung Quốc và đã bước đầu tấn công vào tư tưởng phong kiến quan liêu hủ bại, mở đường cho tư tưởng dân chủ tư sản phát triển ở xã hội Trung Quốc
Đối với Việt Nam, chính cuộc vận động biến pháp Mậu tuất này đã góp phần khách quan thuận lợi cho phong trào duy tân của các sĩ phu yêu nước tiến bộ chủ trương đầu thế kỷ XX
Tân thư-tân văn
Tân thư là một danh từ khá bao quát để chỉ những cuốn sách chứa
đựng những kiến thức mới (tân học), khác với kiến thức (cựu học) trong kinh điển nhà nho Những kiến thức mới này là những kiến thức khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội từ toán, lý, hóa… cho đến lịch sử, địa lý, kinh tế, triết
Trang 28học…mà phần lớn được dịch từ sách phương Tây Có khi là chỉ tóm lược lấy
ý cơ bản, mục đích là giới thiệu “văn minh Thái Tây” nêu lên mà bắt chước, đổi mới Như vậy tân thư gắn liền với tư tưởng cải cách duy tân với xu hướng
tư sản phương Tây của Trung Quốc cuối thế kỷ XIX
Ngoài tân thư còn có tân văn là những tờ báo đăng tải cùng bài vở tin
tức do những nhà trí thức duy tân sáng lập, là Thời vụ báo của Lương Khải
Siêu xuất bản ở Thượng Hải vào ngày biến pháp Mậu tuất thất bại, sau đó ông
lại chủ trương mở tờ Thanh nghi báo
Những quyển sách (tân thư) và những tờ báo (tân văn) này được mang vào Việt nam bằng nhiều con đường khác nhau hoa kiều mang sang, hoặc là
do những nhà nho có quan hệ với người Trung Quốc thu thập hộ… những tài liệu đó có tác động mạnh mẽ đến nhiều nhà chí sĩ yêu nước thời bấy giờ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… đặc biệt là những cuốn sách của Lương Khải Siêu như Trung Quốc Hồn, Tân dân thuyết…với lời văn sáng sủa, hấp dẫn, trầm hùng mà thống thiết, sôi nổi, đầy nhiệt huyết như nung đốt tim gan người xem Có thể nói hầu hết các chí sĩ Việt Nam yêu nước sau này trở thành hạt nhân tích cực trong các phong trào Duy tân, Đông du, Đông kinh nghĩa thục, buổi đầu đã ít nhiều được “khai tâm” bằng những bài văn bài thơ chứa chan nhiệt huyết đó
Nhật Bản duy tân và chiến thắng Nga hoàng
Nhật Bản trước cuộc duy tân 1868, cũng là một nước phong kiến bế
quan tỏa cảng như nước ta trước năm 1858 Nhưng khi bị đế quốc phương Tây lăm le xâm lược, Nhật Bản đã có một lớp người thức thời đại diện cho
giai cấp tư sản ra làm cuộc cải cách cho đất nước, đưa đất nước phát triển đủ
sức chống lại cường liệt phương Tây, chống lại các thế lực thủ cựu trong nước
và đưa đất nước tiến theo con đường tư bản chủ nghĩa với một tốc độ khá nhanh Chẳng bao lâu Nhật Bản trở thành một đế quốc da vàng Các công ty
Trang 29độc quyền ra đời tuy vẫn còn mang nhiều tàn tích của chế độ phong kiến Đó
là đặc trưng của con đường tư bản hóa đất nước dựa trên sự câu kết chặt chẽ giữa quý tộc phong kiến với giai cấp tư sản Chế độ đại địa chủ tồn tại với hình thức bóc lột nặng nề Tiểu thủ công gia đình còn rất phổ biến và phụ thuộc vào các xí nghiệp lớn Sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn rất sâu sắc Đời sống của nhân dân lao động rất khó khăn, khiến thị trường trong nước bị co hẹp, bọn tư bản Nhật tăng cường chính sách xâm lược để tìm kiến thị trường Năm 1879, Nhật chiếm quần đảo Lưu Cầu Năm 1882-1884, gây chiến với Triều Tiên Năm 1895, chiếm Đài Loan của Trung Quốc… Năm
1904, bất thình lình tấn công hạn đội Nga ở Lữ Thuận Sau đó lại đổ bộ lên Mãn Châu giao chiến với lục quân Nga, bị tấn công bất ngờ nhất là lại chưa
có sự chuẩn bị đầy đủ, tiếp tế khó khăn, tinh thần quân đội sút kém, nên Nga thất bại nhanh chóng buộc phải kí hòa ước Pôxma nhả những quyền lợi đã chiếm được ở Mãn Châu
Chiến thắng của Nhật có một tiếng vang lớn trên thế giới tỏ rõ lực lượng của một đế quốc trẻ đang thời sung sức mà bọn đế quốc phương Tây phải dè chừng Nhất là đối với các dân tộc ở Châu á lâu nay bị đế quốc da trắng trà đạp và khinh rẻ Người ta đã quên đi rằng Nhật Bản là một đế quốc tham vọng đất đai rộng lớn, mà coi đó là người anh cả cứu tinh cho các dân tộc da vàng, sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của bọn da trắng Một khuynh hướng mong chờ Nhật Bản giúp đỡ đã nảy nở và phát triển ở Trung Quốc, ấn Độ, Miến Điện và ở cả Việt Nam
1.4 Nhiệm vụ lịch sử mới
Sau khi “bình định” nước ta bằng quân sự thắng lợi, thực dân Pháp liền đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa, cùng với những chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa, làm cho mâu thuẫn giữa đế quốc và nhân dân ta vốn đã
Trang 30sâu sắc nay lại càng sâu sắc hơn Đó là nguyên nhân động lực thúc đẩy quá trình cách mạng hóa nhân dân ta nhanh chóng hơn
Mặt khác bước vào đầu thế kỷ XX, cùng với chế độ thực dân phong kiến ra đời và thay thế cho chế độ phong kiến tàn lụi, một ý thức xã hội cũng cũng dần chuyển biến và đây cũng là điều phù hợp với trào lưu chung của thế giới là xu thế tư sản hóa Sự có mặt của hệ tư tưởng tư sản là nhân tố mới có vai trò khá quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam
Lịch sử đặt ra trước thời đại hai nhiệm vụ cần phải giải quyết: đánh đổ
đế quốc Pháp giành độc lập dân tộc và phát triển xã hội để đưa Việt Nam tiến kịp với các nước tiến bộ trên thế giới Hai nhiệm vụ này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau
Thực ra thì từ giữa thế kỷ XIX hai nhiệm vụ đó có một phần được đặt
ra nhưng còn thiếu sự kết hợp chặt chẽ Những văn thân Cần Vương chống Pháp như Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thuyết chỉ biết tập trung ý chí vững mạnh cho việc đánh ngoại xâm Ngược lại những người muốn cải cách duy tân đất nước như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ có tinh thần trực tiếp chống Pháp thì lại không được sự ủng hộ Đến khi phong trào Cần Vương thất bại, bài học thực tiễn đặt ra là: với một kẻ thù có trình độ văn minh và có khoa học kĩ thuật tiên tiến, nếu chỉ dùng vũ khí thô sơ và nhiệt tình không thôi
để đối phó thì không được Vì vậy muốn chiến thắng thực dân xâm lược và củng cố xây dựng đất nước, thì phải làm sao cho dân giàu nước mạnh, phải thực hành cải cách đổi mới theo hướng tư bản chủ nghĩa Thời đại này định ra những nhiệm vụ lịch sử mới và phải có một giai cấp tiên tiến đảm nhận Nhưng xã hội Việt Nam như ta đã thấy, đang trong quá trình phân hóa sâu sắc Nông dân là nạn nhân chính của chế độ thực dân, mang trong mình một khả năng cách mạng lớn nhưng lại không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến, cho nên không thể xây dựng được một hệ tư tưởng độc lập, giai
Trang 31cấp tiểu tư sản thành thị quá nhỏ trước sau vẫn là một giai cấp trung gian, cũng như nông dân chỉ có thể làm bạn đồng minh của cách mạng chứ không thể lãnh đạo cách mạng Giai cấp tư sản đang trong quá trình hình thành, lại rất yếu ớt, phụ thuộc vào tư sản nước ngoài và mang tính chất thỏa hiệp với
đế quốc để mưu cầu sự sống còn Còn giai cấp công nhân bắt đầu hình thành
từ kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất, nhưng số lượng chưa nhiều, còn đang là giai cấp “tự nó”, chưa trở thành giai cấp tự giác và có Đảng tiên phong lãnh đạo
Như vậy, một trong những đặc điểm chủ yếu của nước ta đầu thế kỷ
XX là: cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng “khủng hoảng giai cấp lãnh đạo”, trong khi đó cả dân tộc Việt Nam phải đắm chìm trong vì cảnh mất nước, chịu trăm đường áp bức, khó khăn, khổ cực
Trước tình hình “nước sôi lửa bỏng” ấy, một tầng lớp sĩ phu yêu nước -
bộ phận tiến bộ nhất, được phân hóa từ giai cấp phong kiến có tiếp thu ít nhiều “Tân học” đứng ra đảm nhận trọng trách lãnh đạo cách mạng Việt Nam Khác với tuyệt đại bộ phận người của giai cấp phong kiến đầu hàng, những sĩ phu này nhận thức được trách nhiệm trước lịch sử Họ lấy lại lòng tin, và dựa vào đông đảo nhân dân yêu nước… và họ cố tiến lên cùng với thời đại, tìm phương cứu nước
Vừa lúc đó, họ tiếp nhận được nhận được nguồn ảnh hưởng “gió Mỹ mưa Âu đã làm ồn ào vũ trụ” Những “tân thư, tân văn” của Trung Quốc, từ Nhật Bản len lỏi tràn vào Việt Nam Nội dung tư tưởng của những sách báo này đem lại cho họ nhiều nhận thức mới mẻ: Nước Trung Hoa vốn từ ngàn xưa đã là nước ở “trung tâm thiên hạ”, quê hương của các “Thánh Nho” giờ đây cũng vứt bỏ cả “thánh kinh, hiền truyện” và bắt đầu nhận những người tận bên trời Tây làm những “Tiên nho của mình Hàng loạt những đạo mới xuất hiện Đó là triết học tiến hóa luận của chủ nghĩa Đác-uyn với những
Trang 32Xpenxơ, Hơcxơlây Đó là những lí luận về xã hội học của Môngtexkiơ, Vônte, Rutxô,…Các bậc “đại nho” mới được cả một đội ngũ môn đồ đầy nhiệt tình truyền bá, tiêu biểu nhất ở Trung Quốc là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Nghiêm Phục, Tôn Trung Sơn; ở Nhật Bản có Cát Điền Tùng Âm, Phúc Trạch Dụ Cát…
Những học thuyết mới nói trên đã lóe lên trong óc những nhà yêu nước Việt Nam đang đi tìm đường cứu nước biến thành những gợi ý đầy sức hấp dẫn để giải đáp các vấn đề lịch sử đang đặt ra Họ đã đón nhận những lí luận chính trị, tư tưởng triết học và quan điểm đạo đức đó, như một thứ vũ khí mới vận dụng trong cuộc chiến đấu của mình Nhưng vũ khí-hệ tư tưởng tư sản đó
là một thứ vũ khí vay mượn, không phải được hình thành và tôi luyện trong cuộc đấu tranh chống phong kiến của chính bản thân những người yêu nước tiến bộ này, không khỏi có nhiều điểm phiến diện, hạn chế và tiêu cực đấy là chưa kể chính hệ tưởng tư sản này đối với thế giới là một thứ quả trái mùa Tuy vậy các nhà nho “tân học” của nước ta, lúc này đã thấy được xu hướng cho con đường cứu nước mới mang màu sắc của thời đại mới Họ trở thành thủ lĩnh của những phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, mang tính là cải cách duy tân (1905 - 1908), Đông Kinh nghĩa thục (1907), Duy tân hội - Đông du (1904 - 1909)….Tựu chung lại có thể chia thành hai xu hướng: tư tưởng cải cách ôn hòa và cách mạng bạo động Cả hai xu hướng này phản ánh một cách trung thành phong trào giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX đã phát triển trong hoàn cảnh bên trong và bên ngoài, trong những điều kiện lịch sử phức tạp và mâu thuẫn sâu sắc ấy, hai xu hướng này không những song song tồn tại, mà cũng không đối lập nhau một cách tuyệt đối Chúng xen kẽ lẫn nhau Xu hướng cải cách ôn hòa của phong trào duy tân ở miền Trung không phải không có những lúc biến
Trang 33thành bạo động và ngược lại, xu hướng cách mạng bạo động không phải không có mầm mống hay những biểu hiện của chủ nghĩa cải lương
Xu hướng thứ nhất lấy việc “khai hóa”, “mở mang dân trí” làm phương châm căn bản Về mặt chính trị, chủ trương cải cách trước hết là trong bộ máy quan lại cũ đã mục nát đến tận gốc Để tiến hành những sự thay đổi đó thì phải dựa vào bọn đế quốc, coi chúng như là kẻ trọng tài vô tư, nhờ chúng giúp cho trong công cuộc tiến hành cải cách, và từ con đường đó dần dần giành được độc lập dân tộc Đó là xu hướng cải cách ôn hòa mà Phan Chu Trinh là đại diện tiêu biểu
Xu hướng thứ hai, chủ trương dùng bạo lực cách mạng để đánh đuổi đế quốc thực dân, giành lại độc lập cho nước nhà, bằng cách cầu ngoại viện mà lúc đầu là định nhờ vào sự giúp đỡ của Nhật Xu hướng này người đại diện tiêu biểu là Phan Bội Châu
Sở dĩ có những xu hướng khác nhau như vậy là do điều kiện lịch sử và hoàn cảnh cụ thể quy định Những người đứng đầu các xu hướng ấy như Phan Bội Châu hay là Phan Chu Trinh là những nhà yêu nước chân thành Tên tuổi
và sự nghiệp của họ gắn liền với một giai đoạn lịch sử nhất định của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Bởi vì họ đã có những cống hiến nhất định trong sự nghiệp giải phóng của dân tộc Lịch sử mãi mãi ghi nhận công lao của các nhà yêu nước như Phan Bội Châu, sản phẩm của một thời đại và tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước của một thời đại mà chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu ở chương sau
Tiểu kết
Phan Bội Châu, con người suốt cuộc đời phấn đấu không biết mệt mỏi cho sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc Trước khi đề cập đến những tư tưởng cứu nước của cụ, thì cúng ta không quên tìm hiểu về hoàn cảnh xuất
Trang 34thân, quê hương và các mối quan hệ xã hội của Phan Bội Châu Những yếu tố này có tác động rất lớn đến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu sau này Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đến nước ta giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã làm cho thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có sự thay đổi theo Đặc biệt ảnh hưởng sâu sắc hơn cả dưới sự cai trị của thực dân Pháp, đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa thành các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội
Với hoàn cảnh cụ thể của lịch sử, của đất nước từ đó đề ra nhiệm vụ lịch sử mới cho phù hợp với hoàn cảnh mới của đất nước